nqt

Nguyễn Quốc Trụ

Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975 công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định cư năm 1994
Canada


I
1 2


Album | Thơ | Tưởng Niệm | Nội cỏ của thiên đường | Sáng tác | Chuyện văn| Dịch thuật | Dịch ngắn | Đọc sách | Độc giả sáng tác |
 Giới thiệu | Góc Sài gòn | Góc Hà nội | Góc Thảo Trường| Lý thuyết phê bình | Tác giả Việt | Tác giả ngoại | Tác giả & Tác phẩm | Tạp ghi |
Text  Scan | Tin văn vắn | Thời sự | Thư tín | Phỏng vấn | Phỏng vấn dởm | Phỏng vấn ngắn| Giai thoại | Potin | Linh tinh | Thống kê | Viết ngắn |
Tiểu thuyết | Lướt Tin Văn Cũ | Kỷ niệm | Thời Sự Hình | Gọi Người Đã Chết| Chân Dung | Jennifer Video
 Thơ Mỗi Ngày|Viết mỗi ngày| Sách & Báo Mới
https://www.facebook.com/quoc.t.nguyen.1
Last Page 

Last Page 

             Album

*

ong ngoai khoe khong
me and ba and richie went to Center Island
cai hinh thang cu lun chap tay sau dit giong ong ngoai hoi may muoi nam ve truoc; co hai cai hinh giong y het .....

*

Center Island, Last Summer, 2010


SN_GCC_2017

Thư tín

Bác Gấu mở một cửa sổ nhìn ra vườn địa đàng, hoặc lò thiêu, vực thẳm ...40 năm sau khi nhìn lại đời mình cháu có thể nói to lên rằng: chính việc tìm thấy " nó đây rồi " trang Tin Văn mà tôi trở thành tôi như bây giờ. Tất nhiên cháu có đủ tự tin để thấy mình bảnh, bây giờ và lúc ấy.
Trong một đoạn về R.M Rilke sau khi đọc " Thư cho một thi sĩ trẻ tuổi "
cháu viết thế này: Ông biết đấy, khi một người trẻ tuổi đang tìm kiếm mình thì gặp một lời khuyên bảnh đến vậy, cuộc đời anh ta thay đổi từ khoảnh khắc đó, anh ta bị tước mất cái quyền không bảnh, chỉ để cho tương xứng với điều anh ta tri nhận.
Trang Tin văn còn bảnh hơn thể vì nó là một thế giới chứ không riêng một nhà văn
Một lần nữa, cảm ơn Bác Gấu!
Cháu gửi kèm " tứ tấu khúc " của cháu, trong đó có mấy bài mới viết ở Sài Gòn, cháu mới về Sài Gòn sau 2 năm sống ở Đà Lạt
một thức quà nhỏ, mong bác nhận cho cháu vui.
Chúc Bác sức khỏe và ( cái này hơi thừa ) sự minh triết!
4taukhuc-totam.rar
Tố Tâm - một người đọc Tin Văn


Mong " kết bạn " với tiền bối vì khoái đọc trang tin văn. Quà ra mắt là bài thơ nhỏ tặng tiền bối:
Những hạt bụi vũ trụ
Trong riêng không - thời gian
Của hòa âm quyến rũ
Xin hết!

Anh em Viễn Thông Bưu Điện Saigon xưa tại USA muốn liên lạc với anh. Xin email về Đinh Chu, dạy tại Trường Cao Đẳng Viễn Thông trước năm 1975. Email của tôi là

chào anh Quốc Trụ, anh có thể thay đổi settings để follow anh được không ạ? [Thanh Bình]

Phúc đáp: GCC đọc mấy cái mail trên, từ Yahoo Messenger.
Có cái từ đời nảo đời nào.
GCC có Yahoo Messenger nhưng old model.
Không biết làm sao trả lời
Sorry
Xin liên lạc, qua Tin Van Yahoo Mail
Tks All
NQT

To: Tố Tâm.
Đã mở được, và đọc được Tứ Tấu Khúc của bạn. Sẽ post trên Tin Văn
Many Tks
NQT
Sẽ "hàn huyên" sau - sau 2 năm sống ở Đà Lạt.

BỈ NGẠN MIỀN ĐỒNG THẢO

( Tặng chú ong mất râu trong rừng mưa
Bay vào hương gỗ mục – Mai Vi )
Miền đồng thảo mọc hoa Bỉ Ngạn
Đáy hoàng hôn
Câu chuyện tình cất lên và hết
Nhanh hơn hoa tàn
Há môi đợp một hai giọt mật
Quên lãng

Thanh âm vùng vẫy bứt xiềng xích biển
Sóng dội bờ xa
Phơi vết hằn tinh vân
Thiếu im lặng
Ta ồn ào gà mái mất con    
Chiều kích tâm hồn đo bởi vô ngôn
Tình yêu khởi nguồn khi lời tỏ tình dứt

Tìm về một lần
Miền đồng thảo
Bỉ Ngạn mất
Hẹn nhau bên cầu Nại Hà
Không người đến
Vuốt ve di chúc đời ta
Dục vọng trường tồn
Phai theo gió hoàng hôn
Mỏi mệt

Ngựa già nhai cỏ đồi thông
Nuốt chòm sao Thiên Mã
Mù sương lan cửa hang
Liếm hồn ta chui rúc
Ta đau lần thứ nhất
Ngày mai lần thứ hai đến
Nhưng ta không đợi chờ

Tố Tâm
(Viết ở quán cà phê Miền Đồng Thảo )
Sài Gòn, 9.16

CHIM THIÊN ĐƯỜNG

Một cú ho
Cơn mưa vi trùng vãi khắp
Lá thông lúc nhúc rừng thu

Có lần đấng Tối Cao khạc đờm vào mặt ta
Ta mang thứ nước thuần khiết ấy đi khắp thế gian
Ta tắm táp cho linh hồn loài người
Hiện diện trần trụi mặt trời
Ta gieo rắc hoài nghi mộng tưởng ánh sáng dưới lòng suối

Giây phút thiêng liêng Tin Mừng sắp hết
Ta ôm chim thiên đường vào lòng
Chú há mỏ ngậm lấy một giọt thuần khiết
Chú vỗ cánh bay
Ta có gì để tiếc
Giọt cuối cùng ta để dành không mất

Ta lại đi khắp thế gian để tìm suối nguồn từng gieo rắc
Thái Bình Dương cạn
Nước mắt thấm vào gối khóc
Mặt trời hiện diện nữa đêm
Nói cho ta nghe: ngày mai sẽ tắt
Ta vẫn còn nữa đêm để ca hát
Về chim thiên đường

Tố Tâm
Sài Gòn 9.16

LỜI RAO

Anh bịa ra em
Rồi bịa tiếp tình yêu
Kẻ mất hết hy vọng
Nhắm mắt đợi phút nguy nàn
Bịa ra chúa, phật
Hòng ủi an cứu chuộc linh hồn cũng được bịa ra nốt

Khốn nạn thay anh biết
Trái đất này chẳng là gì
Một vì sao đang tắt
Sài Gòn dấu chấm đen lúc nhúc
Vi trùng chuyển động

Tàn cơn mất ngủ
Đêm là nơi lang thang đáy mộ
Đồi thông Đà Lạt
Sương mù lan xuống cỏ dày
Tấm bia đề: cái xác thối của T.
Kẻ căm thù mặt trời
Kẻ chết hụt

Bặm đôi môi đẹp và ác độc
Hãy cầu phúc cho anh: yên nghĩ
Giấc mộng trầm kha
Xa xôi vệt mờ đuôi sao chổi

Tố Tâm
Sài Gòn 9.16

Còm: Cực kỳ ngổ ngáo!

Câu chuyện tình cất lên và hết
Nhanh hơn hoa tàn

Bặm đôi môi đẹp và ác độc

Lá thông lúc nhúc rừng thu

Tls. NQT


Làm sao TTT phịa ra được 1 nhân vật quá đỗi thần sầu, là Kiệt, trong  MCNK, được Ngụy cho đi du học, vội bò về, để kịp chết trong cuộc chiến chó đẻ đó?
Thú vị nhất, là để có 1 cái cớ cho 1 hành động tiếu lâm, bi thương, đến như thế, ông phịa ra, là, về vì 1 bà bầu!

http://www.tanvien.net/Roman/as_2.html

Kiệt và Thuỳ gặp nhau ở Âu Châu trong năm học cuối cùng của Thùy. Thùy bị gia đình gọi về khi bà mẹ ngã bệnh nặng hấp hối. Bà cụ qua khỏi nhưng lại bị bán thân bất toại và giữ Thùy ở nhà. Thùy gọi Kiệt về. Kiệt chần chừ: về để làm gì? Làm gì ở đấy? Em nhìn chung quanh em xem? Sang với anh. Thùy đáp: Em không thể bỏ má; anh không thể bỏ em; không phải anh chọn lý tưởng hay tổ quốc hay bất cứ thứ gì, anh chỉ chọn em, một mình em và đứa con sắp chào đời của chúng ta. Anh không nghe tiếng kêu xốn xang của em sao?
Kiệt nghe tiếng kêu xốn xang của Thùy. Chàng trở về.

Borges Tám Bó

&

*

Trong Borges Tám Bó, chương 9, “Tôi luôn luôn nghĩ thiên đàng là 1 thư viện”, cái tay lầu bầu cùng với Borges (Alastair Reid), nhớ ra 1 câu của Borges, và Borges, chính xừ lủy, cám ơn lia chia, vì câu đó quá tuyệt, Borges sự thực không nghĩ ông có thể nghĩ ra được.

Tớ đếch viết giả tưởng, mà phiạ ra sự kiện.
“I don’t write fiction. I invent fact”

Đúng cas của Trung Uý Kiệt

Kiệt phải về, để kịp chết, và phải chết, bởi tên sĩ quan Ngụy, vì lầm là VC.
Không lẽ sống, để đi tù VC?

Ôi chao, cái lũ Bắc Kít độc địa, tà ma ác quỷ, làm sao mà có thể nghĩ ra được 1 cái chết ngọt ngào đến như thế?
Thay vì vậy, nhà Ngụy chúng cướp, Ngụy chúng tống vô tù mút mùa lệ thuỷ, vợ Ngụy chúng hiếp, con Ngụy chúng cấm không cho đi học, tên nào lỡ đi học rồi, cấm vô Đại Học

REID: I have one question which is very fundamental to-
BORGES: Only one?
REID: For the time being. One at a time.
BORGES: Yes, one at a time. And the night is young.
REID: And it begins-
BORGES: And the night is always young!
REID: Again, it begins with the phrase you once said, really crucially:
"I don't write fiction. I invent fact."
BORGES: I think that sentence is a gift from you and I thank you.
REID: Shall we suppose for a moment that you once said that?
BORGES: It's good if I did.
REID: Yes, I think it's very likely that you did.
BORGES: Who knows? I may be guilty of that sentence.
REID: Guilty?
BORGES: Well, not guilty, but I wonder if I can live up to that sentence.
REID: What would you say is the difference? I don't write fiction. I invent fact.
BORGES: I suppose there is no difference between fact and fiction.
REID: This is a fairly radical point of view to express this evening.
BORGES: Well, solipsism or the past, what is the past but all memory?
What is the past but memories that have become myth?



THE DREAM

While the clocks of the midnight hours are squandering
an abundance of time,
I shall go, farther than the shipmates of Ulysses,
to the territory of dream, beyond the reach
of human memory.

From that underwater world I save some fragments,
inexhaustible to my understanding;
grasses from some primitive botany,
animals of all kinds,
conversations with the dead,

faces which all the time are masks,
words out of very ancient languages,
and at times, horror, unlike anything
the day can offer us.
I shall be all or no one. I shall be the other

I am without knowing it, he who has looked on
that other dream, my waking state. He weighs it up,
resigned and smiling.
-A.R.

J.L. Borges: Poems of the Night

Cõi Riêng (1)


Chuông đồng hồ vào lúc nửa đêm đang phung phí thời gian xài hoài còn hoài của nó
Gấu sẽ "bỏ đi thật xa", như lời 1 bản nhạc sến, phán
Quá cả những bạn biển bạn tầu bạn thuyền của Ulysses
Tới miền đất mơ
Quá hồi ức người
Từ thế giới ở dưới nước Gấu thu gom vài mảnh miểng
Gom hoài còn hoài, so với sự hiểu biết của Gấu:
Cỏ từ vườn tiền sử
Loài vật đủ loại
Những cuộc tán gẫu với những người đã chết
Những bộ mặt, lúc nào cũng "đi 1 đường" mặt nạ!
Những từ, từ những ngôn ngữ rất xưa
Và thi thoảng, sự ghê rợn, khủng khiếp
Chẳng giống chi thứ thường ngày ở huyện mà Vẹm dâng hiến cho chúng ta.
Gấu sẽ là tất cả, và chẳng là ai
Gấu sẽ là kẻ khác, mà, Gấu là, tuy,
Không biết hắn ta, không biết điều đó.
Hắn sẽ nhìn về cơn mộng khác - cơn tỉnh thức của Gấu
Hắn nâng niu, âu yếm, cân nặng, cân nhẹ
Sau cùng đành "cũng đành", ẩn nhẫn, chịu đựng,
"Trời cho sao thì được vậy" (2)

Và nhìn kìa, hắn mỉm cười!

(1)

http://www.tanvien.net/Roman/as_21.html

Thùy ngồi ngả trong ghế. Ở đi văng xa, Kiệt đang xỏ giầy. Nàng nhếch mép khinh bạc. Kiệt trừng trừng, hung hãn, xong cúi buộc giây giầy. Ngửng lên hắn lại nhìn nàng. Nàng giữ nguyên vẻ mặt thách thức. Hắn thở phì, nhắm mắt rồi bỗng cười. Nụ cười lặng lẽ, mở rộng, lay động khuôn mặt ngẩn ngơ.
Phút ấy Thùy tỉnh ngộ dưới mắt Kiệt nàng không là gì. Hắn cười trong cõi riêng. Từ bao giờ hắn vẫn sống trong cõi riêng, với nàng bên cạnh. Phát giác đột ngột làm nàng tủi hận nhưng giúp nàng cứng cỏi thêm trong thái độ lựa chọn. Hắn coi thường nàng trong bao lâu nay nàng không hay và hắn phải chịu sự khinh miệt rẻ rúng của nàng từ nay.
Thùy đi ngang mặt Kiệt, vào giường. Vài phút nữa Kiệt đi. Kiệt trở về hoặc không trở về chẳng còn làm bận được đầu óc nàng. Giữa nàng và Kiệt tuyệt không còn một câu nào để nói với nhau. Hai người đã đứng hai bên một bức tường kính.
Giấc ngủ đến với Thùy mau không ngờ. Kiệt đi nàng không hay.

(2)

TTT trả lời, khi được hỏi, qua điện thoại, khi nào thì lại viết, hay viết lại.

http://www.tanvien.net/New_Poems_Folder/1.html


To Alexander Pushkin

I dearly, dearly long to be with you,
to sit and chat with you, drink tea with you.

You'd do the talking - I would be all ears;
your voice grows ever dearer with the years.

You, too, knew grief and fury and disdain;
you, too, died slowly, slowly and in pain.
(1958)
Robert Chandler

Gửi ông nhà thơ của GCC

Gấu thèm ơi là thèm lại ngồi với ông anh nhà thơ
Ở Quán Chùa chứ ở đâu nữa
Thèm ly cà phê, cái bánh sừng bò

Ông anh nói,
Thằng em dướn dài cổ nghe
Giọng ông anh ngày càng âm u

Nhất là k
ể từ khi ra tù
Cái gì gì,
Tên tội đồ, đứa con tư sinh, trở về cố quận...

Ông anh, tất nhiên thì rất rành đau thương, giận dữ,
Và khinh bỉ, chán chường
Lũ ng
ốc
Từ từ đi xa, từ từ đi, trong đau đớn.

Poems July 6, 2009 Issue

A Dream

By Jorge Luis Borges

http://www.newyorker.com/magazine/2009/07/06/a-dream-3

In a deserted place in Iran there is a not very tall stone tower that has neither door nor window. In the only room (with a dirt floor and shaped like a circle) there is a wooden table and a bench. In that circular cell, a man who looks like me is writing in letters I cannot understand a long poem about a man who in another circular cell is writing a poem about a man who in another circular cell . . . The process never ends and no one will be able to read what the prisoners write.
(Translated, from the Spanish, by Suzanne Jill Levine.)

Tại 1 nơi hoang tàn ở Iran, có 1 cái tháp không cao cho lắm, không cửa ra vào, không cửa sổ. Ở căn phòng độc nhất (sàn tròn tròn, dơ dơ), có 1 cái bàn gỗ, 1 cái băng ghế. Trong cái xà lim tròn tròn đó, một người đàn ông trông giống Gấu, đang ngồi viết, bằng 1 thứ chữ Gấu không đọc được, một bài thơ dài về 1 người đàn ông ở trong 1 xà lim tròn tròn khác đang viết một bài thơ về một người đàn ông ở trong 1 xà lim tròn tròn khác… Cứ thế cứ thế chẳng bao giờ chấm dứt và chẳng ai có thể đọc những tù nhân viết cái gì.

ALMOST A LAST JUDGMENT
My doing nothing as I walk the streets lives on
and is released into the night's multiplicity.
The night is a long and lonely celebration.
In my secret heart I justify and glorify myself.
I have witnessed the world; I have confessed to the
strangeness of the world.
I've sung the eternal: the bright returning moon and the faces
craved by love.
I've recorded in poems the city that surrounds me
and the outlying neighborhoods tearing themselves apart.
I've said astonishment where others said only custom.
Faced with the song of the tepid, I ignited my voice in sunsets.
I've exalted and sung my blood's ancestors and the ancestors
of my dreams.
I have been and I am.
I've fixed my feelings into durable words
when they could have been spent on tenderness.
The memory of an old infamy returns to my heart.
Like a dead horse flung up on the beach by the tide, it returns
to my heart.
And yet, the streets and the moon are still at my side.
Water keeps flowing freely in my mouth and poems don't
deny me their music.
I feel the terror of beauty; who will dare condemn me when
this great moon of my solitude forgives me?
-S.K.

HERACLITUS

The second twilight.
The night sinking into sleep.
Purification and oblivion.
The first twilight.
The morning that was dawn.
The day that was morning.
The day of a thousand things that will be the spent afternoon.
The second twilight.
That other habit of time, the night.
Purification and oblivion.
The first twilight ...
Secretive dawn and at dawn
the Greek's anxiety.
What scheme is this
of it will be, it is and it was?
What river is this
where the Ganges flows?
What river is this whose source is inconceivable?
What river is this
bearing along mythologies and swords?
It would be useless for it to sleep.
It flows through sleep, through the desert, through a
basement.
The river carries me off and I am that river.
I was made of wretched stuff, mysterious time.
Perhaps the source is inside me.
Perhaps the fatal and illusory days
spring from my shadow.
-S.K.

NTST


Six Poets Hardy to Larkin

Auden thought of poetry as dual: poetry as song, poetry as truth. It's perhaps this that, in his poem Their Lonely Betters', written in 1950, made him sceptical of birds who sing without feeling and with no regard for truth.

Auden coi thơ là song ẩm: Thơ như bài hát, thơ như sự thực.
Vì thế ông không khoái tiếng chim hót: Cảm xúc, chân lý cái con mẹ gì ở trong đó?

Their Lonely Betters
As I listened from a beach-chair in the shade
To all the noises that my garden made,
It seemed to me only proper that words
Should be withheld from vegetables and birds.
A robin with no Christian name ran through
The Robin-Anthem which was all it knew,
And rustling flowers for some third party waited
To.say which pairs, if any, should get mated.
Not one of them was capable of lying,
There was not one which knew that it was dying
Or could have with a rhythm or a rhyme
Assumed responsibility for time.
Let them leave language to their lonely betters
Who count some days and long for certain letters;
We, too, make noises when we laugh or weep:
Words are for those with promises to keep.

*

W.H. Auden
A Passion of Poets
By Joseph Brodsky
Oct 1983
I
When a writer resorts to a language other than his mother tongue, he does so either out of necessity, like Conrad, or because of burning ambition, like Nabokov, or for the sake of greater estrangement, like Beckett. Belonging to a different league, in the summer of 1977, in New York, after living in this country for five years, I purchased in a small typewriter shop on Sixth Avenue a portable "Lettera 22" and set out to write (essays, translations, occasionally a poem) in English for a reason that had very little to do with the above. My sole purpose then, as it is now, was to find myself in closer proximity to the man whom I considered the greatest mind of the twentieth century: Wystan Auden.

https://www.enotes.com/topics/less-than-one

Khi Brodsky bị lưu đày nội xứ vì cái tội ăn bám xã hội, ông nhận được 1 tuyển tập thơ, của ai đó, gửi tặng, trong có bài thơ của Auden,“In Memory of W.B. Yeats”. Bài thơ làm ông ngộ ra, như Remnick viết.
Trong bài viết "Để làm hài lòng 1 cái bóng", được trích đoạn với cái tít "Một đam mê thi sĩ", ông kể, về cái chuyện ông mua 1 cái máy đánh chữ, tập viết bằng tiếng Anh, chỉ để thân cận với nhà thơ Auden, "cái đầu vĩ đại nhất của thế kỷ 20", khác với một Conrad, do cần thiết, hay Nabokov, do háo danh, hay Beckett, do thèm ghẻ lạnh.

Tôi hết còn tin vào nơi chốn ấy

Sau cùng ông bị kết án năm năm, lưu đầy nội xứ. Ông làm việc tại một trang trại ở Norinskaya, vùng đất sũng nước gần Bạch Hải. Chỉ có Akhmatova, người đã từng trải qua những nỗi thống khổ nhiều hơn thế nữa, đã từng mất bao nhiêu thân quyến, bao nhiêu bạn bè trong cái lò xay thịt người là những năm tháng dưới sự thống trị của Lênin và Stalin, chỉ có bà mới có thể nở một nụ cười kèm theo lời nhận xét cay đắng: "Hãy tưởng tượng bản tự thuật mà họ đang sáng tạo cho thằng em tóc hung của chúng ta? Chính anh ta đã mướn tụi nó làm đấy!"

Khi được hỏi ông nghĩ gì về những năm tháng tù đầy, Brodsky nói cuối cùng ông đã vui với nó. Ông vui với việc đi giầy ủng và làm việc trong một nông trại tập thể, vui với chuyện đào xới. Biết rằng mọi người suốt nước Nga hiện cũng đang đào xới "cứt đái", ông cảm thấy cái gọi là tình tự dân tộc, tình máu mủ. Ông không nói giỡn. Buổi chiều ông có thời giờ ngồi làm những bài thơ "xấu xa", và tự cho mình bị quyến rũ bởi "chủ nghĩa hình thức trưởng giả" từ những thần tượng của ông. Hai đoạn thơ sau đây của Auden đã làm ông "ngộ" ra:

Time that is intolerant
Of the brave and innocent,
And indifferent in a week
To a beautiful physique,

Worships language and forgives
Everyone by whom it lives;
Pardons cowardice, conceit,
Lays its honor at their feet.

Thời gian vốn không khoan dung
Đối với những con người can đảm và thơ ngây,
Và dửng dưng trong vòng một tuần lễ
Trước cõi trần xinh đẹp,

Thờ phụng ngôn ngữ và tha thứ
Cho những ai kia, nhờ họ, mà nó sống;
Tha thứ sự hèn nhát và trí trá,
Để vinh quang của nó dưới chân chúng.

Auden

Ông bị xúc động không hẳn bởi cách mà Auden truyền đi sự khôn ngoan - làm bật nó ra như trong dân ca - nhưng bởi ngay chính sự khôn ngoan, ý nghĩa này: Ngôn ngữ là trên hết, xa xưa lưu tồn dai dẳng hơn tất cả mọi điều khác, ngay cả thời gian cũng phải cúi mình trước nó. Brodsky coi đây là đề tài cơ bản, trấn ngự của thi ca của ông, và là nguyên lý trung tâm của thơ xuôi và sự giảng dạy của ông. Trong cõi lưu đầy như thế đó, ông không thể tưởng tượng hai mươi năm sau, khăn đóng, áo choàng, ông bước lên bục cao nơi Hàn lâm viện Thụy-điển nhận giải Nobel văn chương, nói về tính độc đáo của văn chương không như một trò giải trí, một dụng cụ, mà là sự trang trọng, bề thế xoáy vào tinh thần đạo đức của nhân loại. Nếu tác phẩm của ông là một thông điệp đơn giản, đó là điều ông học từ đoạn thơ của Auden: "Sự chán chường, mỉa mai, dửng dưng mà văn chương bày tỏ trước nhà nước, tự bản chất phải hiểu như là phản ứng của cái thường hằng - cái vô cùng - chống lại cái nhất thời, sự hữu hạn. Một cách ngắn gọn, một khi mà nhà nước còn tự cho phép can dự vào những công việc của văn chương, khi đó văn chương có quyền can thiệp vào những vấn đề của nhà nước. Một hệ thống chính trị, như bất cứ hệ thống nào nói chung, do định nghĩa, đều là một hình thức của thời quá khứ muốn áp đặt chính nó lên hiện tại, và nhiều khi luôn cả tương lai..."

Trong số báo trên TV đã giới thiệu bài viết của Gordimer. Kiếm mãi không thấy, bèn post lại. (1)

WOLE SOYINIKA
THE LITERARY LION
By Nadine Gordimer
JULY 2007

Albert Camus wrote, "One either serves the whole of man or one does not serve him at all. And if man needs bread and justice, and if what has to be done must be done to serve this need, he also needs pure beauty which is the bread of his heart," and so Camus called for "courage in one's life and talent in one's work." Wole Soyinka. This great Nigerian writer has in his writings and in the conduct of his life served the whole of humankind. He endured imprisonment in his dedication to the fight for bread and justice, and his works attain the pure beauty of imaginative power that fulfills that other hungry need, of the spirit. He has "courage in his life and talent in his work." In Soyinka's fearless searching of human values, which are the deep integument of even our most lyrical poetry, prose, and whatever modes of written-word-created expression we devise, he never takes the easy way, never shirks the lifetime commitment to write as well as he can. In every new work he zestfully masters the challenge that without writing as well as we can, without using the infinite and unique possibilities of the written word, we shall not deserve the great responsibility of our talent, the manifold sensibilities of the lives of our people which cannot be captured in flipped images and can't be heard in the hullabaloo of mobile-phone chatter. Bread, justice, and the bread of the heart-which is the beauty of literature, the written word-Wole Soyinka fulfills all these.

(1): Kiếm thấy rồi:

http://www.tanvien.net/Day_TV/35.html

"One either serves the whole of man or one does not serve him at all. And if man needs bread and justice, and if what has to be done must be done to serve this need, he also needs pure beauty which is the bread of his heart," and so Camus called for "courage in one's life and talent in one's work."

Hoặc là mi phục vụ, trọn con người, hoặc là mi vờ nó, cái gọi là trọn con người.
Và nếu con người cần bánh mì, và công lý, và nếu hai cái cần này của nó được thoả mãn, thì nó còn cần cái đẹp tinh khiết, là bánh mì của trái tim của nó, và thế
là Camus bèn la lớn, "bớ người ta", hãy "can đảm trong cuộc đời và tài năng trong cuộc viết".

Cái gọi là can đảm của đàn ông Mít, bị cuộc chiến Mít làm thịt sạch.
Đéo có
tí can đảm, là đéo viết được.
Tinh anh Ngụy, chết vì mảnh bằng, là vì vậy.

Nhắc tới Camus, bèn giới thiệu cuốn mới mua
*

http://www.newyorker.com/magazine/2015/09/28/the-art-of-witness

Art as weapon

The inventor of auto-destructive art was 90


All the books in the world 

Mấy bài ai điếu này, rất OK. Tờ báo không cho Gấu đọc free nữa. Đành post cái link, rồi lèm bèm sau.
Valentine's Day

WONDERS OF THE INVISIBLE WORLD
Wine had bloodied your lips and tongue,
When you whispered your tale
Of how young witches
Used to ride married men
Through the sky on a night like this.

The stars were like lit candles
That had wandered off on their own,
And the misty woods
Were full of floating nightgowns.
It seemed only yesterday
Old Scratch tucked us into a bed of dead leaves.

You turned into a black cat
And I ran after you on all fours
Into a church where a dog chased us
And the congregation sat
With their grave faces looking on.

Charles Simic: That Little Something
Những điều thần tiên của thế giới vô hình

Hồng đào nhuộm đỏ như máu, môi và lưỡi em,
Khi em thầm thì,
Như thế nào mấy cô bé phù thuỷ 
Thường cưỡi mấy đấng có vợ
Băng qua bầu trời vào một đêm như đêm nay

Những ngôi sao thì như những cây đèn cầy
Tự chúng muốn, chẳng ai bắt
Đi lang thang
Và những khu rừng, đầm đìa sương mù,
Thì đầm đìa những chiếc áo ngủ đàn bà, trôi lềnh bềnh
Hình như mới chỉ hôm qua
Con Quỉ Già lùa chúng mình vô 1 cái giuờng đầy lá chết

Em biến thành một con mèo đen
Và anh bò bốn chân rượt đuổi
Vô một ngôi nhà thờ
Nơi con chó rượt đuổi cả đôi ta
Và giáo đoàn, ngồi
Mặt người nào người nấy coi bộ thật trầm trọng
Theo dõi trò hú tim
.


Osip Mandelstam
Steiner

Edward Hirsch

Viết mỗi ngày

*

Gọi Người Đã Chết

Notes on a voice: Le Carré

Về từ Miền Lạnh
Bạt
[Cho lần xb 50 năm sau, tháng này, Tháng Tư, 2013)

Tôi viết Tên điệp viên về từ miền đất lạnh ở cái tuổi ba mươi của mình, dưới sức ép thật căng, không thể chia sẻ với ai, và cực kỳ cá nhân. Là 1 sĩ quan tình báo với cái vỏ bọc là 1 nhà ngoại giao trẻ ở Tòa Đại Sứ Anh ở Bonn, tôi là 1 bí mật, với những đồng nghiệp, và trong hầu hết thời gian, với chính tôi. Tôi đã viết vài cuốn tiểu thuyết trước đó, bắt buộc dưới 1 cái tên giả, và Sở của tôi gật đầu cho phép in. Và sau 1 hồi dài tra hỏi linh hồn (soul-searching), họ cũng gật đầu với The Spy.
Vào ngày này, [50 năm sau], tôi tự hỏi, nếu Sở lắc đầu, thì quyết định của tôi sẽ ra sao.
Như chuyện xẩy ra, họ có vẻ như kết luận, hẳn là có ngần ngại, rằng cuốn truyện thuần giả tưởng, từ đầu cho tới cuối, chẳng có gì cho thấy là rút ra từ kinh nghiệm cá nhân, và như thế, nó không phạm luật xé rào an ninh. Tuy nhiên, đây không phải là cách nhìn của giới báo chí thế giới, mà, với một tiếng nói, quyết định rằng, cuốn sách không hoàn toàn chân thật, nhưng mà là 1 thứ Thông Điệp Từ Phía Bên Kia có tính phát giác, mặc khải gì đó, một phán quyết như thế khiến tôi, đâu có phản ứng nào khác, ngoài chuyện ngồi im re, và theo dõi, lẽ dĩ nhiên cũng rất ư là lạnh cẳng, như thể cuốn sách leo mãi lên tít cao của danh sách những best-seller, rồi chết sững ở đó, trong lúc hết nhà phê bình này tới nhà phê bình khác gật gù, đúng thứ thiệt đấy!
Và cái lạnh cẳng của tôi, thì sau đó được thêm vào, với thời gian, cái giận dữ, cũng của tôi.
Một giận giữ bất lực.
Bởi là vì, kể từ ngày cuốn tiểu thuyết của tôi được xb, tôi nhận ra là, bây giờ cho đến mãi về sau, tôi bị chụp mũ, một tên điệp viên biến thành nhà văn, chứ không phải, một nhà văn, và, bởi vì là nhà văn, lại có tí lem nhem với thế giới bí mật, và thế là bèn viết về nó. Tôi là 1 tên bí mật ngay cả với chính tôi!
Nhưng những ký giả thời đó không phải như thế. Tôi là 1 tên điệp viên Ăng Lê, một kẻ bước ra khỏi thế giới bí ẩn của mình, và nói, nó thực sự như thế nào, và bất cứ cái gì tôi nói ngược lại, thì đều củng cố thêm lên, huyền thoại. Và, bởi vì tôi viết cho một công chúng ăn phải bả [hooked on] Bond và tuyệt vọng cố tìm thuốc rã độc [desperate for the antidote], huyền thoại càng dính cứng. Cùng lúc, tôi có được 1 thứ quan tâm mà nhà văn mơ tưởng. Vấn đề độc nhất của tôi là, tôi đếch khoái công chúng của riêng tôi. Tôi đếch khoái, ngay cả khi tôi phụ thuộc vào nó, đăng ký nó [subscribing to it].


Notes on a voice: Le Carré

TYPICAL SENTENCE

It takes three (two short, one long) to show his measured fury. "'This is a war,' Leamas replied. 'It’s graphic and unpleasant because it is fought on a tiny scale at close range; fought with a wastage of innocent life sometimes, I admit. But it’s nothing, nothing at all besides other wars—the last or the next.'" ("The Spy Who Came in from the Cold")

Câu văn thần sầu

Phải ba (hai ngắn, một dài), để chỉ ra, cơn cuồng nộ cố dằn lại của ông. “Đây là một cuộc chiến,” Leamas trả lời. “Nó có tính đồ thị, minh họa, và làm khó chịu, bởi là vì xẩy ra trong 1 phạm vi hẹp, và ngay trong tầm tay; đôi khi làm phí những mạng người vô tội, tôi đồng ý. Nhưng bõ bèn gì, bên cạnh những cuộc chiến khác – cái vừa qua, hay cái sắp tới.” ("Tên điệp viên về từ miền lạnh”)
*
Với Gấu Cà Chớn, câu văn thần sầu của Gấu mà nhờ Le Carré mới viết được - vắt qua hai cuộc đời, một đã qua cùng cuộc chiến đã qua, và một sắp tới, cùng cuộc chiến hội nhập sắp tới - là câu văn mà, chỉ 1 khi Gấu được Cao Uỷ Tị Nạn cho xe tới rước, sau hai tháng tù vì tội nhập vô Thái Lan bất hợp pháp, tại nhà tù quốc tế Bangkok, và sau đó đưa vô Trại Phanat Nikhom - chỉ tới khi đó, mới viết được khúc đuôi của nó:
"Trong những đêm chập chờn mất ngủ, hồn thiêng của thành phố thức giấc ở trong tôi, tôi lại tưởng đây là hồn ma của chính mình đang lang thang trên những nẻo đường xưa cũ, sống lại cái phần đời đã chết theo cùng với Sài Gòn, bởi cái phần đời đó mới đáng kể." (1)

Note: "Đáng kể", “kể”, kể ra, viết ra...

In From the Cold

John le Carré Has Not Mellowed With Age

His early books sketched, as he once put it about his Smiley novels, “a kind of ‘Comédie humaine’ of the cold war, told in terms of mutual espionage.”

Còm của độc giả Mẽo:

 Look up this guy's comments on 9/11. He thinks the U.S. provoked what it got. He's got his head in too many absurd moral fictions.
Đọc gã này phán về cú 9/11. Hắn nói, Mẽo đã gây ra, provoke, cú đó. Hắn bị THNM vì đọc quá nhiều cái thứ giả tưởng phi lý mà còn bày đặt đạo đức ở trong đó.

[Tuyệt. Quả là độc giả thứ thiệt của Le Carré, một cách nào đó. Có chất đạo hạnh bậc thầy ở trong truyện của Le Carré, theo Gấu]

I was very disappointed by Carre's last book, very anti-American and quite preposterous.
His great works all came out during the cold war and they told us - fiction or modified fact - how complex the spying business was. They added a 'human face' to this basically grisly business.
Not the last one I remember only vaguely now. This guy does not like our country very much, to say at least.
 
Tôi rất bực cuốn mới nhất của ông ta, rất ư là bài Mẽo, và thật là phi lý, nếu không muốn nói, láo xược.
Những tác phẩm lớn của ông ta, là từ cuộc chiến tranh lạnh mà ra. Và chúng nói với chúng ta - giả tưởng hay sự kiện được thay đổi đi, chế biến khác đi – ngành điệp vụ đa dạng, rắc rối như thế nào. Chúng đem “bộ mặt người” đến cho cái thế giới, tự bản chất của nó, thì vốn xám xịt.
Gã này đếch ưa xứ sở của chúng ta, đếch ưa 1 tí nào, phải nói như vậy.
*

Le Carré luôn tỏ ra "ưu ái", với những người Cộng Sản chân chính. Có vẻ như ông tin rằng, chính những người đó có lý hơn ông, như trong đoạn cuối ở trên, Smiley nước mắt ràn rụa, hét lớn, nhìn thân xác Dieter chìm xuống lòng sông, giữa sương mù Luân Đôn:
 -Dieter! Tại sao bạn không bắn tôi? Tại sao?…
*

Antoine SPIRE :

Ông có đưa ra một tay già, thông tuệ kinh tan-mút, phán::
Chúng ta cầu nguyện Chúa Cứu Thế tới, nhưng đâu hẳn như thế, bởi là vì có những đấng Do Thái, trong bóng tối, thì thầm với Thượng Đế: Này, đừng có nhập thế đấy nhé!

George STEINER: 

Tôi mô phỏng Hegel. Tay này không ưa dân Do Thái. Một bữa ông ta kể chuyện tiếu lâm, Thượng Đế vi hành, gặp một tên Do Thái, và đề nghị: Mày chọn gì, giữa 2 món này, hoặc là cứu chuộc, hoặc tờ nhật báo buổi sáng, hắn ta bèn chọn tờ báo.

Căng lắm đấy, cái câu chuyện tiếu lâm này. Chúng tôi là 1 dân tộc bị hớp hồn bởi lịch sử, bởi những đỉnh cao thời đại, bước ngoặt vĩ đại… là cái số mệnh của chúng tôi, và thỉnh thoảng, tôi tự nhủ thầm, có khi còn mỉm cười và nhủ thầm: Giá mà “Chúa Cứu Thế”, tức anh VC Giải Phóng Bắc Kít, đừng có tới, thì thật đỡ khổ biết là chừng nào!

TTT, hẳn là bị ám ảnh bởi 1 câu chuyện tiếu lâm như trên, thành thử khi đọc Trầm Tư của 1 tên tử tù của Hồ Hữu Tường, trong đó, ông mơ tưởng Đức Phật sẽ có ngày trở lại với dân Mít, nhà thơ hoảng quá, viết:

Giấc mơ Đức Phật trở lại thì cũng nát tan như mảnh đồng Bắc Kít chằng chịt những bờ, và bờ thì nhiều hơn là ruộng.

Ui chao, một khi cánh đồng liền thành một mảnh, qua Cải Cách Ruộng Đất, qua tập thể hoá… là Quỉ Đỏ xuất hiện, thay vì Đức Phật!
Tội nghiệp dân Mít!
Hà, hà!


http://www.magazine-litteraire.com/critique/greene-la-gr%C3%A2ce-intranquille-0

Greene, la grâce intranquille

Par Pierre Assouline dans Magazine Littéraire 569
daté juillet-août 2016 - 1375 mots

Converti au catholicisme, le Britannique conjuguait la foi et le doute : il fut toujours hanté par le vertige de la déloyauté.


Trong bài viết về GG, trên số ML mới nhất, PA coi Người Mỹ trầm lặng là tiểu thuyết trinh thám!
Nhảm quá.
Cái tít bài viết của PA
, 1 ân sủng đếch trầm lặng, cho thấy, là từ Người Mỹ Trầm Lặng mà ra.
Tuy nhiên, người nhận ra ý nghĩa của từ ân sủng, trong GG, là Coetzee, khi ông đọc cuốn Brighton Rock. Nó mắc mớ tới Ky Tô giáo

John Le Carré's Page

*

le Carré: Bản tiếng Tây của bản tiếng Anh, trên TV.
Nhà văn quá, dưới mắt điệp viên. Điệp viên quá dưới mắt nhà văn.


The fiction of John le Carré
Giả tưởng của le Carré

Ngày 23 Tháng Giêng, 1963, Kim Philby, gián điệp Anh (cộng tác viên một thời cho Người Kinh Tế) chuồn qua Xô Viết. Chín tháng sau, “Điệp Viên Từ Miền Lạnh" ra lò.
Giả tưởng, tất nhiên, nhưng hình như nó còn thực hơn cả sự thực, phản chiếu một thực tại rộng lớn hơn, cái gọi là Cuộc Chiến Lạnh.
Bảnh hơn nữa, nó xuất  hiện, và sau đó, tiểu thuyết điệp viên thay đổi hẳn, không còn như trước nữa.

Cuốn tiểu thuyết mở ra với cảnh Alec Leamas, điệp viên Anh, phụ trách một đơn vị phản gián ở Bá Linh, chờ 1 đệ tử, biệt kích ném qua Đông Đức, bị cháy, và phải bỏ chạy, qua Trạm kiểm soát Charlie. Ngay từ câu “rất” đầu tiên, là cái viết của Le Carré, như 1 con rắn độc, thò mỏ ra chơi 1 phát. Những xen, cảnh thì được chiếu sáng theo kiểu cà giựt, bằng “flashpoint” [điểm hỏa, tia loé]. Nhân vật thì được phác họa bằng những câu sắc, lẹ. Câu văn ngắn, điểm đúng huyệt. Tình tiết rắc rối, không dễ mò, nhưng không bao giờ lâm vô tình trạng quá tải, với những nhân vật phụ, những cú xoắn thừa thãi, hay khúc ngoặt không cần thiết.
Không giống tiểu thuyết gián điệp “James Bond 007”, thế giới của le Carré gân guốc, chai sạn, và rặt một màu u tối. Leamas tự mình chuốc rượu mình, trong những căn phòng tù mù, bàn ghế không phải không bày mà gần như đếch có. Đờn bà thì câm, nếu không muốn nói là nín khe, trầy trụa, không phải thứ lụa là gấm vóc của Ian Fleming. Xa vời cái thứ hoành tráng, say đắm, những điệp viên của le Carré thì, bằng những từ của Leamas, "tuồng ảo hóa đã bày ra đấy, toàn 1 lũ khùng điên, ba trợn, phản bội, những tên sa đích, ghiền rượu,  những kẻ thắp sáng cuộc đời thối rữa của chúng, bằng cách chơi trò cao bồi vs mọi da đỏ”, “a squalid procession of vain fools, traitors…pansies, sadists and drunkards, people who play cowboys and Indians to brighten their rotten lives”.
Cái sự “trần thùi lụi” này làm cho thế giới của những tên ma quỉ, gián điệp hai mang của le Carré, nếu không “xác thực”, thì “đáng tin”, như chính ông viết, trong lời bạt, 50 năm sau khi nó được xb lần thứ nhất. Cái viết ông mắc nợ rất nhiều từ 1 bậc thầy khác, trong giới viết truyện điệp viên bảnh tỏng, Graham Greene, và tác phẩm thần sầu của ông này, “Brighton Rock”, xb năm 1938. Nhưng cái vẻ gân guốc, chai sạn của “Tên Điệp Viên Từ Miền Lạnh” còn có thể tìm thấy ở trong 1 giả tưởng khác, cũng xuất hiện vào thời kỳ này. Năm năm trước đó, Allan Sillitoe viết về cuộc sống của giai cấp lao động ở Nottingham, trong “Saturday Night, Sunday Morning”, đã làm độc giả phát sốt với những miêu tả những vụ phá thai ở những con phố sau, những chiều tối trải qua trong những quán rượu, bằng tiền trợ cấp thất nghiệp. Vào năm 1956, John Osborne viết “Nhìn lại với Cáu Giận”, “Look Back in Anger”, một vở kịch hiện thực xoay quanh một anh chàng trẻ tuổi cáu giận, bất mãn. Tiểu thuyết của le Carré xoay quanh một chuyện khác, và nó phản chiếu một vết nứt rạn rộng hơn, về thời hậu chiến Anh, và mở ra 1 đường viết khác về cuộc sống ở xứ sở này.
Chẳng bao lâu sau khi cuốn tiểu thuyết xb, le Carré nghỉ chơi với sở ngoại giao và chỉ lo viết. Chừng 20 cuốn tiếp theo, kể cả cuốn mới ra lò, đầu năm nay, 2013, “Một Sự Thực Thanh Nhã.” Tất cả đều có thứ văn phong căng thẳng, và xoáy vào chi tiết. Nhưng “Điệp viên từ Miền Lạnh” kể như bảnh nhất. Gần 30 năm sau khi Bức Tường Bá Linh sụp đổ, cuốn tiểu thuyết của le Carré vẫn làm độc giả nhức nhối với Cuộc Chiến Lạnh, sự bất lực và dối trá của nó. Cuốn tiểu thuyết nhắc nhở chúng ta, 1 giả tưởng, thứ thật bảnh, có thể tra hỏi, về chuyện, nhà nước làm ăn ra làm sao.
Prospero
*
Lần kỷ niệm lần thứ 100, năm sinh của Greene [1904-1991], tác phẩm của ông được xb toàn bộ [chắc thế], mỗi cuốn kèm 1 bài biết thật bảnh.
Coetzee, trong tập tiểu luận của ông, chọn Brighton Rock [Introduction, ấn bản Penguin, New York, 2004] Theo ông, đây là tác phẩm nghiêm trọng đầu tiên của Greene, his first serious novel, theo nghĩa, viết với những ý nghĩ nghiêm trọng.

GG rất mê mấy dòng thơ dưới đây:

Our interest's on the dangerous edge of things.
The honest thief, the tender murderer,
The superstitious atheist.
[Nỗi quan hoài của chúng ta, là vào sát na sợi tóc nguy hiểm, ở mép bờ.
Tên trộm lương thiện, tên sát nhân dịu dàng. kẻ vô thần mê tín].
Robert Browning,
« Bishop Blougram's Apology »
[Lời xin lỗi của Bishop Blougram]

Pamuk, cũng mê, bệ làm đề từ cho cuốn Tuyết (1)

*

Thầy của le Carré, là Greene. Thầy của Greene, là Conrad.
Nếu phải chọn đề từ cho toàn bộ tác phẩm, Greene chọn câu trên, theo Coetzee.

Thế giới của Greene, 'Greeneland', là một miền đất trong đó, những con người bất toàn, imperfect, chia năm xẻ bảy, divided, như bất cứ một vẹn toàn, integrity, trong khi niềm tin bị thử thách ở mức tới hạn, their belief tested to the limit, và Thượng Đế, nếu có, thì đánh bài chuồn, nếu không muốn nói, đi trốn, ở ẩn, hidden.

*

Coetzee, có thể nói, là 1 người dẫn GCC vô văn chương thế giới hiện đại, như là 1 phê bình gia, nhà điểm sách, lương tâm của 1 thời, cùng với những đấng như Steiner. Đọc ông rất thú, vì thể nào bạn cũng kiếm thấy 1 ý, 1 câu thần sầu của ông, chiếu rọi 1 tác giả.

Thí dụ, khi ông viết về Walter Benjamin, và nhìn ra hai tác phẩm khổng lồ về điêu tàn của thế kỷ 20, ngó nhau:

Từ một khoảng cách, tuyệt tác của Benjamin, kỳ cục thay, gợi nhớ một điêu tàn lớn lao khác của văn học thế kỷ 20, "Thi khúc" ("Cantos"), của Pound. Cả hai tác phẩm đều được chiết ra từ những năm tháng đọc sách theo kiểu cú vọ (jackdaw reading). Cả hai đều được dựng nên từ những mẩu đoạn và những trích dẫn, và trung thành với một thẩm mỹ học hiện đại bậc cao, về hình ảnh và dàn dựng. Cả hai đều có tham vọng kinh tế và đều nằm dưới sự chứng giám của những nhà kinh tế (một bên là Marx, và một bên là Gesell và Douglas). Cả hai tác giả đều có đầu tư vào trong những ngành cổ học, và cả hai đều đánh giá quá cao sự thích nghi của chúng đối với thời đại của chính họ. Chẳng người nào biết, khi nào thì dừng. Và cả hai, sau cùng đều tiêu ma vì con quái vật là chủ nghĩa phát xít. Với Benjamin, là một kết cục bi đát. Với Pound, ô nhục.

Ông viết về Paul Celan, mà chẳng tuyệt sao:

Celan là thi sĩ ngọn tháp Âu Châu ở những thập niên giữa thế kỷ 20, người mà, thay vì chuyển hóa thời của mình – ông đếch có hứng đó – thì xử sự như một cây roi điện xả hết luồng điện cực kỳ khủng khiếp chứa chất trong nó, của thời của mình.
Tuyệt!
Celan is the towering European poet of the middle decades of the 20th century, one who, rather than transcending his times – he had no wish to transcend them – acted as a lightning rod for their most terrible discharges.

Đâu có như phê bình gia Mít. Hoặc dởm, hoặc bịp.
Và đều đếch có tí lương tâm: Bỏ nước ra đi, tố cáo VC chán, lại mò về, làm như đếch có chuyện gì xẩy ra!

Nhà văn vào thời này, Tây hay Đông, nếu đúng là thứ thiệt, gắn bó với viết lách, nói chung, đều thật rành cái thế giới của họ, không chỉ như nhà văn, mà còn như là nhà phê bình, điểm sách. Coetzee là 1 trong thứ đó. Trong bài giới thiệu tập tiểu luận thứ nhì của ông Inner Workings, người viết, Dereck Attridge, đã đặt ra câu hỏi, và trả lời, chúng ta cần gì đọc phê bình điểm sách của một tiểu thuyết gia bậc thầy đã đoạt Nobel? Điều gì khiến chúng ta tò mò muốn đọc thứ đó?

Gấu mê đọc tiểu luận của Coetzee. Tiểu thuyết, mua gần như đủ cả, và thường là cả hai, tiếng Anh và tiếng Tẩy, nhưng chỉ đọc "Ô Nhục", tính đọc thêm cuốn, lấy khung cảnh St Petersburg, để vinh danh sư phụ của ông, là Dostoiesky: The Master of St Petersburg.

Tiểu thuyết của Coetzee, sự thực, cũng pha tiểu luận. V/v Văn phong, phải là cái tay trên Intel, khi chỉ ra, tính hà tiện để/đến chảy máu mắt, khi viết của Coetzee.

Nhà văn Mít chưa ai hiểu ra được điều này. Chữ đầy ra đấy, tại sao hà tiện. Họ đâu có biết, viết, thừa 1 chữ, là hỏng 1 chữ đã được viết ra, vì không trân quí nó! NQT (1)

THE SAVAGE THRIFT OF J.M. COETZEE

 Tính tằn tiện dã man của J.M. Coetzee

Ghi chú về 1 giọng văn: Simon Willis khui ra 1 giọng văn gầy còm, không có tí mỡ, và đe dọa.

30.4.2012

The Widow’s Peak

by David Remnick

Aleksandr Solzhenitsyn, tiểu thuyết gia chính trị quan trọng nhất của thế kỷ 20, mất ngày 3 Tháng Tám 2008, thọ 89 tuổi.
Vài tuần sau khi chôn ông, nhà nước Nga của Putin làm 1 cú thật đểu cáng, [a sly, even cynical gesture] đổi tên 1 cái phố lớn nhất của VC Nga, ở Moscow, thành tên của Solz. Và còn làm 1 tấm plaque vinh danh những thành tựu văn học của ông, kế ngay bảng tiệm McDomald, trên cùng con phố!

Bà vợ góa của nhà văn, Natalia Solzhenitsyn kiên nhẫn ôm những trớ trêu của lịch sử. Tuần lễ vừa rồi, bà tới Triển Lãm Sách Mẽo, ở trung tâm Javits Center, vì một dự án tưởng niệm quan trọng hơn nhiều: Thành lập một kho dự trữ hồ sơ văn học gồm tất cả những gì, từ tuổi thơ bị đóng đinh thập tự của Solz, tới hàng ngàn trang bản thảo viết tay của ông, trong có bản thảo Quần Đảo Gulag mà bạn bè đã chôn giấu từ 20 năm ở vùng quê Estonia, bên ngoài tầm tay của KGB.

(1)

https://phanquynhtram.com/2014/02/28/ke-tongpham/

Nh
ân nói về "không thừa, không thiếu."

Bài thơ sau đây, Tin Văn đã từng dịch.
http://tanvien.net/new_daily_poetry/Borges_Page.html

Bản dịch mói thấy trên net, của PQT, cho thấy, dịch giả để cả nguyên tác tiếng Tây Bán Nhà. Do không biết thứ tiếng này, nên thua.
Nhưng nếu chỉ so với bản tiếng Anh, thì... thua bản của GCC!  
PQT bỏ từ "precise", chính xác";
"crucify" không phải là "đóng đinh", mà là "đóng đinh thập tự"!
Bỏ tên dịch giả tiếng Anh. Phải cho biết ai dịch, vì có rất nhiều người dịch thơ/văn của Borges
Đảo ngược trật tự từ: "cây thập tự & những cái đinh", không phải "đinh & thập giá"
Quá cẩ
u thả (b), không rành tiếng Mít.
Không tôn trọng dịch giả khác...


(b)

Sự may mắn hay bất hạnh của tôi cũng chẳng có gì quan trọng [PQT]
Tại sao lại "cũng" ở đây?
Quá quan trọng, mới đúng, bởi là vì sau đó, Borges giải thích:
Tớ là thi sĩ!


The Accomplice

They crucify me. I have to be the cross, the nails.
They hand me the cup. I have to be the hemlock.
They trick me. I have to be the lie.
They burn me alive. I have to be that hell.
I have to praise and thank every instant of time.
My food is all things.
The precise weight of the universe. The humiliation, the rejoicing.
I have to justify what wounds me.
My fortune or misfortune does not matter.
I am the poet.
-H.R.

Kẻ đồng lõa

Chúng đóng đinh thập giá tôi. Tôi phải là cây thập tự, những cái đinh.
Chúng đưa tôi cái ly. Tôi phải là thuốc độc
Chúng đánh lừa tôi. Tôi phải là lời dối trá
Chúng thiêu sống tôi. Tôi phải là cái địa ngục đó.
Tôi phải vinh danh, xoa đầu chúng, và lúc nào cũng phải cám ơn chúng lia chia.
Thức ăn của tôi là mọi thứ, mọi điều.
Sức nặng đích thực của vũ trụ. Sự lăng nhục. Niềm vui mừng.
Tôi phải xác minh điều làm tôi thương tổn.
May mắn, hay bất hạnh của tôi chẳng là cái chó gì ở đây.
Tôi là thi sĩ

[NQT]

Kẻ tòng phạm

Người ta đóng đinh tôi. Tôi phải là đinh, là thập tự giá.
Người ta đưa tôi một cái chén. Tôi phải là thuốc độc.
Người ta lừa tôi. Tôi phải là lời nói dối.
Người ta thiêu sống tôi. Tôi phải là địa ngục.
Tôi phải ca tụng và cám ơn từng giây từng phút.
Thực phẩm của tôi là mọi thứ.
Toàn bộ sức nặng của vũ trụ. Sự sỉ nhục, sự vui mừng.
Tôi phải biện chính cho những gì làm tôi thương tổn.
Sự may mắn hay bất hạnh của tôi cũng chẳng có gì quan trọng.
Tôi là nhà thơ.
 —–
Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm.
Trong Jorge Luis Borges, Jorge Luis Borges: Selected Poems (New York: Penguin Books, 1999), 455.

Dear Gấu Nhà Văn,
Trong bài hát "Ly Rượu Mừng" có câu "Nhấc chén đầy vơi chúc người người vui..."

Tôi phải ngợi ca và cảm ơn từng phút giây (tôi đang sống, bất luận sướng khổ ra sao), không phải ngợi ca hay cảm ơn "bọn đó".
Tôi phải biện minh cho cả những điều đã làm tổn thương tôi. Không phải xác minh mà là biện hộ giùm cho cái kẻ làm hại mình, khổ thế?
Nói chung, tôi là thi sĩ, để làm được ra thơ, hay chỉ cần được thì thầm trong câm nín với Nàng Thơ thôi, thì cái gì tôi cũng chịu được, kể cả bị đóng đinh. ??

Bác Gấu dịch "Call for the Dead" hay quá sao không dịch trọn quyển nhỉ? Kính chúc an vui.
H.Â.
Sent from my iPad

Today at 5:51 PM

Tks
How Are You?
Tính dịch cho H/A đọc, vì có hứa, nhưng lu bu quá.
Mua lại cuốn sách là vậy.
Take Care
NQT

Re: Bản dịch của tôi, cũng có lỗi.
Tks again
NQT

http://www.tanvien.net/Viet/Bolano_Trong_ngoac.html

Thơ của Borges, bị Naipaul và nhiều người khác, chê.
Ông cũng coi mình chỉ là nhà thơ xoàng, nhưng chỉ muốn là thi sĩ
!

http://www.tanvien.net/cn/Trang_Borges.html

Nói chuyện thơ ( Jorge Luis Borges)

   "Nói cho cùng, tất cả chúng ta đều cố gắng là thi sĩ; mặc dù những thất bại, tôi vẫn tiếp tục muốn là một thi sĩ." Borges mở đầu buổi nói chuyện, cho một số sinh viên tại đại học Columbia, vào mùa xuân năm 1971.

Note: TV giới thiệu rất nhiều thơ của Borges, và, như có lần Gấu đọc trên net, có 1 tay nhận xét, chính cái gọi là xoàng trong thơ Borges làm chúng ta mê thơ ông, vì rõ ràng là, chúng ta cảm thấy, mình cũng thừa sức làm thứ thơ này!
Tuyệt.

Tên số 2, bạn quí cùa bạn Cà, cũng đã từng chê thơ bạn Cà, bài Khi ta chết hãy ném thây ta xuống biển, bài thơ này, ai cũng có thể làm được, "1 cách nào đó", là cũng theo nghĩa đó!

http://tanvien.net/Day_Notes/Kafka_Coupable.html

Lẽ dĩ nhiên, Kafka đâu phải nhà văn đầu tiên, càng không phải nhà văn cuối cùng, nhìn ra mình, lọc mình ra, như là 1 kẻ tuẫn nạn, vì cái thứ nghệ thuật mà mình chọn lựa cho mình: “dziếc dzăng”!
Hãy nghĩ tới Flaubert, hãy nghĩ tới Joyce [Xém 1 tí là thêm tên GCC vô!]. Nhưng ông bảnh nhất, khác hẳn mấy tay kia, là, loay hoay hì hục, chỉ chúi vô có mỗi cú đó, với “cái mình, cái đầu, cái tim của mình” [the single-minded] chỉ xoáy vô có mỗi chỗ “ấy ấy”, và từ đó, tìm ra, nhận ra vai trò của mình, "nhà dzăng".
Làm sao có thằng cha nào, ngoài Kafka ra, phịa ra được cái máy tra tấn người ở trung tâm câu chuyện đáng sợ “Ở thuộc địa trừng giới" [xém thêm cái tên của nó, là Xứ Mít bi giờ!], nó hành quyết những tên “ly khai, dám chống lại Đảng VC”, bằng cách dùng cây kim châm khắc mẹ bản án [le mot juste], vô da vô thịt họ.

*

Dịch lại & Lại dịch "Hóa Thân" của Kafka qua tiếng Anh

Cú khó sau chót, về dịch, là cái từ trong cái tít. Không giống từ tiếng Anh, “metamorphosis,” “hóa thân”, từ tiếng Đức Verwandlung không đề nghị cách hiểu tự nhiên, tằm nhả tơ xong, chui vô kén, biến thành nhộng, nhộng biến thành bướm, trong vương quốc loài vật. Thay vì vậy, đây là 1 từ, từ chuyện thần tiên, dùng để tả sự chuyển hóa, thí dụ như trong chuyện cổ tích về 1 cô gái đành phải giả câm để cứu mấy người anh bị bà phù thuỷ biến thành vịt, mà Simone Weil đã từng đi 1 đường chú giải tuyệt vời.
“Hóa thân” là phải hiểu theo nghĩa đó, giống như GCC, có thể đếch chết, và thay vì chết, thì biến thành rồng, như lời chúc SN của bạn DV!

Hà, hà!

One last translation problem in the story is the title itself. Unlike the English “metamorphosis,” the German word Verwandlung does not suggest a natural change of state associated with the animal kingdom such as the change from caterpillar to butterfly. Instead it is a word from fairy tales used to describe the transformation, say, of a girl’s seven brothers into swans. But the word “metamorphosis” refers to this, too; its first definition in the Oxford English Dictionary is “The action or process of changing in form, shape, or substance; esp. transformation by supernatural means.” This is the sense in which it’s used, for instance, in translations of Ovid. As a title for this rich, complex story, it strikes me as the most luminous, suggestive choice.
*

Viết là cố phịa ra 1 lý thuyết mới về văn học

Câu mở ra bài viết của Vila-Matas, theo Gấu, chính là cái gọi là chủ nghĩa Mác Xít, khi nó đạt điểm tới của nó: tri và hành là một.
Dans un État Idéal... Trong 1 nhà nước lý tưởng, lý thuyết và thực hành là một.
Kim Dung mượn, và để cho nhà sư quét dọn Tàng Kinh Các giải thích, tại làm sao mà Phật Pháp, Tri, lại rong ruổi Võ Công, Hành.

http://www.tanvien.net/tap_ghi_7/nuoc_co_hu_truc.html

Lập luận của nhà sư già tại Tàng Kinh Các, khi giải thích tại sao Phật pháp lại giong ruổi với Võ học, xem ra như có vẻ vay mượn từ Lý thuyết (Théorie) và Thực hành (Praxis) của triết học duy vật biện chứng: Trên đường giong ruổi, Théorie và Praxis triệt tiêu lẫn nhau, quyện vào nhau, để cùng biến mất và từ đó xuất hiện, con người hoàn toàn (l'homme total), tức giấc đại mộng của Marx.
Nguyễn Đình Thi, thay, Tri và Hành, bằng Tĩnh và Động, và đây là nội dung cuốn Triết Học Nhập Môn của ông, đã 1 thời Đại Học Văn Khoa Sài Gòn coi là sách giáo khoa, bắt buộc phải đọc, của cái bằng cử nhân Triết của lũ Nguỵ, tếu thế!


*

Borges đọc “Hóa Thân” (1938)

Kafka ra đời tại 1 khu Do Thái ở thành phố Prague vào năm 1883. Ông thì bịnh và đau khổ, buồn bực (chagrin). Ông bố không ngừng khinh bỉ, miệt thị, (mépriser) trong bí mật, en secret, và hành hạ, (tyrannisa), ông con, cho tới năm 1922. Cái sự cha con không hợp nhau này, như chính ông con nói, “đầm đìa” (découlait) trong tất cả tác phẩm của ông. Từ tuổi trẻ của ông, chúng ta biết được hai điều: ông đau khổ vì 1 thứ tình yêu trái ngược, contrarié, và ông có cái thú về du ký (le gout des récits de voyages). Học xong Đại Học, có thời gian ông làm trong ngành bảo hiểm, và chỉ được giải phóng, thoát ra khỏi ngành này, ôi chao, thảm thay, nhờ căn bịnh ho lao. Nửa đời sau ông thường thăm thú, cư ngụ tại những nhà dưỡng bịnh, des sanatoriums, ở Tyrol, Carpates, Erzgebirge.
Vào năm 1913, ông cho in tác phẩm đầu tay, Contemplation, Chiêm ngưỡng, và vào năm 1915, là cuốn nổi tiếng của ông Hoá Thân, La Métamorphose, và 1919, là 14 contes fanstastiques [truyện kỳ quái], hay 14 ác mộng ngắn gọn (cauchemars laconiques), làm thành (composer) Y Sĩ Đồng Quê, Un médecin de campagne.
Sức nặng của cuộc chiến đè nặng lên những tác phẩm này: cái sức nặng mà tính chất của nó là tàn khốc bắt buộc con người phải giả đò hạnh phúc, hoặc can đảm cùng mình… Bị bao vây, và thất trận, những đế quốc Trung Âu

My Old Saigon


*

Saigon 1970 - Một lớp học tại trường Gia Long

source: Viet-Nam Bulletin - Secondary Education in Viet-Nam (October 1970)
Một lớp học tại trường Nữ trung học Gia Long ở Saigon: cả cô giáo và học sinh đều mặc áo dài quần trắng, đồng phục của rất nhiều lớp học tại Nam VN.


*

https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/29098125041/

*

https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/28532851274/

Vụ hành quyết năm xưa (1) - Diễn ra trên đường Minh Mạng chứ không phải Lý Thái Tổ
Gần đây, một người nước ngoài (ông Paul Blizard‎) đã cất công tìm lại được đúng địa điểm thật của vụ tướng Loan xử tử đặc công VC năm 68. Vụ đó diễn ra trên đường Minh mạng, nay là Ngô Gia Tự, chứ không phải Lý Thái Tổ như thông tin trước đây.
Paul Blizard -‎ Saïgon Chợ Lớn Then & Now
www.facebook.com/groups/865130223501356/permalink/1359294...