|
TIN VĂN TRÊN
ART2ALL
Album
RIP
Anonymous
May 23, 2017, 4:08:00 AM
Anonymous
May 23, 2017, 4:08:00 AM
Không biết độ này bác Tin Văn có
khoẻ không nhỉ, không thấy trang nhà có bài
mới.
Reply
Replies
Anonymous
May 23, 2017, 2:36:00 PM
bác Tin Văn còn đang bựn facebook,
khổ thế chứ lị
Anonymous
May 24, 2017, 12:22:00 AM
Ông ấy vẫn còn
Blog NL
TKS
nqt
A life in literary criticism: how Review writers read
and responded to the novels of Philip Roth (1933–2018)
'It no longer feels a great injustice that I have to die'.
"Chết là cùng, chứ gì!"
"Tớ đếch cười".
Philip Roth: 'I don't smile'. Photo: AP
In a rare interview, Philip
Roth, one of America's
greatest living authors, tells Danish journalist Martin Krasnik why his
new book is all about death - and why literary critics should be shot.
Wednesday December 14, 2005
The Guardian
Trong một phỏng vấn hiếm, Philip Roth nói với nhà báo
Đan Mạch, Martin Krasnik, tại sao cuốn sách mới của ông chỉ
nói về cái chết, và tại sao nên đem bắn bỏ mấy
thằng phê bình văn học.
Philip Roth ít khi cho đời phỏng vấn, và
tôi nhận ra lý do liền lập tức. Không phải ông
khó chịu, khó chơi, khệnh khạng: Ông chịu không
nổi mấy thằng ngu cứ hỏi đi hỏi lại, cũng chừng ấy câu.
https://www.theguardian.com/books/2018/may/24/philip-roth-explorer-golden-age-dark-corners-jonathan-freedland-appreciation
Roth’s work evokes the sense of endless opportunity postwar
America seemed to promise
Tôi không muốn là
tên nô lệ của những đòi hỏi của văn chương nữa.
Tại làm sao mà ông nói đã viết
rất nhiều cuốn, trong số đó có Némésis và Cú
độc chống Mẽo, Le Complot contre l'Amérique,
chung quanh ý nghĩ sợ hãi?
Tại sao ông không đặt câu hỏi đó cho Kafka?
Xuống phố quơ… vài tờ báo, trên đường đi gặp bác
sĩ kiểm tra sức khoẻ Gấu Già. Tháng nào cũng phải
đi, vì có những thứ thuốc bác sĩ gia đình phải
nhìn thấy mặt, mới kê đơn, theo luật mới của Xứ Lạnh
Nhưng cái số Granta cũ - số 24, Summer 1988, bị cấm tại xứ
Ăng Lê, thế mới thú - vớ được ở tiệm sách báo
cũ, trong có bài của Roth mới thực là tuyệt
cú mèo!
“His Roth”. “Thằng Cu Roth của Bố Nó!
Với Roth, Gấu có hai kỷ niệm thật là tuyệt vời, vì
đều có bóng dáng BHD ở trỏng.
Bạn nào đã đọc Goodbye, Columbus, Phan Lệ Thanh,
bồ 1 thời của Nguyễn Đông Ngạc, đã từng dịch ra tiếng Mít
- chắc khó mà quên cái cảnh BHD tắm trong
hồ, bơi vô bờ, nhìn anh cu Gấu đứng xớ rớ gần đó, "eh,
thằng nhỏ kia, mang cặp kiếng mát kia kìa đến đây cho
ta"!
Gấu đã từng chiêm ngưỡng không chỉ 1, mà
tới hai lần hình ảnh thần tiên đó!
Tất nhiên, qua tưởng tượng, nhờ đọc Roth.
Hà, hà!
Về cái chuyện đếch thèm viết văn nữa, Roth phán,
ta hết còn là 1 tên nô lệ của văn chương rồi.
Gấu cũng có cảm giác đó, khi BHD ra đi!
Hết còn là nô lệ mà sao nghe ra quá
đắng cay, chẳng thấy tí hạnh phước nào!
Kafka & Roth
Nói đến hết còn
là nô lệ, có ngay 1 bài thơ để ăn mừng, trên:
Một cuộc phiêu lưu
Nó đến với Gấu vào
ban đêm, khi đang ngủ, rằng mi hết còn những phiêu
lưu tình ái vớ va vớ vẩn nữa,
Những cuộc phiêu lưu
mà Gấu là 1 tên nô lệ.
Thế nà thế lào?
Phi ní tình
yêu ư?
Trái tim Gấu lầu
bầu…..
Hoàng
Đế Cởi Truồng thắng Man Booker năm nay
Miền Nam Việt Nam đọc Roth rất
sớm, qua cuốn Goodbye, Columbus, 1959 [Saul Bellow phán,
cuốn thứ nhất nhưng không phải cuốn của 1 kẻ mới bắt đầu, "a first
book but ... not the book of a beginner"], do Phan Lệ Thanh dịch.
Cuốn này thì thật tuyệt. Quá tuyệt.
GNV làm sao cứ nhớ hoài cái cảnh, em đang tắm
trong 1 bể bơi, và ra lệnh cho GNV đứng kế đó, nè,
thằng lùn lé đần kia, nhặt cho ta cái kính râm.
Cú sét đánh,
mặc khải, tình yêu như trái phá, yêu từ
cú nhìn đầu tiên, yêu không là nhìn
nhau mà là nhìn về cùng 1 hướng, yêu
là chết ở trong hồn 1 tí.... đối với tên nhóc.
(1)
Vụ Roth vớ Man Booker, chứng
minh “lý thuyết” của bà Huệ, lại mafia Do Thái ban
giải thuởng cho 1 tên Do Thái!
Cái bà nữ giám
khảo, "quit job" khi Roth được giải, nhận xét về ông, mới
cay độc làm sao, và, thật là đúng: Còn
nhiều tác giả đáng được trao giải hơn, so với Roth. Theo Gấu,
có thể Man Booker khi trao giải cho Roth, là để "giải lời
nguyền" của vị thư ký Nobel, văn chương Mẽo không xứng đáng
để được Nobel.
Trong cột báo của mình
trên Guardian Review, Callil cho biết bà còn bực mình,
vì giải thưởng thất bại trong cái việc vinh danh dịch dọt
–danh sách chót gồm những tác giả TQ, TBN, Italy,
Lebanese… - Tại sao không 1 trong họ, mà thay vì thế,
thì là Roth, “lại một đấng Bắc… Mẽo”
(1) Chỉ mãi tới khi sắp xuống
lỗ, thì GNV mới hiểu ra được, tại sao lại nhớ hoài xen này:
Gấu đã mong được như vậy.
Bạn còn nhớ cái cảnh,
G và anh bạn cùng tới nhà BHD, vào 1 buổi
sáng, G nhờ anh bạn đưa giùm cái thư, vì bị
cấm cửa. Anh bạn vô, đưa, BHD để cái thư lên bàn,
và ra lệnh:
-Anh V. phụ em khiêng cái
giuờng.
Khi đó, em mới dọn nhà
từ Phan Đình Phùng lên Gia Long.
-Em mày láo quá,
nó sai tao khiêng giường cho nó!
-Thế thì sao mày không
để tao?
*
Lớp học trò chúng tôi,
đa số biết Paris qua... Thanh Tịnh. Con đường tới Paris bắt đầu bằng cảnh:
mẹ tôi âu yếm dẫn tay tôi trên con đường làng,
tôi vẫn quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tôi thấy
lạ. Con đường làng Việt Nam dẫn hai đứa chúng tôi tới
những lối đi nơi vườn Lục Xâm Bảo, và bầu trời hàng
năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và
trên không có những đám mây bàng
bạc của Thanh Tịnh, bỗng lẫn vào bầu trời chập chùng Mùa
Thu Paris, những chiếc lá vàng rơi trên những pho tượng
trần, những bữa cơm tối ăn dưới ánh đèn... ôi chao,
tôi lại thấy cảnh này, ở nơi vườn Bờ Rô Sài Gòn,
những ngày quen cô bé...
Cô bé, là,
BHD
Gặp Gỡ Cuối Năm
Coetzee điểm Cú Độc Nhắm
Vào nước Mẽo, The Plot Against
America, của Roth, so sánh Roth với Shakespeare.
Gừng càng già
càng cay, Roth has grown in stature as a writer as he has grown older.
Ở đỉnh cao của ông, at his best, thì ông vào lúc
này đúng là 1 “bi đại tiểu thuyết gia thực sự” [a
novelist of authentically tragic scope].
Ở vào cực đỉnh cực, tức phút cực khoái của ông,
at his very best, ông có thể vươn tới đỉnh Shakespeare, he
can reach Shakespearean height.
Còn bà nữ chủ khảo
Man Booker thì chê thậm tệ ông vua cởi truồng:
Ông ta cứ ngày
nọ qua tháng kia, lèm bèm hoài về chỉ 1 đề tài
[BHD, hà hà], trong bất cứ 1 cuốn nào, mới ra lò,
hay ra lò đời xửa đời xưa. Cứ như thể ông ta ngồi mẹ lên
mặt bạn và làm bạn hết thở!
TV sẽ giới thiệu bài
của Coetzee, thật là tuyệt, tất nhiên! C. gọi Roth là
1 văn hiện thực viết chuyện không thực!
Coetzee viết, một cuốn tiểu
thuyết lịch sử, theo định nghĩa, được đặt để trong 1 quá khứ lịch
sử [Nguyễn Huệ quả có ra Bắc, thí dụ, nhưng cái hành
động nhét cứt, thì chắc là không… chắc lắm đâu,
sĩ phu Bắc Kít đừng lo!]. Quá khứ “Cú độc chơi anh
Mẽo” không thực. Nó giống 1984 của Orwell,
và giông giống cõi của Borges, nếu nhìn từ xa.
Callil said that "he goes on
and on and on about the same subject in almost every single book. It's
as though he's sitting on your
face and you can't breathe".
Callil giải thích, lý
do bà không ủng hộ Roth là ông “viết đi viết
lại về một chủ đề trong hết cuốn này đến cuốn khác. Thử tưởng
tượng mà xem, nếu ông
ta ngồi trước mặt bạn, chắc bạn sẽ không thở được”.
Thanh Huyền [eVăn]
Ngồi trước mặt thì thở
vưõn cứ được.
Nhưng ngồi lên mặt, thì thua!
Cái bà nữ chủ khảo,
kiêm nghề điểm sách này, quả là cực độc! Đúng
dân nhà nghề!
Ngồi lên mặt.
Ông vua cởi truồng.
Tuyệt!
Ẩn dụ này, còn
nhắm ban chủ khảo Man Booker.
Roth cởi truồng mà mấy vị cứ làm như ông ta trong
bộ áo Hoàng Đế!
ABOUT A MAN
Would get up at night,
go to the mirror and ask:
Who's here?
Would turn, sink to his knees
and stare at snow falling blameless
in the night air.
Would cry:
Heaven, look down!
See? No one is here.
Would take off his clothes and say:
My flesh is a grave with nothing inside.
Would lean to the mirror:
You there, you, wake me,
tell me none of what I've said is true.
Mark Strand: Collected Poems
Về 1 tên đực rựa
Đêm, thức dậy
Bèn đến nhìn vô gương:
Tên nào, đây?
Quay 1 phát, quì, cũng 1 phát
Và nhìn tuyết
Rơi, vô tội vạ,
Trong bầu trời
Vặc, 1 phát, với ông Giời:
Nè, nhìn xuống coi,
Có thằng chó nào ở đây đâu?
Bèn cởi trần cởi truồng và phán:
Trong cái bị thịt bằng da người này
Là 1 cái mả, đếch có gì ở trỏng
Tì vào gương, và lầu bầu:
Mi, ở trỏng
Đánh thức Gấu dậy
Và biểu cho nó biết:
Chẳng có gì ta vừa nói, là thực
VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 17, 2018 : CHÂN
DUNG TỰ HỌA
Chân Dung
Tự Họa, GCC
Gấu sống, giữa tim và đầu
Chẳng đứa nào chịu đứa nào
Như cặp vợ chồng khủng khẳng
Gấu sống giữa tay trái,
Nhanh như cắt
Nham hiểm, cũng như cắt
Và tay mặt,
Chững chạc, chính trực
Gấu sống giữa tiếng cười khoái trá, và
cái cau có
Và bỏ phiếu chống lại chính thằng cha Gấu Cà
Chớn
Một hệ thống lưỡng đảng
Chân phải la cà, đong đưa, đú đởn
Chân trái, bổ 1 phát, thẳng và hẹp
Vai phải, giống như một “stripper” đi nghỉ hè (1)
Vai trái đứng thẳng, như anh Bộ Đội Cụ Hồ !
Có thể phán, phần bên phải của Gấu, là
để cho đi -“organ donor” –
Và, mặc xác, kệ mẹ - “let alone” - những phần
riêng tư còn lại của Gấu
Nhưng, về cặp mắt lé, thì cứ coi như mắt nọ chửi
bố mắt kia,
Hay văn vẻ hơn, như ông anh TTT của Gấu an ủi thằng em:
Thần Dionysus gặp thần Apollo!
Chẳng ai mong “thằng khốn” sống sót
Nhưng ly dị là “out of question”
Gấu giả dụ, tay phải, tay trái
Mắt phải, mắt trái,
Giao lưu hòa giải
Trên ngực của Gấu
Ở trong cái hòm – cái quan tài –
Và Bắc Kít, Nam Kít thế là được
kíu rỗi
Và trở thành, trọn 1 khối!
(1)
Stripper definition: A stripper is a person who earns money
by taking their clothes off in public, especially...
-----------------------
Self-portrait
I live between my heart and my head,
like a married couple who can't get along.
I live between my left arm, which is swift
and sinister, and my right, which is righteous.
I live between a laugh and a scowl
and voted against myself, a two-party system.
My left leg dawdled or danced along,
my right cleaved to the straight and narrow.
My left shoulder was like a stripper on vacation,
my right stood upright as a Roman soldier.
Let's just say that my left side was the organ
donor and leave my private parts alone.
But as for my eyes, which are two shades
of brown, well, Dionysus meet Apollo.
Look at Eve raising her left eyebrow
while Adam puts his right foot down.
No one expected it to survive
but divorce seemed out of the question.
I suppose my left hand and my right hand
will be clasped over my chest in the coffin
and I'll be reconciled at last.
I'll be whole again.
Edward Hirsch
Blizzard Song
On black ice,
lady of secrets,
girl of grey eyes,
we passed each other.
Lady of secrets,
your eyes flicked aside;
we passed each other
but I meant nothing to you.
Your eyes flicked aside
between your upturned collar,
but I meant nothing to you,
you were rushing.
Between your upturned collar
your cheeks were two flames;
you were rushing
to your lover;
your cheeks were two flames,
you were bringing heat
to your lover;
passers-by warmed themselves;
you were bringing heat,
scattering snow;
passers-by warmed themselves,
smiling through white stars.
Scattering snow,
you stand in his porch,
smiling through white stars
as you slide your coat off;
you stand in his porch,
with the blizzard's song;
as you slide your coat off
we move into one, spinning
with the blizzard's song,
girl of grey eyes,
we move into one, spinning
on black ice.
DMT: Selected Poems
[D.M. Thomas]
Bài Ca Bão Tuyết
Trên băng đen
Vị phu nhân của những bí mật
Cô gái của đôi mắt xám
Chúng ta đụng nhau
Vì phu nhân của những bí mật
Mắt ngó nghiêng
Chúng ta đụng nhau,
Nhưng Gấu chẳng là gì đối với bà
Mắt bà ngó nghiêng
Nơi cổ áo cao
Nhưng Gấu chẳng là gì đối với bà
Bả đang vội
Giữa cổ áo cao
Đôi má bà như hai đám lửa
Bà đang vội
Tới với người yêu của mình
Má của bà như hai ngọn lửa
Bà mang cái ấm, cái nóng
Tới với người yêu của bà
Bộ hành tự chúng sưởi ấm lẫn nhau
Bà đang mang nhiệt
Tuyết lả tả
Bộ hành sưởi ấm cho nhau
Cười, qua những vì sao trắng
Trong lúc bà tuồn mình ra khỏi chiếc áo
khoác
Bà đứng nơi cổng nhà anh ta
Với bài ca của bão tuyết
Trong lúc bà cởi áo khoác
Chúng mình chuyển vào nhau, thành
một, quay tròn
Với bài ca bão tuyết
Cô gái với đôi mắt xám
Chúng ta chuyển thành một, quay tròn
Trên băng giá đen.
http://nhilinhblog.blogspot.ca/2018/05/sinh-nhat-cua-mot-nguoi.html
NANCY HUSTON
ROMAIN GARY:
A FOREIGN BODY IN FRENCH LITERATURE
[Romain Gary: Một cơ thể lạ trong cõi văn Tây]
DESPITE HIS HUGE and continuing popularity in France,
Romain Gary is not part of the "canon" of postwar French literature.
And despite his familiarity with American culture and language (six of
his books were written directly in English), he has been virtually obliterated
from the memory of North America.
Who was Romain Gary? What I think, after having,
over the past year, passionately plowed through virtually all the books
written by and about him in French (some thirty-five volumes in all), is
that he was not only one of the great writers of this century, but also
one of its most unusual and impressive human beings. And what I shall attempt
to convince you of is the apparently incredible fact that he gradually
came to think of and shape his life as if it were the Second Coming. Romain
Gary was a self anointed, self-appointed, self-resurrected and, ultimately,
self-crucified Messiah.
There are no simple lessons to be drawn from the
life and work of Romain Gary, both of which were imperfect and magnificent.
Theydefiinitely do not point toward an improvement of the human species
- "I doubt we'll ever invent a new mankind," Gary once said (1973a); and yet, whatever
the absurdity of hope, the crucial thing, in his eyes, was to preserve
it. He lived obstinately at the heart of this contradiction and laid claim
to it just in order to emphasize the irreducible complexity of human beings.
Yes, like you, Romain, all of us are hybrid bastards tossed onto
this earth for no reason whatever, condemned to deal as best we can with
the noble and the ignoble, the grace and disgrace that inhabit us.
A few months before he slipped the barrel of a .38-caliber Smith
and Wesson into his mouth, Romain Gary said in a radio interview devoted
to his final novel, Les Cerfs-volants:
"I don't always manage to apply to my life the precepts of my books,
but this whole book is the story of people who don't know how to despair"
[Je n'arrive pas toujours à appliquer à ma vie les préceptes
de mes livres, mais tout ce livre est l'histoire de gens qui ne savent
pas désespérer] (1979).
This text is adapted from my book Tombeau de Romain Gary (1995).
[Trích trong Lưu vong và Sáng Tạo]
“Lời hứa lúc bình minh”, một cách
xuất sắc như văn chương vốn phải như vậy, như thể nói rằng con
người ta tuyệt đối có thể lấy hư cấu bao trùm lên thực
tại, coi thực tại chỉ là một phản ánh nào đó
nhất thời và ngẫu nhiên của trí tưởng. Romain của “Lời
hứa lúc bình minh” tự đặt tên cho mình để lôi
hẳn cõi sống bên trong ra làm “khuôn mẫu” cho
đời thực, còn Romain Gary sau này cũng sẽ tự đặt tên
cho mình thành Émile Ajar, bắt cuộc đời chấp nhận thêm
một hiện thân khác nữa của ông; khi ấy cuốn tiểu thuyết
xuất sắc nhất của “giai đoạn Ajar” sẽ là “Cuộc sống trước mặt” (1975),
một cách viết lại chính “Lời hứa lúc bình minh”.
Gấu tính
viết về Romain Gary từ lâu lắm rồi, có thể nói, từ
khi còn là sinh viên, chưa hề biết ông là
ai, nhưng đã gặp một tay mà sau này, đối chiếu với
ông, thì cũng cùng nằm trong một ‘truyền thống’, những
cá nhân, ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ, mà
đã nghĩ ra một cái vai cho mình đóng ở trên
cõi đời này rồi!
Hà, hà!
Đừng nghĩ là
Gấu này tếu!
Đề tài này,
chỉ có một nửa của vấn đề.
Nửa còn lại kia,
thì do nhà thơ Rilke nhận ra, khi ông cho rằng, vì
ông ra đời, mà một người rất thân thương của ông
mất đi.
BORGES AND I
The other one, the one called Borges, is
the one things happen to. I walk through the streets of Buenos Aires
and stop for a moment, perhaps mechanically now, to look at the arch of
an entrance hall and the grillwork on the gate; I know of Borges from
the mail and see his name on a list of professors or in a biographical dictionary.
I like hourglasses, maps, eighteenth-century typography, the taste of coffee,
and the prose of Stevenson; he shares these preferences, but in a vain
way that turns them into the attributes of an actor. It would be an exaggeration
to say that ours is a hostile relationship; I live, let myself go on living,
so that Borges may contrive his literature, and this literature justifies
me. It is no effort for me to confess that he has achieved some valid
pages, but those pages cannot save me, perhaps because what is good belongs
to no one, not even to him, but rather to the language and to tradition.
Besides, I am destined to perish, definitively, and only some instant
of myself can survive in him. Little by little, I am giving over everything
to him, though I am quite aware of his perverse custom of falsifying and
magnifying things. Spinoza knew that all things long to persist in their
being; the stone eternally wants to be a stone and the tiger a tiger. I
shall remain in Borges, not in myself (if it is true that I am someone),
but I recognize myself less in his books than in many others or in the laborious
strumming of a guitar. Years ago I tried to free myself from him and went
from the mythologies of the suburbs to the games with time and infinity,
but those games belong to Borges now and I shall have to imagine other things.
Thus my life is a flight and I lose everything and everything belongs to
oblivion, or to him.
I do not know which of us has written this page.
[Trans. James E. Irby]
We have just heard the great name, perhaps
the forgotten name, of Robert Louis Stevenson. Of course you all remember
that he wrote Jekyll and Hyde, and from Jekyll and Hyde
came this page. But in Stevenson's fable the difference between Jekyll
and Hyde is that Jekyll is compounded, as all of us, of good and evil while
Hyde is compounded of pure evil. And by evil Stevenson did not think of
lust, since he did not think of lust as being evil. He thought of cruelty.
He thought that cruelty was the forbidden sin, the sin that the Holy Ghost
himself would not forgive. Of course the same scheme was used by Oscar
Wilde in The Picture of Dorian Gray, not so effectively
as Stevenson's, but in my case the difference between Borges and I is
other. Borges stands for all the things I hate. He stands for publicity,
for being photographed, for having interviews, for politics, for opinions-all
opinions are despicable I should say. He also stands for those two nonentities,
those two imposters failure and success, or, as he called them: where we
can meet with triumph and disaster and treat those two imposters just the
same. He deals in those things. While I, let us say, since the name of
the paper is "Borges and I," I stands not for the public man but for the
private self, for reality, since these other things are unreal to me. The
real things are feeling, dreaming, writing-as to publishing, that belongs,
I think, to Borges, not to the I. Those things should be avoided. Of course
I know that the ego has been denied by many philosophers. For example, by
David Hume, by Schopenhauer, by Moore, by Macedonio Fernandez, by Frances
Herbert Bradley. And yet I think we may think of it as a thing, And now
it comes to me that I am being helped at this moment by no less a person
than William Shakespeare. Remember Sergeant Rolles. Sergeant Rolles was a
miles gloriosus, a coward. He was degraded. People
found out that he wasn't really a brave man. And then Shakespeare came to
his aid, and Sergeant Rolles said: "Captain I'll be no longer, simply the
thing I am shall make me live, the thing I am." And that of course reminds
us of the great words of God: "I am that I am." Ego
sum qui sum. Well, you may think I stand simply for the thing I am,
that intimate and secret thing. Perhaps one day I will find out who he is,
rather than what he is.
BORGES AT 80: I STAND SIMPLY FOR THE
THING I AM
Hiếm nhà văn được như Borges: ông
đi vào truyền thuyết, ngay từ khi còn sống, không
như một nhà văn nổi tiếng, mà là một huyền tượng.
Trong chuyện Tàu có trường hợp tương tự: Để trốn tránh
cơn giận dữ của nhà vua, và cái chết tiếp theo đó,
Wang Fo rời cuộc đời, bước vào bức tranh ông vẽ. Trường
hợp Borges rắc rối hơn: Sau khi trở thành huyền tượng, ông
tiếp tục sống thêm nhiều năm, làm phiền cho chính
ông trước tiên, như thể có hai, Borges, và
"Borges", và ông đành phải chấp nhận sự nhập nhằng,
đôi khi cũng cố gắng trần tình:
Không phải tôi đâu, mọi
chuyện là do gã kia, Borges. Tôi, tôi đang đi trên
đường phố Buenos Aires, nhẩn nha nhìn phố xá. Tôi nhận
được tin tức của Borges, qua bưu điện, nghe đâu ông ta được đề
nghị một chân nào đó, hay là được đưa vào
một cuốn tiểu sử... tôi thích những chiếc đồng hồ bằng cát,
thích nhâm nhi ly cà-phê, thơ xuôi Stevenson,
ông ta cũng chia sẻ những sở thích tương tự... Của đáng
tội, nếu nghĩ rằng giao tình giữa tôi và ông ta
tồi tệ, tôi sống và mặc kệ chuyện đời, miễn sao Borges tha hồ
thêu dệt văn chương của 'ông ta', vậy là đủ cho tôi
rồi (Borges và Tôi).
Còn nữa: bởi vì số mệnh muốn ông không
nhìn thấy gì, vào lúc 45 tuổi, người ta
bèn gọi ông là Homer, hoặc Milton, những huyền tượng
về thi sĩ mù.
Mặc kệ chuyện đời, nói vậy có khác chi,
từ chối làm một điều gì đó, trong đời, để cho gã
"chính tôi" kia tha hồ lo chuyện văn chương? Vả chăng,'
thêu dệt' nghe chẳng thấy ngợi ca, mà còn ra vẻ ám
muội, như thể viết văn là chơi trò ma mãnh, mưu mẹo,
giăng bẫy, chẳng có chút cao sang thanh nhã; thôi
đành cứ coi đây, những trang viết, cho dù giá
trị thế nào đi chăng nữa, là một trong những trò
chơi. "Trong nhiều năm, tôi đã cố gắng thoát khỏi
ông ta, và đã trải qua, từ những huyền thoại nhăng
nhít bên ngoài, cho đến những trò đùa
cợt với thời gian và với vô cùng, nhưng những thứ đó
bây giờ cũng thuộc về Borges, tôi phải nghĩ ra chuyện khác
thôi".
"Borges và Tôi" tận cùng như vầy:
"Không biết ai, trong hai đứa tôi, viết trang sách
này".
To Please a Shadow
When a writer resorts to a language other than his
mother longue, he does so either out of necessity, like Conrad, or
because of burning ambition, like Nabokov, or for the sake of greater
estrangement, like Beckett. Belonging to a different league, in the
summer of 1977, in New York, after living in this country for five
years, I purchased in a small typewriter shop on Sixth A venue a portable
"Lettera 22" and set out to write (essays, translations, occasionally a poem) in English for a reason that
had very little to do with the above. My sole purpose then, as it
is now, was to find myself in closer proximity to the man whom I considered
the greatest mind of the twentieth century: Wystan Hugh Auden.
Cuốn này, nhớ là, được Me-xừ Sao Mai
tặng, lần qua Florida dự đám cưới cô con gái.
Cả 1 cặp, nhưng Cô Út đem làm từ thiện, nhân
ghé tiệm sách cũ, thấy nó, bèn bệ về.
Có hai bài đã được giới thiệu Trong
Căn Phòng Rưỡi, và bài Tưởng Niệm bà vợ
góa của thi sĩ Osip Mandelstam.
Lần này, tính chơi bài Brodsky viết
về Auden, To Please a Shadow.
Khi 1 nhà văn dùng thứ tiếng không
phải tiếng mẹ đẻ, người đó làm thế, hoặc là
do cần thiết, như Conrad, hay vì tham vọng bừng bừng, như Nabokov,
hay vì thèm 1 sự ghẻ lạnh lớn lao hơn, như Beckett.
Đếch nằm trong lũ này, vào mùa hè
năm 1977, ở New York, sau khi sống ở xứ này 5 năm, tớ bèn
ghé tiệm lạc xoong ở Khu Chợ Cũ và tậu 1 cái
máy đánh chữ, và khởi sự viết bằng tiếng Anh,
chỉ để thân cận với ông bạn quí của tớ là
Auden!
Ui chao, bảnh thật. Lũ Bắc Kít, đa số học tiếng
Nga, chỉ để có được 1 địa vị ở 1 xã hội chư hầu của
Liên Xô. Lũ Nam Kít, học tiếng Tẩy, tiếng Anh,
để có cơ hội bỏ chạy cuộc chiến.
Nhìn lại, xem ra chỉ có thằng cha Gấu
Cà Chớn, thằng khốn cố học tiếng Tẩy để viết 1 cái thư
cám ơn 1 ông Tây thuộc địa, vì đã
cho nó có cơ hội ăn học!
VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 27, 2018 : EDWARD HIRSH : POET LAUREATE OF
GRIEF
Yahrzeit Candle
Bạn thắp 1 ngọn đèn cầy trên
mặt quầy, giữa chúng ta.
Một trầm tư 24 giờ cho bà thân sinh, khi
bà chuyển từ cõi thực qua một cõi khác,
hai mươi năm trước đây.
Thống khổ, chưng cất
Ngọn bấc, nỗi đau
Hồi tưởng, như thế nào
Sau cơn bịnh ngặt nghèo,
Tới hồi chót bi thương,
Chúng ta đưa bà ra khỏi nhà
Như 1 chuyến hành hương
Và trao bà cho bóng tối
Giải thoát linh hồn của bà vô không
gian, như 1 cánh chim
Và trở lại cõi người
Như những kẻ gìn giữ những người đã khuất
Dấy lên u sầu
Kế thừa nguyện cầu
Chúa ơi
Chúng con, những kẻ nguyện cầu
Nhưng không thể tin tưởng
Những đứa trẻ trưởng thành quay qua nhạc cổ xưa
Nhấm nháp mất mát, chén lửa của chúng
con
You've lit a candle on the counter
between us,
a twenty-four hour mantra to your
mother's passing from one realm to another twenty years ago,
distillation of grief, wick of suffering,
remembrance of how, after the stark drama
of her last illness, the tragic final act,
we ushered her out of her suburban home
like a pilgrim and handed her over to darkness,
releasing her spirit to the air, a wing,
and turning back to each other in light
of our fresh role as keepers of the dead,
initiates of sorrow, inheritor of prayers,
Lord, which we recite but cannot believe,
grown children swaying to archaic music
and cupping the losses, our bowl of flame
https://www.momentmag.com/edward-hirsch-poet-laureate-of-grief
Edward Hirsch — Poet Laureate of Grief
Nhà thơ với vòng nguyệt quế của nỗi thống
khổ
I did not know the work of mourning
Is like carrying a bag of cement
Up a mountain at night
The mountaintop is not in sight
Because there is no mountaintop
Poor Sisyphus grief
–Gabriel
Tôi không rành
cái việc than khóc, tưởng niệm
Chắc là cũng giống như vác tảng đá
hay bao xi măng
Lên đỉnh núi vào ban đêm
Đâu thấy đỉnh núi
Mà làm chó gì có đỉnh
núi
Ui chao, thật là tội nghiệp cho anh chàng
Sisyphus
Với nỗi thống khổ của anh ta!
Do you think Americans are uncomfortable
dealing with loss?
American culture is extremely uncomfortable
with grief. People just want you to get over it. I’ve heard from
a tremendous number of people who find this hard, Jews and non-Jews.
They don’t feel their grief is welcome in the culture. People are
very sympathetic for a little while, but then they just want it to
be okay. For most of us who suffer major losses, it’s not okay. I
don’t think you should go on mourning for the rest of your life, but
the experience isn’t only mourning. It’s how to get on with your life.
You carry ađượcround this loss inside of you. And as you get to be
an older adult, more and more people are carrying that around inside
of them.
Ông có nghĩ là người Mẽo không
thoải mái gì khi đụng tới mất mát?
Người Mẽo đếch chịu nỗi khổ đau.
Note: Đúng như thế. Thi sĩ Mẽo Robert Hass, không
đọc nổi những nhà thơ Nga, như Osip Mandelstam, là
vậy. Auden cũng không chịu nổi Mandelstam.
Robert Hass, trong bài viết “gia đình và
nhà tù, families and prisons” in trong “What light
can do”, nhắc tới Mandelstam, ông cảm thấy khó chịu,
về cái sự bị hớp hồn của chúng ta đối với nhà thơ,
vì vài lý do, but I am uneasy by our fascination
with him for a couple of reasons.
Thứ nhất, là sự nghi ngờ, có thể cái
sự tuẫn nạn của ông gãi ngứa chúng ta, the
first is the suspicion that our fascination exists because his martyrdom
flatter us.
Và ông đưa ra 1 nhận định cũng thật thú:
Có 1 số nhà thơ có tài, nhưng vì
1 lý do nào đó, thiếu can đảm, và có
những đấng đếch có tài, nhưng lại quá thừa can
đảm.
Nhân đó, ông lèm bèm
tiếp về Akhmatova. Cũng theo cách nhận thức như vậy.
Theo GCC, Robert Hass không đọc được, cả hai nhà
thơ trên. Lý do, theo Gấu vẫn là, có
1 cái gì đó thiếu, về mặt độc ác, tính
ác, ở những nhà thơ Mẽo như ông, cho nên
không đọc ra được những nhà văn nhà thơ của phần
đất Á Châu, như Mandelstam, Akhmatova.
Đẩy quá lên bước nữa, có thứ văn chương
chúng ta đếch cần đọc, vì chẳng bao giờ nó
ngó ngàng đến cái độc, cái ác của
con người, nhất là Cái Ác Á Châu,
trong có Mít.
VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 16, 2018 : LỤC BÁT
CUNG TRẦM TƯỞNG
Nhân nói đến lục bát, mới
đọc bài viết của DTL về Lục Bát Cung Trầm Tưởng,
và bỗng nhớ tới Phan Nhật Nam, lần “mới” gặp Tháng
Tám năm ngoái. Anh phán, lục bát đúng
là cửa tử của thơ Mít. Gấu phản biện, phải nói,
nó còn là cửa sinh nữa, thí dụ lục bát
CTT, lục bát Viên Linh.... và dẫn câu
của Brodsky, thơ vần, nói chung, thơ cổ điển... cho thấy
rõ sự kém cỏi của những nhà thơ dởm, bắt đầu làm
thơ bằng thơ tự do.
Ý này thì Borges cũng đã
nói rồi.
Nhưng quả thế thật. GCC rất sợ thơ lục bát của
những đấng đếch làm được thơ, đếch phải thi sĩ!
Cứ thấy lục bát là co rúm người
lại!
Thơ lục bát Cung Trầm Tưởng còn rất nhiều
bài hay, đâu chỉ có mấy bài PD phổ
nhạc. DTL, cũng nhà thơ, đúng ra nên viết về những
bài được ít nói đến mới phải. Bài viết
của bạn ta nhảm, chẳng nói được tí chó gì
về cõi thơ lục bát, của CTT, cũng như của nhiều nhà
thơ khác.
Hai câu thơ lục bát sau đây của CTT
mà chẳng bảnh sao:
Tháng Giêng buốt sẻ đôi đằng
Nửa chì mưa đục, nửa băng giá hồn
[Nhớ đại khái, không biết có đúng
không]
GCC cũng có tí kỷ niệm với CTT. Ông
có ghé nhà Gấu, khi Gấu chưa có Gấu
Cái, [BHD thì cũng không còn, hà
hà!], và căn nhà còn là nơi tụ
họp bạn Xì Tẩy, và Gấu khi đó nổi danh là
"Mòng", và CTT, cũng như MT, là những đại cao
thủ trong cõi Xì Tẩy.
Mai Thảo "đến chỉ một lần", sau đó, phán,
trên chốn giang hồ, ăn tiền của tụi nó thấy tội quá!
Toàn thứ học đòi đánh Xì,
mua con Ách thứ năm, thứ sáu...
Ý MT muốn nói, nhìn thấy trên
mặt bàn có ba con Xì rồi, thì thứ Mòng,
như Gấu, vẫn tin, còn 1 con nữa nằm trong cỗ bài,
đâu có biết là nó là con Tẩy nằm
dưới đáy chiếu bài!
Về nick Mòng này, Phạm Đình Chương
nói, “lịch sự” hơn. Ông là bạn của Hiếu Chân,
ông anh rể của Gấu, và chắc có nghe MT loan
truyền về Gấu Mòng.
Và bèn nói với HC, anh có
thằng em nổi tiếng “phong nhã” trên chốn giang hồ!
Lên xe tiễn em đi , chưa bao giờ buồn "xế"!
Giới thiệu Cung Trầm Tưởng, tốt nhất, là một
người sống cùng thời với ông, và sống những
ngày "chưa" chiến tranh, tuyệt vời [chiến tranh chưa hứa
hẹn những điều khủng khiếp], của Miền Nam, như ông.
Thời của "Paris có gì lạ không em"?
"Ga Lyon đèn vàng", "Cho anh một tí Paris....
"
Những bài thơ tình của thời đó,
mới đích thực là thơ "thời cuộc".
"Tình nhớ" mà mắc mớ gì tới phản
chiến?, "ông bạn" Đặng Tiến có lẽ đi Paris mất tiêu
rồi, không sống "Những ngày ở Sài Gòn",
khi đó, nên không cảm nhận ra chăng?
Xin đừng nghĩ là Gấu chọc quê: Những ngày
đẹp như thế, bỏ qua, ai mà không tiếc?
Ui chao, mấy cách đây chỉ vài...
phút, ông bạn nhà thơ hậu duệ Cao Chu Thần,
mail cho Gấu, mà còn nhắc tới cái câu, "Buổi
sáng tôi chào Good Evening..." để mà xuýt
xoa, cảm khái, tiếc hùi hụi "không khí thời
chưa chín" [chưa chiến]
Nơi tôi làm việc là tầng lầu trên
cùng một building, bất động sản của người Pháp;
tôi là chuyên viên kỹ thuật lo sửa chữa máy
móc, trông coi đường dây liên lạc vô
tuyến điện thoại, viễn ký, viễn ảnh từ Sài Gòn
tới những thành phố lớn, thủ đô các quốc gia trên
thế giới. Do hoàn cảnh địa dư, buổi sáng tôi có
thể chào buổi chiều, "Good Evening", với một đồng nghiệp ở California;
nếu rảnh rang, tôi có thể hỏi thăm hoặc bông đùa
đôi câu với một nữ điện thoại viên ở Hongkong, hoặc
Tokyo… Buổi chiều, tôi có thể biết thời tiết một Paris
buổi sáng; tôi hỏi thăm những đồng nghiệp không
bao giờ gặp mặt, có phải tuyết bắt đầu rơi, mùa đông
ở nơi xa xôi đó có gì tương tự với những
ngày giá lạnh của miền quê hương cũ…
Những ngày ở Sài Gòn (1965)
Giấc mơ Paris chính là giấc mơ phản chiến.
Một mai qua cơn mê, anh bèn đi Paris, anh
bèn làm thi sĩ!
*
Gấu này cũng có một vài kỷ niệm
với Cung Trầm Tưởng.
Gấu quen ông, cùng thời gian quen... Cao
Bồi. Cũng trên cái chiếu xì, tại nhà
Gấu. Cao Bồi hình như chỉ ghé một, hoặc hai lần. Hai người
hình như cũng không quen nhau. Cái nhà
nhà nước cấp, khi Gấu còn độc thân, ở chung cư
NBK, sau này, rước Gấu Cái, bằng thuyền, từ Cai Lậy về,
đám bạn Xì bèn dạt qua nhà NDT, cũng
kế bên, cũng thuộc một chung cư, khác, của Bưu Điện.
Nhưng với thi sĩ, với thơ, tuyệt nhất là những
vần lục bát của ông.
Mùa đi bỏ lại gốc dừa cội măng
Tháng Giêng buốt sẻ đôi đằng
Nửa chì mưa đục nửa băng giá hồn
Đọc, một phát, ở trong cái "không
khí thời chưa chín" đó, là nó
bèn cắm sâu vào hồn bạn.
*
Pamuk, trong Hồi Ức Istanbul, có nói đến
cái không khí tuyệt vời trước khi tai họa đổ
ập xuống:
Ôi, ôm Em trong tay mà đã
nhớ Em những ngày sắp tới [khi ở trong Trại Tù VC]
Đúng là cái không khí
của thời của Gấu, thập niên 1960. Viết về cái thời
đó, không dễ, cả ở hai phiá của cuộc chiến.
Gấu muốn nói, giữa mấy anh VC nằm vùng, và
lớp người như Gấu, không thể nào chọn VC được.
Cái bát cơm tám thơm quá
thơm, thành ra ngần ngại.
[Câu này là muốn nhắc tới “dụ ngôn”
của Nguyễn Đức Quỳnh, CS như chén cơm gạo Tám Thơm,
trộn thuốc độc, Quốc Gia như chén cơm gạo hẩm, trộn cứt]
Lạc Đường là một thí dụ. So với nó,
thái độ ngậm miệng ăn tiền, [hitman], của HPNT, coi bộ lại..
có lý!
Gấu đọc Lạc Đường, chịu không nổi, thú
thực.
Sượng quá, biến thành hà!
[Thân em như củ khoai hà, cho chó
chó lảng, cho gà gà chê!]
Điều này, có một tay, viết blog, lạ làm
sao tiên đoán được:
Hồi ký và tiểu sử: hai thể loại hung hiểm,
có thể làm gãy tay bất kỳ ai dám chạm
vào.
Blog Nhị Linh
Nothing reveals a poet's weakness like classic verse
and that why it's so universally dodged
Brodsky [Intro to Anna Akhmatova's Poems, selected and
edited by Lyn Coffin. Norton]
Không gì tố cáo cái yếu kém
của một nhà thơ cho bằng thơ cổ điển, và chính
vì thế mà mấy nhà thơ Mít dởm của chúng
ta tránh nó như tránh... hủi!
Thơ lục bát: Một duyên phận long đong
TYT
Note: Tay này đặt ngược vấn đề!
Thơ lục bát không long đong, nhưng nhà
thơ long đong, nếu đụng vô nó, mà không
đủ nội lực.
Đây là nhận định của hơn 1 nhà văn,
nhà thơ, trên thế giới, khi cho rằng, ‘truyền thống’,
trong có lục bát, tất nhiên, là một thách
đố, đối với những nhà thơ dởm, và chính vì
nó, truyền thống [ở đây, là lục bát],
mà đẻ ra ba thứ thơ nhảm nhí, như tự do, không
vần, tân hình thức, những nhà thơ cách
tân, canh tân, hậu vệ, mở miệng....!
Trong quá khứ, cũng có hơn 1 nhà
thơ Mít, đụng vô lục bát, mà thành
công, thí dụ, Cung Trầm Tưởng, [Bùi Giáng
nữa, ở 1 số bài, thí dụ như khi ông dịch Apollinaire],
Đồng Đức Bốn, Viên Linh, [nhớ đại khái vài cái
tên]
TTT phải đến khi vô tù mới trở lại được
với truyền thống, một phần là vì hoàn cảnh,
cái khó nó bó cái khôn, nhưng
theo Gấu, chính ở trong tù ông mới ngộ ra được
truyền thống, một phần là do, cái gọi là bạo lực
trong thơ của ông tới được cõi viên mãn
của nó: thiền.
Source
Cung Trầm Tưởng
Đêm Sinh Nhật
mưa rơi đêm lạnh Saigon
mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi
tôi?
mưa hay trời cũng thế thôi
đời nay biển lạnh, mưa bồi đất hoang.
hồn tu kín xứ đa mang
chóng hao tâm thể, sớm vàng lượng
xuân
niềm tin tay trắng cơ bần
cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng
xưa.
đêm nay trời khóc trời mưa
gió lùa ẩm đục, trời đưa thu về
trời hay thi khóc ủ ê?
cổ cao áo kín đi về buồn tôi.
Nguồn Dac Trung
Cali Tháng Tám 2011
Thú thực Gấu không nghĩ có ngày
được đọc lại những trang TSVC. Đọc 1 phát, là kỷ
niệm cũ những ngày mới quen Joseph Huỳnh Văn trở lại. Cái
truyện ngắn dịch Joyce, anh thích lắm, cái dòng
giới thiệu, “mười lăm truyện ngắn trong Dubliners đúng là
mười lăm mảnh đời xé ra từ xứ Ái nhĩ lan, từ thành
phố Dublin nghèo khổ.”
Không có Joseph, không có
Tử Lộc, là GCC không viết cho tờ TSVC. Lúc đó
GCC quá chán đời rồi. Quá chán viết
nữa. Bao nhiêu bài viết phê bình đọc sách,
dịch dọt, vứt thùng rác sạch, thế rồi bây giờ lại
được đọc lại, trước khi đi xa, cảm khái chi đâu.
Sau 1975, GCC chỉ còn có 1 người bạn,
là Joseph HV.
Trước 1972, thì cũng đã thế rồi. Những
lần chịu không nổi, là mò tới anh, anh bày
1 cái chiếu ra ở dưới bếp, không phải chỉ để nhậu, mà
là để cho thằng bạn mình ngồi xuống, khóc.
Đến nhà như thế, mà hầu như chưa 1 lần
Gấu nói gì với mấy đứa nhỏ, cũng như bà xã
anh, dù 1 câu chào hỏi.
Nhớ có lần khóc khủng khiếp quá,
rống lên như bò, chắc thế, cả nhà chạy xuống
bếp, bà xã anh và mấy đứa nhìn Gấu sợ
quá, không hiểu chuyện gì xẩy ra
Lần nói chuyện đầu tiên với bà xã
anh, là qua điện thoại, sau khi anh mất. Bà có
vẻ bực đám bạn trẻ, sau 1975. Theo Bà, mấy người bạn
cùng ngồi bàn cà phê bữa đó giá
mà biết anh bị tim, ngất đi, cứ để anh nằm xuống, nghỉ ngơi
một lát, có thể anh chưa mất. Họ hoảng quá chở
anh tới 1 tay bác sĩ ở gần đó, tay này hoảng quá,
kêu chở ngay đi nhà thương, do di chuyển nhiều, vết thương
vỡ ra...
Không phải như vậy, theo NDT, cũng có mặt
bữa đó. Anh nói, Joseph đang ngồi, gục xuống, và
đi liền lúc đó....
Ghi lại ở đây, để gia đình hiểu rõ
về lúc ra đi của anh.
Chỉ có mấy người bạn cũ của anh ấy những ngày
trước 1975 là tôi còn nhớ, chị viết, trong
mẩu giấy gửi anh bạn, nhà thơ HT, thay mặt Gấu tới nhà
đốt nén hương trước bàn thờ của anh.
Lạ là GCC không phải thứ hay khóc,
trước người khác, tuy bi lụy. Như thể có 1 đấng nào
đó biết, GCC rất cần khóc, nên ban cho Gấu Joseph
HV. Anh nói, mi bi lụy quá.
Và với NLV: Tội thằng Trụ quá.
Y chang Bà Trẻ của Gấu than thở, uổng quá,
mi dư sức đi tu, làm đệ tử Phật, nhưng bi lụy quá,
thành ra sống cũng khó, mong gì tu.
Rồi những bài thơ của Joseph nữa. Những bài
viết của Tử Lộc.
Cám ơn tất cả các bạn, và… quê
nhà, ở bên đó.
NQT
Ui chao, giá mà Gấu đi tu, nhỉ!
Không đi tu thì thờ Cô Ba cũng thế!
Hà,, hà!
Từ trước 1975, đúng hơn, từ lúc xin làm
đệ tử Cô Ba, Gấu gần như chẳng gặp bạn văn, đừng nói
bạn quí. Điều mà Gấu tự hào, là chưa từng
ngửa tay xin tiền bạn, để đi hút, hoặc chích; trước
1975, thì cũng dễ, nhưng cả sau 1975; và điều này
là nhờ Gấu Cái, bà lo gia đình, lo mấy đứa
nhỏ, Gấu chỉ phải lo cho thân Gấu, về mặt cơm đen!
Bạn C có lần ra Bưu Điện kiếm Gấu, trao tiền
[hình như 20 đô, hồi đó quí lắm, của
bạn Luận, 1 trong Thất Hiền từ Mẽo gửi về cho], mà còn
phải gật gù khen, cậu hơn tớ, tớ chẳng biết kiếm tiền, chỉ
trông vào Viện Trợ Mẽo!
Ý anh muốn nói, từ bà con đi thoát
được. Nhưng cái cụm từ “Viện Trợ Mẽo” còn có
ý nghĩa khác: Thời gian Gấu còn ăn bám bà
cụ C, mỗi lần bà cô của bạn C. tức phu nhân Đại
Tá Út, tỉnh trưởng Bạc Liêu, về Sài Gòn,
là bạn C trịnh trọng thông báo Thất Hiền, Viện
Trợ Mỹ tới rồi, hà, hà!
Cho tới khi gặp Joseph.
Biết anh cùng đám bạn cũ của Gấu làm
tờ TSVC, Gấu vì quá quí anh nên cầm lại
cây viết.
Không phải hoàn toàn không
cầm đến cây viết, nhưng chỉ những khi kẹt quá, thì
đành ghé VL, lấy tiền, rồi sau đó, viết bài
cho tờ TT, trừ.
Sau này, về già, Gấu tự hỏi, giả như tình
cờ gặp bạn quí, ngửa tay xin tiền đi chích, thì
sao, nhỉ?
Hà, hà!
VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 23, 2018 : ĐÁ / STONE
Đá
( Stone - D.M. Thomas)
Tập thơ thứ nhất của 1 nhà thơ nên gọi
là Đá
Hay Buổi Chiều, diễn tả trong 1 từ
Sự khiêm tốn là 1 phần của trái
đất
Sự tốt lành của buổi chiều và đá,
quá cả nhà thơ
Cuốn thứ nhì nên có 1 cái
tên
Bẽn lẽn, thẹn thò,
Với tính đại cương, tổng quát, lớn lao,
Thí dụ Đời Của Chị Tôi
(Hay, chôm mẹ Nguyễn Tuân
Tóc Chị Hoài!)
Choáng, trong sự kiêu ngạo của nó,
còn hơn cả khiêm tốn:
Cái gì gì,
“mi làm phiền ta quá, ta bận chồng, bận con, bận làm
thơ, bận công việc nhà thờ…. Ta đâu có
thì giờ thí cho mi…
Đầm ấm, tinh nghịch, chăm chút, tinh ý,
dịu dàng.
Những cuốn thơ sau nên rút vào
cõi riêng tư bí ẩn
Như thể chúng ta làm tất cả chỉ cho
chúng ta:
Cái gì gì
Biển, Những Ngày Ở Sài Gòn, Kiếp Khác..
Nhớ là ghi rõ là ở đường Trương
Công Định
Vườn Bờ Rô
Quán
Nơi cuốn sách của mi rớt xuống, mở ra
Như người xưa đánh rớt
cây gươm
Bèn ghi dấu ở nơi mạn thuyền
Hình như là 7 cuốn cả
thẩy
Cuốn thứ bẩy chưa viết, chưa xb
Cuốn mà 1 đứa con nít nghĩ là
nó có thể viết
Làm bằng phiến đá vững chãi nhất,
và những chiếc lá sáng sủa nhất
Rằng, cả dân tộc Mít
tiếp tục sống, nhờ nó!
Nhân
đọc 1 entry trên FB của 1 vị bằng hữu, điểm cuốn Animal
Farm. Cái tít, theo GCC, phải dịch là
Trại Loài Vật. “Súc vật”, là 1 từ dùng để
chửi, với lũ Ngụy, hay tất cả Miền Nam, mi là đồ “súc
vật”, thí dụ.
Orwell
On Animal Farm
For all I know, by the time this book [Animal Farm]
is published my view of the Soviet regime may be the generally-accepted
one.
But what use would that be in itself? To exchange
one orthodoxy for another is not necessarily an advance.
-George Orwell, "The Freedom of the Press"
ANIMAL FARM, as its author later wrote, "was the first
book in which I tried, with full consciousness of what I was doing,
to fuse political purpose and artistic purpose into one whole."
And indeed, its pages contain a synthesis of many of the themes that
we have come to think of as "Orwellian." Among these are a hatred
of tyranny, a love for animals and the English countryside, and
a deep admiration for the satirical fables of Jonathan Swift. To this
one might add Orwell's keen desire to see things from the viewpoint
of childhood and innocence: He had long wished for fatherhood and,
fearing that he was sterile, had adopted a small boy not long before
the death of his first wife. The partly ironic subtitle for the novel
is A Fairy Story, and Orwell was especially pleased when he heard from
friends such as Malcolm Muggeridge and Sir Herbert Read that their
own offspring had enjoyed reading the book.
Christopher Hitchens
[Bài viết được dùng làm "Intro"
cho ấn bản 2010 của cuốn Trại Loài Vật]
Tình hình Orwell viết "Danh sách
đỏ" rất tương tự của Hồ Hữu Tường, khi viết Trầm Tư: Trong lúc
đếm từng giờ từng phút cái chết đang tới gần. HHT,
án tử hình của Diệm. Orwell, bệnh lao phổi giai đoạn
chót.
Một ông mơ Đức Phật trở lại với dân Mít.
Một ông lo Tây Phương thua Cuộc Chiến Lạnh.
Từ đi thực tế tới
làm một nhà tiên tri
De l’exprérience
au prophétisme
Nicole Zand 17 Sept 1982
Nếu ông không đi Catalogne, nếu ông
không tận mắt chứng kiến những bạn bè của ông
bị thủ tiêu theo lệnh của Moscow bởi những người CS Tây
Ban Nha, chắc chắn ông không thể nào viết
ra được hai tuyệt tác Trại Loài
Vật và 1984, cuốn sau ông vừa hoàn
tất là buông cây viết, thở phào một phát,
rồi đi. Ấy, quên chưa kể tuyệt tác “Hommage à
la Catalogne” [Cuốn này dịch ra tiếng Việt có
thể gọi là Giã Biệt Cách Mạng 30 Tháng
Tư 1975, bởi vì quả là có một thời kỳ ngắn ngủi,
cả nước không nói, nhưng chắc chắn cả Miền Nam say mèm
giấc mơ “Tổ quốc ơi ta yêu Người mãi mãi, Từ
trận thắng hôm nay ta xây lại bằng 10”, cho đến khi giấc
mơ biến thành thực tại giống như ác mộng, “Tổ quốc ơi,
ăn khoai mì chán quá, Từ trận thắng hôm
nay ta ăn độn dài dài!”]. Hommage là một ghi
nhận tuyệt vời, một chứng từ, về cuộc chiến Tây Ban Nha, ở đó,
ông khám phá ra, một xã hội không
giai cấp ở trong dạng tí ti, microcosme, của nó, cùng
lúc ông nhận ra, ở những kẻ chiến đấu "một điều gì
rất quái, insolite, rất thê lương, sinistre - một không
khí sợ hãi, nghi kỵ, bất an, bất trắc, và thù
hận”. Giống như một bầy chuột.
Con người này, Orwell, không hề biết
sợ hãi, bạn bè của ông xác nhận điều
này, nhưng suốt đời bị ám ảnh bởi những con chuột.
http://nhilinhblog.blogspot.com/…/van-chuong-mien-nam-ho-hu…
Văn chương miền Nam: Hồ Hữu Tường (1)
Đã đến lúc có thể nói
đến một trong những nhân vật đặc biệt nhất của miền Nam
một thuở, Hồ Hữu Tường.
NL
“Danh sách Orwell” (1949), có thể được
coi là một “Trầm Tư” của ông, giống như của Hồ Hữu
Tường: Từ cuộc chiến Tây Ban Nha, Orwell biết rất rõ
cái gọi là guồng máy CS [bỗng nhiên Gấu
lại nhớ tới Nguyễn Đức Quỳnh và những buổi Đàm Trường
Viễn Kiến của ông, những ngày liền sau 1954 tại Sài
Gòn. Tờ Sáng Tạo, lúc đầu cũng có ý
định này: báo động về một guồng máy thâm hiểm
của VC], những điệp viên của nó, cách hành xử
tàn nhẫn vô nhân đạo của nó, thông qua
quyền lực, hay, một khi nắm được quyền lực. Chẳng thua gì Koestler,
ông không hề có một tí ti ảo tưởng về thực tế
Xì ta lin nít. Cuộc xâm lăng Đông Âu
của các “đảng anh em" cũng làm ông tỉnh thêm
ra.
http://www.tanvien.net/tgtp_02/Yann_Martel.htm
Trại Loài Vật là thí dụ tuyệt
hảo về những điều mà văn chương có thể đem đến cho
chúng ta: một thứ lịch sử cầm tay. Một độc giả chẳng biết tí
gì về thế kỷ thứ 20, Stalin là thằng chó nào,
Trốt Kít quái vật hả, Cách Mạng Tháng
10 quái thai ư: Trại Loài Vật sẽ chuyên chở tới
cho vị độc giả đó cái cốt yếu, cốt tủy về điều gì
đã xẩy tới cho những người láng giềng ở bên kia
Bắc Cực của chúng ta [dân Canada]: Cái quái
thai, tởm lợm, bại hoại của một lý tưởng [giải phóng,
thống nhất đất nước, thí dụ], sự hư ruỗng, thối nát
của quyền lực, sự lạm dụng ngôn từ, sự băng hoại của cả một quốc
gia – tất cả đều có ở trong đó, chỉ trong một tiếng nấc
của trên trăm trang sách. Và khi đọc những trang này,
độc giả trở nên minh mẫn hơn, nhờ uống 'lầm' thuốc độc chính
trị! Điều này thì cũng là văn chương: Sự tiêm
chủng vắc xin!
Ui chao, đúng là trường hợp đã
xẩy ra cho GNV: Giả sử những ngày mới lớn không
vớ được Đêm giữa Ngọ, thì
thể nào cũng nhẩy toán, lên rừng làm
VC, phò Hoàng Phủ Ngọc Tường, đúng như một tên
đệ tử của Thầy Cuốc 'chúc' Gấu!
Đoạn trên thật là tuyệt cú mèo,
nhưng thua… Brodsky khi ông viết về thơ, về Kinh Cầu: "Ở
vào một vài giai đoạn của lịch sử, chỉ có thơ
mới có thể chơi ngang ngửa với thực tại, bằng cách nhét
chặt nó vào một cái gì mà nhân
loại có thể nâng niu, hoặc giấu diếm, ở trong lòng
bàn tay, một khi cái đầu chịu thua không thể
nắm bắt được. Theo nghĩa đó, cả thế giới nâng niu bút
hiệu Anna Akhmatova."
Và bây giờ cái lý do rất
cá nhân tại sao tôi viết ‘mấy lời’ gửi ông,
kèm cuốn Trại Loài Vật: người Do Thái Âu
Châu, bị Nazi sát hại cũng cần có lịch sử
của họ, dạng cầm tay. Và đó là điều tôi
cố gắng làm với cuốn sách tới của tôi.
Nhưng căng lắm đấy, tôi tự nhủ tôi, làm
sao sàng lọc từ đống rác lịch sử, [lịch sử Mít
cùng cuộc chiến đỉnh cao của nó] với bao nhiêu
là máu, là lệ, vào một tiếng nấc, của
vài trang [Tin Văn], làm sao biến sự ghê rợn,
điều tởm lợm, kinh hoàng thành một điều gì nhẹ nhàng
ư ảo, [trên không gian net], chẳng ngon cơm một tí
nào đâu!
__________
a2a : Đọc từ internet
ANIMAL FARM
TRẦM TƯ CỦA MỘT TÊN TỘI TỬ
HÌNH
VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 27, 2018 : NHỮNG
BÀI VĂN SỬ
Note: Không biết cuốn này,
TCDT có cho xb ở trong nước hay không?
Trong những cuốn sách của “bạn ta”, Gấu mê
cuốn này nhất, nhất là cái câu bạn phán,
trong bài Tựa: Nếu cứ nghiêm túc một cách
khắt khe thì văn chương quả có hại cho sử học.
Nhưng liền đó, bạn trích dẫn 1 ý,
mà chẳng thú ư:.... các tác giả như
A. Dumas-père thường 'đẻ ra những đứa con hoang khoẻ mạnh
hơn cả (1) lịch sử"?
Ui chao, liệu có thể coi những tác phẩm
văn học mang tính lịch sử của một NHT, thí dụ, khoẻ
mạnh hơn lịch sử Mít, thời vừa qua?
(1)
TCDT dùng chữ "của", Gấu đổi là "cả".
Ý của TCDT, những đứa con khỏe mạnh “của” lịch
sử. Của Gấu, khỏe mạnh hơn “cả” lịch sử.
Chỉ 1 chữ thay đổi, khác hẳn đi.
Chết chỉ vì 1 cái dấu phẩy là
vậy.
Lần Gấu đọc 1 bài thơ dịch Brodsky của đấng
Mít Butor, không có bản tiếng Anh tiếng Tây
đính kèm. Đọc 1 phát là như bị ai “đấm”
vô mặt, và lẩm bẩm, làm sao lại có 1
ông Brodsky “máu” đến như thế này! Thế là
đành phải đi kiếm bản dịch tiếng Anh của bài thơ.
Hóa ra dịch giả muốn lấy lòng VC, vì
ông này vẫn tự hào, người đầu tiên đem
Brodsky đến cho độc giả Mít, thế là ông bèn
sửa mẹ câu thơ đi, cho hợp ý nhà nước VC, theo
đúng truyền thồng, "Thơ có thép", “Đường ra trận
mùa này đẹp lắm”. (1)
NQT
(1)
Nhân chuyện nói không với cuộc chiến
[nói không với phong bì là cũng thuổng
của Gấu đấy!], và nhân đọc thơ Brodsky (1940-1996), do
Hoàng Ngọc Biên dịch, đăng trên Tiền Vệ, Gấu tôi
xin ghi ra đây.
Odysseus nói với Telemachus
Telemachus con yêu của ta,
Cuộc chiến thành Troy
giờ đây đã kết thúc; ta không
còn nhớ ai đã thắng trận.
Người Hy lạp, hẳn thế, bởi cho đến nay chỉ có
họ
mới có thể đánh gục được nhiều người
đến vậy khi xa quê hương mình.
[HNB dịch]
Bản tiếng Anh
[Collected Poems in English]
Odysseus to Telemachus
My dear Telemachus,
The Trojan war
is over now; I don't recall who won it.
The Greeks, no doubt, for only they would leave
so many dead so far from their own homeland.
Câu trên, ông bố nói với thằng
con, ta đếch thèm nhớ, ai thắng trận.
Câu dưới, ông bố quả quyết, chắc chắn mấy
thằng... VC, ấy chết xin lỗi, mấy thằng Hy Lạp, bởi vì chỉ
chúng nó mới dám đi xa quê hương của chính
chúng nó. Để... ăn cướp!
Nhưng Brodsky viết, họ "để lại nhiều xác
chết", chứ không phải "đánh gục nhiều người".
Nhà thơ không hề phân biệt, giữa
rất nhiều xác chết đó, cái nào "được"
coi là... liệt sĩ, cái nào "bị" coi là...
Nguỵ.
------------------------
Bình luận
Ngô Nhật Đăng:
Chỉ có Một khoảnh khắc VNCH nối dài là
không in trong nước thôi anh.
O Michele, Ma Belle
Michelle, ma belle
Sont des mots qui vont très bien ensemble
Très bien ensemble
[Intro]
Michelle, ma belle
These are words that go together well
My Michelle
[Chorus]
Michelle, ma belle
Sont des mots qui vont très bien ensemble
Très bien ensemble
[Verse 1]
I love you, I love you, I love you
That's all I want to say
Until I find a way
I will say the only words I know that
You'll understand
[Chorus]
Michelle, ma belle
Sont des mots qui vont très bien ensemble
Très bien ensemble
[Verse 2]
I need to, I need to, I need to
I need to make you see
Oh, what you mean to me
Until I do I'm hoping you will
Know what I mean
I love you
I want you, I want you, I want you
I think you know by now
I'll get to you somehow
Until I do I'm telling you so
You'll understand
[Chorus]
Michelle, ma belle
Sont des mots qui vont très bien ensemble
Très bien ensemble
[Outro]
I will say the only words I know that
You'll understand, my Michelle
The Beatles
Note: Gửi thêm bài này
nữa, cho Ma Belle Michelle - Em ra lệnh, cấm chụp hình -
You Are on Some Road
The evening star
trembling in blue light
The red star
breaking through the dusk
like acetylene
The Orion stars
blossoming
like desert flowers
Even the Pleiads
sharply visible
like children in white
on a dark street
Tribes of stars
never seen before
drumming beyond the drift
of the Coal Sack
You are on some road
D.M. Thomas: Selected Poems
Em của Gấu thì đang ở trên
1 con đường nào đó
Ngôi sao buổi chiều
Run rẩy trong ánh sáng xanh
Ngôi sao đỏ
Băng 1 phát, qua buổi chạng vạng
Như acetylene
Chòm sao Orion
Nở rộ
Như hoa sa mạc
Ngay cả chùm Pleiads,
thì cũng thật rõ nét
Như những đứa bé trong màu trắng
Trên con phố tối
Những bộ lạc sao
Chưa từng nhìn thấy bao giờ
Đập đập những hồi trống
Quá cả vùng mây Coal Sack phiêu dạt
Em của Gấu
Đang trên con đường nào đó
Ở San Diego.
Thêm bài nữa, cũng của D.M. Thomas, cũng về Seagull của
GCC.
Friday Evening
You are on the train crawling across country towards me.
I am in the car driving to a half-way station.
You are switching on the overhead reading-light.
I am switching on the car sidelights.
You are losing yourself in a book.
I am losing myself in a poem.
I know this road like the palm of your hand.
To give up is as desperate as to go on.
You lean your head on the glass, speckling with rain like sperm.
I switch on the wipers.
Dusk deepens.
The station will always be there to meet us,
Unable to go even when the last train is in,
Even when the sun flickers low, a waiting-room fire.
Chiều Thứ Sáu
Em đang ở trên chuyến xe lửa bò qua miền đồng bằng, về
phía GCC
Gấu thì đang lái xe hơi tới 1 ga xe lửa ở cuối cuộc đời
Em bèn bật cái đèn đọc sách ở phía
trên đầu
Gấu loay hoay hì hục với mấy cái đèn bên
Em mất hút cùng với cuốn sách đang đọc
Gấu mất Gấu trong 1 bài thơ – đúng là bài
này!
Gấu biết rõ đường đi, như lòng bàn tay Seagull
[Không giống cái lần Em ghé thăm Gấu ở Tiểu Sài
Gòn
Gấu phải phôn cho NKL nhờ chỉ đường]
Chịu thua có nghĩa là thất vọng, chán chường,
Như cứ thế tiếp tục
Em của Gấu tì trán lên kính
Ngắm mưa rơi
Như 1 lần ở Sài Gòn, với em CM tưởng tượng:
Have you ever the seen the rain?
Gấu bật cái gạt nước xua đi nỗi nhớ - thuổng Phạm Tiến Duật.
Choạng vạng chạng vạng thêm
Ga xe lửa thì luôn luôn ở đó, sẵn sàng
gặp Đôi Gấu
Không thể đi đâu, ngay cả khi chuyến xe lửa cuối cùng
đang lừng khừng bò vô
Ngay cả khi mặt trời le lói thấp
Trong ánh lửa phòng đợi.
The Penguin Poets
Erotic, horrific, eulogistic, these poems reflect many of the themes
that D. M. Thomas explored in his best-selling masterwork The White Hotel-exile,
sexual love, the influence of the personal and collective unconscious-as
well as his love for the harsh and beautiful landscape of Cornwall. Selected
by Mr. Thomas from five previous volumes, these poems confirm his reputation
as a writer of ranging and fertile imagination.
Ướt át, ghê rợn, hoan khúc… những bài
thơ này phản ánh rất nhiều đề tài D.M Thomas khai triển
trong tuyệt tác best-seller Khách Sạn Trắng – lưu vong, tình
dục, ảnh hưởng của tiềm thức cá nhân hay tập thể - cũng
như là tình yêu của ông với phong cảnh miền đất
Cornwall.
Note: Cuốn thơ này, đồ thải ra từ 1 thư viện công cộng
ở Toronto, GCC có được, nhân 1 lần ghé 1 tiệm sách
cũ.
TIN VĂN TRÊN
ART2ALL
Note:
Có mấy bức hình về Buổi Sáng Địa Trung Hải
của Camus, nhưng không tiện trình ra trên Trang
Nhất. Xin mời...
VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 24, 2018 : THE HOUSE
OF DREAMS
Căn nhà của những
giấc mơ
The House of Dreams
D.M. Thomas: Selected
Poems
Một căn nhà tốt, làm bằng gỗ tếch
Xung quanh là rừng.
Đằng sau cõi giá lạnh thẳm sâu
Một tay “bushmaster” có thể làm mi ngạc nhiên,
kinh ngạc.
Khách sạn trăng mật,
Được người còn sống, kẻ đã chết, thăm viếng
Họ chia sẻ cùng chiếc tắc xi,
Và tên khùng làm rối bét những
‘dành riêng, đặt chỗ trước’
Họ yêu mi
Họ có đó để được yêu
Chúa Giê Su thì ở trong máng cỏ.
Những người chăn cừu đã tới
Có điều gi đó, cái gì gì, “hình
như là tình yêu”,
Hay là, “yêu mọi người”
Và mi có thể ngạc nhiên
Rằng cái thiệp mời, vô tình đánh rớt,
Đã được nhặt lên hai mươi năm sau
Trong một căn phòng -quầy rượu với những tấm màn màu
tím
Có 1 em da đen chơi cái cóc-xê đen
Chơi dương cầm
Có bóng rổ
Có TV
Và một căn phòng dành cho cô đơn
Nữ thi sĩ Sappho thì có ở đó, và Jung,
và Freud
Và cô gái cùng đi với mi trên chuyến
xe lửa.
Cô thò người ra khỏi cửa sổ,
Và phán:
Ta muốn mi đi cùng với ta.
Họ yêu mi, tên Gấu Cà Chớn của ta
Họ có đó, là để được yêu
Losa Montez thì đang khiêu vũ với nường mọi đen
----------------------------
The house of dreams
It is a good house, and made of teak,
surrounded by a forest. Behind the deep-freeze
a bushmaster may surprise you, surprised.
It is a honeymoon hotel
visited by the dead and the living.
They share the same taxis, and a fool
has muddled all the reservations.
They love you. They are to be loved.
Jesus is in the manger. Shepherds have come.
It is something about loving everyone
and you may be surprised
that the casually dropped invitation
has been taken up, twenty years later.
In an ornate bar-room with purple drapes
there is a negress in a black corset
playing the piano. There is a croquet
and television, and a room for loneliness.
Sappho is there, and Jung, and Freud,
and the girl you shared a train journey with,
who leaned out the window and said,
«I wish you were coming with me».
They love you. They are to be loved.
Lola Montez is dancing to the negress
O Michele, Ma Belle
Note: Gửi thêm bài này
nữa, cho Ma Belle Michelle - Em ra lệnh, cấm chụp hình -
You Are on Some Road
The evening star
trembling in blue light
The red star
breaking through the dusk
like acetylene
The Orion stars
blossoming
like desert flowers
Even the Pleiads
sharply visible
like children in white
on a dark street
Tribes of stars
never seen before
drumming beyond the drift
of the Coal Sack
You are on some road
D.M. Thomas: Selected Poems
The Streets
My soul is in the streets
of Buenos Aires.
Not the greedy streets
jostling with crowds and traffic,
but the neighborhood streets where nothing is happening,
almost invisible by force of habit,
rendered eternal in the dim light of sunset,
and the ones even farther out,
empty of comforting trees,
where austere little houses scarcely venture,
overwhelmed by deathless distances,
losing themselves in the deep expanse
of sky and plains.
For the solitary one they are a promise
because thousands of singular souls inhabit them,
unique before God and in time
and no doubt precious.
To the West, the North, and the South
unfold the streets-and they too are my country:
within these lines I trace
may their flags fly.
-S.K.
Borges
Những con phố
Hồn Gấu ở trong những con phố Sài Gòn
Không phải những con phố tham lam,
với những đám đông xô đẩy, xe cộ chèn
ép
Nhưng những con phố với những ngõ hẻm, khu xóm,
nơi chẳng có gì đang xẩy ra
hầu như là vô hình do sức mạnh của thói
quen,
được cái thứ ánh sáng nhàn nhạt, yếu
ớt của buổi hoàng hôn
làm thành bất tử.
Và những khu xóm xa hơn tí nữa, những Ngã
Ba Chú Ía, Ngã Năm Chuồng Chó, Cây
Da Xà, thí dụ;
trống rỗng, không hàng me Nguyễn Du với ly cà
phê ấm lòng buổi sáng
Nơi những căn nhà nhỏ khắc nghiệt chẳng hề mơ tưởng chuyện
phiêu lưu
Bao phủ bởi những khoảng cách vời vợi
Tự xoá nhòa vào khoảng không sâu
thẳm
Của bầu trời và đồng bằng
Với 1 kẻ cô đơn như Gấu, thì chúng là
một hứa hẹn,
Bởi vì hàng ngàn linh hồn bướm lẻ loi, mình
ên ngụ ở đó
Độc nhất trước Thượng Đế và đúng lúc
Và chẳng hồ nghi
Cực quí giá.
Về hướng Tây, hướng Bắc, hướng Nam
những con phố trải dài mãi ra – và chúng
là xứ sở của Gấu
Trong những dòng thơ này, Gấu vẽ ra, và cầu
chúc
Cờ Ba Que phất phới!
VIẾT MỖI NGÀY /
APRIL 27, 2018 : LORCA
LORCA
D.M. Thomas
Lorca - TTT lang thang
ban đêm
Nơi phố đèn đỏ
Bỗng nghe một bướm đêm đi 1 đường Lệ Đá Xanh,
phổ từ thơ của chính mình!
Chàng xúc động
Như thể sao và đèn đổi chỗ cho nhau
Bài thơ, nỗi tủi nhục, nói cho cùng
Chúng cũng đổi chỗ cho nhau
Và chẳng ‘thuộc về” bất cứ 1 ai!
Khi em ngưng hát
Đời cứ thế tiếp tục, it went on
Cái chết phải là 1 điều tệ hại
Một điều tệ hại
-------------
Lorca
Lorca
walking
in a red-light
district at night
heard one of his own songs
being sung
by a whore
he was moved
as if the stars
and the lanterns
changed places
neither the song
to himself belonged
nor the girl
to her humiliation
nothing belonged
to anyone
when she stopped singing
it went on
death must be a poor thing
a poor thing
D.M. Thomas
VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 23, 2018 : LAY BACK THE DARKNESS
VIẾT
MỖI NGÀY / MAR. 23, 2018
Lay Back the Darkness
Edward Hirsch: The Living Fire
Đẩy lùi
bóng tối
Ông tớ lần mò suốt đêm, nơi hành
lang, từ phòng này qua phòng khác
Như thể ông có 1 “mission” u ám nào
đó
Hỡi các linh hồn,
hãy giúp
tớ, thằng Cu lùn của ông,
nhập vào cơn mơ của ông
tớ
Và làm ông hết còn lục đục
Đẩy lùi bóng tối cho 1 anh mại bản
Kẻ có thể mê hoặc mọi thứ, trừ những cái
bóng
Một tên di dân
đứng ở bậc thềm
của một đêm bao la
Không xe chống, hay gậy chống
Và không thể nhớ điều ông muốn nói
Tay phải giơ lên, như tính tiên tri
Trong khi trái thì vung vẩy, vẫy vẫy 1 cách
vô ích,
Như tính báo động, hay cảnh báo
Ông tớ lần mò suốt đêm, hết phòng
này qua phòng khác
chẳng còn là người ông, người cha, hay
người chồng nữa
mà chỉ là một thằng bé đứng ở mép
rừng
Lắng nghe tiếng hú xa xa của những con chó sói,
tiếng của những con chó hoang,
tiếng đập cánh của loài thú thuở hồng
hoang,
xào xạc trên đỉnh cây
LAY BACK THE DARKNESS
My father in the night shuffling from room to room
on an obscure mission through the hallway.
Help me, spirits, to penetrate his dream
and ease his restless passage.
Lay back the darkness for a salesman
who could charm everything but the shadows,
an immigrant who stands on the threshold
of a vast night
without his walker or his cane
and cannot remember what he meant to say,
though his right arm is raised, as if in prophecy,
while his left shakes uselessly in warning.
My father in the night shuffling from room to room
is no longer a father or a husband or a son,
but a boy standing on the edge of
a forest
listening to the distant cry of wolves,
to wild dogs,
to primitive wingbeats shuddering in the treetops
Robert
Frost: Acquainted with the Night ( Làm quen với đêm)
ACQUAINTED WITH THE NIGHT
I have been one acquainted with the night.
I have walked out in rain—and back in rain.
I have outwalked the furthest city light.
I have looked down the saddest city lane.
I have passed by the watchman on his beat
And dropped my eyes, unwilling to explain.
I have stood still and stopped the sound of feet
When far away an interrupted cry
Came over houses from another street,
But not to call me back or say good-bye;
And further still at an unearthly height,
One luminary clock against the sky
Proclaimed the time was neither wrong nor right.
I have been one acquainted with the night.
~~oOo~~
LÀM QUEN VỚI ĐÊM
Tớ là kẻ làm
quen với đêm
Tớ bước ra ngoài
mưa, rồi trở lại trong mưa
Tớ lang thang thật xa,
xa nhất, ánh sáng thành phố
Tớ nhìn xuống
lối đi buồn nhất thành phố
Tớ đi ngang qua một người
gác đêm đang đi tuần
Mắt xịu xuống, tớ không
tính phân trần với ông ta
Tớ đứng sững, và
bèn ngưng tiếng chân của tớ
Khi xa xa vọng tới một
tiếng khóc nức nở
Vượt qua những mái
nhà, từ một con phố khác
Nhưng không kêu
tớ trở lại, hay nói, bye bye
Và vẫn xa ơi là
xa, ở một nơi chốn thật cao, không thuộc cõi trần tục này
Một cái đồng hồ
treo tường lấp lánh chống lại bầu trời
Đòi điệc, cấm
kiếc thời gian thì đếch sai, đếch đúng, cái con
mẹ gì hết
Tớ là một kẻ làm
quen với đêm
BARNSTONE: I wonder whether we could
finish our talk by your saying something about Robert Frost. Perhaps you
remember by heart his poem "Acquainted with the Night"?
BORGES:
I have been one acquainted with the night.
I have walked out in rain—and back in rain.
I have outwalked the furthest city light.
And at the end, we get the same line "I have been one acquainted
with the night." In the beginning, at the first reading, you think that
acquainted with the night means: I have walked through a city at night.
But then you foresee, as you come to the last lines, that the night
stands for evil, especially for sensual evil as felt by a Puritan, because
One luminary clock against the sky
Proclaimed the time was neither wrong nor right.
I have been one acquainted with the night.
And that, I think, is the chief achievement of Frost. He could
write poems that seem simple, but every time you read them you are
delving deeper and finding many winding paths and many different senses.
So Frost has given us a new idea of metaphor. He gives us metaphor in
such a way that we take it as a simple, straightforward statement. And
then you find that it is a metaphor. "And miles to go before I sleep/
And miles to go before I sleep." There we see that the same words have
two different meanings. In the first of the last two verses, the words
stand for miles and going and sleeping. And in the last line, sleep stands
for death. But in a very unobtrusive way. He was a shy man, I suppose.
But I think of him as being, perhaps, the greatest poet of the century,
if "greatest poet" means anything. I think of Frost as being perhaps a
finer poet than the other candidate, and that would be William Butler
Yeats. I prefer Frost, but that would be a personal bias. Of course I revere
Yeats. When I think back to such lines as "That dolphin-torn, that gong-tormented
sea." That of course is gorgeous writing, the kind of writing that Frost
tried to avoid, that I try to avoid also. But Yeats could also write straightforward
verses. For example:
How can I, that girl standing there,
My attention fix
On Roman or on Russian
Or on Spanish politics?
Then:
And maybe what they say is true
Of war and war's alarms,
but a that I were young again
And held her in my arms!
BARNSTONE: I wonder whether we could finish our talk
by your saying something about Robert Frost. Perhaps you remember by
heart his poem "Acquainted with the Night"?
BORGES:
I have been one acquainted with the night.
I have walked out in rain—and back in rain.
I have outwalked the furthest city light.
Tôi tự hỏi có nên kết thúc
cuộc lèm bèm của chúng ta bằng 1 câu ông
phán, về 1 điều gì đó về Robert Frost. Có
lẽ ông thuộc lòng bài thơ "Làm Quen Với Đêm"
của ông ta?
Borges:
I have been one acquainted with the night.
I have walked out in rain—and back in rain.
I have outwalked the furthest city light.
Tớ là kẻ làm quen với đêm
Tớ bước ra ngoài mưa, rồi trở lại trong mưa
Tớ lang thang thật xa, xa nhất, ánh sáng thành
phố
Và ở khúc cuối, chúng ta có
cũng dòng thơ “Tớ là kẻ làm quen với đêm”.
Ở khúc bắt đầu, lần đầu đọc, bạn nghĩ “làm quen với đêm”
nghĩa là, tôi qua thành phố vào ban đêm.
Thế rồi bèn ngửi ra, khi bạn đọc tới dòng chót, rằng
đêm, thì đứng sừng sững cho cái gọi là Chí
Ác - từ này mới phịa ra được, nhân đọc một nhà
phê bình khen thơ nữ thi sĩ Khánh Minh: (1)
http://phovanblog.blogspot.ca/
Saturday, May 19, 2018
ÁNH SÁNG NGÔN NGỮ MỘT LẦN TRONG XỨ SỞ CHIÊM
BAO
Tô Đăng Khoa
Đó là đồn lũy cuối cùng của Chí
Thiện trước vòng phong tỏa của muôn trùng cái
Ác. Sự “dị thường” của việc nhận ra “xứ sở chiêm bao” này
là: cái Ác không còn khả năng làm
ta nao lòng nữa. Sau khi đọc xong tản văn thi của Nguyễn Thị Khánh
Minh, niềm tin nơi cái Chí Thiện của chúng ta được
xác lập – hà hà ! - nhất là cái ác
mùi mẫn cực/cụp/ lạc, esp for sensual evil, như được 1 tín
hữu Thanh Giáo, a Puritan - cảm nhận, bởi là vì:
One luminary clock against the sky
Proclaimed the time was neither wrong nor right.
I have been one acquainted with the night.
Nhưng không kêu tớ trở lại, hay nói,
bye bye
Và vẫn xa ơi là xa, ở một nơi chốn thật cao, không
thuộc cõi trần tục này
Một cái đồng hồ treo tường lấp lánh chống lại bầu
trời
Đòi điệc, cấm kiếc thời gian thì đếch
sai, đếch đúng, cái con mẹ gì hết
Tớ là một kẻ làm quen với đêm
Và tôi nghĩ đây là 1 hoàn
tất chủ - the chief achievement - của Frost. Ông có thể
viết bài thơ xem ra thì đơn giản, nhưng mỗi lần bạn đọc lại
1 phát, là bạn lậm sâu hơn và kiếm ra rất nhiều
lối đi hầm bà làng – many winding paths – và rất
nhiều ý nghĩa, cảm quan khác nhau – many different senses
– Và như thế Frost đem đến cho chúng ta một ý nghĩ
mới về ẩn dụ. Ông đem đến cho chúng ta, ẩn dụ, theo cái
cách mà chúng ta tưởng nó đơn giản, phán
thẳng 1 phát, như thằng cha Gấu Cà Chớn thường nói.
Và rồi chúng ta nhận ra, đó là ẩn dụ.
"And miles to go before I sleep/ And miles to go before
I sleep."
Chúng ta thấy, cũng những từ như nhau, mà
nghĩa, lại đếch như nhau, thú thế. Trong dòng thơ thứ nhất,
của hai câu sau cùng, những từ đúng là dặm,
đi, và ngủ. Nhưng ở dòng thơ cuối, ngủ có nghĩa –
stands for – là chết, ngỏm củ tỏi….
Note: Ui chao, cái bài thơ "Dừng ngựa
bên rừng", với những câu thơ trên, là bài
thơ tiếng Anh đầu tiên mà Gấu dịch, khi tới Trại Tị Nạn Thái
Lan, khi kiếm miếng ăn, trong những ngày đói khổ, không
thân nhân ở nước ngoài viện trợ, đằng đẵng chờ thanh
lọc, bằng cách dậy tiếng Anh, qua cuốn sách, lấy đúng
những từ của Frost, "Promises to keep", làm cái tít
cho nó.
Những lời hứa phải giữ, trước khi lăn ra ngủ.
Có tên Mít nào bỏ nước ra
đi, đến được trại tị nạn, còn giữ được những lới hứa phải giữ,
trước khi lăn ra ngủ, GCC tự hỏi?
Hà, hà!
Robert Frost: Stopping by woods on a snowy evening (Dừng
ngựa bên rừng
http://www.art2all.net/…/thomoingay_RobertFrost_StoppingByW…
Stopping by Woods on a Snowy Evening
Whose woods these are I think I know.
His house is in the village, though;
He will not see me stopping here
To watch his woods fill up with snow.
My little horse must think it queer
To stop without a farmhouse near
Between the woods and frozen lake
The darkest evening of the year.
He gives his harness bells a shake
To ask if there is some mistake.
The only other sound's the sweep
Of easy wind and downy flake.
The woods are lovely, dark and deep,
But I have promises to keep,
And miles to go before I sleep,
And miles to go before I sleep
Robert Frost
~~oOo~~
Dừng ngựa bên rừng buổi chiều tuyết rụng
Rừng này của ai tôi nghĩ tôi biết
Nhà ông ta ở trong làng
Làm sao ông ta thấy tôi ngừng ngựa
Ngắm tuyết rơi phủ kín rừng.
Ngựa của tôi chắc thấy kỳ kỳ
Tại sao ngưng ở đây, chung quanh chẳng nhà cửa trang
trại,
Chỉ thấy rừng và hồ nước đóng băng
Vào đúng chiều hôm cuối năm
Nó bèn khẩy khẩy cái chuông
nhỏ
Như để nói với chủ của nó, này, chắc có
chi lầm lẫn
Để đáp lại tiếng chuông ngựa,
Là tiếng gió thoảng và tiếng mỏng của hạt
tuyết rơi.
Rừng thì đẹp, tối, và sâu
Nhưng tôi còn những lời hứa phải giữ
Và nhiều dặm đường phải đi
Trước khi lăn ra ngủ
Lăn ra ngủ
(1)
Theo GCC, những lời vinh danh sau đây, 1 cách nào
đó, hay, nói huỵch toẹt ra ở đây, làm người được
vinh danh, hay khen ngợi… cảm thấy… ngượng, nếu không muốn
nói, thấy có tí nhục.
Võ Đình vinh danh Đêm Tận Thất Thanh của Phan Nhật
Nam:
http://www.tanvien.net/Notes_2/kyniem_10.html
Võ Đình
Đêm Tận
Thất Thanh là một nhánh kỳ hoa
đó...
Văn Học số Xuân Đinh Sửu [129&130], trong phần Tạp Ghi,
ông Nguyễn Quốc Trụ viết: "... rằng sau Auschwitz, 'nếu cá
nhân nào đó mà còn làm được thơ
thì thật là dã man' (sic), và 'mọi văn hóa
sau Auschwitz chỉ là rác rưởi'.
Tôi chưa từng
được quen biết, trong lãnh vực văn học, ông Adorno này,
nên không lạm bàn rông rài. Chỉ "trộm" nghĩ
rằng câu nói của ông [ta] có vẻ như... "vung tay
quá trán". Có thể đổi được chăng những câu phê
phán này thành... "sau Auschwitz mà còn làm thơ... Trời
ơi, Tuyệt!"? Hay là, "Mọi văn hóa sau Auschwitz là những nhánh kỳ hoa bung lên
từ bãi dơ bầy nhầy, ruồi nhặng sâu bọ lúc nhúc,
thối um"?
Đêm Tận Thất Thanh
là một nhánh kỳ hoa đó.
.....
Tôi không
may mắn từng đọc tác giả Adorno nói trên....
Loxahatchee, Florida 5-2-97
24 tiếng trước Tết Đinh
Sửu, ở Việt Nam
Võ Đình
Trên
đây trích từ bài viết của Võ Đình, ở
cuối cuốn Đêm Tận Thất Thanh của
"bạn ta" là Phan Nhật Nam. Trong cuốn sách bạn
ta tặng, buổi tối tại nhà Nguyễn Đình Thuần. Với lời đề
tặng:
Của
Ông Sơ Dạ Hương [1] với tình thân 30 năm Nguyễn Quốc
Trụ, La Pagode.
CA Oct/28/2003.
PNN ký tên.
Hai Lúa quả đã
từng ngồi với nhà văn người tù hiển hách này
ở Quán Chùa, thời gian liền sau khi PNN cho ra lò
cuốn đầu tay, Dấu Binh Lửa [?], chắc vậy, vì HL còn nhớ
rõ, đây là tác phẩm đầu tay, và chắc
đó là lần ra Quán Chùa cũng "đầu tay" [đầu
tiên] của chàng, để trình diện.
Lính Mới mà!
Nhớ rõ, đó là thời gian ra đời Thuế Kiệm Ước,
và do thuế đó, giá giấy sẽ tăng.
Chàng mừng quá, nói, đại khái:
May quá mình là nhà văn rồi! Có
tác phẩm trình diện anh em rồi. Nếu không, thì
bỏ mẹ với Kiệm Ước!
Nhớ, bữa đó, "bạn ta" mặc đồ nhà binh, một bộ quân
phục kaki mầu vàng. Trông chàng còn trẻ măng!
[1] Sơ Dạ Hương là bút hiệu của Hai Lúa, khi
mới tập tành viết.
(còn tiếp)
Borges Tám Bó
Yves Bonnefoy, trong New Poetry and Prose, Thơ mới và văn xuôi, 1991-2011,
có kể, ba kỷ niệm về Borges. TV tính giới thiệu, vì
cũng có tí, nhân đó, viết về Gấu.
Tôi [Yves Bonnefoy] lần
giở những trang hồi ức, về một số hình ảnh, của 1 người, người
này cho tôi cái cảm tưởng, trọn đời ôm nặng
1 mối sầu khổ, sâu và xa, a suffering, old and profound, nhưng,
với bề ngoài trầm lắng, chẳng hề cho phép mình nhắc
tới, which his quiet reserve never allowed him to mention.
Đó là cảm tưởng
của tôi, về ông, ngay lúc thoạt đầu.
Ba hồi ức, bắt đầu bằng lần
gặp gỡ đầu tiên, ở Cambridge, Mass, 1967. Borges tới đó, để
đi 1 đường "đọc", to give the Charles Eliot Norton Lectures, ở Harvard, mùa
đông năm đó.
Tôi quí ông ta, và tin rằng nếu gặp
mặt, thì ông ta hẳn phải vậy, như tôi nghĩ về ông
ta.
Khi tôi nói với
một người bạn, Jorge Guillén,cũng đang sống tại Cambridge, ông
ta cho biết, Borges tới rồi, “He’s here already, settling in. Bạn viết
cho ông ta vài dòng, và đề nghị gặp.”
Tôi viết. Mười ngày
trôi qua, đếch thấy trả lời. Sau cùng, ông bạn gọi
cho tôi, cười lớn, cho biết, chiều qua, ông ta ghé
thăm Borges. Bà vợ, Elsa kéo ông ra 1 góc, hỏi
nhỏ, ông có biết người đàn bà này không.
Bà ta cầm lá thư của bạn.
Sự thể là, Borges đọc
thư, và đọc lớn cái tên “Yves”, “Ève”, và
bà vợ nghĩ, đây là 1 người phụ nữ, thế là
bèn tìm đủ mọi cách để ngăn Borges đừng gặp “Ève”!
Cái chuyện Borges có
cô vợ trẻ, cũng là 1 mới mẻ, và theo như lời đồn,
thì là do bà mẹ bắt, vì bà quá
lớn tuổi, không thể nào đi đây đó, để lo lắng
cho Borges.
Thế rồi một buổi chiều, Borges
điện thoại, và OK ghé thăm chúng tôi, dùng
cơm.
Tuy chưa từng gặp lần nào, nhưng thái độ của Borges
thực là cởi mở. Ông vừa từ Concord trở về, và cho
biết, rất ngưỡng mộ Hawthorne, thèm được thăm căn nhà ngày
nào của Hawthorne. Và Borges
đã quỳ xuống, ở ngay bực thềm căn nhà, mặc dù trời
lạnh, tuyết đầy.
Và Borges hỏi tôi,
đã từng đọc “Wakefield”?
Tôi chưa đọc “Wakefield”, và Borges bèn tóm
tắt cho tôi nghe, bằng tiếng Tẩy.
Một người đàn ông,
nói với vợ, mình phải rời thành phố chừng đôi
ngày. Và ông ta bèn từ giã vợ, với 1
nụ cười ngây ngô [a “sourrire idiot” – Bạn còn nhớ nụ
cười của Trung Uý Kiệt, với bà vợ, trong MCNK:
“Ngửng lên hắn lại nhìn
nàng. Nàng giữ nguyên vẻ mặt thách thức. Hắn
thở phì, nhắm mắt rồi bỗng cười. Nụ cười lặng lẽ, mở rộng, lay
động khuôn mặt ngẩn ngơ”].
Ra đường, đi được vài
bước, người đàn ông chợt đứng sững, tự hỏi chính mình,
đi ư, giang hồ vặt ư? Quận Cam ư, San Diego ư?
Đi xa làm quái gì cơ chứ? Có ai thèm
gặp ta nữa đâu?
Hà, hà!
Thế là ông chồng
bèn ghé 1 khách sạn cũng quanh quẩn khu đó,
muớn 1 căn phòng, tính ngày hôm sau, thì
về lại với bà vợ già!
Ngày hôm sau Wakefield bèn tự hỏi chính
mình, về làm gì bây giờ, mai về không
được ư?
Thế là người đàn
ông bèn dời cái ngày trở về gặp lại vợ già,
nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm!
Cải trang “qua loa dơ măng”, ông chồng nhiều lần đi qua
căn nhà của mình, có lần, từ xa, nhìn thấy
bà vợ già…
Và “ông ta” nhận ra 1 điều, trước chưa từng nhận
ra, hay để ý tới, ui chao, Gấu Cái già đi quá
nhiều rồi!
:
Trại Cấm Sikew, 1 trong những ngày sắp rời Trại, sau
khi đậu thanh lọc. Gấu Cái đang rời khu C, trở về lại khu A,
nơi vợ chồng Gấu cư ngụ. Khu A nhỏ, chỉ là 1 căn nhà
gỗ khá lớn, và tầng trên, được chia ra thành
từng lều, mỗi lều gồm 1 cái mùng. Đêm giăng ra, ngày
cuốn lại. Bên ngoài khu A, là 1 khu sinh sống dành
cho người Việt ở Thái. Cũng 1 trại tù, có thể nói.
Đám cưới Gấu, chỉ có Dirck & Sawada [UPI]
mừng quà. Và, “bản tin” của Xìn Phóng-
Tran Phong Giao - trên tờ Văn, thì thật khó mà
coi là lời chúc mừng, với cái tít “nên
vợ nên chồng”, nhưng hình như Gấu Cái rất ư hài
lòng, trước đám bạn bè ở quê, ở trường nữ trung
học Mỹ Tho, ở trường Sư Phạm Vĩnh Long, Gấu đoán thế!
Lần thanh lọc ở Trại Cấm Sikiew, cc 1994, tay sinh viên
người Thái hỏi, khi bà lấy thằng cha mắt lé,
thì nó đã viết văn chưa, Gấu Cái bèn
dõng dạc trả lời, thằng khốn lúc đó đã
là nhà văn nhớn rồi, và chính câu hỏi
khiến Gấu Cái, ra khỏi phòng thanh lọc, là đã
biết hai vợ chồng sẽ qua được cửa ải gay cấn, và sẽ có
cơ may làm lại cuộc đời nơi xứ người. Những cặp ở Trại thường là
gán ghép, tạm bợ, không phải thực sự vợ chồng.
Dirck cũng là người gợi ý, mày có
muốn “bỏ chạy cuộc chiến” qua Tokyo làm cho UPI không.
Rồi, khi Gấu làm thêm cho RCA/Manila, đám nhân
viên Phi Luật Tân cùng làm trên Đài
VTD cũng gợi ý, muốn qua Manila không, sau khi ăn mìn
VC...
Granta 100
Ta sẽ nhớ mi vô cùng khi ta ngỏm
Đáng yêu nhất của những nụ cuời
Mềm mại nhất ở trên giường
Khi cả hai còn trẻ
Quách Tường của ta ơi
Hãy nhớ rằng khi ta ngỏm rồi
Mi cứ vưỡn còn sống hoài
Trong tim và trong hồn của ta
Xì Lô thân thương,
Xì Lô, cô Út sinh ngày 13
tháng 4 năm 1975. Sau này những lúc gia đình
quá khổ sở, bố mẹ cô vẫn thường than thở, phải chi không
có cô chắc là gia đình đã đi Mỹ
từ những ngày tháng Tư năm đó rồi. Bữa nay sinh
nhật thứ 21, bố mẹ chỉ có cô ở bên. Mấy anh chị
của cô ở quá xa, biết ngày nào gặp lại.
Bố mẹ chỉ còn biết cầu nguyện tất cả đều khỏe mạnh, an lành.
Bố mẹ chỉ mong Xì Lô được hạnh phúc.
Người ta nói, những đứa trẻ sinh ra từ một gia đình
vợ chồng không hòa hợp, nói rõ hơn, những
đứa trẻ bất hạnh thường dễ thành công trên đường đời
nếu chúng vượt qua được những mặc cảm tuổi thơ. Có lần cô
nói, từ khi con qua đây, mới đó mà đã
gần nửa năm, gạt nỗi nhớ anh chị qua một phần trái tim, mỗi
lần thấy bố mẹ vui đùa con ứa nước mắt vì sung sướng. Suốt
tuổi thơ chúng con chưa hề biết đến những giọt nước mắt hân
hoan hạnh phúc đó.
Thật cũng may, cuối cùng bố mẹ lại tìm thấy nhau,
cho dù bố mẹ biết rất rõ, nếu cuộc đời được làm
lại từ đầu, thì mọi chuyện vẫn y nguyên như vậy. Chắc
là bố sẽ lo cho mẹ thêm một chút xíu, nhờ vậy
mẹ sẽ bớt đi một chút, niềm tủi thân.
Như con biết đấy, gia đình mình, ngoài
chú Sĩ đã tử trận, bố còn một người chị và
một đứa em trai út ở miền Bắc. Trong những năm chống Mỹ cứu nước,
chú Bảo bị qui thành phần có mẹ và anh di
cư nên không được quyền đi bộ đội, sau đó chú
làm công nhân cho nhà máy đường Việt
Trì, nhờ vậy mà còn sống. Bá Hiền lấy chồng
có được một đứa con gái. Chồng vào Nam chiến đấu
mất tích. Qua đây gần một nửa thế kỷ, bố mới nhận được tin
tức của chị và em. Đúng là nửa thế kỷ, bởi vì
khi ông Nội mất tích ngay từ năm 1945 vì tai họa
đảng phái, bà Nội phải đem mấy đứa con gửi mỗi đứa một
nơi, bố không gặp bá Hiền, chú Bảo kể từ ngày
đó.
Con đã đọc thư chú Bảo thì biết gia đình
mình ở ngoài Bắc. Đó là quê hương
mà bố phải từ bỏ, theo bà Nội vào Nam, và
khi chú Sĩ chết, bố tự nhủ sẽ chẳng khi nào trở về. Đấy
là một phần lý do tại sao bố lấy mẹ. Bố muốn các
con có một quê hương Miền Nam, các con sẽ cần tới
nó như bố cần tới mẹ vậy.
Trước tháng tư năm 75, ngoài công việc
của một công chức, bố còn làm thêm cho
một hãng thông tấn nước ngoài. Khi hiệp định Paris
chấm dứt chiến tranh Việt Nam được ký kết, bố thôi làm
cho họ, tính bỏ Sài-gòn đưa gia đình
về một tỉnh lỵ. Nhưng biến cố 30 tháng 4 năm 75 đã xóa
sạch mọi dự tính. Ngày 28 hay 29 tháng 4 bố
không còn nhớ rõ, thành phố đang trong
cơn hỗn loạn, bố gặp lại người sếp cũ, (1) lúc này làm
cho tờ báo Time, tới Sài-gòn làm phóng
sự về cuộc di tản. Lúc đó cơ quan DAO của Mỹ đã
đóng cửa, không còn máy bay C.130, anh ta bảo
chỉ có thể đi bằng trực thăng ra Đệ Thất Hạm Đội, và như
vậy chỉ một mình bố đi được thôi. Bố không thể bỏ
mẹ và các con trong lúc mấy chục binh đoàn
Cộng Sản Bắc Việt đang chờ sẵn ở ngoại ô thành phố và
viễn tượng biển máu đang chờ đợi người dân Sài-gòn.
Chết một đống còn hơn sống một người, Bá Hiền viết thư
qua cho biết, ngày xưa bà Nội đã nói với Bá
như vậy, lần về đón Bá cùng đi vào Nam,
nhưng Bá không đi vì còn mê phong trào.
Bố đã ở lại. Phải chi ngày đó bố chạy theo người
Mỹ, gia đình mình đã không gặp những cảnh ngộ
đói khổ, tủi nhục như hầu hết những gia đình Miền Nam khi Cộng
Sản Bắc Việt thắng trận. Nhưng chính những ngày tháng
sống dưới chế độ Cộng sản, những ngày tù đầy, những nỗi
đói khổ mà gia đình mình đã trải qua
khiến bố mẹ hiểu nhau hơn. Vả lại, sự thành đạt ở nước người nhiều
khi phải trả một giá quá đắt. Chắc chắn một điều, con không
thể quên tiếng Việt. Đó là khí giới hữu hiệu
nhất để chống lại sự tha hóa mà đôi khi người ta lầm
lẫn là hội nhập. Và để chống lại sự cô đơn, niềm lãng
quên, và tuyệt vọng.
Hôm nay là sinh nhật của con, đúng ra chẳng
nên nhắc chuyện đau buồn nhưng tháng Tư vẫn luôn
luôn làm những ngưòi như bố mẹ cảm thấy bứt rứt.
Có lẽ đã đến lúc bố mẹ đem cất kỹ lá cờ phủ
trên quan tài chú Sĩ vào một nơi thật yên
ổn, thật thiêng liêng là trái tim của mình...
(1)
Mới nhận mail của Dirck, liền tức thì:
From:
Date: Thursday, July 21, 2005 11:36:18 PM
To: Nguyen_Quoc_Tru
Subject: Re:
It's wonderful to hear from you Tru. How are you?
We missed you at the reunion in Saigon in May.
Cuộc hội ngộ vào tháng Năm, the reunion in Saigon
in May, là vào năm 1985, khi VC kỷ niệm Mười Năm Đại
Thắng Mùa Xuân. Mời mấy anh ký giả Mẽo tới, trong
có Dirck.
Dirck Halstead, hiện làm trang TheDigitalJournalist
TIN VĂN TRÊN
ART2ALL
Note:
Có mấy bức hình về Buổi Sáng Địa Trung Hải của
Camus, nhưng không tiện trình ra trên Trang Nhất.
Xin mời...
Mais les circonstances m'ont
aidé. Pour corriger une indifférence naturelle, je fus
placé à mi-distance de la misère et du soleil. La
misère m'empêcha de croire que tout est bien sous le soleil
et dans l' histoire; le soleil m'apprit que l'histoire n'est pas tout.
Changer la vie, oui, mais non le monde dont je faisais ma divinité.
C'est ainsi, sans doute, que j'abordai cette carrière inconfortable
où je suis, m'engageant avec innocence sur un fil d'équilibre
où j'avance péniblement, sans être sûr d'atteindre
le but. Autrement dit, je devins un artiste, s'il est vrai qu'il n'est
pas d'art sans refus ni sans consentement.
Albert Camus: L’Envers et l’Endroit.
Préface.
Nhưng hoàn cảnh đã giúp tôi. Để
sửa chữa một sự dửng dưng tự nhiên, tôi để mình ở
giữa sự khốn cùng và mặt trời. Sự khốn cùng ngăn cản
tôi tin rằng mọi chuyện đều tốt đẹp dưới ánh mặt trời và
trong lịch sử, mặt trời làm cho tôi hiểu rằng lịch sử không
phải là tất cả.
Đúng là tâm trạng của Gấu, Bắc Kỳ di
cư, bỏ chạy sự khốn cùng để tìm mặt trời! (1)
Cuốn đầu tay của Camus, nhà
xb nhỏ ở Alger, 1937, đúng năm GCC ra đời.
Bài Préface thần sầu.
Mua khi còn tiệm sách Tẩy, Champlain, 02/10/2003.
Về cuối đời, Camus nhận ra trong cuốn sách đầu tay của
mình, nguồn cảm hứng đẻ ra toàn bộ tác phẩm sau
đó… và cái đề tài tủ này: sự câm
lặng đáng mến của 1 bà mẹ và sự cố gắng của 1 người
đàn ông, để tìm một công lý, hay một
tình yêu, cân bằng sự câm lặng.
“Nhưng những hoàn cảnh
giúp tôi. Để sửa chữa một dửng dưng tự nhiên, tôi
bị đặt để ở giữa sự khốn cùng và mặt trời. Sự khốn cùng
ngăn cản tôi tin rằng, tất cả thì tốt lành dưới
ánh mặt trời và trong lịch sử; mặt trời dạy tôi
rằng lịch sử không phải là tất cả."
Người tóm lược bảnh nhất
về Camus, là Faulkner: "Camus phán rằng, vai trò
thực sự độc nhất của 1 con người, sống trong 1 thế giới phi lý,
là sống, ý thức về cuộc sống, cuộc nổi loạn, và tự
do của mình."
"Camus disait que le seul véritable rôle de l'homme,
né dans un monde absurde, était de vivre, d'avoir conscience
de sa vie, de sa révolte, de sa liberté."
*
Gấu
này, ngay từ khi còn nhỏ xíu ở đất Bắc, mỗi lần
đói quá, rét quá, lạnh quá, đau
đớn nhục nhã quá vì bị khinh khi là đứa trẻ
mồ côi ăn nhờ ở đậu hết ông chú bà bác
lại đến bên nội bên ngoại, và vì đọc Tô
Hoài viết về cái thời ông lang bạt vào Đàng
Trong, thế là bèn mơ tưởng có ngày vô
được xứ Nam Kỳ!
*
Nhà
văn là một cái phong vũ biểu của thời của mình.
Hình như có một nhà văn mũi lõ phán
như vậy.
“Gấu nhà văn”, tuy đã về nhà hai lần, và
được đón tiếp cũng hậu hĩ ra trò, nhưng lần thứ ba, sắp
sửa về, ngửi ra mùi khói ở nơi quê nhà có
gì không thơm, thế là bèn đi một cái
mail, và được phúc đáp, thời tiết bi giờ không
được đẹp như là hai lần về vừa rồi! Đừng có vác cái
mặt mo về mà khổ cái thân già, còn khổ
lây đến tụi này!
Thế là bèn đếch về nữa!
Khi thằng cu Gấu lên tầu há
mồm vô Nam, bỏ chạy quê hương Bắc Kít của nó,
ngoài hai cái rương [cái hòm] bằng gỗ nhỏ,
có thể để mỗi cái lên một bên vai, trong đựng
mấy cuốn sách, thằng bé còn thủ theo, toàn
là những kỷ niệm về cái đói.
Và nửa thế kỷ sau trở về, cũng mang về đầy đủ những kỷ
niệm đó, và trên đường về, tự hỏi, không hiểu
bà chị mình có còn giữ được chúng…
Bà giữ đủ cả, chẳng thiếu
một, nhưng, chị giữ một kiểu, em giữ một kiểu.
Nói rõ hơn, cũng những kỷ niệm về cái đói
đó, ở nơi Gấu, được thời tiết Miền Nam làm cho dịu hết
cả đi, và đều như những vết sẹo thân thương của một miền
đất ở nơi Gấu.
Ui chao, chỉ nội kể về hai chuyến
trở về, cũng đủ vài trăm trang, dư dả một cuốn tiểu thuyết, "có
đầu, có đuôi", làm mọi người hài lòng,
nhất là "Bác Gái"!
Note:
Nhìn Văn Cao, như ông chánh tổng
An Nam ở Paris, như sau đây, nhảm. Văn Cao, theo Gấu, là phải
nhìn qua Kundera: Thời của Văn Cao là thời đao phủ và
nhà thơ cùng ngồi ngai vàng Bắc Bộ Phủ, ngự trị thế
giới toàn trị
Un piège tendu à la poésie
http://www.tanvien.net/gioi_thieu_3/piege_poesie.html
« Ce n'était pas seulement le temps de
l'horreur, c'était aussi le temps du lyrisme! Le poète régnait
avec le bourreau ".
Đâu chỉ là thời của ghê rợn, của
CCRD, của Đấu Tố, của Nhân Văn Giai Phẩm, mà còn là
thời của thơ ca trữ tình, Mặt Trời Chân Lý Chói
Qua Tim, Đường Ra Trận Mùa Này Đẹp Lắm.
Thời Của Văn Cao: Thi sĩ lên ngôi trị vì
cùng với đao phủ.
http://www.tanvien.net/tg/tg02_mua_thu.html
Mùa Thu, những di dân...
Di dân là "số" phần, (a matter of arithmetic),
theo Kundera.
Joseph Conrad, sống 17 năm tại Ba-lan, và tại
Russia, lưu vong cùng với gia đình. 50 năm còn lại,
ở Anh, hay trên những con tầu Anh. Đương nhiên, ông viết
văn bằng tiếng Anh, về đề tài Anh. Ông bị dị ứng, khi đụng
phải những gì có "mùi Nga": dấu vết Ba-lan độc nhất
ở nơi ông. Tội nghiệp Gide, không thể hiểu tại sao Conrad "không
thiện cảm" với Dostoevsky.
Bohuslav Martinu sống ở Bohemia đến năm 32 tuổi, sau đó, 36
năm ở Pháp, Thuỵ sĩ, Hoa kỳ, rồi lại Thuỵ sĩ. Ông luôn
coi ông là một nhà soạn nhạc Czech, và hoài
cố hương cũng là chất nhạc của ông. Nhưng sau chiến tranh,
ông từ chối mọi lời mời trở về. Vào năm 1979, hai mươi năm
sau khi ông chết, những "biệt kích" làm hỏng ước muốn
được mồ yên mả đẹp ở Thuỵ sĩ, đã quật mồ, "bắt cóc",
long trọng làm một cuộc "hôn nhân cưỡng ép" với
đất mẹ cho cái xác chết của ông.
Gombrowics sống 35 năm tại Ba lan, 23 năm tại Argentina, 6 năm tại
Pháp. Tuy chỉ viết văn bằng tiếng Ba-lan; nhân vật, người
Ba lan, nhưng khi được "mời về", ông ngần ngại, cuối cùng từ
chối, rồi an nghỉ đời đời ở miền Nam nước Pháp.
Ba phần đời sấp xỉ bằng nhau của Stravinsky: Nga, 27 năm, Pháp
và Thuỵ sĩ- Pháp, 29 năm và Hoa kỳ, 32 năm. Chất Nga
đậm đặc trong sáng tác của ông, những năm đầu xa
xứ tại Pháp. Rồi chiến tranh cắt đứt dần những mối nối, tuy nhiên
ông vẫn là một nhà soạn nhạc Nga với những sáng
tác mang chất thơ dân giã của quê hương. Sau
Cách mạng Nga, ông hiểu rằng, ông đã mất hẳn,
nơi chốn ra đời, và cuộc đời di dân thực sự bắt đầu. Khi ông
chết, vào năm 1971, bà vợ đã bác bỏ đề nghị
của chính quyền Xô-viết, và thực hiện đúng ước
nguyện của ông, được chôn tại một nghĩa địa ở Venice.
Trong "gió đông", số 1, 1997, có
bài phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Duy, người "hát rong" vượt bực.
Người viết xin phép anh em tòa soạn, trích một hai
câu hỏi, và trả lời của ông.
gđ: Nhạc sĩ Phạm Duy đã là một trong những linh hồn
của giới văn nghệ sỹ trong sáu năm đầu của cuộc kháng chiến
chống Pháp, khi văn nghệ còn ít nhiều tự do, chưa
bị siết trong sự quản chế của Đảng Cộng sản. Đã sống và sáng
tạo trong sự biến thiên sâu sắc của lịch sử hiện đại Việt
Nam, bác nghĩ như thế nào về thời kỳ ấy? Liệu có
thể coi đây là một trong những giai đoạn thành công,
đáng ghi nhớ nhất trên hành trình sống và
sáng tạo của nhạc sĩ Phạm Duy?
Phạm Duy: Tôi hãnh diện vì được tham gia vào
kháng chiến chống Pháp và vì đã đóng
góp được vào nền âm nhạc nước nhà bằng ba mươi
bài ca kháng chiến. Không lúc nào tôi
phủ nhận điều này. Giờ đây, tôi vẫn cho rằng trong vòng
năm trăm năm nay, nước mình chỉ có mười năm đoàn
kết, thực sự yêu nhau, cùng gánh vác giang sơn
và đó chính là khoảng thời gian từ bốn nhăm
đến năm nhăm (1945-1955). Còn nhà cầm quyền và nhân
dân đánh giá như thế nào về phần đóng
góp của tôi thời kháng chiến, là ba mươi ca
khúc ấy, thì nói thật: tôi xin chịu. Tôi
chỉ biết cống hiến xong rồi, là xong (cười).
gđ: Nhắc đến Phạm Duy, không thể không
nhắc đến Văn Cao. Có thể coi Văn Cao như là điển hình
cho thế hệ văn nghệ sỹ của bác, tài hoa nhưng gặp bao nhiêu
là tai họa bởi chế độ độc tài cộng sản. Nhiều người đã
nghĩ rằng gia tài âm nhạc của Văn Cao sẽ không chỉ có
thế, ngót nghét hai chục bài, nếu ông được sống
cho âm nhạc trong những điều kiện khác. Thế còn bác,
bác nghĩ thế nào về vấn đề hết sức tế nhị này?
Phạm Duy: (cười) Tôi phải công nhận là anh Văn
Cao tài hoa hơn tôi nhiều lắm. Về nhạc, về vẽ. Về thơ. Đủ
thứ. Đủ mọi phương diện. Nói anh ấy không may thì cũng
không đúng. Anh ấy đã chọn con đường của anh ấy. Tôi
cũng chọn con đường của tôi: làm một người tự do tuyệt đối.
Vào thời điểm 1951, tôi cũng được chính quyền và
nhân dân yêu lắm. Nhưng tôi muốn được tự do, để
sáng tác, vâng thế là tôi đi. Đi cho tới
lúc này, ngồi cạnh các anh ở Hannover, vẫn chưa ngừng
nhé, (cười). Ông Văn Cao thì ở lại. Việc đánh
giá ông ấy, cũng như kết quả đến với ông ấy ra sao
thì tôi không dám nói. Văn Cao có
cái vinh cái nhục của Văn Cao. Tôi cũng thế. Văn Cao
được chết ở đất quê. Chứ còn tôi, nay mai chết sẽ được
chôn ở Bắc cực chăng? (cười)...
Trước hết, những con số, và "đi", vì
đây là "đề tài" của bài viết: Mùa Thu,
tháng Tám, 1945, ba mươi bài kháng chiến, năm
trăm năm, sáu năm đầu, mười năm đoàn kết thực sự yêu
nhau, ngót nghét hai chục bài...
Về Văn Cao, bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong
Hợp Lưu (trích đoạn): Đêm ấy, trong cuộc tâm tình
nghệ sĩ của Văn Cao với những ngư phủ trên Phá Tam Giang, tôi
muốn biết một điều mà với tôi là một bí ẩn thuộc
về đời ông:
-Tại sao kháng chiến chống Pháp, anh vẫn vẽ, vẫn làm
thơ, nhưng người ta không nghe anh hát nữa?
-Hồi nhận viết Tiến Quân Ca, tôi không hề chuẩn
bị trước để làm một bài hát, mà một đặc nhiệm
nguy hiểm của đội biệt động. Tôi là đội viên biệt động
vũ trang. Nhiệm vụ của tôi là trong một đêm, cầm một khẩu
súng, vào một thành phố, để giết một người. Tôi
đã làm xong việc ấy. Đó là chiến tranh, và
căm thù, đơn giản thôi. Những ngày đầu sau chiến tranh,
tôi đã trở lại căn nhà ấy, thấy còn lại một gia
đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có
thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài
hát sau đó? Nói về chiến công, hay phải nói
một điều gì khác? Nên tôi im lặng, và chỉ
viết nhạc không lời.
(Khi Văn Cao mất, báo Time có loan tin, và trích
dẫn một câu trong bài Tiến Quân Ca, người viết bài
này ghi chú thêm).
Và Hoàng Phủ Ngọc Tường kết luận:... nhưng tôi
nghĩ, chỉ có những nghệ sĩ lớn mới nuôi cho mình những
bi kịch như vậy.
Những con số: một đêm, một người, một khẩu súng, một
thành phố, một việc ấy, một gia đình mẹ goá con côi,
những ngày đầu sau chiến tranh.
Không ai biết được, những người chết, "ở bên
trong" con số 10 yêu thương đoàn kết. Khái Hưng và
những đồng chí của ông, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu...
Không phải chuyện chính trị đảng phái không thôi.
Sống, chết. Đi, ở. Văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, ý thức
hệ (quốc cộng), đất nước phân đôi, từ đó. Tâm trạng
"thiên di" (émigration) bắt đầu từ Mùa Thu.
Với tôi, hay nhất ở Phạm Duy, vẫn là những
bản nhạc tình. Ông không thể, và chẳng bao giờ
muốn đến cõi tiên, không đẩy nhạc của ông tới
tột đỉnh như Văn Cao, để rồi đòi hỏi "thực hiện" nó, bằng cách
giết người. Một cách nào đó, "tinh thần" Văn Cao là
không thể thiếu, bắt buộc phải có, đối với "Mùa Thu",
khi mà nhà thơ ngự trị cùng với đao phủ. Kundera đã
nhìn thấy điều đó ở thiên tài Mayakovsky, cũng
cần thiết cho Cách mạng Nga như trùm cảnh sát, mật
vụ Dzherzhinsky. (Những Di chúc bị Phản bội). Nhạc không lời,
ai cũng đều biết, mấy tướng lãnh Hitler vừa giết người, vừa ngắm
danh họa, vừa nghe nhạc cổ điển. Cái đẹp bắt buộc phải "sắt máu",
phải "tyranique", (Valéry). Phạm Duy không nuôi những
bi kịch lớn. Ông tự nhận, chỉ là "thằng mất dậy" (trong bài
phỏng vấn kể trên). Với kháng chiến, Phạm Duy cảm nhận ngay
"nỗi đau, cảnh điêu tàn, phía tối, phía khuất",
của nó và đành phải từ chối vinh quang, niềm hãnh
diện "cũng được chính quyền và nhân dân yêu
lắm". Những bài kháng chiến hay nhất của Phạm Duy: khi người
thương binh trở về. Ở đây, ngoài nỗi đau còn có
sự tủi hổ. Bản chất của văn chương "lưu vong, hải ngoại", và cũng
là bản chất của văn chương hiện đại, khởi từ Kafka, là niềm
tủi hổ, là sự cảm nhận về thất bại khi muốn đồng nhất với đám
đông, với lịch sử, với Mùa Thu đầu tiên của định mệnh
lưu vong.
Phạm Duy muốn làm một người tự do tuyệt đối nên đã
bỏ vào thành. Nhưng Văn Cao, chỉ vì muốn đồng nhất
với tự do tuyệt đối, nên đã cầm súng giết người. Thiên
tài Mayakovski cần thiết cho Cách Mạng Nga cũng như trùm
công an mật vụ, là vậy.
"Mặt trời chân lý chiếu qua tim". (Tố
Hữu). Tính chất trữ tình không thể thiếu, trong thế giới
toàn trị (totalitarian world): Tự thân, thế giới đó không
là ngục tù, gulag. Nó là ngục tù, khi
trên tường nhà giam dán đầy thơ và mọi người nhẩy
múa trước những bài thơ đó, (Kundera, sđd).
Đấng ĐT này, cũng Ngụy một chăm phần chăm như
GCC, nhưng do quá mê Vẹm mà hư 1 đời. Đối thủ của Gấu,
là Nhị Linh, cũng nhận ra điều này. ĐT chưa từng viết được
1 câu nào nghe được về những người như Thảo Trường, thí
dụ.
Bài viết này, về Văn Cao, cũng thế, cố né cái
phần mà ai cũng biết, mà Văn Cao còn hơn ai hết, càng
biết: Tại Sao Viết Tiến Quân Ca!
Quá tệ!
TIN
VĂN
Nguyễn Quốc Trụ
Viết Mỗi Ngày
VIẾT
MỖI NGÀY / MAY 05, 2018
It's May, let's
talk abt Travel
Vương Duy
701-761
Và đây là 1 bài thơ thật duyên
dáng đáng mến, về vẻ đẹp tuyệt vời của một thành
phố, mà chúng ta tới, bằng thuỷ lộ, lần đầu tiên.
Tôi – Czeslaw Milosz - cũng đã từng trải qua 1 kỷ
niệm tương tự, khi, hai chục tuổi, ba đứa chúng tôi cập
bến thành phố Constance ở miền Nam nước Đức, bằng ca nô,
A.D. 1931.
Tôi cũng nên viết thêm, giả như Vương Duy không
phải là 1 tay thuỷ thủ tới chỉ, a very willing sailor, thì,
ít nhất, ông ta là 1 người ưa tò mò.
Ông bị đi du lịch, do bổn phận của mình, l nhân viên
nhà nước, nhưng, cõi quan hoài của ông,
cốt lõi của nó, là của 1 Phật Tử, và trong
thơ của ông cõi Phật đó, luôn luôn
được biểu tượng, bằng 1 xứ Đoài mây trắng lắm, như GCC,
người đang dịch thơ của ông
Czeslaw Milosz: A Book of Luminous Things
Buổi sáng, dong thuyền tới Xinyang
Khi thuyền, xải buồm tới hồ Xingze Lake
Tôi sững sờ vì vẻ đẹp hiển hách của thành
phố
Những đường quanh co, khúc khuỷu của con kênh,
do những cửa nẻo
vườn tược, chật hẹp, bó bíu.
Lửa và khói bếp, như đám đông, bao
trùm mặt nước.
Trong họ, tôi nhìn ra những tập tục xa lạ
Và thổ ngữ ở đây thì tối tăm
Mùa Thu, lúc này, muộn
Những cánh đồng, thả cửa, mặc sức.
Buổi sáng, sáng.
Tiếng động đánh thức những lòng giếng khơi
Thuyền chài lượn lờ trên mặt nước
Gà, chó.
Làng, bên này, bên kia sông.
Tôi rời xa cái xứ sở Mây Đoài Trắng
Lắm của tôi
Và cánh buồm cô đơn của tôi
Ở cái tuổi trên tám bó này
Sẽ... tội nghiệp ra sao?
WANG WEI
701-761
Anh here is a charming poem about a marvel of a city to which
we arrive by water for the first time. I, too, lived through a similar
experience, in which three of us, twenty years old, approached the
embankment of the city of Constance in southern Germany by canoe, A.D.
1931. I should add that if Wang Wei was not a very willing sailor, he
was at least a curious one. He was forced by the duties of his office
to travel, but he longed for a Buddhist detachment, which, in his verse,
is always symbolized by white clouds.
MORNING, SAILING
INTO XINYANG
As my boat sails
into Xingze Lake
I am stunned by
this glorious city!
A canal meanders
by narrow courtyard doors.
Fires and cooking
smoke crowd the water.
In these people
I see strange customs
and the dialect
here is obscure.
In late autumn,
fields are abundant.
Morning light.
Noise wakes at the city wells.
Fish merchants
float on the waves.
Chickens and dogs.
Villages on either bank.
I'm heading away
from white clouds.
What will become
of my solitary sail?
Translated from the Chinese by Tony and Willis Barnstone and
Xu Haixin
VIẾT MỖI NGÀY / MAY
01, 2018 : BORGES VÀ DỊCH THUẬT
Liệu bạn có thể tưởng tượng
cuốn sách khổng lồ, là Bách Khoa Toàn
Thư Tin Văn Toàn Tập, và cuộc gặp gỡ trên, là
giữa GCC và… độc giả TV, trong 1 buổi ra mắt sách ở Tiểu
Sài Gòn?
Yes, sure, why not?
Re: Editing and publishing...
Today at 4:54 PM
It's exactly right! Why not? Hooray...
Happy New Year, Gau Nha Van.
H/A
Tks
Take Care
The Moon
for Maria Kodama
There is such loneliness in that gold.
The moon of the nights is not the moon
Whom the first Adam saw. The long centuries
Of human vigil have filled her
With ancient lament. Look at her. She is your mirror.
-W.B.
J.L. Borges
Trăng
Có cái cô đơn khủng khiếp như thế đó
ở trong mảnh trăng vàng.
Trăng của đêm không phải trăng Adam đầu tiên
nhìn thấy
Những thế kỷ dài của những lời khẩn cầu của con người
Đã tẩm vào nàng lời than van xưa, cũ.
Hãy nhìn nàng kìa.
Nàng là tấm gương của em đó.
Bài thơ trên, trong “Borges Tám Bó”,
ông có đi 1 đường còm thần sầu.
Post ở đây, và sẽ trình
tiếp bản tiếng Mít, và nhân đó, lèm
bèm về dịch thuật, nhân đọc 1 bài viết trên
FB, của Sến Cô Nương về đề tài này.
Hồi học Nguyễn Trãi, Hà
Nội, ông thầy dậy tiếng Anh của Gấu, tên là Xuân.
Một bữa, có 1 anh trong lớp, vẽ 1 bức hý hoạ lên
bảng, và ghi chú là Mr. Spring. Thầy bực quá,
phạt, anh học trò bèn, thưa Thầy, Spring đâu phải
tên Thầy. Thầy cười, tha, và nói, đúng rồi,
tên ta là Xuân, không phải Spring!
Cũng theo nghĩa đó, “bread”
không phải là “bánh mì”!
Nhưng phải là Borges, mới nhìn
thấu được tới cõi trời, khi phán, chính thơ,
và hồi ức, và quên lãng, đem giầu có
đến cho từ, that poetry, that memory, that oblivion have enriched the
word.
VP từng phán, thơ không
dịch được. Dịch chỉ còn xương, thịt mất hết. Borges cũng tin
như thế, nhưng ông nói thêm, nếu không dịch
thì phịa ra nó, nghĩa là, sáng tạo ra nó.
Một bài thơ dịch, dù là dịch sai, dịch chưa
tới, cũng là 1 đời sống khác, của nguyên tác.
LA LUNA
a
Maria Kodama
Hay tanta
soledad en ese oro.
La luna de las noches no es la luna
Que vio el primer Adán. Los largos
siglos
De la vigilia humana
la han colmado
De antiguo Ilanto. Mirala. Es tu espejo.
Perhaps we are allowed to ask a few words. I think that poetry,
that memory, that oblivion have enriched the word. I wonder if the
word moon, that lingering English word, is
precisely the same as the Latin or Spanish luna.
I suppose they are slightly different, and that slight difference may
be all important, for all we know. But in this case I thought of generations
of men looking long and long at the moon and thinking of it and changing
it into myths, for example, the myth of Endymion on Latmos. And then
I thought to myself: When I look at the moon I'm not looking simply
at a luminous volume in the sky. I'm also looking at the moon of Virgil,
of Shakespeare, of Verlaine, of Góngora. And so I wrote that poem.
I think the first line should not be forgotten—Hay tanta soledad
en ese oro "There is such loneliness in that gold"—since without
it the poem might fall to pieces—perhaps it has. For after all, writing
poetry is a very mysterious thing. The poet should not tamper with
what he writes, he should not intrude himself into his writing. Let
the writing do itself. Let the Holy Ghost or the muse or the subconscious
—to give it an ugly contemporary name—have its way and then perhaps
we make up poetry. Even I may write a poem.
Có lẽ chúng ta được phép hỏi
vài từ. Tôi nghĩ, thơ, hồi nhớ, quên lãng làm
giầu có cho “từ”, chữ. Tôi ngạc nhiên khi tự hỏi
rằng cái từ “trăng” moon, dai dẳng, dằng dặc, mỏng manh của lũ
Hồng Mao đó, that lingering English word, liệu có y chang
từ tiếng La Tinh, hay tiếng Tây Bán Nhà luna. Tôi
nghĩ chúng có tí khác nhau, và tí
ti này thì lại quá quan trọng, như tất cả chúng
ta biết. Nhưng, trong trường hợp này, tôi nghĩ hàng
hàng thế hệ con người nhìn trăng dài dài dài
dài và nghĩ đến nó, và biến nó vào
trong thần thoại, giai thoại, thí dụ thần thoại Endymion on Lamos.
Và tôi bèn nghĩ về mình, về chính tôi:
Khi tớ nhìn trăng, thì tớ không giản dị nhìn
cái vầng sáng trên bầu trời. Tớ còn nghĩ
tới vầng trăng của Virgil, của Shakespeare, của Verlaine, của Góngora.
Và thế là tớ làm bài thơ đó. Tớ nghĩ,
dòng thơ đầu, bạn chớ có quên, nó: There is
such loneliness in that gold, bởi là là quên nó,
là bỏ mẹ, là tiêu táng thòng: Kể từ khi,
đếch có nó, là bài thơ rã rời ra,
thành manh mún, mảnh vụn…
Nói cho cùng, làm thơ là 1 điều bí
hiểm, rất ư bí hiểm. Thi sĩ chớ có táy máy
mò mẫn, sờ soạng đừng có loạng quạng với thơ, đừng có
"vầy", tamper thơ, như "vầy gái", nghe chưa, lũ thi sĩ gà
mờ, làm thơ nhạt, hoặc thúi như nước cống mà ngày
nào cũng làm thơ:
The poet should not tamper with that he writes, he should not
intrude himself into his writing – cái này thì
K. chửi Gấu hoài, mi dịch bài thơ nào cũng tìm
cách chui mi, chính mi, vô trong đó – Hãy
để cái viết làm chính nó. Hãy để Bà
Chúa Thơ hay cái tiềm thức – thì hãy cho
nó 1 cái tên xấu xí đương thời – có
đường hướng, phương cách… của nó và có lẽ
nhờ thế chúng ta có thơ.
Ngay cả tớ cũng thử 1 phát thơ coi sao!
VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 5, 2018 : NHỚ BỐ
April Writing
Bức hình độc nhất &
Di sản độc nhất, ông cụ Gấu
Đọc Hà Sĩ Phu trả lời Lý Kiến Trúc,
báo Văn Hóa, Cali, trên blog Sến Cô
Nương, Gấu bỗng dưng nhớ tới ông cụ Gấu, chán thế!
Ông bố của Gấu không hề theo Việt Minh, vào
cái giai đoạn cả nước theo Vẹm. Mấy đứa con ở lại Miền
Bắc - ông em trai út & bà chị gái, nữ
anh hùng thồ hàng chiến dịch DBP của GCC - không
hề được VC công nhận là con liệt sĩ.
Gấu về lại đất Bắc, một phần là cố tìm
cho ra câu trả lời. Gặp cô con gái của ông
chú, Chú Cầm, vào thời kỳ đó, là
huyện uỷ Hạc Trì [Bạch Hạc và Việt Trì] sau nghe
nói, leo lên đến 1 chức vị gì cao lắm, cũng bị
VNQDD bắt, nhưng trốn thoát. Bà cho biết, ông bố của
bà, cho bà biết, ông giáo Dương, tức Nguyễn
Tái Dương, bố của Gấu, chỉ được “tổ chức” coi là cảm
tình viên của Việt Minh.
Gấu cũng được biết, qua cô con gái của Chú
Cầm, ông bố của Gấu, bị tên học trò giết, là
do không chịu đại diện cho VNQDD, ra tranh cử Quốc Hội Vẹm.
Ông qua sông đúng 30 Tết, dự tất niên
với băng VNQDD chiếm giữ Việt Trì, là vì
vấn đề Quốc Hội Vẹm, hẳn thế, và khi ông lắc đầu, đấng
học trò bèn làm thịt Thầy, trước khi bỏ chạy
VC qua Tẫu.
Như thế, ông cũng là cảm tình viên
của VNQDD ?
Gấu tin là ông cụ Gấu, khi phải chọn giữa
Nguyễn Thái Học và Bác Hồ, đã chọn
Nguyễn Thái Học!
Trong bài viết về Koestler [điểm cuốn tiểu sử
của K, của Michael Scammell, The Literary and political Odyssey
of a 20 Century Skeptic, trong mục Di sản của chủ nghĩa toàn
trị, Athur Koestler: The Zealot [“cuồng tín” – thay vì
“bi quan”, skeptic], trong cuốn tiểu luận của ông, Arguably,
Christopher Hitchens cho biết, Koestler bỏ đảng CS, liền sau khi thoát
ra khỏi Tây Ban Nha, vì quá tởm những vụ án
thanh trừng “mần tuồng”, the hysterical faking of the Moscow purge
trials, 1938 [ông, sau dùng làm đề tài cho
cuốn Đêm Giữa Ban Ngày].
Koestler diễn tả cái tởm của mình, thật
là tuyệt cú mèo, theo Christopher Hitchens,
đến nỗi ông phải bệ nguyên văn, vô bài viết
của mình:
It is a logical contradiction when with uncanny regularity
the leadership sees itself obliged to undertake more and more
bloody operations within the movement, and in the same breath insists
that the movement is healthy. Such an accumulation of grave surgical
interventions points with much greater likelihood to the existence
of a much more serious illness.
[Thật khốn kiếp khi, một mặt, cứ tiếp tục thanh trừng
nội bộ, cùng lúc phán, Đảng ta đả biến thiên
hạ vô địch thủ, mạnh khoẻ lắm]
Trong cuốn tiểu luận, có bài Hội Chứng
Việt Nam, The Vietnam Syndrome, viết về vấn đề chất độc màu
da cam, thú.
Thú hơn nữa, nó làm Gấu nhận ra,
trong cái gọi là “hội chứng Mít”, có...
“hội chứng Tẫu”!
Christopher Hitchens giải thích, bằng tiếng La
Tinh: Mutato nomine de te fabula narratur: with the name changed,
the story applies to you.
Cứ thay cái tên đi, là nó
áp dụng vô ngay tim, ngay hồn lũ Mít. Đâu
có phải là chúng không biết thằng Tẫu
khốn kiếp đâu. Suốt chiều dài lịch sử, một mặt chống
Tẫu, một mặt mở nước về phía Nam, làm cỏ mọi giống
dân yếu hơn, ít người hơn, vậy mà đùng
1 phát, rước chúng vô nhà, vô giường,
để ăn cướp cho bằng được Miền Nam.
Gấu thêm vô, còn "hội chứng nhân
quả" nữa, ở đây.
VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 21, 2018 : THANH TÂM TUYỀN VÀ
KY TÔ GIÁO/ A BURNT-OUT CASE
A Burnt-Out Case.
Cuốn này, “Một trường hợp lụi tàn”, theo Phạm Việt
Cường cho biết, đã có bản tiếng Việt. Gấu sở dĩ chọn
nó, để toan tính mở ra cuốn truyện ngăn ngắn của mình,
là vì, Gấu cũng đã từng bị VC tính thịt
1 cánh tay của mình, lần ăn mìn claymore ở nhà
hang nổi Mỹ Cảnh nơi bờ sông Sài Gòn, mà
còn là vì, hình như giống như nhân
vật chính trong truyện, Chúa đã bắt kịp Gấu…
1 cách nào đó, sau khi cố tìm cách
làm thịt chính Gấu.
Còn nữa, cuốn A Burnt-Out Case, mắc mớ tới
niềm tin Ky Tô, mà những người như TTT, và
sau đó, lớp đàn em, trong có Gấu, không
có.
Trong “Lụi Tàn”, có 1 xen giống cái
cảnh TTT tả, trong Bếp Lửa, anh chàng Tâm đối diện
với Chúa, và bèn vặc, ông mà có
đầu thai làm người, thì cũng vô phương cứu loài
người, nhất là lũ Mít!
Trên đường về Lao, GCC mang theo hai cuốn, 1
là cuốn mới mua, của Kadare. Và 1 là cuốn A Burnt-Out
Case của Greene, tính mở ra 1 cú “tỉu thết”, chừng
trăm trang. Bằng 1 câu thuổng, từ Greene.
www.tanvien.net/Day_Notes/PXA_vs_Greene.html
" Trong một vài đường hướng, đây là
một cuốn sách tuyệt hảo đối với tôi - mặc dù
đề tài và sự quan tâm của nó, thì
rõ ràng thuộc về một cõi không tuyệt hảo.
Tôi đọc nó, lần đầu khi còn trẻ, dân Ky tô,
lớn lên ở Phi Châu, vào lúc mà
trại cùi còn phổ thông. Tôi còn nhớ,
lần viếng thăm cùng với mẹ tôi, một trại cùi như
thế, được mấy bà sơ chăm sóc, tại Ntakataka, nơi hồ
Lake Malawi. Và tôi sợ đến mất vía bởi cái
sự cử động dịu dàng đến trở thành như không có,
của những người cùi bị bịnh ăn mất hết cánh tay, y hệt
như được miêu tả ở trong cuốn tiểu thuyết: “Deo Gratias gõ
cửa. Querry nghe tiếng cào cào cánh cửa của cái
phần còn lại của cánh tay. Một xô nước treo lủng
lẳng ở cổ tay giống như một cái áo khoác, treo
ở cái núm trong tủ áo”.
Vào cái lúc tôi đọc nó,
thì tôi đang phải chiến đấu, như những người trẻ,
hay già, phải chiến đấu, và cũng không phải chỉ
ở Phi Châu, với những đòi hỏi về một niềm tin, khi mà
niềm tin này thì thực là "vô ích,
vô hại, vô dụng, vô can…", tại một nơi chốn, bất cứ
một nơi chốn, bị tai ương, bệnh tật, và cái chết nhòm
nhỏ, đánh hơi, quấy rầy, không phút nào
nhả ra.
Thành thử câu chuyện của Greene về một
gã Querry, một tay kiến trúc sư bảnh tỏng, tới xứ
Công Gô, chỉ để chạy trốn, và tìm ra một
thế giới, và có thể, Chúa bắt kịp anh ta đúng
ở đó, một câu chuyện như thế, làm tôi quan
tâm.
Trong một vài đường hướng, cuốn tiểu thuyết
có thể được đọc như một cuộc điều tra, về niềm tin hậu-Ky
tô, một toan tính để nhìn coi xem, cái
gì dấy lên từ tro than của thế kỷ trứ danh về cái
sự độc ác của nó…"
Ui chao, bạn đọc có thể mô phỏng đoạn
trên, và đi một đường “bốc thúi” trang Tin
Văn:
Trong một vài đường hướng, trang Tin Văn có
thể được đọc như là "… niềm tin hậu chiến Mít, một
cái gì dấy lên từ tro than của cuộc chiến trứ
danh vì Cái Ác Bắc Kít của nó."!
Nhưng, biết đâu đấy, Ky Tô giáo
đang lâm đại nạn tại nước Mít, là cũng ứng
vào cuộc "điều tra" này, của trang Tin Văn?
http://www.tanvien.net/Roman/bep_lua_5.html
“Thượng Đế sẽ giải quyết được những vấn đề của loài
người nếu loài người biết tìm về Người.”
“Không, tôi không tin như thế, Thượng
Đế không sống cái sống xác thịt của nhân loại.
Khi Thượng Đế nhập thể thành người như Chúa Jésus
hay Phật Tổ thì chính ở những người ấy Thượng Đế đã
bị lôi kéo vào tấn thảm kịch riêng tư
của loài người, và chỉ có thể thoát ra
với sự thất bại…”
“Tôi phải kiếm cho ra một tôn giáo”,
Graham Greene nói, “để đo lường cái phần quỉ ma ở
nơi tôi”.
Một thách đố như vậy đã đặt Greene vào
cái thế của một “tiểu thuyết gia Ky tô giáo” – ông
rất ghét định nghĩa này - đúng như viễn tượng về
ông: trước khi chọn Chúa Ky Tô, như là một thế
giá cao cả nhất, thì ông, trước hết, còn là
một con người bị ám ảnh bới chính cái nấc thang thế
giá đó. Không nhà văn nào của thế kỷ 20
này có thể so với ông, người muốn đi tới cùng
trong cõi nhân sinh nhỏ xíu - ấy là nói
về chuyện so sánh giữa con người với con người, và có
thể, với Chúa nữa. Trong khi những tiểu thuyết gia thuộc loại tầm
tầm mày mò, dị mọ những đòn phép nhằm phân
biệt thằng cha này tốt, thằng cha kia xấu, Greene là bậc
thầy của sự tách biệt đa tầng, dị dạng, khi xoáy vào
những đường ranh thật là mỏng manh phân chia, giữa thế nào
là quỉ ma thế nào là độc địa, thế nào là
bất tương thân, thế nào là ngu si đần độn chứa đầy ác
tâm. Những con người của ông loay hoay xoay sở bên trong
cái khuôn mẫu đạo đức rất ư là chi ly. Sa sẩy, là
từng bước chân, là từng lỡ bộ. Sai một ly đi một dặm. Thành
thử vô phương, làm người tốt [to be good] ở nơi Greene. Nhưng
có hàng triệu triệu cách, để đỡ tồi tệ hơn, ít
hoặc nhiều.
Khía cạnh hiện thực mang tính đạo hạnh
chi ly tỉ mỉ đó, ở Greene, thường không được người
đọc để ý, thay vì vậy, là những mầu sắc “baroque”
– trò truy hoan thẳng thừng, thú du lịch, cái lối
viết nhà báo – những dấu ấn khiến ông được coi
là đồng hội đồng thuyền với những tay phiêu lưu như
Erskine Childers, Len Deighton, Alec Waugh, John Le Carré.
Chắc chắn rồi, Greene phải được coi như là
một người viết quan tâm tới dòng văn chương điệp viên,
tình báo – chú thiếu niên Greene ngày
nào đã từng thử làm người hùng máu
lạnh, qua trò chơi chết người Russian roulette. Tuy nhiên,
người đọc đừng quên rằng, trên giá sách
của ông, còn có sự ngự trị của, thí dụ như,
Henry James. Hơn thế nữa, Greene quả thực là một điệp viên
nhị trùng, theo đúng nghĩa đen của từ này.
THÁNG BA, NHỚ THANH TÂM TUYỀN
Kỳ
3
Mar 29, 2018
Khi anh đi, anh đi vào sương
đen
Sương rất độc, tẩm vào
người nỗi chết
TTT
Ngày xưa Xóm
Gà
http://www.tanvien.net/Tap_ghi_6/xom_ga.html
Chuyện xưa về con trăng
Chìm mẹ xuống biển
Về những ngôi sao,
Khi ánh sao thứ nhất lịm đi
Về con hẻm ướt đẫm sương đêm
Về Xóm Gà lạnh lẽo
Thì cứ thế, cứ thế, và cứ thế:
Người thi sĩ ấy - thuổng nhà phê bình
BVP
Trố mắt nhìn cái bóng của mình
Và phán, đây là tro than của
chính ta
Rời bỏ ta
Và phán,
Những ngày ở Sài Gòn
Ở Xóm Gà
Là những lỗ đen thực trong không gian.
Nhưng chẳng có gì là thực
Bạn biết người mà tôi đang tưởng niệm,
Cái gì gì, Tháng Ba, nhớ
TTT
Người về những giây phút cuối cùng
Những giờ, những tháng, những năm
Đó là câu chuyện tôi nói
về chính tôi
Về bạn
Về mọi người
The Story
by Mark Strand
It is the old story: complaints about the moon
sinking into the sea, about stars in the first light
fading,
about the lawn wet with dew, the lawn silver, the lawn
cold.
It goes on and on: a man stares at his shadow
and says it's the ash of himself falling away, says his
days
are the real black holes in space. But none of it's true.
You know the one I mean: it's the one about the minutes
dying,
and the hours, and the years; it's the story I tell
about myself, about you, about everyone.
"Ông số một" (1) - TTT- quả đúng
là ông anh của Hai Lúa. Tuy không phải ruột
thịt mà sợ còn quá cả ruột thịt. Trong ba đứa, hai ông
con ruột, là nhà thơ, và ông em, me-xừ C. bạn
thân của HL, thì, tuy là phận ghẻ, nhưng HL được cụ
thương yêu còn quá con ruột. Có những chuyện mà
một bà mẹ chỉ thích nói cho thằng con nuôi
nghe, ở đời thường vậy. Vì hai thằng con ruột ít chịu ngồi
nghe cụ nói, hoặc, ôi dào, mẹ ơi, nói hoài
chuyện đó, mệt lắm, đại khái như vậy. Đã có
lần, ông số một cằn nhằn, tại sao những chuyện như thế mà
mẹ cũng nói cho thằng Trụ nó nghe?
Hai Lúa này hay nhắc
ông số một, là vậy, chứ không phải ông
là sư phụ, thần tượng trong văn chương của Hai Lúa. Ông
là sư phụ, là thần tượng, hay giản đơn hơn, ông
anh ở đời. Những gì Hai Lúa hay nhắc tới, nếu có
liên quan tới ông, là những kỷ niệm những ngày
cả ba anh em sống quây quần dưới gối của bà cụ, chúng
có "tính tự thuật" nhiều hơn là "chất văn chương".
Nói vậy, để trả lời nhà thơ Viên Linh, đã
nhiều lần "cảnh cáo" Hai Lúa, mày, hay Jennifer
Tran, mà không nhắc tới ông số một, là bịnh
liền tức thì!
Nhưng nhờ ông, mà HL tìm
ra ông thầy văn của mình.
Hồi ông số một ở Hà Nội,
đi dậy học, theo kiểu kèm trẻ tại gia ở tận Hà Đông.
Thường là nhịn ăn sáng, [nhà có gì
đâu mà ăn, cơm nguội không, tiền đâu ăn
quà?]. Trưa, đạp được cái xe đạp về tới nhà,
ông nói với mẹ:
- Con mệt quá, chắc bịnh.
Bà cụ biểu:
- Bịnh gì đâu. Tại đói quá
đó.
Xóm Gà là một cái tên
rất xưa, để chỉ con hẻm Đỗ Thành Nhân, ngay phía
sau Toà Thị Chính Gia Định. Phía bên
kia, là Nhà Thương Nguyễn Văn Học.
_____________________
(1) Nhà thơ Thanh Tâm
Tuyền
Cô chú kính,
Đã ngoài 80 mà cô chú
còn đi chơi xa như vậy được, cô chú khỏe thật,
mừng với cô chú.
Chắc cô Quyên là
facebook friend của chú? Vào google cháu không
tìm được info nào về phanbook.
Đã có một lần sau khi bố cháu vừa
mất nhà xuất bản Nhã Nam đã hỏi in sách
bố, nhưng mẹ cháu đã không đồng ý.
Cháu cũng nghĩ như chú vậy. Thiển nghĩ
bài vở của bố trên tinvan và các webs
cũng đủ for now. Về việc xb và biếu tặng là ý rất
hay, cháu sẽ bàn với mẹ cháu.
Gửi chú, mong cô chú luôn khoẻ.
Kính.
khi phố. vàng nhàu
chẳng có gì. mất. đi
kể cả. sự ngu muội
sự kiêu mạn. của một. người
không cần. nói
chẳng hạn. như. steve hawkins
những. đám mây
thật. chông chênh
hờ hững. đến lạ
hơi thở ve. vuốt
cái lạnh. vẫn lãng đãng quanh. quẫn
chiều. về. một góc
ôm chặt. cái bóng của. những cao
ốc
lạc. trong con phố. rất quen
sự lãng mạn. cần có trong. những căn phòng
phi. trọng lực
để không thể. khóc
khi nào? em đến
sẽ rung vui. bất tận
cái iphone. im. một xó
nhìn tôi. với ly rượu
tiếc nuối. những nụ. hôn. giả từ
cơn bão tuyết. sẽ đến
không có gì. mất. đi
phải. chẳng cần. nói
vì tình yêu. vẫn còn. đó
và nó. chỉ cần. trái tim
On Friday, April 6, 2018, 7:58:16 AM CDT, nguyen quocdung
<quocoai_sontay@yahoo.com> wrote:
Theo tôi, không thể in thơ TTT chung với
bất cứ ai, “bia mộ” đúng như Nhị Linh nhận xét.
Tốt nhất là gia đình tự xb, không chỉ thơ, mà
toàn bộ tác phẩm, nhất là cuốn MCNK, gần như
tuyệt bản. In, rồi biếu không, in theo kiểu có người
muốn xin, thì gửi, theo kiểu, chỉ in bìa, như Trần
Hoài Thư làm, không tốn bao nhiêu đâu.
DS bàn với gia đình coi sao.
Thân.
https://www.economist.com/books-and-arts/2018/05/12/the-secret-life-of-fish
The secret life of fish
A salmon's lament
Eye of the Shoal: A Fishwatcher’s Guide
to Life, the Ocean and Everything. By Helen Scales. Bloomsbury
Sigma; 320 pages; $27.00 and £16.99
THOSE who lack gills typically meet members of the ichthyic
kingdom à la meuniere or packed in oil. "So much of the brilliance
of fish goes unseen and unknown," says Helen Scales, a serendipitously
named marine biologist. "They live hidden beneath the waves." In "Eye
of the Shoal", Ms Scales, whose previous book, "Spirals in Time", explored
the world of seashells, brings readers nose to snout with fish in
situ.
This, after all, is mostly their world.
Water covers 70 of the planet. Fish, the most abundant and diverse
of the vertebrates- there are 30,000 species-are one of the great
evolutionary success stories. Some can withstand sub-zero polar waters
(a natural anti-freeze in the blood of Arctic cod enables them to survive)
or a 34°C pool in California's Death Valley (home to the Devils
Hole Pup fish). The Walking Catfish, faced with a shrinking pond, uses
its front fins to amble over to safer waters. Torpedo-shaped tuna have
retractable pectoral fins to lessen drag. Weaverfish, lionfish and stonefish
deploy venomous spines to avoid becoming another fish's dinner.
Colours provide camouflage-a Warty Frogfish
adjusts its hue to blend into the background-or to signal a sex (flamboyance
is typically a male attribute). There are deep-sea fish that flash,
glow and shimmer to communicate, lure prey or illuminate their way.
Most magical of all aquatic habitats is the coral reef, home to galaxies
of fish in marzipan tones like the Lemonpeel Angelfish, or stunning
patterns like the Picasso Triggerfish (pictured).
Alas, reefs are perishable, vulnerable
to ocean acidification, overfishing and global warming, which provoke
a chain of events that bleaches coral dead white. A World Wildlife
Fund report predicts that, if not checked, global warming will lead
reefs to disappear by 2050. Meanwhile, the United Nations Food and
Agriculture Organization estimates that nearly a third of commercial
stocks are overfished. Ms Scales might have devoted more than a few
pages of her engaging and informative bouillabaisse to these perils.
Do fish have feelings? Can they think?
As evidence that they can, Ms Scales cites examples of cognition and
tool use. Tusk fish open clams by smashing them against rocks; sharks
have been taught to press a target for a reward of food. They seem to
be able to feel pain, too. Farmed salmon exhibit symptoms of depression.
The temperature of Zebrafish rises when they are confined in a small
net.
Empathy for the plight of fish might not
be so far-fetched. Consider Tiktaalik, one of the transitional
species that made the long, slow leap from water to land some 375m
years ago. Humans' so-called "inner fish"-in the words of Neil Shubin,
a paleontologist at the University of Chicago and part of the team
that discovered Tiktaalik in 2004-is reflected
in the fossil's finned lobes, which feature a bone structure analogous
to human limbs. "Man still bears in his bodily frame the indelible stamp
of his lowly origin," Darwin wrote in "The Descent of Man". People,
in other words, may simply be fish out of water. +
Note: Tờ này, cùng vài tờ khác,
như The New Yorker, TLS, NYRB… thời gian mới ra hải ngoại, sau khi
đậu cái bằng bán bảo hiểm, rồi bịnh, ăn tiền bịnh, rồi
già, ăn tiền già, rồi thời gian Cô Út làm
ăn khấm khá, suốt mấy chục năm làm trang Tin Văn, Gấu mua
dài hạn, dài dài, chứa đầy 1 hầm nhà.
Bây giờ, thua, tờ báo cũng không cho đọc
free, sau mấy số trial cái con mẹ gì đó, đành
bấm bụng mua, mỗi khi thấy có bài OK.
Bài này, làm nhớ đến con cá hồi,
của Gấu Cái, tức Cô Uyên, trong 1 truyện ngắn của
Thảo Trần:
Uyên đã thực sự rời bỏ dòng sông
để ra biển cả, không hề hiểu được một điều: biển cả, bởi vì
mênh mông, cho nên thật khó mà nhận
ra con đường ngày ra đi, hay tìm thấy được, con đường trở
về...
Chân Dung Tự Họa, Picasso
Căn nhà với rừng cây sau nhà, Cô
Út bán rồi.
Mua căn nhỏ hơn. Không có chỗ chứa sách, cô
đem cho sạch, nói, Bố đừng đọc sách nữa.
Bức tự họa, Picasso vẽ khi 9 bó. Mô phỏng
ông, năm nay, trên tám bó, Gấu viết cuốn tiểu
thuyết đầu tiên trong đời, chừng 100 trang.
Hình ảnh mở ra nó, có rồi, và
là kỷ niệm lần đầu tiên thằng bé thấy người ta đánh
người.
Người ta, là vị phó quận, 1 sĩ quan Ngụy,
tại 1 đồn Ngụy, nơi bờ đê, 1 làng Bắc Kít. Gấu và
đám con nít trong làng đến đó, để học. Trong
khi chờ vô lớp, Ngụy bắt được 1 tên du kích, đem về đồn.
Khi vị phó quận tới, bèn tra hỏi tin tức, đá liên
tiếp tên du kích.
Bất chợt nhìn lên, thấy thằng cu Gấu khiếp
đảm nhìn, ông ta ngưng, và ra lệnh đem anh du kích
Vẹm đi giam, chắc thế!
Sebald viết, kẻ nào bị tra tấn, là suốt
đời “được, bị, thèm.. “ tra tấn.
Gấu đúng là 1 tên Bắc Kít, thèm
được Bắc Kít tra tấn, đúng như Sến mắng yêu, sao
mi cứ cay đắng “hoài” – hoài, là 'hoài hoài',
mà cũng là “phạm thị hoài”, hà, hà
- như thế!
https://www.economist.com/…/the-story-of-one-of-the-last-sl…
Vẫn chuyện “cay đắng”
Trên tờ NKT, số mới, có bài viết về nô lệ
ở Mẽo.
Vừa cay đắng, vừa THNM, GCC tự hỏi, liệu bức hình sau đây,
là chân dung tự họa của Gấu Tám Bó.
Và, liệu sẽ có hai cuốn sử thi sau này về lũ Mít,
1, Nam Kít nô lệ Bắc Kít, sau đó, Mít
nô lệ Tẫu ?
Elegy 1969
You slave away into your old age
and nothing you do adds up to much.
Day after day you go through the same motions,
you shiver in bed, you get hungry, you want a woman.
Heroes standing for lives of sacrifice and obedience
fill the parks through which you walk.
At night in the fog they open their bronze umbrellas
or else withdraw to the empty lobbies of movie houses.
You love the night for its power of annihilating,
but while you sleep, your problems will not let you die.
Waking only proves the existence of The Great Machine
and the hard light falls on your shoulders.
You walk among the dead and talk
about times to come and matters of the spirit.
Literature wasted your best hours of lovemaking.
Weekends were lost, cleaning your apartment.
You are quick to confess your failure and to postpone
collective joy to the next century. You accept
rain, war, unemployment and the unjust distribution of wealth
because you can't, all by yourself, blow up Manhattan Island.
(AFTER CARLOS DRUMMOND DE ANDRADE)
BI KHÚC 1969
Mi trầy trật già
Dù cựa quậy cách mấy
Xêm xêm, ngày tiếp ngày
Khi ở trên giường
Khi đói
Khi thèm đờn bà
Những vì anh hùng,
Với những cuộc đời
Hi sinh và tuân phục
Đứng đầy công viên
Khi mi bước qua
Và khi đêm tới
Trong sương mù
Họ mở những cây dù đồng
Hay rút về những hành lang trống trơn
Của những rạp hát, rạp chiếu bóng
Mi yêu đêm, vì cái quyền năng hư
vô, hủy diệt của nó
Nhưng khi mi ngủ
Những vấn đề của mi đếch cho mi “đai”
Đi bộ chỉ chúng tỏ sự hiện hữu của Bộ Máy Lớn
Và ánh sáng đè lên đôi
vai mi
Mi đi bộ giữa những người đã chết
Và chuyện trò về những ngày những giờ
sẽ tới
Và những mắc mớ linh tinh về tinh thần
Văn chương làm phí thời gian mần tình
đẹp nhất của mi
Những cuối tuần mất, lau chùi, quét tước, dọn
dẹp nhà cửa, vườn tược
Mi vội vàng xưng tội, về thất bại đời mi
Và di dời niềm vui tập thể tới thế kỷ sau
Mi chấp nhận mưa, chiến tranh, thất nghiệp và sự phân
chia không đồng đều của cải, vật chất
Bởi là vì mi
Không thể thổi phù 1 phát,
Bằng tất cả, chính mi,
Hòn đảo Manhattan Island.
MY LIFE BY SOMEBODY ELSE
I have done what I could but you avoid me.
I left a bowl of milk on the desk to tempt you.
Nothing happened. I left my wallet there, full of money.
You must have hated me for that. You never came.
I sat at my typewriter naked, hoping you would wrestle me
to the floor. I played with myself just to arouse you.
Boredom drove me to sleep. I offered you my wife.
I sat her on the desk and spread her legs. I waited.
The days drag on. The exhausted light falls like a bandage
over my eyes. Is it because I am ugly? Was anyone
ever so sad? It is pointless to slash my wrists. My hands
would fall off. And then what hope would I have ?
Why do you never come? Must I have you by being
somebody else? Must I write My Life by somebody else
My Death by somebody else? Are you listening?
Somebody else has arrived. Somebody else is writing.
Mark Strand: Collected Poems
Đời của ta bởi ai đó
Ta đã làm, cái có thể làm
Nhưng mà mi tránh ta như tránh hủi!
Ta để chén sữa trên mặt bàn, để dụ mi
Chẳng có gì xẩy ra.
Ta vờ quên cái ví ở đó, đầy tiền
Hẳn là mi thù ta vì điều đó
Mi chẳng hề tới.
Ta ngồi trước cái máy đánh chữ, trần truồng
Hy vọng mi sẽ quật ta xuống sàn nhà
Ta mần tuồng, với chính ta, hy vọng gợi hứng ở nơi mi
Chán chường đẩy ta vào giấc ngủ
Ta dâng bà xã của ta cho mi
Ta để bà lên mặt bàn, xoạc chân bả ra.
Ta đợi.
Ngày cứ thể duỗn ra
Ánh sáng mệt nhoài rớt xuống như miếng băng
trên mắt
Bởi là vì ta xấu xa?
Liệu có người nào buồn bã đến mức như thế?
Thật vô ích, rạch cổ tay.
Bàn tay sẽ rơi rụng
Và nếu như thế, rồi thì, hy vọng nào, ta sẽ
có?
Tại sao mi chẳng hề tới?
Liệu ta có thể có mi
Bằng cách là 1 kẻ nào đó
Liệu ta phải viết “Đời của ta”, bởi ai đó ?
“Cái chết của ta” bởi ai đó?
Mi có nghe ta?
Một ai đó, tới
Một ai đó, viết.
W. S. MERWIN
1927-
At any moment in our life we are entangled in all the past of
humanity, and that past is primarily language, so we live as if upon
a background of incessant chorus, and of course it is possible to imagine
the presence of every thins which has ever been spoken.
Czeslaw Milosz: A Book of Luminous Things
UTTERANCE
Sitting over words
very late I have heard a kind of whispered sighing
not far
like a night wind in pines or like the sea in the dark
the echo of everything that has ever
been spoken
still spinning its one syllable
between the earth and silence
Ở bất cứ khoảnh khắc đời, chúng ta đều bị “dính trấu”,
trong tất cả quá khứ nhân loại, và với bài
thơ sau đây, cái quá khứ đó, nguyên uỷ,
là về ngôn ngữ, như thể chúng ta sống, trên nền
tảng của một đồng ca không ngừng nghỉ, dài dài.
Và tất nhiên thật dễ hiểu, chúng ta có
thể tưởng tượng ra, sự hiện diện của mọi thứ, mọi điều, chưa từng có
tiếng nói.
Phán 1 phát
Ngồi lên đống chữ, mãi sau đó,
Tôi bèn nghe ra 1 thứ tiếng thầm
Của 1 cú thở dài, không xa
Như tiếng gió đêm trong đám lá thông
Hay như trong biển tối,
Tiếng vọng của mọi điều đã từng có 1 lần được thốt
thành lời
Vưỡn đang cố rặn
Một chữ, 1 từ, hay 1 âm… của nó
Giữa trái đất
Và sự câm lặng.
VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 23, 2018 : BẮC KỲ,
ĐẤT VÀ NGƯỜI
Cầu Việt Trì, under construction,
nơi ông cụ Gấu bị 1 đấng học trò làm thịt.
Gấu về lại Đất Bắc
là để tìm đến chỗ này, thắp 1 nén nhang
cho ông bố của mình, và cũng để tìm hiểu,
tại sao ông không theo Việt Minh, mà chỉ có
“cảm tình” - như lời cô con gái của ông,
1 ông chú của Gấu, Chú Cầm, khi đó, là
huyện uỷ VC tại Việt Trì cho Gấu biết, và tên
giết ông là 1 thủ lãnh của QDD. Mấy đứa con của
ông, còn ở lại Đất Bắc, chẳng được phong là con của
liệt sĩ.
Bây giờ thì Gấu hiểu, ông quá tởm
nó, như con ông, sau này!
*
Note: Lần ông anh mất, Gấu tới San Jose, thăm ông
em, có hỏi về bài thơ này, bạn C cho biết, khi
đó chưa phân trại, thành ra hai anh em còn
được ở chung.
Sau Long Giao, 1975, là Yên Bái. Sau
Yên Bái - như Gấu vẫn gọi khi còn nhỏ ở đất
Bắc - tới Lào Cai. Bài thơ mở ra khúc tù
Lào Cai, là bài “Chiều cuối năm trồng sắn
ở Lào Kay”, thấy ghi '77.
Như vậy cú té núi đúng thời gian
mấy đấng Ngụy ngồi hầu đờn nhà văn cách mạng miệt
vườn Nguyễn Quang Sáng!
Ông em kể, bữa đó, cả trại lo, vì tất
cả tù đều về chuồng, đúng giờ. Phải đến 9 hay 10 giờ
tối, mới thấy ông anh nhà thơ về.
*
Bạn quí HPA kể, khi TTT được VC cho về đời, trở lại
Xề Gòn, có lần gặp, và có nhã
ý mời ông tới 1 căng tin làm ly bia. Căng tin này
có 1 em, chắc là tiếp viên, theo HPA, rất mê
bài Lệ Đá Xanh, và hát
rất tới. Nhưng ông lắc đầu.
Ui chao, GCC cứ tưởng tượng hoài, mà không
thể, cái cảnh Giang Châu Tư Mã ướt đẫm áo,
khi nghe ca nương hát bài thơ phổ nhạc của ông!
Thì cũng đâu có thua gì khúc
Hậu Đình Hoa!
Trường hợp NTK rất giống Thảo Trường. Đưa vợ con lên
tầu, thì bèn quay đầu xe, đi thăm Xề Gòn lần
cuối, thế là kẹt lại. Thảo Trường dính 17 năm, đúng
ra là chết rồi, nhưng nhờ ơn anh Tẫu dậy cho VC 1 bài học,
chúng bèn đưa đám Ngụy trở lại Miền Nam, và
khi đau nặng, gia đình hay tin, mang thuốc thang lên Trại
Suối Máu, cứu mạng kịp!
Trường hợp Gấu có tí xêm xêm. Cũng
những ngày tháng đó, gặp lại xếp UPI cũ, anh
phán, cầm cái camera, đi theo tao, lên trực thăng,
ra Đệ Thất Hạm Đội, hết C.130 rồi, đành bỏ mặc vợ con thôi…
Gấu lắc đầu, không thể bỏ Gấu Cái và đàn
con được. Anh ta nhét vô tay Gấu tất cả mớ tiền Ngụy còn
sót lại, và vẫy tay bye bye.
Nhưng, chính là quãng đời tù
đầy của Gấu sau đó, mới cho Gấu cơ hội làm người trở
lại!
Khác hẳn NTK. Anh nhập vào chế độ mới, có
bạn mới, sống thanh thản đời của anh, đâu có nhớ gì
đến những bạn cũ, như Thảo Trường, TTT… đúng không?
Họ cũng là bạn của anh vậy? NQT
Wednesday, October 15, 2014 8:58 PM
Kính anh Trụ,
Rất lâu em không có thư hầu thăm anh.
Hôm sinh nhật anh, nhiều người chúc quá nên
em... đứng ngoài.
Em vẫn còn đi làm kiếm cơm nên thời gian
hạn hẹp, nhiều hôm cố gắng đọc cho bằng hết bài anh
post lên mà muốn ngộp thở.
Cầu chúc anh thật nhiều sức khỏe và niềm vui.
LNS
Không thấy mail, có tí lo.
Take Care. NQT
Nobel 2014
Đối với tôi, bạn bè là một phần đời sống
của tôi: Gấu trải qua cú này rồi.
Hồi mới lớn, mê bạn quá, chưa ngủ dậy, là
đã thấy mình đang ngồi ở Quán Chùa với
bạn rồi.
Rồi may quá, mất hết bạn!
Ông Trời thương hại, bèn ban cho 1 thằng bạn,
chỉ 1 thằng mà thôi, để khi nào buồn quá,
tìm đến, để khóc cho đã.
Rồi sống tiếp.
Gấu Cái thường chửi Gấu, mi cần ta, như lũ con lũ
cháu, cần ta, chứ đâu có thương yêu gì
ta. Gấu Cà Chớn sợ đám bạn quí Bắc Kít,
Hà Nội, cần bạn NTK cũng rứa! Đọc những bài viết, những
lời còm thì thấy. Chúng qua Mẽo, tới cái
ổ VC ở Mẽo, ngửa tay lấy tiền Mẽo, viết về lũ Ngụy tị nạn, cái
gì gì diaspora mà chúng làm sao
hiểu được, vì có thằng nào đã đi tù
VC đâu, và muốn hiểu cái gọi là diaspora
Mít, thì phải đi tù VC. Và chúng
cần chỗ để ăn, để ngủ, cần 1 tên gốc Ngụy che chở cho chúng,
trước đám Chống Cộng Điên Cuồng.
Cả 1 lũ đó, có thằng nào con nào,
viết được, dù chỉ 1 chữ về nỗi đau của Miền Nam, về lũ Ngụy
trong trại tù, chờ ngày đoàn tụ với gia đình,
ở… Trại Tù?
Toàn 1 lũ cứt đái, mà bạn bè
gì?
Gấu cũng đã từng gặp lũ này rồi, còn
trước NTK rất nhiều!
Chính lũ này, hóa thân của chúng,
đúng hơn, đã từng đứng trước tòa án Nuremberg,
và khi ông tòa hỏi, tụi mi có biết những
tội ác của Nazi không, chúng nói, không,
và ông toà phán, tụi mi là tầng lớp
trí thức, tinh anh số 1 của nước Đức, mà Nazi phạm những
tội ác như thế, làm sao nói không biết được?
Lần HC, đại thi sĩ Kinh Bắc, nằm xuống, lũ này than
khóc khủng quá, Gấu bèn lên tiếng, khi
Tố Hữu ra lệnh viết tự kiểm, mà HC phán, ông đéo
viết, thì tình hình đã khác hẳn,
có thể không có vụ Lò Cải Tạo cũng nên,
vị thân hữu, độc giả K, bèn đi 1 đường mail, viết thì
viết, nhưng hãy chờ cho cỏ mọc xanh mộ đã!
Lần HC nằm xuống, Gấu lên tiếng có tí
vội, nhưng để lâu 1 tị, là đếch thèm viết nữa.
Và trong lần đó, Gấu nhớ là, có
nhắc đến trường hợp Brodsky, và 1 tên ‘bạn Hà
Lội” của NTK, đã lầu bầu, làm sao so sánh được, mỗi
trường hợp mỗi khác.
Không phải. Mỗi người mỗi khác.
Brodsky bị bắt, bị đưa ra tòa, bị ban cho cái
án cải tạo, lưu đầy nội xứ, tại 1 nông trường cải tạo
vùng Bắc Hải, sau này, nhìn lại, ông cho
biết đó là quãng đời đẹp nhất trong đời của tôi,
được cùng đau với cả nước, mà quả thật như thế.
Tuy nhiên, vấn đề là, trong khi ngay cả đám
bạn quí của ông hồi đó, trong có thằng
còn nẫng luôn người yêu của ông, chẳng thằng
nào quan tâm, tới bữa ra tòa, chúng quên
béng luôn, hè nhau đi ăn nhậu, thì, riêng
ông, không hiểu bằng cách nào, bèn “mặc
khải”, mình được Chúa cho ra đời, để làm cái
cú này!
Tôi, Gấu Cà Chớn, tin là, HC được Ông
Giời cho ra đời, để hùng dũng phán, ông đéo
viết, khi Tố Hữu ra lệnh, hãy viết tự kiểm, thì ta tha.
Trường hợp này đã xẩy ra rồi, vừa mới tức thời:
Điếu Cày, khi được nhà nước kêu lên, viết
tự kiểm, ta tha, ông phán, ông đéo viết!
Cái sự kiện, không 1 tên nhà văn,
nhà thơ, nhà trí thức Bắc Kít, Hà
Nội nào, tỏ ra áy náy, và viết ra, dù
chỉ 1 dòng, về số phận đám Ngụy, về tù cải tạo,
là quá hiển nhiên.
Chúng vờ hẳn đi, làm như không có
chuyện này.
Cũng như vào lúc này, chúng chửi
Tẫu, vờ hẳn đi, đã từng dâng vợ, dâng con cho
Tẫu, để ăn cướp cho bằng được Miền Nam.
Chúng tôi muốn biết? OK
Trên đường xẻ dọc TS kíu nước, nhìn xuống
“trim” của mình, chẳng anh bộ đội cụ Hồ nào ngạc nhiên
khi thấy hàng chữ “made in China”, thì còn muốn
biết gì nữa?
Gấu cũng muốn biết, tại làm sao cả 1 xứ Bắc Kít
chưa từng có 1 giọt nước mắt nhỏ xuống, vì phải dâng
gái cho Tẫu, vì vợ sĩ quan Ngụy, 13, 17 năm... đằng
đẵng thăm chồng cải tạo?
Câu trả lời cho câu hỏi, chúng tôi
muốn biết, đã được Tolstaya, trả lời, trong 1 bài viết
Gấu được đọc, những ngày đầu đến được trại tị nạn Thái
Lan, Cái Ác CS không phải từ trên trời rớt
xuống đầu dân Mít, hay Bác Hồ mang từ xứ mũi lõ
về. Nó nằm ở những tầng sâu hoang vắng của lịch sử 4 ngàn
năm văn hiến của Bắc Kít, và được ngọn gió độc, là
chủ nghĩa CS thổi tung lên...
Bắc Kít không ăn, mà ăn thịt lẫn nhau
(1)
(1)
Tatyana Tolstaya, trong một bài người viết tình
cờ đọc đã lâu, khi còn ở Trại Cấm, và chỉ
được đọc qua bản dịch, Những Thời Ăn Thịt Người (đăng trên tờ
Thế Kỷ 21), cho rằng, chủ nghĩa Cộng-sản không phải từ trên
trời rớt xuống, cái tư duy chuyên chế không phải
do Xô-viết bịa đặt ra, mà đã nhô lên
từ những tầng sâu hoang vắng của lịch sử Nga. Người dân Nga,
dưới thời Ivan Bạo Chúa, đã từng bảo nhau, người Nga không
ăn, mà ăn thịt lẫn nhau.
Chính cái phần Á-châu man rợ đó
đã được đưa lên làm giai cấp nồng cốt xây
dựng xã hội chủ nghĩa. Bà khẳng định, nếu không có
sự yểm trợ của nhân dân Nga, chế độ Stalin không
thể sống dai như thế. Puskhin đã từng van vái: Lạy Trời
đừng bao giờ phải chứng kiến một cuộc cách mạng Nga!
Về cái sự hèn nhát của đám sĩ phu
Hà Nội, thì phải để chính 1 trong đám
đó, nói ra, thì mới thuyết phục. Đọc hồi ký
Nguyễn Đăng Mạnh, tả con ếch Nguyễn Đình Thi co rúm
người trước con cua Tố Hữu, hay đọc ông con của ông, viết
về Bố, giá Bố tôi bớt hèn đi 1 tị, hay đọc Nhật Tuấn,
trên Blog của anh… Cái sợ của đám này,
là sợ 1 cá nhân Tố Hữu, hơn là sợ Đảng.
Gấu tin rằng, bất cứ 1 cá nhân nào, được
Chúa cho ra đời, là để làm 1 chuyện gì
đó, nhưng, làm hay không làm, thì
lại do chính cá nhân này, quyết định. Brodsky
cảm ngay ra là mình sinh ra đời, để đụng đầu với Đảng,
ở tòa án. Hay Lênin, tôi sinh ra để làm
ra Liên Xô, còn Solz, để huỷ diệt nó. Ông
Nobel Toán, được Noel là để cầm cái đó, dí
vô Lăng Bác Hồ, hô, biến. Sến, là để tạo
ra 1 thiên sứ, thứ thiệt, nhưng bà, chính bà
ta, biến nó thành giả.
Brodsky phán:
Một khi bạn bắt đầu biên tập đạo hạnh, đạo đức của
bạn, cái này nên, cái này không
nên, bạn đang tán tỉnh thảm họa.
When you start editing your ethics, your morality –according
to what is or isn't allowed today - then you're already courting
disaster.
(Trò chuyện với Joseph Brodsky.
Solomon)
Gốc cây mận (nhà
Nguyễn Quang Sáng) - một kỷ niệm xa xôi
NgTrKhoi, Nguyễn Quang Sáng,
Đinh Cường, Trịnh Công Sơn.
Bài hát trình
bày: Đêm thấy ta là
thác đổ
Nhìn bức hình,
thì bèn tin là quả thế thực, và chàng
nhạc sĩ hát rong hầu đàn không chỉ một anh Sáu!
Một khi bạn bắt đầu biên
tập đạo hạnh, đạo đức của bạn, cái này nên, cái
này không nên, bạn đang tán tỉnh thảm họa.
When you start editing your ethics, your morality –according to
what is or isn't allowed today - then you're already courting disaster.
Trò chuyện với Joseph Brodsky. Solomon Volkov.
Một tên như Trần Văn Thuỷ,
khi viết Nếu Đi Hết Biển, nếu
“tử tế”, thì hắn phải "dám" chấp nhận những người nói
ngược lại với hắn ta chứ?
Thay vì vậy, thì là 1 lũ cò mồi.
Có thể nói, tất cả những bản văn của đám
VC này, khi được Mẽo mời qua WJC, để viết về Mít lưu vong,
thì đều giống nhau ở cái mức “vô lại”, vô trách
nhiệm, “miễn xong 1 sô” - chữ của nhà thơ PNH.
Chúng đâu có biết, viết như thế, là
tự làm nhục chúng?
Một khi bạn ngồi hầu đàn
1 tên như NQS, trong khi cả Miền Nam đang đói, khổ, nhục
nhã, tù tội.... không lẽ bạn không biết,
tớ đang tán tỉnh thảm họa?
Lũ Chống Cộng Điên Cuồng, ở chúng, dân Miền
Nam có điều gì thông cảm, thay vì kết án,
tại làm sao không... quên hết thù hận!
V/v Chỉ có
súc vật mới quay lưng lại với đồng loại để chau chuốt bộ da của
mình.
GCC sợ rằng ngược
lại.
Chính cái
sự coi loài vật thua con người là cội nguồn của những
dã man của con người.
Note: Mấy bài về Coetzee
thật tuyệt. Khởi đầu của dã man của con người, là, khi
nó nghĩ nó bảnh hơn loài vật. Ở cuối Vụ Án, Kafka cho K. chết, "như 1 con chó".
Tên “Mít” K nhìn hai ông cớm VC [l'accusé
regardait "les deux messieurs"] đâm lưỡi dao vô tim, như thể
nỗi tủi hổ sẽ sống dai hơn anh ta.
Ngay từ "Những cảnh đời của 1 chú thanh niên", Scènes de la vie d'un jeune garcon, tập đầu của bộ ba
có tính tự thuật, Coeztee đã nhận ra, tủi hổ là
vấn đề trung tâm, la question centrale, của Nam Phi, và chỉ
có chữ viết mới có thể làm cho nó sống động.
Chỉ 1 khi lũ Bắc Kít,
lũ VC nằm vùng, cảm thấy xấu hổ, tủi nhục, khi ăn cướp Miền Nam,
và đẩy xứ Mít vô tình trạng “đồng chí
X”, thì may ra mới hé ra hy vọng. (1)
Cái bìa cuốn “Thượng Đế Đã Chết Trong Thành
Phố”, là của NTK. Cuốn sách, Gấu chưa từng đọc, cho đến
khi ông Nhàn, chủ nhà xb Vàng Son, đưa. Cái tít
cũng của ông.
Chỉ đến khi đọc Kundera, đọc ông vinh danh Malaparte, thì
Gấu mới nhìn lại nó, và khám phá ra,
người dạy Malaparte đạo đức làm người, là 1 con chó!
Kundera đã dành
những trang đẹp nhất của Gặp Gỡ
để vinh danh Malaparte, và làm sao không, vinh danh
con chó của ông.
Gấu & NTK
Thời
gian dịch La Peau
Khi dịch “The Skin”, Gấu chẳng
nhớ gì hết, đâu ngờ câu văn kết thúc ăn sâu
vào tiềm thức, sau bật ra, lại nghĩ, là của mình!
THẮNG TRẬN NHỤC NHÃ LẮM!
Thượng Đế Đã Chết Trong Thành
Phố
Intro
Thượng Đế Đã Chết, khủng khiếp
thực.
Nó nói về Mẽo giải
phóng Ý, và nó tiên tri ra hai cuộc giải
phóng khác, tại Việt Nam. Gấu lập lại, hai cuộc giải phóng.
1. Quân đội Mẽo tới Miền Nam, nhằm giải phóng miền
đất này, thoát cuộc xâm lăng của VC Miền Bắc.
2. VC Miền Bắc giải phóng Miền Nam. Và xoá
sổ nó.
“LA PEAU” : UN ARCH-ROMAN
"La Peau [Làn Da]": Đại Gia - Tiểu Thuyết
10. Memory Turned into a Battlefield
ON THE GREAT STAIRCASE OF A
NEWLY LIBERATED FLOREN-tine church, a group of Communist partisans is executing
some young (even very young) Fascists, one by one. A scene that announces
a radical turn in the history of European life: the victor having drawn
definitive and untouchable frontiers, there will be no more slaughters
between European nations; "war
was dying now, and massacres among Italians were beginning"; hatreds
withdraw to the interior of nations; but even there the struggle changes
its nature: the goal of the fight is no longer the future, the next political
system (the victor has already decided what the future would look like),
but the past; the new European war will play out only on the battlefield of memory.
In The Skin, when the American
army is already occupying northern Italy, partisans execute a local
informer in total security. They bury him in a meadow and, as a monument,
they leave his foot, still in its shoe, sticking up from the earth. Malaparte
sees this and he protests, but in vain; the partisans are delighted at
leaving the collaborator as a ridiculous laughingstock in a warning for
the future. And today we know: the further Europe moved away from the end
of the war, the more it proclaimed it a moral duty to keep past crimes unforgotten.
And as time went on the courts were punishing older and older people, whole
regiments of denouncers were beating the bushes of the forgotten, and
the battlefield stretched into the cemeteries.
In The Skin, Malaparte describes
Hamburg after the Americans dropped phosphorus bombs. To quench the
fire devouring them, the inhabitants were flinging themselves into the
canals that crisscross the city. But the fires drowned by the water
immediately flared up again in the air, so people had to keep plunging
their heads under again and again; this situation went on for days, during
which "thousands of heads would emerge from the water, blink their eyes,
open their mouths, speak."
Another scene where the reality of war surpassed
the plausible. And I ask myself why the managers of memory have not
made that horror (that dark poetry of horror) into a sacred memory?
The memory war
rages on only among the defeated.
11. As Background, Eternity,
Animals, Time, the Dead
"I NEVER LOVED A WOMAN, A BROTHER,
A FRIEND AS I loved Febo." Amid so much human suffering, the story of
this dog is far from being a mere episode, an interlude in the midst
of a drama. The American army's entry into Naples is only a brief second
in history, whereas animals have accompanied human life since time immemorial.
Facing his neighbor, man is never free to be himself; the power of the
one limits the freedom of the other. Facing an animal, man is who he is.
His cruelty is free. The relation between man and animal constitutes an
eternal background to human life, a mirror (a dreadful mirror) that will
never leave it.
The time span of the action in The
Skin is short, but man's infinitely long history is always present
in it. It is through the antique city of Naples that the American army,
the most modern army of all, enters Europe. The cruelty of a super-modern
war plays out before the background of the most ancient, archaic cruelties.
The world that has changed so radically makes clear, at the same time,
what remains sadly unchangeable, unchangeably human.
And
the dead. In peaceful times they only modestly interrupt our tranquil
lives. But in the period described in The Skin, they are not modest; they are active;
they are everywhere; undertakers haven't enough vehicles to carry
them away, the dead stay on in the apartments, on the beds, they decompose,
stink, they are in the way; they invade conversations, memory, sleep:
"I hated these corpses. They were the foreigners, the only, the real foreigners
in the common homeland of all the living."
The
war's closing moments bring out a truth that is both fundamental and banal,
both eternal and disregarded: compared with the living, the dead have
an overwhelming numerical superiority, not just the dead of this war's
end but all the dead of all times, the dead of the past, the dead of the
future; confident in their superiority, they mock us, they mock this little
island of time we live in, this tiny time of the new Europe, they force us
to grasp all its insignificance, all its transience ....
Milan Kundera. Encounter.
The Skin: Malaparte’s Arch-Novel
TV sẽ dịch chương Kundera vinh
danh Malaparte, và cuốn “The Skin”.
Cũng là 1 cách Tưởng Niệm ngày 30 Tháng
Tư sắp tới.
Adieu & Bon Voyage, Nguyễn Quang Sáng!
Note: Thì lâu lâu
cũng phải cho GCC khóc đồng nghiệp Đỏ 1 phát chứ!
“Để không bị lộ bí
mật nơi đóng quân trong rừng, cấp trên đã
ra lệnh may yết hầu con gà trống vì sợ nó gáy.
Nhà văn cho rằng, làm gà trống mà không
được gáy thì thà chết còn hơn”.
Nhà thơ Cách Mạng
30 Tháng Tư, tác giả bài thơ "Quê Hương Mỗi
Người Có Một", cuối đời, cố gáy được 1 lần, khi xì
ra, trên Đài của Đế Quốc Mẽo, VOA, “vế tiếp theo, đếch phải
của tớ”!
Cái này là
giai thoại, Gấu nghe qua bạn quí của Gấu.
Khi nộp đơn xin vô Hội Nhà... Thổ, anh cho biết,
phải có nhà văn VC thứ thiệt đỡ đầu, và, với anh,
đó là NQS.
Và khi có tiếng xì xào giữa đám
"Khỉ Ở Rừng U Minh", NQS bèn "đứng về phe Ngụy", và phán,
nếu nó mà không được vô Hội, thì thằng
nào xứng đáng vô?
Nếu đúng như thế, thì
đây là tiếng gáy của NQS!
Cái cú đưa sĩ quan Ngụy đi cải tạo tại vùng Cực Bắc Bắc
Việt không giống giải pháp chót [final solution]
của Nazi, mà mô phỏng Gulag của Xì. Đúng hơn,
của Nga Hoàng. Tống tù đi Miền Đông Hoang Dã,
lập những trại tù, thành 1 quần đảo, không chỉ đưa sĩ
quan Ngụy, mà là tất cả vợ con họ hàng của chúng.
Cuối cùng, lũ Ngụy chỉ còn 1 quê hương là
Trại Tù, Lò Cải Tạo. Dù có thả chúng
ra, thì chúng cũng không có nơi nào để
mà trở về.
Trên TV có dành 1 trang để viết về cú
độc này, tất nhiên của Thầy của VC, là Xì.
Cuộc
chiến VC Bắc Kít vs Tẫu làm hỏng chương trình tàn
độc này.
|
Trang NQT
art2all.net
Istanbul
Lô
cốt
trên
đê
làng
Thanh Trì,
Sơn Tây
|