|
Album
Nhân Ngày Tình Nhân
Tình
đầu ( Isaac Babel / Đặng Lệ Khánh)
Tinh dau nao vay?
K dich Babel. Chuc Mung Nam Moi
Tình đầu của người ta !!
Sắp qua năm mới, thân chúc Oanh và anh
Trụ một năm mới an vui, viết, đọc không mệt, và làm
việc gì cũng thấy hứng thú .
K
Năm nay, có tí Ơn Trên.
Nhờ đọc. Tks Both of U
NQT
Re: Có tí Ơn Trên
Có vẻ như Gấu lờ mờ nhận ra ý nghĩa của từ ân
sủng, áp dụng vào cuộc đời của Gấu.
"Perhaps", writes Nietzsche in the
Genealogie der Moral, "there is nothing more terrible and mysterious in the
whole prehistory of mankind than our mnemonic technique. We burn something
into the mind so that it will remain in the memory; only what still hurts
will be retained"
Kỹ thuật tạo dấu ấn khủng khiếp nhất, bí ẩn nhất, từ thời
tiền sử để lại: Chúng ta đánh dấu trái tim của con
người bằng lửa, làm sao cho, chỉ cái đau được giữ lại, cái
sướng bỏ đi.
*
Notes
Mnemonic?: Thuộc về trí nhớ.
Qui a rapport à la mémoire. Art mnémonique.
Figures mnémoniques. S. f. La mnémonique, l'art de
faciliter les opérations de la mémoire. En grec, qui se
souvient, dérivé du grec, mémoire (comparez MÉMOIRE).
Bây giờ có từ điển online rất tốt:
http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/index.html.
http://www.tudientiengviet.net.
*
Bên Ky Tô giáo có
bà thánh St-Catherine de Sienne xin: "Xin cho con có
trí nhớ"
Có trí nhớ để nhớ những chuyện tốt con nhận được.
Génie của thánh Ignace de Loyola, là đưa ra
khái niệm: Consolation [An ủi] và Désolation [Thất
vọng]
Khi Consolation thì nhớ là mình đã từng
Désolation để đừng kiêu ngạo.
Khi Désolation thì nhớ là mình đã
từng Consolation để đừng nản chí.
Mémoire của mình là mémoire sélective,
và, vì con người là con người của trọng lực - gravité
- nên nó hướng mémoire về gravité, không
hướng thượng được. Định luật Newton mà.
Vì thế mà G. Steiner và S. Weil.. mới nhắc con
người phải biết đến Thượng Đế để kéo mình lên.
Phải không bác Gấu?
Văn hoá Á Đông có câu chuyện hay
nào về những khái niệm này vậy?
*
Tks. Take care. Gấu
Re: Lời chúc tết của K.
Đang loay hoay đi 1 đường về nó, và nó mắc mớ
đến cách đọc THNM:
Liệu có 1 cách đọc nào,
khác?
Có, và có 1 cách
viết khác, làm thơ khác, và là trường
hợp của nhà thơ Zbigniew Herbert, nhân đọc Coetzee, Late
Essays
Trong ba nhà thơ Ba Lan, Ba Lan Tam Kiệt, Milosz, Szymborska,
Herbert bảnh nhất, vậy mà không được Nobel.
Cái gì làm ông thoát... Nobel?
AUGUST 16 [1998]
In Memoriam: Zbigniew Herbert
Zbigniew Herbert
died a few weeks ago in Warsaw at the age of seventy-three. He is one of
the most influential European poets of the last half century, and perhaps-even
more than his great contemporaries Czeslaw Milosz and Wladislawa Szymborska-the
defining Polish poet of the post-war years.
It's hard to know how to talk about him, because
he requires superlatives and he despised superlatives. He was born in Lvov
in 1924. At fifteen, after the German invasion of Poland, he joined an
underground military unit. For the ten years after the war when control
of literature in the Polish Stalinist regime was most intense, he wrote
his poems, as he said, "for the drawer." His first book appeared in 1956.
His tactic, as Joseph Brodsky has said, was to turn down the temperature
of language until it burned like an iron fence in winter. His verse is
spare, supple, clear, ironic. At a time when the imagination was, as he
wrote, "like stretcher bearers lost in the fog," this voice seemed especially
sane, skeptical, and adamant. He was also a master of the prose poem. Here
are some samples:
Zbigniew Herbert mất vài tuần
trước đây, ở Warsaw thọ 73 tuổi. Ông là 1 trong những
nhà thơ Âu Châu, ảnh hưởng nhất trong nửa thế kỷ, và
có lẽ - bảnh hơn nhiều, so với ngay cả hai người vĩ đại, đã
từng được Nobel, đồng thời, đồng hương với ông, là Czeslaw
Milosz và Wladislawa Szymborska - nhà thơ định nghĩa
thơ Ba Lan hậu chiến.
Thật khó mà biết làm thế nào
nói về ông, bởi là vì ông đòi hỏi
sự thần sầu, trong khi lại ghét sự thần sầu. Ông sinh tại
Lvov năm 1924. Mười lăm tuổi, khi Đức xâm lăng Ba Lan, ông gia
nhập đạo quân kháng chiến. Trong 10 năm, sau chiến tranh, khi
chế độ Xì Ta Lin Ba Lan kìm kẹp văn chương tới chỉ, ông
làm thơ, thứ thơ mà ông nói, “để trong ngăn kéo”.
Cuốn đầu tiên
của ông, xb năm 1956. Đòn của ông [his tactic], như
Brodsky chỉ cho thấy, là giảm nhiệt độ ngôn ngữ tới khi nó
cháy đỏ như một mảnh hàng rào sắt, trong mùa
đông. Câu thơ của ông thì thanh đạm, mềm mại, sáng
sủa, tếu tếu. Tới cái lúc, khi mà tưởng tượng, như
ông viết, “như những người khiêng băng ca – trong khi tản thương,
[“sơ tán cái con mẹ gì đó”, hà hà]
- mất tích trong sương
mù”, thì tiếng thơ khi đó, mới đặc dị trong lành,
mới bi quan, và mới sắt đá làm sao.
Ông còn là 1 sư phụ của thơ xuôi.
Bài thơ sau đây, chẳng
quá đỗi thần
sầu ư, khi áp dụng vào xứ Mít.
THE RAIN
When my older brother
came back from war
he had on his forehead a little silver star
and under the star
an abyss
a splinter of shrapnel
hit him at Verdun
or perhaps at Grunwald
(he'd forgotten the details)
He used to talk much
In many languages
But he liked most of all
The language of history
until losing breath
he commanded his dead pals to run
Roland Kowalski Hannibal
he shouted
that this was the last crusade
that Carthage soon would fall
and then sobbing confessed
that Napoleon did not like him
we looked at him
getting paler and paler
abandoned by his senses
he turned slowly into a monument
into musical shells of ears
entered a stone forest
and the skin of his face
was secured
with the blind dry
buttons of eyes
nothing was left him
but touch
what stories
he told with his hands
in the right he had romances
in the left soldier's memories
they took my brother
and carried him out of town
he returns every fall
slim and very quiet
he does not want to come in
he knocks at the window for me
we walk together in the streets
and he recites to me
improbable tales
touching my face
with blind fingers of rain
Zbigniew Herbert: The Collected Poems 1956-1998
Mưa
Khi ông
anh của tớ từ mặt trận trở về
Trán của anh có 1 ngôi sao bạc nho nhỏ
Và bên dưới ngôi sao
Một vực thẳm
Một mảnh bom
Đụng anh ở Plê Ku
Hay, có lẽ, ở Củ Chi
(Anh quên những chi tiết)
Anh trở thành nói nhiều
Trong nhiều ngôn ngữ
Nhưng anh thích nhất trong tất cả
Ngôn ngữ lịch sử
Đến hụt hơi,
Anh ra lệnh đồng ngũ đã chết, chạy
Nào anh Núp,
Nào anh Trỗi.
Anh la lớn
Trận đánh này sẽ là trận chiến thần thánh
chót
[Mỹ Kút, Ngụy Nhào, còn kẻ thù nào
nữa đâu?]
Rằng Xề Gòn sẽ vấp ngã,
Sẽ biến thành Biển Máu
Và rồi, xụt xùi, anh thú nhận
Bác Hồ, lũ VC Bắc Kít đếch ưa anh.
[Hà, hà!]
Chúng tôi nhìn anh
Ngày càng xanh mướt, tái nhợt
Cảm giác bỏ chạy anh
Và anh lần lần trở thành 1 đài tưởng niệm liệt
sĩ
Trở thành những cái vỏ sò âm
nhạc của những cái tai
Đi vô khu rừng đá
Và da mặt anh
Thì được bảo đảm bằng những cái núm mắt khô,
mù
Anh chẳng còn gì
Ngoại trừ xúc giác
Những câu chuyện gì, anh kể
Với những bàn tay của mình.
Bên phải, những câu chuyện tình
Bên trái, hồi ức Anh Phỏng Giái
Chúng mang ông anh của tớ đi
Đưa ra khỏi thành phố
Mỗi mùa thu anh trở về
Ngày càng ốm nhom, mỏng dính
Anh không muốn vô nhà
Và đến cửa sổ phòng tớ gõ
Hai anh em đi bộ trong những con phố Xề Gòn
Và anh kể cho tớ nghe
Những câu chuyện chẳng đâu vào đâu
Và sờ mặt thằng em trai của anh
Với những ngón tay mù,
Của mưa.
Zbigniew Herbert
Valentine's
Day
Elegy
Oh destiny of Borges-
to have traversed the various seas of the world
or the same solitary sea under various names,
to have been part of Edinburgh, Zurich, the two Cordobas,
Colombia, and Texas,
to have gone back across the generations
to the ancient lands of forebears,
to Andalucia, to Portugal, to those shires
where Saxon fought with Dane, mingling bloods,
to have wandered the red and peaceful maze of London,
to have grown old in so many mirrors,
to have tried in vain to catch the marble eyes of statues,
to have studied lithographs, encyclopedias, atlases,
to have witnessed the things that all men witness-
death, the weight of dawn, the endless plain
and the intricacy of the stars,
and to have seen nothing, or almost nothing
but the face of a young girl in Buenos Aires,
a face that does not want to be remembered.
Oh destiny of Borges, perhaps no stranger than yours.
-A.R.
Bi Khúc
Ôi số mệnh của GCC -
Đã phiêu du nhiều biển trên thế
giới,
Hay, vẫn chỉ một biển mang nhiều nick
Đã có phần ở Edinburgh, Zurich, ở Bắc
Kít & Nam Kít, Cordobas, Colombia, và Texas
Đã trở lại, sau nhiều thế hệ,
Những vùng đất xưa của ông cha,
Ở Andalucia, Portugal, những quận huyện,
Nơi đám rợ Saxon choảng nhau với Dane, trộn
máu với nhau.
Đã lang thang những mê cung đỏ, hiền hòa
ở London
Đã trở nên già trong rất nhiều
tấm gương
Đã cực kỳ cố gắng, nhưng vô ích,
nắm bắt ánh mắt cẩm thạch của những pho tượng
Đã nghiên cứu thạch bản, bách khoa
toàn thư, bản đồ
Đã chứng kiến những điều mà tất cả những
người đàn ông chứng kiến –
Cái chết, sức nặng của buổi bình minh,
đồng bằng vô tận, sự phức tạp của những vì sao,
Đã nhìn chẳng cái gì, hầu
như chẳng cái gì
Ngoại trừ khuôn mặt của BHD, bữa ở cổng trường
Đại Học Khoa Học Sài Gòn
Một khuôn mặt ra lệnh, ta cấm mi không
được nhớ ta!
Ui chao tội cho số phận thằng cha Gấu
Nhưng mà, chắc của bạn cũng chẳng khác
gì nó đâu!
BURGIN: You once wrote the lines, "To have seen nothing
or almost nothing except the face of a girl from Buenos Aires, a
face that does not want you to remember it."
BORGES: I wrote that when I was in Colombia. I remember
a journalist came to see me, and he asked me several questions
about the literary life in Buenos Aires, my own output and so on.
Then I said to him, "Look here, could you give me some five minutes
of your time?" And he said, he was very polite, and he said "Very willingly."
And then I said, "If you could jot down a few lines." And he said. "Oh,
of course." And I dictated those lines to him.
BURGIN: They used it as the epilogue in the Labyrinths
book.
BORGES: Yes.
BURGIN: But the reason I mention that to you, well I
don't want to over-explicate, but it seems to say that love is the
only thing that man can see or know.
BORGES: Yes, it might mean that, but I think it's not
fair to ask that because the way I said it was better, no? But when
I was composing that poem, I wasn't thinking in general terms, I was
thinking of a very concrete girl, who felt a very concrete indifference.
And I felt very unhappy at the time. And, of course, after I wrote it,
I felt a kind of relief. Because once you have written something, you
work it out of your system, no? I mean, when a-writer writes something
he's done what he can. He's made something of his experience.
Ông đã từng viết những dòng,
Đã nhìn chẳng cái
gì, hầu như chẳng cái gì
Ngoại trừ khuôn mặt của BHD, bữa ở cổng trường
Đại Học Khoa Học Sài Gòn
Một khuôn mặt ra lệnh, ta cấm mi không
được nhớ ta!
Ui chao tội cho số phận thằng cha Gấu
Nhưng mà, chắc của bạn cũng chẳng khác
gì nó đâu!
Tớ viết, lần ở Columbia...
Cái lý do mà tôi nhắc lại
những dòng trên, là, như.... K. nói:
Vừa
xem lại "The Road Home" của Trương Nghệ Mưu , vẫn thấy đây
là phim tàu hay nhất, dù không vĩ đại .
Chỉ có tình là vĩ đại thôi.
Kỷ niệm đẹp nhất trong đời viết văn
Sunday, January 11, 2009 11:43 PM
Re:
Cam on anh Tru .
Sau mấy năm rồi, cũng
vẫn câu hỏi cũ : Làm sao mà vừa đọc, vừa viết,
vừa chăm cháu ngoại, vừa nói chuyện với bạn bè
được, hay quá .K thì chỉ đọc (internet) và xem là
nhiều . Vừa xem lại "The Road Home" của Trương Nghệ Mưu , vẫn thấy đây
là phim tàu hay nhất, dù không vĩ đại . Chỉ
có tình là vĩ đại thôi .
*
Tôi chưa coi phim
đó.
Tks.
Chỉ có tình
là vĩ đại thôi. Mà cứ phải mấy anh Tầu, mới vĩ
đại. Tây Mẽo không bằng. Hồi ở VN tôi có đọc
một cuốn sách dịch chuyện tình Tầu. Chuyện nào cũng
hay. Có một chuyện, về một anh học trò nhà quê,
lên thành đô học, mê một em trong xóm,
chuộc em ra. Rồi bố mẹ bắt về, trên đường về đi ngang thuyền một
anh lái buôn. Anh này thấy cô vợ đẹp quá
bèn dụ anh chồng đánh bạc, thua, cho vay, thua tiếp, phải
bán vợ. Cô vợ, vào lúc sang thuyền khác,
bèn mở mấy cái rương bạn bè trong xóm tặng ra,
hoá ra toàn kim cương, hột xoàn, và cứ từ từ
thả xuống sông, rồi thả mình theo.
Có một lời bàn,
đẹp thế, sao ngu thế, chọn đúng thằng cực kỳ khốn nạn mà
theo!
Chuyện hơi giống chuyện
nàng Tuấn Khanh [hay Thiếu Khanh?], trong Truyền Kỳ Mạn Lục.
Nhưng chuyện TK có hậu hơn, anh chồng hối hận, lo nuôi
con, cô vợ sau thành thần, về gặp lại chồng, trong mộng,
tất nhiên, khuyên theo phò Lê Lợi.
Cái truyện anh học trò, khi kể lại trên
Tin Văn, Gấu bỏ đi 1 phần, bữa nay kể tiếp, và luôn tiện
kể thêm.
Tầu chia ra đủ thứ tình, nào tình
hiệp, nào tình si, nào tình sầu, nào
tình ngu… Tình hiệp, trong Liêu Trai có
1 truyện cũng thật thần sầu.
Có 1 vị danh sĩ, một lần đi thuyền qua cái
bến có người đẹp trầm mình, bèn cảm khái,
bèn làm 1 bài thơ, thả xuống lòng sông.
Đêm đó, mơ thấy người đẹp về, tặng bức tranh, theo truyền
thuyết, 1 trong những thất tuyệt trong chốn giang hồ.
Bức danh họa, là 1 trong số những của cải quí
báu, chìm theo cùng người đẹp.
"Như người xưa đánh rớt cây gươm xuống lòng
sông, bèn ghi dấu nơi mạn thuyền, chàng trở lại
quán xưa, tìm gót hài trên lớp bụi,
và tiếng cười của nàng vẫn còn văng vẳng đâu
đây"... GCC viết về những lần trở lại cái quán cà
phê hủ tíu Tầu, nằm trên con đường Trương Công
Định, dẫn tới trường Gia Long, là cũng mong 1 kỳ ngộ như trên.
Truyện sau đây, có trong tập truyện, có
gì giống truyện tặng tranh, hiểu theo 1 cách nào
đó.
Một anh chàng thương gia, trẻ, cưới 1 em tuyệt trần,
rồi sau đó, đi 1 chuyến buôn xa, bèn xây
1 cái nhà lầu, giống như 1 cái tháp, "nhốt"
người đẹp, cùng 1 mụ quản gia, và và em hầu.
Bữa đó, em vén màn cửa sổ ngó
xuống đường, đúng lúc 1 anh chàng thương gia
đang đi trên đường ngó lên, và anh này
bèn trúng cú sét (coup de foudre).
Bèn bỏ tiền ra mua, trước, là mụ quản gia,
rồi tới tất cả lũ con hầu. Rồi 1 đêm, anh chàng giả
dạng là 1 con hầu, lọt vô tháp.
Cô vợ trẻ quá mê anh bồ, và khi
nghe tin chồng sắp về, tặng anh bồ chiếc áo lót mình,
cũng 1 thứ "thất truyền" trong chốn giang hồ, có 1 không
có 2.
Số mệnh xui khiến làm sao, tối hôm đó,
1 tên đi, 1 tên về, cùng gặp nhau tại 1 khách
sạn ở ven đường. Bèn thù tạc, và trong khi thù
tạc, anh bồ đem chiếc áo lót ra khoe.
Anh chồng đau quá, thay vì về nhà,
đến khách sạn thuê 1 căn phòng.
Cô vợ, nhà vợ, sau biết ra, bèn xin
phép anh chồng cho vợ tái giá, và được
1 ông quan, trên đường đi trị nhậm, mua làm vợ bé,
Truyện kể là, cả hai, chồng và vợ đều không
làm sao quên nổi nhau.
Trong 1 lần đi buôn xa, anh chồng bị vu cáo
trong 1 vụ làm ăn, bị bỏ tù.
Vị quan xét sử, là ông quan đã
từng mua cô vợ.
Ông quan, không chỉ tha tội, mà còn
trả luôn cô vợ.
Còn anh bồ ngày nào, sau làm
ăn thất bát, chết không có tiền chôn.
Vợ phải bán mình, lấy tiền chôn chồng.
Vẫn số mệnh xui khiến, anh chồng bỏ tiền ra mua.
Thế là áo lót mình trở về cố
chủ, bonus, vợ tên bồ ngày nào!
Two Dogs
by Charles Simic
for Charles
and Holly
An old dog afraid of his own
shadow
In some Southern town.
The story told me by a woman going blind,
One fine summer evening
As shadows were creeping
Out of the New Hampshire woods,
A long street with just a worried dog
And a couple of dusty chickens,
And all that sun beating down
In that nameless Southern town.
It made me remember the Germans
marching
Past our house in 1944.
The way everybody stood on the sidewalk
Watching them out of the corner of the eye,
The earth trembling, death going by . . .
A little white dog ran into the
street
And got entangled with the soldier’s feet.
A kick made him fly as if he had wings.
That’s what I keep seeing!
Night coming down. A dog with wings.
Hai Con Chó
Một con chó già
sợ cái bóng của chính nó (1)
Trong 1 thành phố Nam Kít nào đó
Chuyện này tôi nghe qua một bà sắp mù
Vào một buổi chiều tuyệt vời mùa hạ
Khi bóng tối
từ những cánh rừng Sát
Bò ra
Con phố dài Hồng Thập Tự
Với chú chó già rầu rĩ
Và cặp gà bụi bặm
Và cả mặt trời đổ xuống
Một thành phố mất tên Nam Kít
Nó làm tôi
nhớ buổi 30 Tháng Tư 1975
Ðám VC Bắc Kít diễu hành qua căn nhà
của tôi
Người dân đứng bên lề nhìn chúng bằng
một góc con mắt
Mặt đất rung chuyển, và cái chết thì lờ
vờ quanh đó..
Một con chó trắng nhỏ chạy ra đường
Làm quẩn chân đám nón cối
Và 1 cú đá làm con chó bay
lên trời
Như thể nó có cánh
Ðó là điều mà tôi đã nhìn
thấy, và vẫn còn nhìn thấy!
Ðêm xuống thành phố không tên
Một con chó có cánh.
Chú thích hình:
Cast of a Dog Killed by the Eruption of Mount Vesuvius, Pompeii,
c. 1874
© THE J PAUL GETTY MUSEUM
Granta 142: Winter 2018
Animalia
... Continue Reading
Mừng năm chó, tờ Granta số mới nhất đi 1 đường về Animalia.
Chuyện chó của Mít, bảnh nhất, theo Gấu, là
của Nam Cao, "Lão Hạc", nhớ đại khái, và nó
mắc mớ đến xứ Đàng Trong và cơn đói dài
4 ngàn năm của xứ Bắc.
Nhớ luôn nhận xét của 1 vị bằng hữu thân
thiết của Tin Văn. Bà cho biết, mấy cơ quan nhận trẻ em mồ
côi rất sợ nhận những đứa trẻ bị bỏ đói lâu quá,
vì não bộ của chúng bị ảnh hưởng nặng nề...
UI chao, nếu thế thì đói 4 ngàn năm khủng
khiếp cỡ nào!
Hà, hà!
Nửa thế kỷ xa xứ Bắc, năm 2001, Gấu trở lại, mang về đủ thứ
kỷ niệm về cái đói, và lẩm bẩm tự hỏi thầm, không
biết bà chị của Gấu có còn nhớ.
Bà nhớ đủ hết.
Nhưng với thằng em, nó trở thành những viên
ngọc quí, còn với bà chị, nó là
những hòn chì bà nặng nề đeo theo suốt cuộc đời,
không làm sao rũ đi được.
Nhớ,1ần bà cụ đi buôn bán xa, bà
chị lấy gạo nấu cơm, chắc là lấy quá đô. Nồi đất.
Gấu đang ngồi nhìn nồi cơm sợ nó biến mất, bỗng thấy cái
nồi từ từ nứt làm đôi…
Nhớ hoài hoài, nhớ mãi mãi!
Về những hòn chì, từ từ kể tiếp!
Vị bằng hữu phán, phục mi sát đất vì
những kỷ niệm thần sầu về cái đói!
DOG
Nadeem Aslam
More than once the new dog was aggressive, a stab
of fire, but I did not tell the grown-ups. I feared they would take him
away. I was ten years old, and I pretended that the scratches and marks
on my skin were caused by a thorn bush or by a fall.
He was from the hills. In the 1960s a dam
was constructed in northern Pakistan, submerging hundreds of villages,
a number of towns and many tracts of forestland. Some of the displaced
people arrived to live on the outskirts of the city where I grew up.
From this refugee camp, a sixteen-year-old girl named Iqbal came to
work in our neighbors’ house. She told me about her village in the
hills, how it now lay underwater with the minarets of the mosque sticking
out, the herons perching on the tips. Already at that age, books had
become a habit and therefore a need for me. During the long afternoons,
when the rest of the family slept, I would make my way surreptitiously
to the roof and find a place to read. Iqbal would appear from the next
roof and join me. She was addicted to nasvaar - a narcotic powder made
with green tobacco and slaked lime. I now know that in 1561 the French
ambassador in Portugal had sent nasvaar to Catherine de' Medici, as a cure
for her son's constant migraines. Iqbal would take out the pungent green
stuff - she carried it in a twist of cellophane hidden in the waistband
of her trousers - and place it under her lower lip and lie down beside
me on the floor, her eyes closed. Her employers had suspected her of using
nasvaar, but she had not only denied it, she had sworn on the Quran to
placate them. She had been hired to look after small children and the
fear was that she would feed it to them, to make them docile, less demanding.
And so both of us hid on the roof during those searingly hot afternoons:
I would read, and she dozed beside me, sometimes wordlessly, sometimes
speaking in a low murmur about various things, including her lost village.
Occasionally she went back to visit family
members who had managed to remain in the hills. Once she returned with
the gift of a deer antler for me, and later there were several interesting
pebbles, the skull of a bird with a red beak, large map-like moth
wings and strange scaled fruit that at first made me think they were
pangolin eggs. When I was ten she brought a puppy. From the folds of
her shawl it sniffed the air, each whisker as nervous as a compass needle.
We were soon inseparable. In certain lights there was a strange glow
to him, an intense brilliance in his eyes that I hadn't encountered
in any other dog. I had been reading about 'candle-birds', whose flesh
was so enriched with oil that a bird could be threaded whole onto a
wick and burned as a source of light. My dog grew fast and was deeply
affectionate on the whole, but there were those brief moments of anger,
something electric spilling into the air from him, his teeth bare with
hate for me or for what I represented.
One day a blind beggar stopped chewing for
a few moments when the dog walked past.
On another occasion a horse looked at him
for a long time and then suddenly reared up, having understood something.
The knock on the door came at midnight,
waking the entire household. It was our neighbors - Iqbal's employers
- and Iqbal was with them, as were her parents.
They revealed that the dog was in fact a
wolf cub.
His identity had become blurred as he passed
from hand to hand in the hills, after the forest he had lived in had
been submerged, separating him from his mother and the rest of the pack.
That strange light I had noticed in his eyes - it had been him searching
for a mirror in which to see himself.
No one could give me a precise answer as
to what happened to him after he was taken away that night. I kept asking
with urgency and desperation, but after a while I understood that
I must stop. Iqbal was caught with nasvaar on her person one day and
let go by our neighbors. In another few months the refugee camp where
she had lived was declared illegal by the authorities and demolished,
and she and her family were forced to move on. I never saw her again.
She and the dog and the handful of facts associated with them became
a kind of ache I can still feel inside me, a sense of defeat and loss.
I had taught him to roll over, and I see it now in my mind's eye: for
a fraction of a second - with his legs in the air and his head twisting
- he resembles his cousin from Pompeii. _
"Mit" version will be very soon.
http://www.sachhayonline.com/tua-sach/truyen-ngan-nam-cao/lao-hac/938
Lão Hạc.
Note:
Đây mới là truyện ngắn hay nhất của Nam Cao, với
riêng Gấu.
Mít thường nhắc tới Đôi Mắt, hay Con Mắt, không
nhớ rõ.
Nhảm!
Nguyễn Tuân cũng không viết nổi Lão Hạc.
Quả có 1 xứ Bắc Kít đã mất đi, một xứ Bắc
Kít, đúng như Milosz mô tả:
It is good to be born in a small country where nature is on
a human scale, where various languages and religions have coexisted
for centuries. I am thinking here of Lithuania, a land of myth and poetry.
Thật lốt lành khi sinh ra tại một xứ nhỏ, nơi thiên
nhiên không so le với con người, nơi ngôn ngữ và
tôn giáo cùng rong ruổi bên nhau qua nhiều
đời. Tôi đang nghĩ về Lithuania, miền đất của huyền thoại và
thi ca.
Milosz, Diễn văn Nobel văn chương.
https://www.youtube.com/watch?v=iCjnpzLvxkI
Một thoáng Sài Gòn
xưa được tái hiện trên đường phố Bolsa do đài
truyền hình SBTN thực hiện
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
GCC 's Tet with family in Lao
Note for a Fantastic Story
In Wisconsin or Texas or Alabama some boys are playing
war, and the two sides are the North and the South. I know (everyone
knows) that defeat has a dignity which noisy victory does not deserve,
but I also know how to imagine that this game, which spans more than
a century and a continent, will one day discover the divine art of
undoing time or, as Pietro Damiano said, of altering the past.
If that should come to pass, if in
the course of the lengthy game the South humbles the North, today
will fall backward against yesterday and Lee's men will be victorious
at Gettysburg in the first days of July of 1863 and the hand of Donne
will be able to complete his poem on the transmigrations of a soul
and the old nobleman Alonso Quijano will know the love of Dulcinea and
the eight thousand Saxons at Hastings will defeat the Normans, as before
they defeated the Norsemen, and Pythagoras will not recognize in a
portico at Argos the shield he used when he was Euphorbus.
-S.K.
J.L. Borges: Selected Poems [Penguin ed]
Ghi chú về một câu chuyện
kỳ quái
Ở Wisconsin, hay Texas hay Alabama, mấy đứa con nít
bày cuộc chiến tranh, giữa Nam Kít và Bắc Kít.
Tớ biết (mọi người biết) rằng thất trận thì có nhân
phẩm, cái lũ thắng trận bắng nhắng, ồn ào không
xứng với nó - chúng vừa mới ăn mừng người chết Mậu Thân
- nhưng tớ còn biết làm sao tưởng tượng cuộc
chiến đó - trải dài hơn bốn ngàn năm - một ngày
nào, sẽ khám phá ra nghệ thuật thiêng liêng:
làm lại [huỷ diệt, đúng hơn] thời gian, hay đúng
hơn nữa, thay đổi quá khứ.
Nếu điều này xảy ra, nếu cuộc chơi
dài thòng “dzui thôi mà” - thuổng từ
của ông chánh tổng xứ An Nam ở Paris – ba mươi năm mới có
ngày hôm nay, thằng em Nam Bộ “nhún nhường” ông
anh Bắc Kỳ, “ngày hôm nay” bỗng biến trở lại thành
hôm qua, và Tướng Ngô Quang Trưởng thắng tướng Võ
Nguyên Giáp, thì thí dụ đại như vậy, trong
Đại Thắng Mùa Xuân, và bàn tay của Donne có
thể hoàn tất bài thơ của ông ta về sự “xuyên
di” của linh hồn, và tên già phong nhã Gấu Cà
Chớn có được tình yêu của nường nữ thi sĩ gì
gì đó…
Mi khùng rồi, Gấu nghe Gấu Cái than…
Chúc Mừng Năm Mới
Feb 15 at 3:27 PM
Năm mới chúc cô chú
cùng gia quyến nhiều sức khỏe, hạnh phúc, và
vạn sự như ý
chia. tay
tặng 2 bạn
em. lẫn vào. đám đông
sao anh. tìm ra. được
phi trường. chiều. đưa tiễn
nhặt được. nước mắt rơi
em. về con đường. vắng
chất ngất. màu. rưng rưng
xe. nổ giòn. nỗi nhớ
chở. một người. rất buồn
ở lại. người. ở lại
vui. hay buồn? không em
chén. nồi. nằm một góc
chờ. tay nào? nâng niu
thời gian. sao đi. mất
mang em. về miền. xa
tuyết. ngập ngừng xóa. bóng
mùi hương. vướng. đâu đây
em về. mình xa. nhau
gửi. nụ hôn. nghìn kiếp
áo. ngày nao. dù nhàu
xin. giữ lại nếp. xưa
những đợi. chờ
cành cây. ngẹo đầu sang. một
phía
xẩm tối. những ngọn đèn. đường vỡ.
bung
tuyết. từng đụn. trong bãi parking
khu shopping. cuối tuần
người đàn ông. ngồi. trong
xe
ho. tiếng khan
những ngày. cuối năm
đằng đẵng. lạnh
lù mù. tuyết rơi
tít. tắp
áo quần kín. bưng
tiếng chuông. tiếng vẳng dài
như gọi. tên
về chưa? những đợi chờ
Đài Sử
Tks
Trước thềm Năm Mới, cầu Ơn Trên ban
cho đại gia đình chúng ta mọi điều an lành.
NQT
Trước thềm năm mới Mậu Tuất em kính
chúc anh chị cùng bửu quyến được an lành,
vạn điều như ý. Riêng chúc anh sức khỏe
càng bền, ung dung như bao năm nay.
Em, SLN
Tks
Chúc SLN và gia đình
mọi điều an lành, nhân dịp Xuân về.
NQT
Trang Simone Weil
Đầu năm khai bút bằng 1 bài
dịch Milosz, Sự quan trọng của Simone Weil, trong To
Begin Where I Am, Selected essays. Trên Tin Văn đã
có bài Bad Friday, giờ
thêm bài này.
THE IMPORTANCE OF SIMONE WElL
FRANCE offered a rare gift to the contemporary
world in the person of Simone Weil, The appearance of such a writer
in the twentieth century was against all the rules of probability,
yet improbable things do happen.
The life of Simone Weil was
short. Born in 1909 in Paris, she died in England in 1943 at the
age of thirty-four. None of her books appeared during her own lifetime.
Since the end of the war her scattered articles and her manuscripts-diaries,
essays-have been published and translated into many languages. Her
work has found admirers all over the world, yet because of its austerity
it attracts only a limited number of readers in every country. I hope
my presentation will be useful to those who have never heard of her.
Perhaps we live in an age that
is atheological only in appearance. Millions were killed during
the First World War, millions killed or tortured to death in Russia
during and after the revolution: and countless victims of Nazism
and the Second World War. All this had to have a strong impact upon
European thinking. And it seems to me that European thinking has been
circling around one problem so old that many people are ashamed to name
it. It happens sometimes that old enigmas of mankind are kept dormant or
veiled for several generations, then recover their vitality and are formulated
in a new language. And the problem is: Who can justify the suffering of
the innocent? Albert Camus, in The Plague, took up the subject
already treated in the Book of Job. Should we return our ticket
like Ivan Karamazov because the tear of a child is enough to tip the scale?
Should we rebel? Against whom? Can God exist if He is responsible,
if He allows what our values condemn as a monstrosity? Camus said no.
We are alone in the universe; our human fate is to hurl an eternal defiance
at blind inhuman forces, without the comfort of having an ally somewhere,
without any metaphysical foundation.
But perhaps if not God, there
is a goddess who walks through battlefields and concentration
camps, penetrates prisons, gathers every drop of blood, every curse?
She knows that those who complain simply do not understand. Everything
is counted, everything is an unavoidable part of the pangs of birth
and will be recompensed. Man will become a God for man. On the road
toward that accomplishment he has to pass through Calvary. The goddess's
name is pronounced with trembling in our age: she is History.
Leszek Kolakowski, a Marxist
professor of philosophy in Warsaw,* states bluntly that all the
structures of modern philosophy, including Marxist philosophy, have
been elaborated in the Middle Ages by theologians and that an attentive
observer can distinguish old quarrels under new formulations. He points
out that History, for instance, is being discussed by Marxists in the
terms of theodicy-justification of God.
Irony would be out of place here. The question
of Providence, or of lack of Providence, can also be presented
in another way. Is there any immanent force located in le devenir,
in what is in the state of becoming, a force that pulls mankind up
toward perfec-
• At the time of this writing
Viết
mỗi ngày
Ba loại nhà
văn
Tháng 10 14, 2012
Phạm Thị Hoài
Cả hai nhà văn gối đầu
giường của tôi, Kafka và Nabokov, đều không
và sẽ không bao giờ lọt tầm ngắm của Giải Nobel Văn
chương nữa. Những nhà văn mà tôi khâm phục
cũng thế: James Joyce, Robert Musil, Jorge Luis Borges, Thomas Bernhard,
Roberto Bolaños. Chưa kể những bậc thầy kinh điển: Lỗ Tấn,
Lev Tolstoy, Marcel Proust. Lấy tôn chỉ ấn định trong di chúc
của Alfred Nobel năm 1895 ra xét thì hai tác giả
văn học duy nhất – trong đó một người đã tự vẫn – tôi
đọc trong năm vừa rồi, David Foster Wallace với Infinite Jest và
Mark Z. Danielewski với Only Revolutions đều đại diện cho văn học ngoài
hành tinh, cách Viện Hàn lâm Thụy Điển vài
năm ánh sáng. Liệt kê dài dòng như vậy
và với ưu thế của một người biết chắc mình không
bao giờ thắng xổ số, tôi có thể thoải mái tuyên
bố rằng Nobel Văn chương rơi vào đầu ai thì người đó
phải chịu, chẳng liên quan gì đến tôi; không thay
đổi vận mệnh văn chương nhân loại đã đành, lại càng
không ảnh hưởng đến tình yêu văn chương của từng cá
nhân. Miễn không phải là một ông Hoàng
Quang Thuận nào đó, còn lại mọi lựa chọn đều xứng
đáng như nhau. Có thể bạn ưu tiên Bob Dylan, tôi
ưu ái Thomas Pynchon, nhưng tôi không có gì
bất mãn khi cuối cùng Mạc Ngôn thay vì Ngũgĩ
wa Thiong’o hay Murakami Haruki được chọn. Thế giới này có
nhiều nhà văn đáng đọc hơn một đời đọc của chúng
ta có thể kham nổi.
Tác gia văn chương, chung quy có
ba loại. Loại dành cho đồng nghiệp, tác gia của
tác giả. Loại dành cho công chúng, tác
gia của độc giả. Và loại dành riêng cho sự tự mê
hoặc của những tác giả tự phong.
Loại thứ nhất hiếm hoi, là những người không
thể thay thế, mất một ai trong số họ là cơ thể văn chương
nhân loại tàn phế một bộ phận trọng yếu. James Joyce,
nói theo lời đồng nghiệp Đức Tucholsky của ông, vô
cùng khó nhằn, nhưng chẻ ra thật nhỏ thì mỗi viên
cũng nấu được một nồi súp đầy chất lượng. Kafka là mẫu mực.
Nabokov là trường đào tạo. Borges là kho tàng
văn hóa. Thomas Berndhard là vòi phun cảm hứng…
Người không thể thay thế trong văn học Việt Nam theo tôi
là Nguyễn Du, nhà hậu cần ngôn ngữ.
Loại thứ hai đông hơn và là
đối tượng chính của các nhà điểm sách,
phê bình và nghiên cứu văn học. Đánh
giá về tài năng và tầm cỡ của họ là việc
phụ thuộc chủ yếu vào khí hậu và môi trường
văn hóa. Từ Balzac, Dostoevsky, Sartre, George Orwell đến Günter
Grass, Paul Auster, Dư Hoa, Murakami…, tất cả đều chung số phận được công
chúng này ngưỡng mộ, bị công chúng kia chê
bai. Mạc Ngôn là nhà văn của công chúng,
một công chúng về số lượng thậm chí có thể vượt
qua cộng đồng độc giả của cả Harry Potter lẫn Fifty Shades of Grey gộp
lại. Sau khi trúng giải, riêng độc giả Trung Quốc của ông
đã có thể chấp thêm cả cộng đồng Chạng vạng (Twilight) vào đó.
Gu văn chương của tôi không thật hạp với những bàn
tiệc ú hụ mà tác giả Phong nhũ phì đồn thường dọn, đầy
ắp đến bội thực hình ảnh, hình tượng, phúng dụ, ngoa
dụ, không từ cả những món đẫm “nước chảy thành mương”
đầy khêu gợi, hay những đặc sản sởn gai ốc như nguyên một
chú bé nướng ròn bày trên khay bạc.
Nhưng các món mà ông chế biến tài ba
không chỉ khoái khẩu với giới bình dân. Người
đọc khe khắt hơn cũng được ông phục vụ tận tình. Ông
là một nhà kể chuyện xuất sắc. Thành tựu của ông,
theo Ủy ban Nobel, một “hiện thực huyễn giác pha trộn cả cổ tích,
lịch sử và hiện tại“, tôi thừa nhận không bàn
cãi, chỉ xin thay Faulkner
bằng Gabriel García Márquez, Rabelais bằng Tây du
kí trong “kết hợp của Faulkner, Dickens
và Rabelais” được nhắc đến. Giải Nobel Văn chương năm nay không
hề làm văn chương xuống giá. Văn học Trung Quốc đương đại
hoàn toàn có quyền tự hào với Mạc Ngôn.
Về những gì đáng bàn ngoài vòng hiện
thực huyễn giác của ông, xin đề cập trong một dịp khác.
Loại thứ ba đông hơn cả, nhưng chỉ đáng
quan tâm ở khía cạnh họ là những kẻ làm
ngôn ngữ xói mòn nhanh nhất, ngốn nhiều giấy
mực và byte nhất, và là thủ phạm chính
khiến văn chương bị xóa thành công khỏi danh
sách nhu yếu phẩm tinh thần của con người. Trong khi nhà
văn loại thứ nhất có khi cần đến 10 năm, 20 năm để bỏ dở một
tác phẩm thì nhà văn loại thứ ba mỗi ngày
đều đẻ nóng vài ba đứa con tinh thần rồi đem máu
thịt của mình đi rải trong thiên hạ, với phương châm
thà bị tống vào thùng rác còn
hơn không tồn tại. Tác phẩm của ông Hoàng
Quang Thuận thuộc loại thứ ba này. Đề cử một tác giả
như vậy vào Giải Nobel Văn chương không khác
việc đoàn Việt Nam đăng kí mức xà nhảy cao 1m70,
là mức Thế vận hội không biết đến. Thơ ngẩn ngơ nhập đồng
đến từ Việt Nam cũng là thứ mà Giải Nobel Văn chương trong
111 năm lịch sử của mình không lường đến. Câu chuyện
Hoàng Quang Thuận cho thấy nhà văn loại thứ ba ở Việt
Nam đã đạt đủ thành tựu để văn chương ở đất nước này
trở thành một tồn tại thứ yếu, không còn đáng
đếm xỉa ngay cả cho các nhà kiểm duyệt.
Tôi tự thấy mình may mắn đã
ra mắt ở một thời điểm mà văn chương còn quan yếu,
có lẽ quan yếu hơn vai trò thật của nó. Trong
bối cảnh hiện thời, kẻ thù đáng sợ nhất của nhà
văn Việt Nam không phải là chế độ kiểm duyệt – tuy vẫn
tùy tiện và ngu xuẩn như bao giờ, nhưng đã
chểnh mảng và lỏng tay hơn xưa nhiều – mà là sự
thờ ơ chính đáng của xã hội dành cho cái
được coi là văn chương quốc gia.
© 2012 pro&contra
Đọc bài viết này,
thì Gấu lại có cái cảm giác, là
Sến lên tiếng về giải Nobel, và bèn, phân
loại nhà văn, có thể là do bực bội, khi đọc những
dòng Gấu lèm bèm về Mạc Ngôn!
Bài viết của Sến rất bảnh.
Nhận xét về thông báo chính thức của Viện Hàn
Lâm [bỏ tên sư phụ của Gấu ra], quá tuyệt. Những nhận
xét về Mạc Ngôn cũng quá đúng.
Nhưng, bà này vẫn không đọc
ra Mạc Ngôn, như John Updike đọc ông.
Bà này không biết nỗi đau của
dân TQ, cũng như cái Ác của giống Á.
Đọc văn là phải đọc bằng trái tim,
không phải bằng cái đầu.
Gấu hơn người là ở chỗ đó, thượng
vàng hạ cám, gì cũng đọc, và đều bằng
trái tim!
Viết cũng thế, mà đọc cũng thế.
Hà hà!
Trong hai nhà văn
gối đầu giường của Sến, Kafka là người ngoài hành
tinh, giải thưởng nào ở cõi đời này xứng
với ông? Ngoài hành tinh đấy, nhưng lại khuyên,
trong cuộc chiến đấu sinh tử giữa mi và thế giới, hãy
ở về phía thế giới. Nabokov, ngược lại, là 1 người
rất thèm Nobel: "Vladimir Nabokov có lẽ là
người than van nhiều nhất về chuyện hụt giải" (one of the most-lamented
non-laureates, The New Yorker). Khi
Pasternak được, ông cay cú quá, tố Pasternak là
nhà văn nhà nước Liên Xô! Cũng 1 thứ
cai ngục, nói theo Thầy Cuốc, khi viết về Mạc Ngôn.
Nabokov quả là 1 bậc đại sư phụ, nhưng cái
ông thiếu, thì Kafka lại thật thừa. Quái
là làm sao mà Sến lại nhét chung
hai ông ở dưới gối?
*
Please,
sir, I want some Mo
Mo Yan wins the Nobel prize in literature
Prospero
Oct
11th 2012
by The Economist
online
MO YAN, a prolific Chinese author,
has been awarded the 2012 Nobel prize in literature. Mr Mo's
best-known works are "Red Sorghum", which was made into a
film by director Zhang Yimou, and "The Republic of Wine". He is
one of the most widely translated Chinese writers. According
to the official Nobel citation, Mr Mo "with hallucinatory
realism merges folk tales, history and the contemporary". His works
have been compared to the magical realism of Colombian author, Gabriel
Garcia Marquez. Mr Mo came close to winning the Man Booker International
prize in 2007 but lost out to Chinua Achebe, a Nigerian
author.
The news has been well-received
by many in China. Unlike Liu Xiaobo, a Chinese dissident who was awarded
the Nobel peace prize in 2010, Mr Mo is considered a safe choice. State
broadcaster CCTV reported the news of the award, and it
is not being censored on Weibo, the Chinese version of Twitter.
Some critics, however, suggest that Mr Mo is too close to China's
establishment and too compliant with the Communist Party's continued
censoring of books and media.
http://damau.org/archives/48826
Trần
Vũ: Vẫn Orhan Pamuk, đã kể một kinh nghiệm cá
nhân: Sinh ra ở Istanbul nằm vắt lên hai miền Âu-Á,
Pamuk bị dằn xé giữa Đông và Tây, giữa truyền
thống và hiện đại, giữa bảo thủ và cấp tiến, giữa thế
tục và phạm thánh. Trong mình Pamuk thường xuyên
phát vang những đồng cảm với dân tộc bị thất lạc phải
quay về cội nguồn tìm cứu rỗi, cùng lúc là
những trỗi dậy của lý trí giận dữ tệ u mê sùng
bái. Xâu xé tinh thần của Pamuk dữ dội, vì
càng đến gần các giá trị nhân bản bác
ái của Tây phương, Pamuk càng đến gần Thiên
Chúa giáo, trong lúc bản thân là một
tín đồ Hồi giáo. Tuy nhiên, Pamuk đã tranh đấu
duy trì một nhà nước thế tục và là nhà
văn chống tử lệnh Fatwa của Ayatollah Khomeini xử tử khiếm diện Salman
Rushdie. Pamuk còn công nhận thảm sát dân Kurdes
dưới đế chế Ottoman, khiến bị kết án "sỉ nhục căn cước Thổ", phải
lưu vong sang Hoa Kỳ. Pamuk, cũng là nhà văn thú nhận:
"Những quyển sách của tôi là những ý tưởng ăn
cắp không xấu hổ từ thử nghiệm tiểu thuyết của Tây phương, rồi
pha với cổ tích và truyền thống Hồi giáo. Sự trộn lẫn
nguy hiểm của hai khuynh hướng tương khắc, làm nên ánh
lửa mạnh mẽ." Còn Phạm Thị Hoài? Sống lâu ở Đức, nhà
văn có bị "hội chứng Pamuk"? Những khi nhìn đồng hương bị
lôi ra tòa Bá Linh vì phạm pháp, làm
thông ngôn, Phạm Thị Hoài có trắc ẩn?
Note:
Cái chuyện Pamuk tố cáo Mậu Thân
Thổ, là cực chẳng đã, ông này mê
văn chương, thứ chẳng dính dáng gì tới chính
trị, như ông đã từng thú nhận. [La politique dans une ceuvre
littéraire, c'est un coup de pistolet au milieu d'un concert,
quelque chose de grossier et auquel pourtant il n'est pas possible
de refuser son attention.]
Và cái viết của ông chẳng mắc mớ
gì tới 1 thiên sứ, như của Sến, và những nhận
xét về cõi văn của ông ta, như Trần Vũ viết, cực
nhảm.
Pamuk là 1 thứ nhà văn chẳng cần ra khỏi
Istanbul, viết hoài còn hoài còn hoài.
Gấu đã từng dịch ông ta, quá rành về ông
ta. Khi dịch Istanbul, 1 cách nào đó, là
Gấu biến nó thành Sài Gòn của lũ Ngụy,
là vậy.
Những trích dẫn Pamuk, hay bất cứ ai, vào
thời net, tốt nhất để thêm nguyên tác, để người
đọc còn biết đường mà lần.
Người cần trích dẫn, qui chiếu, đúng hơn
- khi phỏng vấn 1 nhà văn Mít, như Sến, phải là
1 Sebald, hay tệ hơn, 1 Gunter Grass, làm gì có
“hội chứng Pamuk”, với 1… thiên sứ?
[Tại sao Sebald thay vì Pamuk, với 1 Sến: GCC
sẽ trở lại với vấn nạn này]
http://www.tanvien.net/thoi_su/Ohran_Pamuk_Nobel_06.html
Le Nobel de littérature au Turc
Orhan Pamuk
Agence France-Presse Stockholm
Le prix Nobel de littérature
a été décerné à au romancier turc
Orhan Pamuk, 54 ans, a annoncé jeudi l'Académie suédoise.
Le comité Nobel a choisi de récompenser
un écrivain «qui à la recherche de l'âme
mélancolique de sa ville natale a trouvé de nouvelles
images spirituelles pour le combat et l'entrelacement des cultures»,
a indiqué le communiqué de l'Académie suédoise
pour expliquer son choix.
Nobel văn chương về tay nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ,
Orhan Pamuk.
"Người, mà, trong khi đi tìm hồn thiêng
(1) buồn bã của thành phố quê hương của mình,
đã kiếm thấy những hình ảnh tâm linh mới mẻ,
cho cuộc chiến đấu và quấn quít lấy nhau, của những nền
văn hoá".
"who in the quest for the melancholic soul of his native
city has discovered new symbols for the clash and interlacing of cultures."
"Người mà trong khi tìm kiếm linh hồn sầu
muộn của thành phố quê hương của mình, đã
khám phá ra những biểu tượng mới cho cuộc đụng độ và
quấn quít lấy nhau của những nền văn hoá."
Pamuk's Nobel is a family affair
The anger and delight which greeted Orhan
Pamuk's Nobel prize in Turkey are no surprise, says Elif
Shafak. Turkey
has always expected novelists to provide more than words
Friday October 20, 2006
Guardian
Cái sự tức như điên, và
sướng lịm người của dân Thổ, khi Pamuk được Nobel, chẳng
có gì ngạc nhiên. Chẳng bao giờ ông con
này chịu đóng mình vào khuôn khổ
mà ông bố [xã hội Thổ] đòi hỏi. Dâng
hết đời mình cho văn chương, ông mê chữ hơn là
mê đời sống thực ở bên ngoài. Ngay từ cuối thế kỷ
19, khi Đế quốc Ottoman đã đi đoong, nhìn về Tây
Phương, một ông Thổ than: Tụi khốn kiếp đó đã phải
mất bao nhiêu năm mới đạt tới đỉnh cao chúng nó đang
hưởng thụ ? Bốn trăm năm ? Liệu chúng ta cũng phải đợi lâu
như vậy? Sao mấy thằng nhà văn của chúng ta chậm lụt như
thế này!
Tuyết, bản tiếng Pháp, giải thưởng
Médicis của Tây.
*
Đề từ, Tuyết
Our interest's on the dangerous
edge of things.
The honest thief, the tender murderer,
The superstitious atheist.
[Nỗi quan hoài của chúng ta, là vào
sát na sợi tóc nguy hiểm, ở mép bờ.
Tên trộm lương thiện, tên sát nhân
dịu dàng. kẻ vô thần mê tín].
Robert Browning, « Bishop
Blougram's Apology » [Lời xin lỗi của Bishop Blougram]
La politique dans une ceuvre
littéraire, c'est un coup de pistolet au milieu d'un concert,
quelque chose de grossier et auquel pourtant il n'est pas possible
de refuser son attention. Nous allons parler de fort vilaines choses.
[Chính trị trong văn học như tiếng súng
giữa buổi hòa tấu, một cái gì thô kệch,
tuy nhiên chẳng làm sao bỏ qua. Chúng ta sẽ nói
tới toàn những chuyện khốn kiếp.]
Stendhal, La Chartreuse
de Parme Tu viện thành Parme
Eh bien détruire le peuple,
le réduire, le forcer à se taire. Car l'instruction
européenne est supérieure au peuple...
[OK, hãy huỷ diệt nhân dân, bóp
nó lại, bắt nó câm.
Bởi vì sự chỉ dẫn của Âu Châu cao hơn,
ưu việt hơn nhân dân...]
Dostoievski, Les Carnets des Frères Karamazov [Sổ
tay Anh em nhà Karamavov]
The Westerner in me was discomposed.
[Thằng Tây mũi lõ ở trong tôi cứ thế
mà rã ra].
Joseph Conrad, Under Western Eyes [Dưới con mắt Tây Phương]
Người Kinh Tế Mới, August
26
Grassroots: Nhổ cỏ thì phải nhổ tận rễ.
Hãy tước bỏ cái tính muôn đời
của "Hận Thù":
Oter à la HAINE son éternité.
Grass’s Lapses in Recalling the Past
Are Puzzling
Nguồn
Hãy tước bỏ cái tính
muôn đời của "Hận Thù":
Oter à la HAINE son éternité.
Tại sao Grass để đến gần hết đời,
mới xì ra, cái tội, chỉ là hậu quả của một cú
bốc đồng của tuổi trẻ?
Và tại sao không ỉm luôn đi?
Theo Gấu, Grass đã thú
tội rất nhiều lần, một cách gián tiếp qua tác
phẩm của ông.
Giả như ông xì ra liền, thì, sẽ không
có những tác phẩm đó.
Cái vụ tự thú của
ông, tương tự với vụ của Francois Mitterrand.
Trước khi chết, tổng thống Pháp,
Francois Mitterrand đã "chiến đấu với chính mình",
để có được lời nói cuối, về việc ông đã tham
gia trong chính phủ Vichy, trước khi gia nhập lực lượng kháng
chiến. Việc ông cho tới năm 1986, là bạn thân của
René Bousquet, một viên chức trong chính quyền Vichy
theo Đức Quốc Xã, bị kết án năm 1989 về tội ác chống
lại nhân loại, khi đẩy người Do-thái vào lò
thiêu. Trong cuốn "Hồi Tưởng qua hai giọng nói"
(Memory in two voices), với người đối thoại
là Elie Wiesel - một nạn nhân sống sót tại lò
thiêu người, Nobel Hòa Bình 1986 - khi nói
ra những tội ác đó, ông chỉ làm một sửa
soạn bất khả tri trước khi chết, một cái chết không có
sự an ủi của một niềm tin. Tôi không biết tôi có
"biết" không. Tôi không biết tôi có
"không biết" không: điều không thể quy định một
cách ngay thẳng, công bằng trong từ "niềm tin", ông
nói. Và ông nói thêm, dẫn lời ghi
trên bia mộ Willy Brand, cựu thủ tướng Tây Đức: "Tôi
đã làm cái điều tôi có thể làm".
Don't mention
the war, Gunter
Đừng nhắc đến chiến tranh, Gunter
Ben Hutchinson
Sunday September 3, 2006
The Observer
The storm surrounding Gunter Grass's
announcement that he joined the Waffen-SS towards the end of the
Second World War shows no sign of abating. Modern Germany loves nothing
better than a heated debate about its responsibilities towards the past,
as many of the longest-running arguments of its brief post-reunification
history illustrate: should the new Holocaust memorial in Berlin have
been built, for instance, or should the 'ordinary German', cowering under
the allied air raids, also have the right to see himself as a victim?
If schadenfreude were not already
a German word, it would have to be invented.
Nếu trong tiếng Đức chưa có
từ schadenfreude, đây là lúc bịa ra nó.
schadenfreude: Sướng điên lên
vì nỗi bất hạnh của kẻ khác
Gunter Grass:
I needed time to reveal my Waffen-SS past
Giles Tremlett in Madrid
Wednesday September 13, 2006
The Guardian
Gunter Grass, who admitted he would probably have been
involved in war crimes if he had joined the Waffen-SS earlier.
Gunter Grass, the Nobel laureate whose confessions of SS
membership during the second world war have shocked his native Germany,
has denied lying about his past and claimed he simply needed time
to tell his own story.
In an interview in Spain's El País newspaper, Grass
replied to his critics while admitting he would probably have been
involved in war crimes had he been a bit older and joined the notorious
Waffen-SS earlier. "I was young, and I wanted to leave home. In my heart,
it was something I agreed with," he said, explaining how he joined up
as a 17-year-old in the dying stages of the war. "I considered the Waffen-SS
to be an elite unit," he added. "If I had been born three or four years
earlier I would, surely, have seen myself caught up in those crimes."
Grass đã cần thời gian [60 niên] để lục lọi
quá khứ Nazi.
Ông cho biết, có thể phạm tội ác, nếu
gia nhập SS sớm hơn.
Nếu tớ ra đời sớm hơn chút nữa, là bỏ mẹ
rồi.
WAR AND REMEMBRANCE
“History, or, to be more precise,
the history we Germans have repeatedly mucked up, is a clogged toilet,” the
narrator in Günter Grass’s most recent novel, “Crabwalk,” says. “We
flush and flush, but the shit keeps rising.” Now the author, a Nobel laureate
widely regarded as “the conscience of Germany”—a man who has regularly sermonized
against the forces of reaction and the corruptions of power—is up
to his neck in it himself.
Grass, who was born in 1927, never pretended to have escaped
the war unstained.
Lịch sử, hay chính xác hơn, lịch sử Đức quả
đúng là một cái nhà xí bị tắc.
Chúng ta cứ thế móc cứt và cứt cứ thể đùn
lên. Một nhân vật của Grass lầu bầu.
Bây giờ cứt ngập đến tận cổ me-xừ Grass.
Nhưng đây là một con người đếch chịu trốn
thoát lịch sử mà không có tí cứt
ở trên người.
Bảnh thật!
Nhất Ngài! NQT
*
Tư tưởng lớn gặp nhau !
TLS đặt cái tít y chang, cho bài điểm
cuốn hồi ký Bóc Hành của Grass: Một gia vị [một
thành tố] thêm vô.
Bất giác Gấu lại nhớ đến một buổi sáng ngày
nào ngồi Quán Chùa, khi cả bọn đang loay hoay
với hình ảnh "Một cái gì thật vàng trong
tên Em", nhà thơ ngồi cùng bàn bèn
đặt ly cà phê xuống, và thở dài, phán:
- Cứt chứ còn gì nữa !
Nhưng cái tít nho nhỏ ở dưới mới bảnh. Nó
làm nhớ đến ông tướng về hưu, sống ngày già
của mình bằng những con lợn được vỗ béo bằng những
thai nhi:
Ký sự gia của nước Đức vỗ béo mấy tay chỉ
trích ông, bằng cuộc đời, mà ông ta đã
quên!
Ian Brunskill, người điểm sách cho rằng, đây
đúng là một quà tặng của Grass cho giới phê
bình ông. Ông nhà văn to mồm, rậm ria, chuyên
xục xạo ở những nơi chẳng nên xục xạo, chuyên vạch áo
cho người xem... chân xem đùi người Đức này, bây
giờ, tự đốt nhà ra mặt chuột nhé! Sử gia Joachim Fest
tuyên bố, "đếch thèm mua cái xe cũ của thằng chả
này".
A letter written by Günter
Grass to an Israeli college sheds new light on the time he spent as
a member of the Waffen SS.
He writes that "the SS will be a mark of Cain for me from
now until the end of my days".
The letter was written in October after Netanya Academic College withdrew the offer of
an honorary degree, which they had been discussing with the Nobel
prize-winning author, and was published yesterday in the Israeli daily
Haaretz.
The publication in August of Grass's memoir, Peeling the
Onion, which contained the revelation that the novelist had served
in the SS, ignited fierce controversy. Netanya college immediately
informed Grass he would not be granted the degree, suggesting that he
should explain himself in a public letter.
In it the writer blames his joining the Waffen SS on his
"stupidity".
"Due to my stupidity in those days and the ignorance of
which I am guilty," he explains, "I admired the Waffen SS as an elite
unit."He also recognises the "sort of wounds the SS symbol, the term
SS, reopen in the memory of many of the inhabitants of Israel" and
asks that "the whole history of my upheaval-filled life, since the time
I was 17, and all of my activity as a writer and an artist and an involved
citizen in my country be acknowledged as a counterweight
Nguồn
HPNT's
Case
ANCIENT COMBATANT
Veteran of foreign wars,
Stiff in arm and leg,
His baggy pants billowing in the wind
Salutes a crow in a tree,
And resumes his stroll
Past a small graveyard,
Swerving and waving his arms
As if besieged by ghosts
Lurking among headstones,
Waiting to accost him
And make a clean breast
,Before he slips out of sight.
The tiger lilies bemused.
The curving dirt road in his wake
Deep in silence
And prey to lengthening shadows.
Cựu chiến hữu
Cựu chiến hữu của những cuộc chiến ngoại bang giật dây
Chân tay cứng đơ
Ống quần rộng thùng thình như hai cánh
buồm lộng gió
"Chàng" cúi chào một con quạ ở trên
cây
Và bèn tiếp tục cuộc dạo
Qua một nghĩa địa nhỏ
Chàng loạng quạng, ve vảy tay
Như bị bủa vây bởi những hồn ma
Lấp ló, rình mò giữa đám
bia mộ
Đợi bắt chuyện
Và làm 1 cú thú tội, sám
hối, tự vấn... hay cái con mẹ gì đó
Một điều mà tên già NN và đồng
bọn,
Không thể làm được,
Trước khi biến khỏi tầm nhìn.
Những bông hoa kèn bèn sững người.
Con đường đất bụi cong queo bèn tỉnh giấc
Chúi sâu mãi vào im lặng
Và bèn sửa soạn săn mồi
Là những cái bóng dài loằng
ngoằng.
Note:
Ôi chao, lâu lắm mới có được 1 "bi
khúc" - thuổng NL - dành cho lũ Bắc Kít xẻ dọc
Trường Sơn đi kíu nước!
NQT
http://www.babelmatrix.org/…/Carnicer…/en/37604-Butcher_shop
Butcher shop
Lower than a lupanar
the butcher shop signs the street insultingly.
On the lintel
a blind cow's head
rules the coven
of final marble and gaudy flesh
with an idol's remote majesty.
[Mulrooney, Christopher]
J.L. Borges
AT THE BUTCHER'S
Meaner than a house of prostitution
the meat market flaunts itself in the street like an
insult.
Above the door
the head of a steer in a blind-eyed stare
watches over the witches' Sabbath
of flayed flesh and marble slabs
with the aloof majesty of an idol.
[Norman Thomas di Giovanmi]
"Lộn(g) dịch":
Ở nhà HPNT
Bần tiện hơn cả nhà thổ
Phiên chợ thịt người
Ánh lên lời nguyền rủa của những nạn nhân
Tết năm đó
Ở bên trên cửa
Cái đầu bò mù
Đưa mắt nhìn xuống Ngày Hội Máu của
VC
Bằng 1 cái nhìn cao sang, quyền quí
Của những vì vua chúa thời nhà Nguyễn.
Sách
& Báo
Mới
Trong đất trời
Như mọi thi sĩ của một thời điêu đứng,
anh chạy trốn thơ....
Ý trên, TTT lấy từ Holderlin, Tại sao thi sĩ trong
thời điêu đứng?
What are poets for?
Thi sĩ để làm cái quái gì cơ chứ?
Pourquoi des poètes en temps de détresse?
Tại sao thi sĩ trong thời điêu đứng?
Heidegger
"...
and what are poets for in a destitude time?", Holderlin hỏi, trong bài
điếu "Bánh mì và Rưọu vang".
Thời của đêm thế gian là thời điêu đứng: The
time of the world's night is the destitude time.
*
Is Rainer Maria Rilke a poet in a destitude time? How is his
poetry related to the destitution of the time? How deeply does it reach
into the abyss? Where does the poet go, assuming he goes where he can
go?
Liệu có phải Rilke là nhà thơ của thời điêu
đứng?
Như thế nào, làm thế nào, thơ của ông
móc nối với sự điêu đứng của thời gian? Sâu thẳm
cỡ nào, thơ của ông với xuống vực thẳm? Nhà thơ đi
đâu, giả dụ như có một nơi chốn nhà thơ có
thể đi?
*
Từ 'thời gian', ở đây có nghĩa, thời gian mà
chúng ta còn thuộc về nó. Với kinh nghiệm lịch
sử của Holderlin, sự xuất hiện và hy sinh của Đấng Ky Tô
Christ đánh dấu bắt đầu và chấm dứt ngày của những
vị thần, the day of the gods. Đêm xuống, và kể từ đó,
ba ngôi nhập một, the 'united three' - Herakles, Dionysos, và
Christ - rời bỏ thế gian, buổi chiều của thế gian chìm dần vào
đêm tối của nó. Đêm thế gian trải dài bóng
tối của nó. Đây là thời thần linh trễ hẹn [The era
is defined by the god's failure to arrive], thời khiếm khuyết thần linh,
default of god. Thời khiếm khuyến thần linh mà Holderlin kinh nghiệm
không có nghĩa chối bỏ liên hệ giữa thần và người
và nhà thờ. Khiếm khuyết thần linh có nghĩa, chẳng
còn thần linh tóm thâu người và vật thành
một mối, và bằng một mối thâu gom như thế, lịch sử thế gian
được đặt để, và con người dong duổi cùng với nó.
Trong cuốn sách Gấu mới tậu, Coetzee đi 1 đường về Holderlin:
Translating Holderlin.
Tác giả tự hỏi:
Ai là Holderlin, kẻ dám nói cho cả hai,
quá khứ đã mất, và tương lai của chủ nghĩa Quốc
Xã?
Who was Holderlin, who could be made to speak for both a lost
past and a National Socialist future?
Lướt
TV
Re Pamuk.
Orhan Pamuk tiểu thuyết gia
đã rất thành công với Tên tôi là
Đỏ, Pháo đài trắng hay Cuốn sách đen, nhưng
vì là một nhà văn rất tham vọng, “phổ màu” của
ông còn muốn bao trùm rộng lớn hơn nữa, lên chính
trị, hội họa cổ điển, những tản văn ngắn, và lên sự đọc.
“Những màu khác”
minh chứng cho tham vọng văn chương Orhan Pamuk. Cuốn sách là
sự nối dài đầy ngoạn mục, những “ngoại truyện” bổ sung cho các
tiểu thuyết của ông, những thêm thắt về cảm giác vốn
đã huy hoàng trong cuốn hồi ký tuyệt vời Istanbul,
và nhất là ở đây, ta được chứng kiến Pamuk trong tư
cách một người đọc cự phách; người đọc ấy hào phóng
dẫn dắt ta đến với thế giới những tác giả mà ông sùng
mộ nhiều chục năm nay: Camus, Flaubert, Dostoyevsky, Nabokov… những thế
giới của sự đọc ấy mở rộng nhiều lần đường biên giới của sự viết
ký tên Pamuk.
Blog NL
Khi “Những sắc màu khác”
mới ra lò, TV có đi vài bài, và có
ý định đi hết cuốn, nếu không, thì những bài
liên quan tới xứ Mít, nhưng nhớ là, một “tay nào
đó”, hình như đại diện cho NN, mail, cho biết đã
có bản quyền cuốn sách, cho nên GCC bèn ngưng.
Cách
viết NSMK, theo GCC, là những kinh nghiệm cá nhân,
riêng tư, của Pamuk, một nhà văn Thổ, khi đọc “thế giới”, trong
cái tham vọng vươn ra thế giới, qua những tác giả như Dos,
Camus… Pamuk có "giấc mơ Thổ" của ông, khi viết Istanbul, và cũng giấc mơ đó,
khi viết NSMK. Độc giả TV có thể nhận ra điều này, khi
đọc ông viết về Dos, hay về Camus.
Trên tờ TLS số 21 Tháng
Ba, 2008, Christopher de Bellaigue, điểm cuốn "Những mầu sắc khác",
tập tiểu luận của Pamuk, coi ông là tiểu thuyết gia hơn
là tiểu luận gia. Theo người viết, Pamuk là một thứ nhà
văn hướng nội, introspective writer, mặc dù dính líu
vô những chuyện chính trị, và từng bị buộc tội "sỉ
nhục cộng đồng Turki". Và có thể nói, toàn
bộ tiểu thuyết của ông tạo nên
một trong những tự thuật lằng nhằng, lẵng nhẵng nhất trong văn chương.
[Pamuk is an introspective writer. Indeed, it might be said that the sum
of his novels constitues one of the most sustained, if elliptical, autobiographies
in literature].
Memo
PXA vs Graham Greene
“An’s story strikes me as something
right out of Graham Greene,” said David Halberstam, who was friends
with An when he was a New York Times reporter in Vietnam.
“It broaches all the fundamental questions. What is loyalty? What is patriotism?
What is the truth? Who are you when you’re telling these truths? There
was an ambivalence to An that’s almost impossible for us to imagine. In
looking back, I see he was a man split right down the middle.”
Nguồn: Blog Du mục
Da vàng
Đây là cách
nhìn của tụi ký giả Mỹ, khi nhìn PXA: Qua Greene.
Bởi là vì mấy
anh này, anh nào cũng muốn có 1 Người Mỹ Trầm Lặng, riêng cho mình.
Với Ẩn không hề có
cái chuyện nứt ra làm đôi, ở ngay giữa, như thế.
Nếu có, là anh đã bỏ chạy về phía
những kẻ bại trận, là 1 Miền Nam, trong có lũ Ngụy rồi.
Suốt đời, Ẩn có bao giờ ân hận như Víp Va
Ka, thí dụ, qua câu than, 1 triệu người vui, 1 triệu người
buồn?
Luôn nói sự thực?
Một điệp viên thứ thực, làm sao nói sự thực? Time, trong bài viết ai điếu Ẩn, đã giải thích
ý nghĩa của từ “sự thực”, trong trường hợp Ẩn: anh ta không
thả vịt cồ. Không phao tin nhảm.
Cái sự kiện xẻ làm
đôi, ngay ở giữa đó, là con quỉ của tên gián
điệp, như Steiner, trong bài viết “Điệp Viên của Chúa”,
“God’s Spies” vinh danh Greene, khi đọc The Human Factor:
“Incipient duality is the agent’s
demon”
[Tính cách nhị phân mới chớm - một thứ ung
thư mới chớm - là con quỉ của tên điệp viên].
Malraux cũng nhận ra chân
lý này, với 1 tiểu thuyết gia.
TTT mê Malraux, bèn
chôm luôn, ra cái tít "Nỗi Chết Không
Rời", tên 1 bài viết của ông, sau bị TPG, hay Thế
Uyên, chôm, như trong thư viết cho "đảo xa" cho biết, và
trích câu của Malraux, để vinh danh Thầy, và cũng
để cho biết nguồn:
…. như cục ung thư, sống với nỗi chết âm ấm ở trong lòng
bàn tay,... comme un cancer, vivre avec cette tièdeur
de mort dans la main.
Ẩn đâu phải tiểu thuyết
gia. Ông làm điệp viên như tên Mít gốc
Bắc Kít, ái quốc, mong muốn đuổi thực dân Pháp,
rồi Mỹ, thống nhất đất nước, qui về 1 mối, có gì mà
phân đôi?
Nếu ông có căn bịnh ung thư đó, thì
đã khác rồi.
Bởi thế mà sau 30 Tháng Tư, ông bị Bắc Kít
đem về Bắc, cho đi cải tạo.
Chúng sợ ông bị căn bịnh ung thư này!
Hà,
hà!
Nhưng, phải là Brodsky,
khi vinh danh Kinh Cầu, mới nói hết ý
về cái sự xẻ ra làm đôi này:
Nó là con vai
rớt, phân biệt con người bình thường, với 1 nhà
văn.
Một con người bình thường, khi gặp thảm họa, là
chịu đựng, là đau khổ…
Nhà văn, khác. Nó cũng chịu đựng như bất
cứ con người, nhưng hở 1 tí, là bèn cố né
qua 1 bên, để quan sát và khi có dịp là
bèn viết, là bèn mần thơ!
Brodsky: Với tôi, tính
kinh điển, thực tại thực, the main thing, của Kinh Cầu
[thơ Akhmatova], là đề tài về sự xẻ đôi, về sự bất
lực của nhà thơ không có được một phản ứng toàn
vẹn [trước thực tại]. Akhmatova mô tả những kinh hồn thất đảm, những
ghê rợn của Đại Khủng Bố của Stalin. Nhưng cùng một lúc,
bà nói hoài hoài về cái tâm trạng
mấp mé biến thành khùng của mình....
Brodsky. For me the main thing
in Requiem is the theme of
splitting, the theme of the authors inability to have an adequate reaction.
Akhmatova describes in Requiem all the horrors of Stalin's "great terror,"
but at the same time she is constantly talking about how close she is to
madness. Do you remember?
Already madness
dips its wing
And casts a shade across my heart,
And pours for me a fiery wine
Luring me to the valley dark.
I realize that
to this madness
The victory I must yield,
Listening closely to my own
Delirium, however strange.
Khùng điên dang
rộng cánh
Trải dài bóng qua trái tim tôi
Đổ rượu nồng cho tôi
Lùa tôi xuống thung lũng tối
Tôi nhận ra, đối với điên
khùng này,
Là chiến thắng mà tôi phải trao nhường cho
nó.
Trong khi lắng nghe, thật cận kề,
Cơn hoảng loạn của chính mình
Mới lạ lùng làm sao!
Khổ thơ sau có lẽ là
tuyệt vời nhất của tất cả Kinh Cầu.
Hai dòng chót nói sự thực lớn lao nhất. Akhmatova
diễn tả tâm trạng của thi sĩ, khi nhìn mọi chuyện xẩy ra cho
bà, như thể, bà đứng qua một bên, Với nhà thơ,
sự kiện, viết ra, cũng quan trọng như, sự kiện, diễn tả nó: Nhà
thơ bắt đầu trù ẻo mình: Anh là thằng điên khùng.
Mi là một thứ quái vật chi, tại sao mi thản nhiên
nhìn những sự ghê rợn như thế diễn ra trước mặt, như thể
nó chẳng liên quan mắc mớ gì tới mi?
Volkov: Chuyện trò với Brodsky (1)
PXA
hẳn là biết trước số phận của ông, và của cuốn viết
về ông, của Bass. Địa ngục chật cứng lũ VC loi nhoi, với đủ thứ
tội, đâu có chỗ cho ông, như chính ông
nói với Bass. Chúng không ưa tôi, nhưng tôi
không làm gì để chúng khép tội, làm
thịt tôi. Cũng vẫn ông nói.
Số phận Võ tướng quân đâu có khác.
Tên y tá dạo sợ còn không biết Ẩn là
ai nữa. Trong khi đó, người dân Miền Nam không bỏ
1 ai, đó là điều chúng ta ngày càng
tự hào, hãnh diện, như 1 đền bù tinh thần, cho những
đau thương, tổn thất cùng với những ngày 30 Tháng
Tư sắp tới.
PXA & Greene
Phạm Xuân Ẩn (tiếp)
Cuốn sách xuất sắc nhất
về Phạm Xuân Ẩn cho tới thời điểm này là của Thomas
Bass, The Spy Who Loved Us. The Vietnam War and Pham Xuan An's Dangerous
Game; để xuất hiện ở Việt Nam, cuốn sách đã phải mang cái
tên lệch đi, Điệp viên Z21, Kẻ thù tuyệt vời của nước
Mỹ.
Perfect Spy chứa đựng câu chuyện mà Phạm Xuân
Ẩn muốn có; là một cuốn tiểu sử "chính thức", tác
giả Larry Berman đã được Phạm Xuân Ẩn cung cấp một version
"kiểu Phạm Xuân Ẩn" (kiểu Phạm Xuân Ẩn có lẽ then
chốt nhất nằm ở chỗ: lúc nào cũng nói sự thật; kể
cả khi cùng một lúc gửi báo cáo về Bắc Việt
và viết bài cho Time, với cả hai bên Phạm Xuân
Ẩn đều nói sự thật), một version hoàn hảo, nhưng đầy "mất
mát". Trong những thứ quá mức phức tạp, hướng đến bức tranh
chung hoàn hảo là một cách tốt nhất để hứng lấy những
thất thoát to lớn.
Thomas Bass từng nhiều lúc không được phép
gặp Phạm Xuân Ẩn, chắc hẳn vì Phạm Xuân Ẩn cũng nhận
ra cách tiếp cận của Bass khác của Berman, version về cuộc
đời ông sẽ không "hoàn hảo" như ông có thể
làm được với Berman; trong cuốn sách, Bass cũng mấy lần
ám chỉ Phạm Xuân Ẩn hoàn toàn hiểu cuộc chơi
của mình với Bass, biết rằng đây sẽ là một câu
chuyện "từ bên trong". Sự dai dẳng đầy tinh thần báo chí
của Thomas Bass trong cuộc "đeo bám" Phạm Xuân Ẩn thật là
đáng nói, đeo bám gần ở ngôi nhà lúc
nào cũng loạn xạ tiếng chim hót, và cả đeo bám
xa, với những chuyến đi, chẳng hạn như ra Côn Đảo.
Bass đặc biệt để ý đến những khoảnh khắc biến đổi của Phạm
Xuân Ẩn, và luôn luôn tìm cách
nắm bắt con người của Phạm Xuân Ẩn vào những lúc không
ngờ nhất (ví dụ lúc Phạm Xuân Ẩn đứng trước bàn
thờ); làm điều này hẳn là không dễ, vì
Phạm Xuân Ẩn có một nguyên tắc trò chơi không
hề đơn giản: không hề giả vờ hay đóng vai, mà thật
như thế.
"Tôi tự hỏi hay là ánh mắt trách móc
của người cha cũng làm cho ông thấy ngột ngạt khó
thở" (tr.47).
Thomas Bass đặc biệt xuất sắc
ở hai chỗ: tìm cách gắn kết Phạm Xuân Ẩn với một
con người cũng hết sức phức tạp, không thể nắm bắt, là Graham
Greene (Phạm Xuân Ẩn chưa từng gặp Greene, chỉ vài lần nhìn
thấy Greene, và Phạm Xuân Ẩn cũng là chứng nhân
tận mắt vụ nổ giữa trung tâm Sài Gòn, sự kiện xuất
hiện trong The Quiet American).
Điều thứ hai là Bass đã phân tích rất
thấu đáo Phạm Xuân Ẩn thời nhỏ và thời trẻ, với vai
trò của những người gần gũi như ông thầy Trương Vĩnh Khánh,
để chỉ ra một thay đổi về hệ hình ở người Việt Nam: lớp người trước
Phạm Xuân Ẩn học qua Tàu để hiểu Pháp, yêu quý
nhiều giá trị của Pháp để rồi đánh người Pháp,
còn giờ đây là chuyện học từ người Pháp để
hiểu người Mỹ, yêu quý nhiều giá trị của Mỹ để rồi
đánh người Mỹ.
"Gia đình tôi lúc nào cũng có
tinh thần yêu nước với khát vọng đánh đuổi người
Pháp ra khỏi Việt Nam" (tr.37) (thế mà người cha của Phạm
Xuân Ẩn lại là một công chức của nhà nước thuộc
địa Pháp, một người vẽ bản đồ; kỹ năng bản đồ sau này sẽ
giúp ích rất nhiều cho Phạm Xuân Ẩn).
"Ông Khánh và cậu học trò của mình
dành hàng giờ trao đổi những câu chuyện đùa
cợt và tếu táo về việc huấn luyện trong tương lai để Phạm
Xuân Ẩn trở thành một tay gangster Mỹ" (tr.63).
Thomas Bass còn nhìn ra hình ảnh Tom Sawyer
ở Phạm Xuân Ẩn hồi bé. Theo tôi, đây là
một so sánh rất xuất sắc. Tom Sawyer và Tarzan lồng trong
hình ảnh Phạm Xuân Ẩn, điều này giải thích cho
rất nhiều điều, nhất là về khí chất một con người.
Rốt cuộc, trong ba cuốn sách
quan trọng về Phạm Xuân Ẩn, cuốn của Berman, cuốn của Bass, và
tiểu thuyết Thời gian của người của Nguyễn Khải (Phạm
Xuân Ẩn là nhân vật Quân trong đó), cách
tiếp cận của Nguyễn Khải lại là dở nhất: nổi bật trong cái
nhìn của Nguyễn Khải là cơ chế này: khi người ta
phải đóng giả cái gì đó quá nhiều,
quá lâu, thì cái đóng giả như trở thành
thực, bản ngã thật rất khó xuất hiện trở lại; hình
như điều này chẳng có chút ăn nhậu nào tới
Phạm Xuân Ẩn.
Blog NL
Cái chuyện móc
PXA với Greene, theo Gấu, cực nhảm, vì chẳng có gì
giống nhau giữa họ. Nguyên uỷ của nó, là ở trong cái
đầu tụi báo chí Mẽo, khi tới Sài Gòn tên
nào cũng lận lưng 1 cuốn Người Mẽo Trầm Lặng
của Greene, như Norman Sherry, tác
giả bộ sách khổng lồ tiểu sử của G. Greene, nhận xét, nên
trông gà hóa cuốc.
Mấy tay này, kể cả Bass, theo Gấu không đọc nổi Greene.
Ở cái phần sâu thẳm của ông - như là 1 tiểu
thuyết gia. Ông làm gián điệp, để phục vụ nữ hoàng
Anh, nước Anh, nhưng đó chỉ là mặt nổi của vấn đề. Mặt chìm
mới ghê: Ông làm gián điệp để hiểu con người.
Khác hẳn PXA, đâu phải tiểu thuyết gia con mẹ gì, đâu
có vấn đề “con người” gì với Cao Bồi, theo tính cách...
tiểu thuyết gia?
*
“Tôi phải kiếm cho ra một tôn
giáo”, Graham Greene nói, “để đo lường cái phần
quỉ ma ở nơi tôi”.
Một thách đố như vậy đã
đặt Greene vào cái thế của một “tiểu thuyết gia Ky tô
giáo” – ông rất ghét định nghĩa này - đúng
như viễn tượng về ông: trước khi chọn Chúa Ky Tô,
như là một thế giá cao cả nhất, thì ông, trước
hết, còn là một con người bị ám ảnh bới chính
cái nấc thang thế giá đó. Không nhà
văn nào của thế kỷ 20 này có thể so với ông,
người muốn đi tới cùng trong cõi nhân sinh nhỏ xíu
- ấy là nói về chuyện so sánh giữa con người với
con người, và có thể, với Chúa nữa. Trong khi những
tiểu thuyết gia thuộc loại tầm tầm mày mò, dị mọ những
đòn phép nhằm phân biệt thằng cha này tốt,
thằng cha kia xấu, Greene là bậc thầy của sự tách biệt đa
tầng, dị dạng, khi xoáy vào những đường ranh thật là
mỏng manh phân chia, giữa thế nào là quỉ ma thế nào
là độc địa, thế nào là bất tương thân, thế
nào là ngu si đần độn chứa đầy ác tâm. Những
con người của ông loay hoay xoay sở bên trong cái khuôn
mẫu đạo đức rất ư là chi ly. Sa sẩy, là từng bước chân,
là từng lỡ bộ. Sai một ly đi một dặm. Thành thử vô
phương, làm người tốt [to be good] ở nơi Greene. Nhưng có
hàng triệu triệu cách, để đỡ tồi tệ hơn, ít hoặc nhiều.
Khía cạnh hiện thực mang tính đạo hạnh chi ly tỉ
mỉ đó, ở Greene, thường không được người đọc để ý,
thay vì vậy, là những mầu sắc “baroque” – trò truy
hoan thẳng thừng, thú du lịch, cái lối viết nhà
báo – những dấu ấn khiến ông được coi là đồng hội
đồng thuyền với những tay phiêu lưu như Erskine Childers, Len Deighton,
Alec Waugh, John Le Carré.
Chắc chắn rồi, Greene phải được coi như là một người viết
quan tâm tới dòng văn chương điệp viên, tình
báo – chú thiếu niên Greene ngày nào
đã từng thử làm người hùng máu lạnh, qua trò
chơi chết người Russian roulette. Tuy nhiên, người đọc đừng quên
rằng, trên giá sách của ông, còn có
sự ngự trị của, thí dụ như, Henry James. Hơn thế nữa, Greene quả
thực là một điệp viên nhị trùng, theo đúng nghĩa
đen của từ này.
“Thượng Đế ở trong những chi tiết”,
Ruth Franklin, trên báo Người Nữu Ước số đề ngày
4 tháng Mười - điểm cuốn thứ ba và nhân đó
toàn bộ ba cuốn, tiểu sử Greene, của Sherry - và cùng
lúc tưởng niệm một trăm năm ngày sinh của Greene, cũng đã
nhắc tới một chủ nghĩa hiện thực mang chất Ky Tô Giáo của
Greene, và cho rằng, khổ tâm số một của Greene - như là
một tay Ky Tô - đó là: ông nghi ngờ khả năng
yêu Chúa của chính ông [he doubted his own ability
to love God], và nếu thiếu nó, là không thể
làm cú nhẩy chót vào lòng Ngài,
để dâng hết mình cho Ngài, rằng con xin đầu hàng!
Cú đầu hàng vô điều kiện cần thiết để biến một tay tổ
sư tội lỗi là Greene, trở thành ông thánh Greene!
Nhưng chính sự thất bại của một ông tổ sư tội
lỗi - không thể nào thành Thánh được - đã
biến ông thành một tiểu thuyết gia bậc thầy. Hơn thế nữa,
bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, mỗi lần ông đưa
cái mũi vào một mảnh đất khốn khổ khốn nạn, là y như
rằng, ở đó có vấn đề, và vẫn còn có vấn
đề. Thí dụ như trong Người Mỹ Trầm Lặng, ông đã ngửi
ra được rằng, hoà bình không có nghĩa là
thanh bình, ở một cõi nhân gian nhỏ xíu của những
tên mít đặc, mít ướt, mít mật, mít cà
chớn… đó!
Source
Đọc, chỉ 1 khúc trên,
là thấy, Ẩn khác Greene.
Còn cái gọi sự
thực, "Ẩn luôn nói sự thực", cũng cực nhảm. Gấu đã
từng gặp ông, đã từng có thời có thể coi như
là bạn của ông.
Ông là người rất kín đáo, rất ít
nói. Cảm giác đầu tiên gặp, là tay này,
giả như có sự thực, thì cũng giấu thật kỹ, khó mà
ai biết được.
Cựu chủ viết về nhân viên
cũ.
(1) DIED. Pham Xuan An, 79,
Viet Cong colonel who worked during the Vietnam War as a highly respected
journalist for TIME while spying for the communists—a double life kept secret
until the mid-'80s; in Ho Chi Minh City. The first Vietnamese to become a
staff correspondent for a U.S. news outlet, An said he was an "honest reporter"
who did not spread misinformation. From his unique perch at TIME's Saigon
bureau, the popular, plugged-in An was able to achieve feats for both
sides, alerting the Viet Cong to the impending buildup of U.S. troops
in the mid-'60s and secretly arranging for the release of American journalist
Robert Sam Anson, captured in Cambodia by the Khmer Rouge.
[Tạm dịch: Từ trần. Phạm Xuân
Ẩn, 79 tuổi, đại tá Việt Cộng, trong chiến tranh Việt Nam, là
một ký giả rất được kính trọng của tờ Time,
cùng lúc còn làm công tác gián
điệp cho Cộng Sản - một cuộc sống kép được giữ kín cho
tới giữa thập niên 1980, tại Thành Phồ Hồ Chí Minh.
Người Việt Nam đầu tiên trở thành nhân viên chính
thức, cho một tờ báo lớn của Mỹ, tại một trụ sở ở nước ngoài
của nó. Ẩn nói, ông phục vụ như là một "thông
tín viên lương thiện", theo nghĩa, không phao tin
dởm. Giống như một con cú, đậu chót vót trên
cao, từ vị trí độc nhất của mình ở tòa soạn báo
Time, con người bình dân, giao thiệp rộng rãi, nằm
vùng là Ẩn đó có thể hoàn thành
những kỳ công cho cả hai bên, trong đó có việc
báo động cho VC về những cuộc điều động quân đội Hoa Kỳ trong
thời gian giữa thập niên 1960, và, bí mật dàn
xếp với lực lượng Khờ Me Đỏ, để họ thả ký giả Mỹ Robert Sam Anson,
bị bắt tại Cambodia.]
Như thế, sự thực với PXA, có
nghĩa là, “không loan tin dởm”. Không tung vịt cồ.
Cuộc chiến Mít bùng nổ với cú vịt
cồ, đầu độc tù VC tại Phú Lợi. Mấy tên tù VC
tham ăn, trúng thực, Diệm cho xe cứu thương đưa vô bịnh viện
rửa ruột, VC hô hoán Diệm đầu độc tù, và thành
lập MTGP, mở ra cuộc chiến giữa Miền Nam với Miền Nam, đếch có
Bắc Kít nhe.
Xịa phịa ra cú MTGP ly khai Bắc Kít, cả báo
chí thế giới mắc bẫy, PXA không, tất nhiên!
Cái tệ hại nhất của Cao
Bồi, là ông không thể yêu Miền Nam, như… Greene
được, thế mới nhảm, như khi Greene phán, khi cái mũ tai
bèo rớt xuống là phải chạy ngay về phía “những kẻ
thua cuộc”.
Suốt 1 đời, PXA chỉ biết có xứ Bắc Kít của ông,
thế mới lại càng nhảm.
The Human Factor,
which didn't even have a title, hung like a
dead albatross round my neck. My imagination seemed as dead as the bird.
And yet there were some good things in the twenty thousand words which
I had written - I liked especially the shooting party at C's country house.
The memory of it nagged me. I couldn't settle to any other work, and so
reluctantly and doubtfully I took the novel up again, telling myself that
the Philby affair belonged now sufficiently to the past. Perhaps the hypocrisy
of our relations with South Africa nagged me on
to work too.
The Human Factor
[Yếu tố người] không có được, ngay
cả một cái tít. Nó lủng lẳng ở cổ tôi, như
một con chim hải âu chết. Sự tưởng tượng của tôi cũng chết
như chim. Tuy nhiên, có vài điều đường được ở trong
mớ hai chục ngàn con chữ mà tôi đã đổ ra đó
- tôi mê cái bữa tiệc săn bắn ở căn nhà đồng
quê của C. Hồi nhớ của tôi về nó làm phiền tôi.
Tôi không thể làm được chuyện khác, thế là
vừa ngần ngại vừa hồ nghi, tôi lại lôi nó ra, tự bảo mình,
cái vụ Philby thì cũng xưa rồi Diễm ơi. Có lẽ,
cái tính đạo đức giả trong những liên hệ với Nam
Phi cũng làm phiền và khiến tôi không thể
nhả ra.
*
"The
novelist’s station" he [Greene] insists "is on the ambiguous borderline";
a writer, like a double agent, “must be able to cross over, to change
sides at the drop of a hat”.
Cái trạm sở của tiểu thuyết gia thì ở vùng
biên cương mù mờ; nhà văn, thì cũng một thứ
gián điệp hai mang, nhưng 'phải dám vượt lằn ranh, đổi
bên liền lập tức khi cái nón [tai bèo] vừa
rớt xuống'. Graham Greene
*
Loyalty breeds treachery.
Trung thành sinh ra phản bội
Peter Kemp: The Human Factor,
Introduction
*
Trung thành sinh ra phản bội.
Mấy ông nhà văn VC không thể nào hiểu
ra điều này.
Nguyễn
Khải có thể đã mơ hồ hiểu ra, khi ông đổi trú
sở, bỏ chạy Hà Nội vô Sài Gòn, và
nhập ngay vào với cái không khí biên
cương mù mờ, và viết được mấy cuốn, nhưng lại chiếu sáng
chúng bằng ánh sáng của Đảng. Bằng sự trung thành,
đời đời biết ơn Đảng!
Giá mà ông có dũng khí, chắc
là đã dám phản bội, và hiểu ra chân
lý, phản bội mới đúng là trung thành với Đảng!
Human
kind cannot bear very much reality
Cái thứ người không chịu nổi quá nhiều thực
tại
T.S.
Eliot
Theo GCC, Nguyễn Khải viết về
PXA hay hơn nhiều, so với anh Mẽo. Trong PXA của NK- trong Thời gian
của Người - có giấc mơ lớn của Mít, bị VC cướp đoạt
- huỷ diệt đúng hơn. Hậu quả khủng khiếp của nó, là
1 nước Mít như bây giờ.
Ẩn có bao giờ có
tí suy tư về “yếu tố người”?
Sự thực, khó có
thể so sánh PXA với Greene.
Một lần Gấu đọc được một câu
của Greene. Lạ làm sao, y hệt như ông đoán trước
được thái độ của những con người như PXA.
Gấu cố tìm lại nguyên
văn câu của ông, nhưng không thể, chỉ nhớ đại khái.
Ông nói, nhà
văn, chỉ cần đợi cái mũ vừa rớt xuống, là chạy về phiá
những kẻ bại trận, những kẻ thua thiệt.
Câu này, tương tự với câu châm ngôn,
phù suy đừng phù thịnh, nhưng đặt nó vào
trường hợp cụ thể, con mắt của Greene như nhìn thấu suốt hết những
năm tháng liền sau ngày 30 Tháng Tư: Cái nón
sắt, sau tới nón tai bèo, tới cờ giải phóng thi nhau
rớt xuống.
Ông như biết trước, sẽ
chẳng xẩy ra cảnh, chạy về phía những kẻ bại trận. Ông như
nhìn ra đời sống khốn nạn sau đó, của những kẻ như PXA: Không
làm được cái việc chạy về phía Miền Nam, không
được cả hai chủ, chủ cũ chủ mới, tin cậy.
Người ta ngày càng thấm thiá câu
của Greene. Cái bóng của Greene cứ dài mãi
ra. Rợp Bóng Greene, như một nhà
văn trong nước đã từng dịch một bài viết về Greene trên
tờ Guardian.
Nhưng phải đọc mấy cuốn hồi ký, tự thuật
của Greene, mới hiểu được mối tình lớn của ông dành
cho Việt Nam.
Cuốn Người Mỹ Trầm Lặng như chịu chung số phận
văn học Miền Nam, bị phần thư, và, một con phượng hoàng,
từ mớ tro than, tái sinh.
Ông viết, trong Người Mỹ Trầm Lặng, "Phuong,"
I said – which means Phoenix, but nothing nowadays is fabulous and nothing
rises from its ashes. "Phượng", tôi nói, "Phượng có
nghĩa là Phượng hoàng, nhưng những ngày này
chẳng có chi là huyền hoặc, và chẳng có gì
tái sinh từ mớ tro than của loài chim đó"; nhưng
chính cuốn sách của ông làm được điều này.
Chỉ nội lòng yêu thương dành cho Miền Nam
không thôi, PXA không thể nào so sánh
nổi với Greene. NQT
"Người Mẽo trên đường tới Việt Nam đều lận lưng một cuốn
Người Mỹ Trầm Lặng. Cuốn sách được coi
là rất đáng tin cậy, the most reliable account, về chuyện
quái quỉ gì xẩy ra ở đó [what it was like in Viet Nam]:
nó còn mang tính tiên tri, [it was also prophetic].
Những người Mẽo sau khi tháo chạy, viết, họ cảm thấy những nhà
làm chính trị ở Mẽo đã không chịu lắng nghe
Greene."
Norman Sherry: Cuộc đời Greene,
Tập III (1)
*
To Docteur Michel Lechat
Dear Michel,
I hope you will accept the dedication of this
novel which owes any merit it may have to your kindness and patience;
the faults, failures and inaccuracies are the author's alone. Dr Colin
has borrowed from you his experience of leprosy and nothing else. Dr Colin's
leproserie is not your leproserie which now, I fear, has probably ceased
to exist. Even geographically it is placed in a region far from Yonda.
Every leproserie, of course, has features in common, and from Yonda and
other leproseries which I visited in the Congo
and the Cameroons I may have taken superficial
characteristics. From the fathers of your Mission
I have stolen the Superior's
cheroots - that is all, and from your Bishop the boat that he was so
generous as to lend me for a journey up the Ruki. It would be a waste
of time for anyone to try to identify Querry, the Ryckers, Parkinson, Father
Thomas - they are formed from the flotsam of thirty years as a novelist.
This is not a roman
à clef, but an attempt to give dramatic expression to various
types of belief, half-belief, and non-belief, in the kind of setting, removed
from world-politics and household-preoccupations, where such differences
are felt acutely and find expression. This Congo is
a region of the mind, and the reader will find no place called Luc on any
map, nor did its Governor and Bishop exist in any regional capital.
You, if anyone, will know how far I have failed
in what I attempted. A doctor is not immune from 'the long despair
of doing nothing well', the cafard that hangs around a
writer's life. I only wish I had dedicated to you a better book in return
for the limitless generosity I was shown at Yonda by you and the fathers
of the Mission.
Affectionately yours,
Graham Greene
Trên đây là cái thư gửi
vị bác sĩ trại cùi của Greene. [A Burn-Out Case]. Nó có cái
gì giống thư mở ra Người Mỹ trầm lặng, có
thể chỉ như là một cái cớ, a pretext, để móc tác
phẩm của ông vào thực tại, theo nghĩa câu của Hans
Andersen, mà Greene cũng mượn, để mở ra tác phẩm The Human Factor của ông, ‘out of reality are our
tales of imagination fashioned’: dù tưởng tượng thế nào
thì những giả tưởng của chúng ta đều chui ra từ thực tại.
Gấu tôi tự hỏi, tại sao trong nước không mê,
và ít ai dịch Greene trong khi ông mê Miền
Nam
của Mít bội phần, hơn cả… PXA.
Hơn nhiều!
Trong cái thư trên, cái câu Gấu gạch
dưới, tuyệt cú mèo, và có thể, lại ‘có
thể’, nó giải thích cái mail của vị nữ bác
sĩ gửi cho TV: ‘Một vị bác sĩ thì cũng không được miễn
nhiễm bởi cái chuyện quá chán chường vì cứ
ì ra không làm bất cứ chuyện gì cho ra hồn’.
Đó là cơn “cafard”
đeo ngay ở cổ một thằng cầm viết, lẵng nhẵng suốt đời làm khổ
nó.
Quân của Nguyễn Khải là
nhân vật giả tưởng, từ PXA ra, còn với anh Mẽo, là
1 PXA thực, như anh ta, 1 ký giả thực, mơ làm sao viết được
1 cuốn giống như của Greene. Khó mà so sánh với nhau
được.
Sau cuộc chiến, nếu gọi là
giả tưởng, thì chỉ có Thời gian của người,
Vòng sóng tới vô cùng,
Gặp gỡ cuối năm, của Nguyễn Khải,
là đọc được, khi Mít vẫn còn ôm ấp giấc mộng
lớn. Cũng là thời gian Gấu vừa đào kinh vừa khóc
ròng, vừa hát Con Kinh Ta
Đào, ở nông trường cải tạo Phạm Văn Cội, Củ Chi. Rồi
tới thời kỳ vỡ mộng, với Đứng Trước Biển, Cù Lao Tràm,
rồi tới sám hối, với Đi Tìm 1 Cái Tôi,
Ba Người Khác. Với Nỗi Buồn Chiến Tranh, của Bảo Ninh, thì lại có
contre-poids, [xài tiếng Tây cho nó bảnh], là
Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp.
Gấu
không đọc được PTH, ngoài Thiên Sứ ra, đọc, vì lầm.
Đó là sự thực.
Phạm Xuân
Ẩn cũng là chứng nhân tận mắt vụ nổ giữa trung tâm
Sài Gòn, sự kiện xuất hiện trong The Quiet American.
Blog NL
Không đúng.
Người độc nhất ngồi gần nhất cú nổ ở Catinat, do người của lực
lượng thứ ba, là TMT làm, là anh ký giả Hồng
Mao ghiền, Fowler. Anh này lúc đó ngồi ở Quán Chùa, có thể
đúng cái ghế sau này GCC, cũng ghiền như anh ta,
ngồi, như trong “Tiểu sử Greene”, của Sherry, cho biết. Khi phái
đoàn làm phim “Người Mẽo trầm lặng” quay cảnh này
tại Sài Gòn, thì PXA có ghé coi, và
tiện thể tố, Greene là gián điệp! Greene đâu có
giấu điều này. Gấu nghi là PXA ghen tài viết văn
của Greene. Mày vừa viết văn, vừa làm gián điệp, vừa
suýt đợp Nobel. Bởi
thế mới có Nguyễn Khải viết giùm PXA.
Graham
Greene
Đúng
như Greene nhận xét: Bản chất con người không đen và
trắng, mà là đen xám, hay đúng hơn, xám
xịt.
[Human nature is not black and white but black and grey].
Chính trong cái
bầu khí xám xịt đó, là Sài Gòn
thập niên 1950, mà cuộc tình tay ba, trong Người Mỹ Trầm Lặng, với ba đỉnh của
nó, được mở ra: tính dễ bị mua chuộc, mà cũng rất ư
là thành thực, không mầu mè, của một cô
Phượng [với giấc mơ lấy chồng Mẽo, làm dâu Mẽo, hay tệ hại hơn,
làm dâu Đài Loan, Đại Hàn… như những cô
Phượng hiện nay ở Việt Nam…], tính dãn ra, chẳng còn
muốn vướng vào những vấn đề của một xứ xở thuộc địa như Việt Nam,
của anh mũi lõ già nghiền thuốc phiện, là Fowler, và
sự ngây thơ của một anh Mẽo trẻ tuổi đẹp trai, thiện nguyện viên,
hay cố vấn Pyle! Đúng là một tam giác lý tưởng
để dựng nên một cuốn tiểu thuyết lý tưởng! Nó làm
cho Zadie Smith [trên tờ Guardian]
nhớ tới trò chơi “jack straw”, trong đó mỗi người chơi, tới
lượt mình, rút một cọng rơm mà không được đụng
những cọng rơm còn lại. Tài nghệ của tiểu thuyết gia ở đây,
là làm sao cân bằng cả ba, bắt từng nhân vật đối
diện với chính mình, và với hai kẻ kia, trong tấn trò
đời, với tất cả những lên voi xuống chó, những hy vọng, những
thất bại - và nhất là, phải làm sao cho độc giả đừng
trông mong có được một nhận định, đánh giá sau
cùng, khi gấp sách lại, [và thở phào, rằng,
việc đọc của ta như vậy là xong!]. Greene không thích
những độc giả của ông có được sự hài lòng, thoải
mái, theo nghĩa này: “Khi chúng ta không chắc
chắn, như vậy là chúng ta vưỡn còn sống!”
Trường hợp Người Mỹ Trầm Lặng,
bầu khí mang chất đạo hạnh trong đó được xây dựng
từ từng mỗi viên gạch của nó, như Zadie Smith đã nói
tới, về một hệ thống đạo đức được so đo đong đếm đến từng chi tiết. Nó
làm Zadie Smith nhớ tới Henry James trong tác phẩm Những Người Âu Châu, nhưng
có khác, với Greene, câu chuyện không xẩy
ra ở trong một căn phòng, mà là ở trận địa. Có
gì là chắc chắn khi lọt vào một trận địa. Độc giả,
như Greene, bị đẩy vào trong những cuộc tranh chấp dơ dáy,
bẩn thỉu, tởm lợm nhất của thế kỷ, thí dụ như cuộc chiến Việt Nam,
và rất nhiều cuộc chiến khác, một khi con người vẫn cứ lăn
xả vào nhau, chém giết nhau, cho dù những “nghĩa cả”
đã trở nên tối mò mò, chẳng ai còn tin
tưởng vào chúng nữa. Những nhân vật của Greene làm
bật ra sự bất toàn, tính không thể nào xác
định được, của cái gọi là đạo đức, đạo hạnh, sự lẫn lộn,
chẳng biết đàng nào mà lần, một khi con người sống
ở trong một cuộc chiến không [làm sao] chấm dứt. Nhưng, cho
dù vậy, tại Việt Nam, trong Người Mỹ Trầm Lặng, Phượng và
tay phóng viên Fowler đã tìm được nhau, đúng
là một sự chúc phúc, quá mức mong đợi ít
ra là đối với Fowler. Đây đúng là một sự cứu
nguy vào phút chót, sắp sửa chìm lỉm thì
vớ được sợi thừng cứu mạng!
“Tôi là một kẻ
có niềm tin lớn lao vào Lò Luyện Ngục”, Greene đã
từng trả lời như vậy, trong một cuộc phỏng vấn. “Lò Luyện Ngục, với
tôi, là có ý nghĩa…. một khi bị ném vào
đó, con người có ấn tượng về sự du di, chuyển động. Tôi
không thể nào tin vào Thiên Đàng. Mọi người
cứ ỳ ra, ở đó. Đâu còn có điều gì để mà
làm nữa!”
Ở Lò Luyện Ngục đó
- ở cuộc chiến Việt Nam đó – Fowler vô trước, sau tới anh
chàng thiện nguyện, cố vấn Mẽo, đẹp trai, trẻ măng. Anh này
tin vào Thiên Đàng. Anh ta tới, được trang bị bằng
cả một tự sự lớn [a great narrative], về Việt Nam. Anh ta sẽ bắt ép
Việt Nam phải “thích hợp” với nó – Tiền Đồn Chống Cộng cho
cả một trái đất sẽ không còn Cộng Sản nữa, thí
dụ vậy. Anh ta có một câu chuyện của anh ta về Fowler, và
ngược lại, Fowler cũng có một câu chuyện riêng của
mình, về tên thực dân mới ngu si đần độn, cứ tưởng
mình sẽ đem tự do dân chủ theo kiểu Mẽo đến cho thuộc địa
cũ của Tây, và đây là giọng kể chính
của cuốn tiểu thuyết. Cả hai tay này lại có những câu
chuyện của riêng của họ về Phượng. Chẳng có một câu
chuyện nào tin được. Chúng đều được dựng lên, theo
yêu cầu của từng cá nhân, cho hợp với vai trò
của mình. Greene hiểu rất rõ, những toan tính vị
kỷ, nằm nơi đáy sâu con người, sẽ đẩy con người đi tới đâu.
Ở trong Người Mỹ Trầm Lặng, những toan tính cá
nhân này được hiện rõ ra, trên cái
nền chính trị, và cùng với nó, là
một xứ sở. Qua Phượng, người đọc cảm thấy, đây là một người
đàn bà thực, đang hít thở không khí,
không phải là một ý tưởng về một người đàn
bà mà Pyle đang chôm từ Fowler.
Gừng càng già
càng cay, càng ngày, tính ngây thơ ngốc
ngếch, mù tịt về thế giới của anh chàng cố vấn Mẽo Pyle càng
nổi lên cùng với cuốn truyện, kể từ khi được xuất bản, đúng
như Fowler cảnh cáo anh ta:
“Tôi cầu mong Chúa
làm cho anh hiểu được những gì anh đang làm ở đây.
Ôi, tôi hiểu rất rõ, những nguyên nhân,
những mục đích, những ý hướng tốt đẹp của anh. Chúng luôn luôn
tốt… Tôi chỉ mong, đôi khi anh có được một vài
ý hướng xấu, có lẽ anh sẽ hiểu thêm được một tí,
về thế thái nhân tình, về con người. Điều này
áp dụng luôn cho cả cái xứ Mẽo của anh đấy, Pyle
ạ.”
Nhưng theo Zadie Smith [Guardian],
Pyle không chịu học. Sau cùng, anh ta cho rằng, niềm tin
quan trọng hơn hoà bình, tư tưởng sống động hơn con người.
Sự ngây thơ của anh ta, trên bình diện thế giới, chẳng
khác gì một thứ chính thống giáo [fundamentalism].
Đọc lại cuốn truyện càng củng cố thêm lên nỗi sợ của Zadie Simith, về tất cả những me-xừ
Pyle trên toàn thế giới. Họ đâu có muốn làm
cho chúng ta bị thương tổn. Chúng tôi tới với bạn là
do thiện ý, do niềm tin, cơ mà? Nhưng chính những
me-xừ Pyle này làm chúng ta đau khổ, làm thương
tổn chúng ta. Thành quả lớn lao của Greene ở trong
Người Mỹ Trầm Lặng, là
cho tên già đểu giả, Fowler, nhân danh “nghĩa cả”,
khi chỉ vào đống xác người mà Pyle coi, đó
chỉ là biểu tượng. Fowler, và những người như anh ta, đều
lý tưởng quá đủ, để mà chứng minh rằng, trên
trái đất này, chẳng có một lý tưởng nào
xứng đáng để mà lăn xả vào nhau, chém giết lẫn
nhau, vì nó. Khi Pyle hỏi Fowler,
như vậy, anh tin vào điều chi, “Tôi tin, tin chứ. Tôi
tin, mình đang tựa lưng vô tường, và có một họng
súng ở đằng kia kìa”. Pyle lắc đầu: “Tôi đâu tính
hỏi bạn như vậy”.
Nhưng tác phẩm của Greene
là đúng như vậy đó. Ông mang tới cho người
đọc, một hy vọng, thứ hy vọng mà một người quan sát viên
dán mắt vào sự kiện đem lại cho chúng ta. Theo nghĩa
đó, Greene là tay ký giả bậc thầy. Ông dâng
hiến cho chúng ta những chi tiết, và những chi tiết chính
chúng, sẽ chiến đấu, trong một cuộc chiến đấu nhằm chống lại những
thùng rỗng kêu to, nói rõ hơn, những ý
nghĩ, tư tuởng lớn lao, nhưng vô ngã, vô vị, vô
hình, vô ảnh, như của Pyle.
Ruth Franklin trên tờ
Người Nữu Ước,
tìm ra, Thượng Đế là ở trong những chi tiết, ngược hẳn
với Zadie Smith, trên tờ Guardian,
bà thấy Ma Quỉ ở trong những chi tiết, khi đọc Greene. Nhưng bà
thêm vô, cứu chuộc cũng là từ đó.
Và có thể, đó cũng là của Greene,
như ông từng có lần cầu nguyện, “Một vài người trong
chúng ta có thiên hướng tin yêu Chúa.
Một vài người khác, có thiên hướng tin yêu
con người. Cầu xin làm sao thiên hướng của tôi đừng
bị phí phạm”.
Cầu sao được vậy.
Nó quả đã không bị phí phạm.
NQT
Vladislav
Khodasevich (1886-1939)
Janus
In me things end, and start again.
I am, although my work is slight,
a link in an unbroken chain -
one joy, at least, is mine by right.
And come the day my country's great
again, you'll see my statue stand
beside a place where four roads meet
with wind, and time, and spreading sand.
(1 January 1928)
Robert Chandler
The Monument
I am an end and a beginning.
So little spun from all my spinning!
I've been a firm link nonetheless;
with that good fortune I've been blessed.
New Russia enters on her greatness;
they'll carve my head two-faced, like Janus,
at crossroads, looking down both ways,
where wind and sand, and many days ...
Michael Frayn
Janus: Vị thần hai mặt.
Đây là bộ mặt của PXA, vào đúng
ngày 30 Tháng Tư, 1975, khi anh đứng nhìn VC
vô Saigon, qua miêu tả của 1 ký giả nước ngoài.
Từ "Janus", là của ký giả này, không phải
của GCC, nhưng cái hình ảnh 1 Janus, như trong bài
thơ, trên, thì là giấc mơ của hắn:
Bạn sẽ nhìn thấy bức tượng của thằng chả, ở nơi
ngã tư đường, với gió, thời gian và cát
bụi bay búa xua....
Đó là ngày xứ
Mít lại bảnh tỏng
Time's publetter celebrated
his decision to stay and published a picture of him standing on a
now deserted street smoking a cigarette and looking pugnacious.
Time tán dương quyết định
ở lại của Phạm Xuân Ẩn và đăng hình ông,
với vẻ mặt căng thẳng, đứng hút thuốc lá giữa con phố
hoang vắng của Sài Gòn.
Tuyệt cú mèo! Thành
phố này giờ này thuộc về ta, vị thần Janus hai mặt!
Ẩn hả, nhớ chứ!
Janus
Trong tớ mọi chuyện tận cùng, và lại bắt
đầu.
Tớ là, dù tác phẩm nhẹ hều,
mối nối của sợi sên không bị bẻ gãy
–
một niềm vui, ít ra, là của tớ, quyền của
tớ
Và tới cái ngày cái nhà
của xứ Mít của tớ lại lớn lao
Bạn sẽ nhìn thấy bức tượng của tớ bên công
viên
Nơi bốn con đường tụ lại
Với gió, thời gian và cát trải dài
Bài thơ này dành tặng Cao Bồi PXA,
“bạn quí của Gấu” một thời, quá tuyệt.
Lạ, là làm sao mà cái tên
ký giả mũi lõ nào đó, viết về PXA, ngày 30 Tháng
Tư 1975, nhìn ngay ra cái dáng
đứng hai mặt của chàng.
Quá bảnh!
Đài Tưởng Niệm
Tớ là tận cùng và là bắt đầu.
Suốt đời chỉ có mấy cái truyện ngắn, lập
đi lập lại, chỉ mỗi chuyện Mậu Thân, và thằng em trai
tử trận
Tớ là cái link vững chãi tuy nhiên,
đúng như thế.
Chính là nhớ tí truyện ngắn viết
từ thời còn trẻ tuổi
Và mấy bài thơ, nhờ gặp lại cô bạn
nơi xứ người, sau bỏ chạy được quê hương,
Mà tớ được chúc phúc
Một xứ Mít mới tinh, bảnh tỏng đi vào cái
sự vĩ đại của nó
Họ bèn khắc bức tượng hai mặt của tớ, như Janus
Ở Ngã Tư Hàng Xanh, nhìn về cả hai
phiá,
Một, Hà Nội, ngày nào
Một, Sài Gòn ngày này - trước
và sau 30 Tháng Tư 1975 - ngày mai, ngày
mãi mãi
Nơi gió, cát, và rất nhiều ngày…
Note: Borges cũng có 1 bài thơ về vị thần hai mặt,
Janus
A Bust of Janus Speaks
No one is to open or close a single door
without homage to me, who see two ways,
doors' tutelary. Horizon lines
of stable land, unstable seas, yield to my gaze.
My two faces penetrate the past,
discern the future. Common to both I see,
drawn swords, evil, discord;
one who could have removed them let them be
and does so still. Missing are my two hands.
I am of stone fixed in place. I cannot say
for sure whether the things that I behold
are future disputes or quarrels of yesterday.
I look about my ruins: truncated column,
faces powerless to glance each other's way.
-A.S.T.
Tượng PXA phán
Không ai mở và đóng 1 cái cửa đơn độc
Mà không xin phép ta
Kẻ nhìn hai chiều,
Vị thần hộ mệnh của Đàng Trong & Đàng Ngoài.
Những đường chân trời đồng bằng Nam Bộ,
Những miền Biển Đông sóng gió,
Lọt vào tầm nhìn của ta.
Hai bộ mặt của ta xuyên thấu quá khứ
Phân biệt tương lai
Quá quen cả đôi bên - tổ tiên của ta là
ở vùng đất Hải Dương –
Ta nhìn thấy gươm giáo, quỉ ma, sự bất hòa
- một bên thì đói quá, còn 1
bên, no quá
Kẻ có thể chuyển đổi chúng, thì đúng
ra là, hãy để mặc mẹ chúng-
Xây tháp Babel, OK, những nhớ là đừng có
trèo lên nhé, như Kafka đã từng căn dặn lũ
Đàng Ngoài
Missing are my two hands: Vui sao nước mắt lại trào!
Ta là hòn đá bị đóng cứng vào
1 chỗ
Ta không thể nói, chắc chắn,
Những gì ta cầm trong hai bàn tay
Là những tranh cãi trong tương lai
Hay hục hặc trong quá khứ
Ta nhìn những điêu tàn của ta: những cây
cột bị chặt cụt
Những bộ mặt bất lực, vô phương, mỗi cái nhìn
mỗi hướng.
Re:
Cả hai nhà văn gối đầu giường của tôi, Kafka và
Nabokov, đều không và sẽ không bao giờ lọt
tầm ngắm của Giải Nobel Văn chương nữa.
http://www.tanvien.net/Viet/14.html
LANDSCAPES
OF THE MIND
Robert Macfarlane on Nabokov’s “Lolita”
Note:
Bài viết thần sầu trên, trên tờ Intel, về Lo, Gấu
chôm về Tin Văn, tính dịch hầu quí độc giả. Thú
vị hơn nữa, trên số báo Intel, số mới nhất, có 1
độc giả, gửi thư cho toàn soạn, v/v bài viết, và về
điều mà vì độc giả gọi là “Over-exposure”: Như bác
sĩ, cớm, hầu hết những tên chủ khách sạn, học rất nhanh,
những hình thái của cái ác của con người.
Gấu post cái thư sau đây, rồi lèm bèm tiếp.
Overexposure
Re: A loathsome brilliance (Landscapes of the Mind, March/April)
Of the real nature of the relationship between Lolita
and Humbert, Robert Macfarlane ponders, "Why do the motel owners not
see what is going on'?" But no doubt they do. It is a product of exposure.
Like doctors and police officers, most motel owners, I suspect, do learn
- and learn fast - the forms of human evil. This is a fact clearly not
known to Humbert, who arrogantly prides himself on his canniness. Yet
Nabokov must have known it. Having fled Berlin in 1937 and Paris in
1940, he was no doubt well aware of the frequency with which good persons
choose to look the other way, and of the black consequences of doing so.
It is something that, since late October of last year, we have been thinking
a good deal of here in Toronto, given the scandal of Jian Ghomeshi.
BOYD HOLMES, TORONTO
Landscapes of the Mind: Nabokov’s
“Lolita” unfolds in motel America. Robert Macfarlane travels along
the road to despair
Phong cảnh của tâm hồn: “Lolita”
trải lòng ra, qua những phòng ngủ ở thiên đàng
Humbert Humbert, nhân vật nổi tiếng
số 1 sờ soạng con nít của văn chương, coi đó là
“joy-ride”, cuộc đi chơi của niềm vui. Ròng rã 1 năm
trời, thằng chả chạy xe trên những những con lộ hẻo lánh,
hạng nhì ở miền quê nước Mẽo, với Lolita, lúc đó
12, như là một bạn đường bị ép buộc, và cũng là
nạn nhân thường lệ của hắn. Cả hai trải qua, phủ lên, choàng
lên… [“cover”, từ này, tưởng dễ mà thật khó
dịch!] hàng ngàn dặm đường trong chiếc sedan, lượn lờ trên
những con đường nhựa hào “nhoáng”, từ New England tới Rockies,
qua những cánh đồng bắp Midwestern. Cả hai trở thành những
chuyên viên bậc thầy, connoisseurs, về… nếm ngửi,
thở hít, ăn ngủ sờ soạng, của “motel”, phòng ngủ bên
đường, của Mẽo – luôn luôn ghi vô sổ đăng ký
khách sạn như là bố và con gái, và không
bao giờ ở quá lâu, chỉ vài đêm, phán chục
phát, cỡ đó, là tếch.
Đây có lẽ là
1 bài viết lạ thường nhất về cuốn tiểu thuyết, viết về 1 anh
già mê 1 đứa con nít: Cái sáng ngời
ghê tởm. A loathsome brilliance. Cuốn tiểu thuyết mở ra cánh
cửa địa ngục, là cánh cửa 1 căn phòng ngủ của
1 nhà ngủ bên lộ, a motel: “Lolita” unfolds in motel America.
Hay, như chính Nabokov gọi, một căn phòng
ngủ trọ như thế đó, 1 "phòng giam của thiên đàng",
a "prison cell of paradise".
Quái làm sao, bài viết làm
Gấu nhớ thời gian làm 1 tên chuyên viên kỹ
thuật, và những chuyến đi về 1 thành phố địa phương, để
sửa máy, và phải ngủ khách sạn.
Nhớ nhất, là lần về Long Xuyên, như…
Humbert Humbert, được thưởng thức mùi vị của một cô Miên
lai, da ngăm đen. Cô này, thực sự không làm
nghề này, cô làm nghề giữ con nít cho 1 gia
đình cũng ở gần khách sạn.
Gấu mê cô quá, hồi đó chưa lấy
vợ, cứ lần lữa kéo dài chuyến đi tới cả tháng,
sau này viết lại, trong
Ba
Xuyên, lần viếng thăm hồi bắt đầu đi làm, những năm
tập sự của cuộc đời gã chuyên viên kỹ thuật, ngày
hai buổi, tại Ty Trung Ương, Cơ Xuởng Vô Tuyến Điện, số 11 đường
Phan Đình Phùng, Sài Gòn; chuyên lo
việc sửa chữa, tu bổ máy móc, đồ dùng kỹ thuật từ
các nơi gửi về; lâu lâu, do nhu cầu công vụ,
được biệt phái tới những đài địa phương, để giúp
đỡ người trưởng đài, thường chỉ là những hiệu thính
viên, biết sử dụng máy móc, nhưng không biết,
và cũng không có phận sự sửa chữa khi trục trặc, cần
làm gấp tại chỗ, đại loại như máy nhận bỗng yếu, rè,
nhiều tạp âm, khi nghe được, khi không; máy phát
đột nhiên ngưng, không chịu phát tín hiệu,
không biết vì lý do gì, hoặc bị cháy,
nổ, cần gấp một máy khác thay thế cùng chuyên
viên lắp đặt... Tất cả những công việc như thế thường chỉ mất
một hai ngày làm, do đó thời gian trù tính
cho mỗi chuyến đi thường trên dưới mười ngày, nhiều lắm
nửa tháng. Trừ những ngày mới tới, bắt tay ngay vô
việc, cặm cụi lo tìm kiếm, sửa chữa, những ngày còn
lại, là để viếng thăm, làm quen thành phố.
Một thành phố không có gì đáng
nhớ (khi cố gắng muốn nhớ lại), có một người trưởng đài
người loắt choắt nhưng tính tình thật niềm nở, đã
lập gia đình, sau bữa ăn, hoặc khi rảnh rỗi, người chồng (người
trưởng đài) ưa kể cho khách nghe, về quãng đời đã
qua của mình (thời còn trẻ, những năm tháng giang
hồ, những năm phục vụ trong quân đội Pháp, lý do giải
ngũ, trường hợp lập gia đình...), hỏi khách tốt nghiệp đã
lâu chưa, hồi còn ở Bắc quê vùng nào,
khi đã tới giờ ngồi vào bàn làm việc, thường
là với đài chính (Sài Gòn), hoặc khi
đã hết câu chuyện để kể, hay để nói, như sực nhớ tới
hiện tại, ông khuyên khách đừng đi quá xa vượt
phạm vi châu thành, cười cười, khi người vợ ít nói
cùng mấy đứa nhỏ đã lui vào nhà trong, nói,
ở đây chỉ có những cô Mai Liên, khách
phải nghĩ một hồi lâu mới hiểu chủ nhà định nói tới
những cô gái nước da ngăm đen ở vùng này
Hết hai năm tập sự, đổi qua làm việc tại một đài
chuyên duy trì những đường dây liên lạc quốc
tế, về viễn ký, viễn ảnh, điện thoại đường dài [điện
thoại viễn liên], giữa Sài Gòn và một số
thủ đô trên thế giới, không còn dịp ra khỏi
thành phố, quên dần những chuyến đi, những cuộc phiêu
lưu vặt, lâu lâu mơ hồ nhơ nhớ về một thành phố một
hai lần ghé qua, một vài ngày ở lại, những chi tiết
vụn vặt không liên quan, không ăn nhập vào đâu
cả, nhưng không thể rũ bỏ, (hình như) kiến trúc phảng
phất nhau, khu trung tâm gồm Toà Hành Chánh,
một chợ nhỏ vây quanh bởi một vài khách sạn chệt,
một vài quán nước, tiệm cà phê, hủ tíu,
quán bi da, banh bàn; những sáng thứ hai toàn
thành phố phải đứng nghiêm chào cờ theo lệnh một chiếc
loa công cộng [thời còn ông Diệm], (thành phố
lúc đó có một bộ mặt trang nghiêm thật tức cười,
những thực khách đang dùng điểm tâm vội vã
đứng dậy, miệng còn mẩu bánh chưa kịp nuốt, dáng lúng
túng của mấy bà già nghễnh ngãng chưa kịp
hiểu chuyện gì đang xẩy ra), tiếng hát vọng cổ khoảng
chập tối, hay trong khi chập chờn ngủ, được chiếc tây ban cầm họa
theo, từ đám thanh niên tụ tập trong quán cà
phê phía trước khách sạn, theo gió lọt vào
căn phòng, nghe như tiếng thở than, hoặc tình tự, của linh
hồn tỉnh nhỏ, thay cho lời từ biệt chẳng hề nói của cô gái
lúc nãy, vội vàng rời căn phòng, chân
đi đất không gây một tiếng động, như khi lén lút
tới, phả hơi nóng thành phố vào tận sâu trong
cơ thể người khách lạ còn trẻ tuổi, rồi sau đó lén
lút rời căn phòng, thay vào đó, là một
con mèo đen, không biết tới nằm trên thành cửa
sổ từ lúc nào, mắt xanh biếc trong bóng tối, tiếng
nước nhỏ giọt từ buồng tắm phòng kế bên, một người khách
lơ đễnh không vặn chặt vòi nước, tiếng còi những chiếc
xe hàng đánh thức giấc ngủ khoảng ban mai, đánh thức
luôn mùi ẩm mốc hình như toát ra từ những bức
tường loang lổ, từ chiếc nệm giường mục nát, vẻ tiều tụy của căn
phòng thường làm dậy một nỗi trắc ẩn vô duyên
cớ, một cảm giác bực bội, buồn bã không đâu...
Trở lại Ba Xuyên khi được tin đứa em trai chết.
Tử trận.
|
Trang NQT
art2all.net
Istanbul
Lô
cốt
trên
đê
làng
Thanh Trì,
Sơn Tây
|