nqt
  
Nguyễn Quốc Trụ

I
    

1 2 3 4 5 6 7 8 9
August_15_2017
10 11 12 13 14
15 16 17 18  19
20 21 22 23 24
25


 

Album | Thơ | Tưởng Niệm | Nội cỏ của thiên đường | Sáng tác | Chuyện văn| Dịch thuật | Dịch ngắn | Đọc sách | Độc giả sáng tác |
 Giới thiệu | Góc Sài gòn | Góc Hà nội | Góc Thảo Trường| Lý thuyết phê bình | Tác giả Việt | Tác giả ngoại | Tác giả & Tác phẩm | Tạp ghi |
Text  Scan | Tin văn vắn | Thời sự | Thư tín |
Phỏng vấn | Phỏng vấn dởm | Phỏng vấn ngắn| Giai thoại | Potin | Linh tinh | Thống kê | Viết ngắn |
Tiểu thuyết
|
Kỷ niệm | Thời Sự Hình | Gọi Người Đã Chết| Chân Dung | Jennifer Video
 Thơ Mỗi Ngày|Viết mỗi ngày| Sách & Báo Mới/ Lướt TV/Memo
https://www.facebook.com/quoc.t.nguyen.1
Last Page 



  TIN VĂN TRÊN ART2ALL 



Album

Vườn Xưa

Image may contain: 2 people, people smiling, plant, tree, outdoor and nature



Hàng mới về
New Arrival, Hard Cover.

https://www.economist.com/obituary/2018/05/19/ninalee-allen-craig-died-on-may-1st

Nhân tiện, tờ NKT, May 19 có bài ai điếu Beatrice, quá tuyệt. Đành phải mua số báo. Beatrice là của Dante. Và nếu coi Dante, là... TTT - chàng đếch thèm về Hà Nội. dù sau khi ngỏm - thì Beatrice là cô Hiền trong MCNK. Kiệt đưa Hiền tới đó đó - Hell - rồi trở lại với vợ con!

Image may contain: plant



RIP
Quoc Tru Nguyen shared a memory.
Just now ·
1 Year Ago
See Your Memorieschevron-right
Quoc Tru Nguyen
May 24, 2017 ·

Anonymous
May 23, 2017, 4:08:00 AM

Anonymous
May 23, 2017, 4:08:00 AM

Không biết độ này bác Tin Văn có khoẻ không nhỉ, không thấy trang nhà có bài mới.
Reply
Replies

Anonymous
May 23, 2017, 2:36:00 PM

bác Tin Văn còn đang bựn facebook, khổ thế chứ lị
Anonymous
May 24, 2017, 12:22:00 AM

Ông ấy vẫn còn

Blog NL

TKS

nqt

The New York Review of Books13 hrs ·

A life in literary criticism: how Review writers read and responded to the novels of Philip Roth (1933–2018)






*

'It no longer feels a great injustice that I have to die'.
"Chết là cùng, chứ gì!"
"Tớ đếch cười".
Philip Roth: 'I don't smile'. Photo: AP
In a rare interview, Philip Roth, one of America's greatest living authors, tells Danish journalist Martin Krasnik why his new book is all about death - and why literary critics should be shot.
Wednesday December 14, 2005
The Guardian
Trong một phỏng vấn hiếm, Philip Roth nói với nhà báo Đan Mạch, Martin Krasnik, tại sao cuốn sách mới của ông chỉ nói về cái chết, và tại sao nên đem bắn bỏ mấy thằng phê bình văn học.
Philip Roth ít khi cho đời phỏng vấn, và tôi nhận ra lý do liền lập tức. Không phải ông khó chịu, khó chơi, khệnh khạng: Ông chịu không nổi mấy thằng ngu cứ hỏi đi hỏi lại, cũng chừng ấy câu.

https://www.theguardian.com/books/2018/may/24/philip-roth-explorer-golden-age-dark-corners-jonathan-freedland-appreciation

Philip Roth: explorer of a golden age's dark corners

Kẻ thám hiểm những góc tối của một hoàng kim thời đại

Roth’s work evokes the sense of endless opportunity postwar America seemed to promise

Philip Roth

Tôi không muốn là tên nô lệ của những đòi hỏi của văn chương nữa.
Tại làm sao mà ông nói đã viết rất nhiều cuốn, trong số đó có Némésis và Cú độc chống Mẽo, Le Complot contre l'Amérique, chung quanh ý nghĩ sợ hãi?
Tại sao ông không đặt câu hỏi đó cho Kafka?


* *

*


Xuống phố quơ… vài tờ báo, trên đường đi gặp bác sĩ kiểm tra sức khoẻ Gấu Già. Tháng nào cũng phải đi, vì có những thứ thuốc bác sĩ gia đình phải nhìn thấy mặt, mới kê đơn, theo luật mới của Xứ Lạnh
Nhưng cái số Granta cũ - số 24, Summer 1988, bị cấm tại xứ Ăng Lê, thế mới thú - vớ được ở tiệm sách báo cũ,  trong có bài của Roth mới thực là tuyệt cú mèo!
“His Roth”. “Thằng Cu Roth của Bố Nó!

Với Roth, Gấu có hai kỷ niệm thật là tuyệt vời, vì đều có bóng dáng BHD ở trỏng.

Bạn nào đã đọc Goodbye, Columbus, Phan Lệ Thanh, bồ 1 thời của Nguyễn Đông Ngạc, đã từng dịch ra tiếng Mít -  chắc khó mà quên cái cảnh BHD tắm trong hồ, bơi vô bờ, nhìn anh cu Gấu đứng xớ rớ gần đó, "eh, thằng nhỏ kia, mang cặp kiếng mát kia kìa đến đây cho ta"!

Gấu đã từng chiêm ngưỡng không chỉ 1, mà tới hai lần hình ảnh thần tiên đó!
Tất nhiên, qua tưởng tượng, nhờ đọc Roth.
Hà, hà!

Về cái chuyện đếch thèm viết văn nữa, Roth phán, ta hết còn là 1 tên nô lệ của văn chương rồi.
Gấu cũng có cảm giác đó, khi BHD ra đi!
Hết còn là nô lệ mà sao nghe ra quá đắng cay, chẳng thấy tí hạnh phước nào!

*

Kafka & Roth

Nói đến hết còn là nô lệ, có ngay 1 bài thơ để ăn mừng, trên: Một cuộc phiêu lưu

Nó đến với Gấu vào ban đêm, khi đang ngủ, rằng mi hết còn những phiêu lưu tình ái vớ va vớ vẩn nữa,
Những cuộc phiêu lưu mà Gấu là 1 tên nô lệ.
Thế nà thế lào?
Phi ní tình yêu ư?
Trái tim Gấu lầu bầu…..


Hoàng Đế Cởi Truồng thắng Man Booker năm nay

Miền Nam Việt Nam đọc Roth rất sớm, qua cuốn Goodbye, Columbus, 1959 [Saul Bellow phán, cuốn thứ nhất nhưng không phải cuốn của 1 kẻ mới bắt đầu, "a first book but ... not the book of a beginner"], do Phan Lệ Thanh dịch.
Cuốn này thì thật tuyệt. Quá tuyệt.
GNV làm sao cứ nhớ hoài cái cảnh, em đang tắm trong 1 bể bơi, và ra lệnh cho GNV đứng kế đó, nè, thằng lùn lé đần kia, nhặt cho ta cái kính râm.

Cú sét đánh, mặc khải, tình yêu như trái phá, yêu từ cú nhìn đầu tiên, yêu không là nhìn nhau mà là nhìn về cùng 1 hướng, yêu là chết ở trong hồn 1 tí.... đối với tên nhóc. (1)

Vụ Roth vớ Man Booker, chứng minh “lý thuyết” của bà Huệ, lại mafia Do Thái ban giải thuởng cho 1 tên Do Thái! 

Cái bà nữ giám khảo, "quit job" khi Roth được giải, nhận xét về ông, mới cay độc làm sao, và, thật là đúng: Còn nhiều tác giả đáng được trao giải hơn, so với Roth. Theo Gấu, có thể Man Booker khi trao giải cho Roth, là để "giải lời nguyền" của vị thư ký Nobel, văn chương Mẽo không xứng đáng để được Nobel.

Trong cột báo của mình trên Guardian Review, Callil cho biết bà còn bực mình, vì giải thưởng thất bại trong cái việc vinh danh dịch dọt –danh sách chót gồm những tác giả TQ, TBN, Italy, Lebanese… - Tại sao không 1 trong họ, mà thay vì thế, thì là Roth, “lại một đấng Bắc… Mẽo”

(1) Chỉ mãi tới khi sắp xuống lỗ, thì GNV mới hiểu ra được, tại sao lại nhớ hoài xen này: Gấu đã mong được như vậy.

Bạn còn nhớ cái cảnh, G và anh bạn cùng tới nhà BHD, vào 1 buổi sáng, G nhờ anh bạn đưa giùm cái thư, vì bị cấm cửa. Anh bạn vô, đưa, BHD để cái thư lên bàn, và ra lệnh:

-Anh V. phụ em khiêng cái giuờng.

Khi đó, em mới dọn nhà từ Phan Đình Phùng lên Gia Long.

-Em mày láo quá, nó sai tao khiêng giường cho nó!

-Thế thì sao mày không để tao?
*

Lớp học trò chúng tôi, đa số biết Paris qua... Thanh Tịnh. Con đường tới Paris bắt đầu bằng cảnh: mẹ tôi âu yếm dẫn tay tôi trên con đường làng, tôi vẫn quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tôi thấy lạ. Con đường làng Việt Nam dẫn hai đứa chúng tôi tới những lối đi nơi vườn Lục Xâm Bảo, và bầu trời hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây bàng bạc của Thanh Tịnh, bỗng lẫn vào bầu trời chập chùng Mùa Thu Paris, những chiếc lá vàng rơi trên những pho tượng trần, những bữa cơm tối ăn dưới ánh đèn... ôi chao, tôi lại thấy cảnh này, ở nơi vườn Bờ Rô Sài Gòn, những ngày quen cô bé... 

Cô bé, là, BHD

Gặp Gỡ Cuối Năm

Coetzee điểm Cú Độc Nhắm Vào nước Mẽo, The Plot Against America, của Roth, so sánh Roth với Shakespeare.

Gừng càng già càng cay, Roth has grown in stature as a writer as he has grown older. Ở đỉnh cao của ông, at his best, thì ông vào lúc này đúng là 1 “bi đại tiểu thuyết gia thực sự” [a novelist of authentically tragic scope].
Ở vào cực đỉnh cực, tức phút cực khoái của ông, at his very best, ông có thể vươn tới đỉnh Shakespeare, he can reach Shakespearean height.

Còn bà nữ chủ khảo Man Booker thì chê thậm tệ ông vua cởi truồng:

Ông ta cứ ngày nọ qua tháng kia, lèm bèm hoài về chỉ 1 đề tài [BHD, hà hà], trong bất cứ 1 cuốn nào, mới ra lò, hay ra lò đời xửa đời xưa. Cứ như thể ông ta ngồi mẹ lên mặt bạn và làm bạn hết thở!

TV sẽ giới thiệu bài của Coetzee, thật là tuyệt, tất nhiên! C. gọi Roth là 1 văn hiện thực viết chuyện không thực!

Coetzee viết, một cuốn tiểu thuyết lịch sử, theo định nghĩa, được đặt để trong 1 quá khứ lịch sử [Nguyễn Huệ quả có ra Bắc, thí dụ, nhưng cái hành động nhét cứt, thì chắc là không… chắc lắm đâu, sĩ phu Bắc Kít đừng lo!]. Quá khứ “Cú độc chơi anh Mẽo” không thực. Nó giống 1984 của Orwell, và giông giống cõi của Borges, nếu nhìn từ xa.


Callil said that "he goes on and on and on about the same subject in almost every single book. It's as though he's sitting on your face and you can't breathe".

Callil giải thích, lý do bà không ủng hộ Roth là ông “viết đi viết lại về một chủ đề trong hết cuốn này đến cuốn khác. Thử tưởng tượng mà xem, nếu ông ta ngồi trước mặt bạn, chắc bạn sẽ không thở được”.

Thanh Huyền [eVăn]

Ngồi trước mặt thì thở vưõn cứ được.
Nhưng ngồi lên mặt, thì thua!

Cái bà nữ chủ khảo, kiêm nghề điểm sách này, quả là cực độc! Đúng dân nhà nghề!
Ngồi lên mặt.
Ông vua cởi truồng.
Tuyệt!

Ẩn dụ này, còn nhắm ban chủ khảo Man Booker.
Roth cởi truồng mà mấy vị cứ làm như ông ta trong bộ áo Hoàng Đế! 



ABOUT A MAN

Would get up at night,
go to the mirror and ask:
Who's here?

Would turn, sink to his knees
and stare at snow falling blameless
in the night air.

Would cry:
Heaven, look down!
See? No one is here.

Would take off his clothes and say:
My flesh is a grave with nothing inside.

Would lean to the mirror:
You there, you, wake me,
tell me none of what I've said is true.

Mark Strand: Collected Poems

Về 1 tên đực rựa

Đêm, thức dậy
Bèn đến nhìn vô gương:
Tên nào, đây?

Quay 1 phát, quì, cũng 1 phát
Và nhìn tuyết
Rơi, vô tội vạ,
Trong bầu trời

Vặc, 1 phát, với ông Giời:
Nè, nhìn xuống coi,
Có thằng chó nào ở đây đâu?

Bèn cởi trần cởi truồng và phán:
Trong cái bị thịt bằng da người này
Là 1 cái mả, đếch có gì ở trỏng

Tì vào gương, và lầu bầu:
Mi, ở trỏng
Đánh thức Gấu dậy
Và biểu cho nó biết:
Chẳng có gì ta vừa nói, là thực


VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 17, 2018 : CHÂN DUNG TỰ HỌA

Chân Dung Tự Họa, GCC


Gấu sống, giữa tim và đầu
Chẳng đứa nào chịu đứa nào
Như cặp vợ chồng khủng khẳng

Gấu sống giữa tay trái,
Nhanh như cắt
Nham hiểm, cũng như cắt
Và tay mặt,
Chững chạc, chính trực

Gấu sống giữa tiếng cười khoái trá, và cái cau có
Và bỏ phiếu chống lại chính thằng cha Gấu Cà Chớn
Một hệ thống lưỡng đảng

Chân phải la cà, đong đưa, đú đởn
Chân trái, bổ 1 phát, thẳng và hẹp

Vai phải, giống như một “stripper” đi nghỉ hè (1)
Vai trái đứng thẳng, như anh Bộ Đội Cụ Hồ !

Có thể phán, phần bên phải của Gấu, là để cho đi -“organ donor” –
Và, mặc xác, kệ mẹ - “let alone” - những phần riêng tư còn lại của Gấu

Nhưng, về cặp mắt lé, thì cứ coi như mắt nọ chửi bố mắt kia,
Hay văn vẻ hơn, như ông anh TTT của Gấu an ủi thằng em:
Thần Dionysus gặp thần Apollo!

Chẳng ai mong “thằng khốn” sống sót
Nhưng ly dị là “out of question”

Gấu giả dụ, tay phải, tay trái
Mắt phải, mắt trái,
Giao lưu hòa giải
Trên ngực của Gấu
Ở trong cái hòm – cái quan tài –

Và Bắc Kít, Nam Kít thế là được kíu rỗi
Và trở thành, trọn 1 khối!

(1)
Stripper definition: A stripper is a person who earns money by taking their clothes off in public, especially...

 

-----------------------

 

Self-portrait

 

I live between my heart and my head,
like a married couple who can't get along.
I live between my left arm, which is swift
and sinister, and my right, which is righteous.

I live between a laugh and a scowl
and voted against myself, a two-party system.
My left leg dawdled or danced along,
my right cleaved to the straight and narrow.

My left shoulder was like a stripper on vacation,
my right stood upright as a Roman soldier.
Let's just say that my left side was the organ
donor and leave my private parts alone.

But as for my eyes, which are two shades
of brown, well, Dionysus meet Apollo.

Look at Eve raising her left eyebrow
while Adam puts his right foot down.
No one expected it to survive
but divorce seemed out of the question.

I suppose my left hand and my right hand
will be clasped over my chest in the coffin
and I'll be reconciled at last.
I'll be whole again.

 

Edward Hirsch

 

 

 



Blizzard Song

On black ice,
lady of secrets,
girl of grey eyes,
we passed each other.

Lady of secrets,
your eyes flicked aside;
we passed each other
but I meant nothing to you.

Your eyes flicked aside
between your upturned collar,
but I meant nothing to you,
you were rushing.

Between your upturned collar
your cheeks were two flames;
you were rushing
to your lover;

your cheeks were two flames,
you were bringing heat
to your lover;
passers-by warmed themselves;

you were bringing heat,
scattering snow;
passers-by warmed themselves,
smiling through white stars.

Scattering snow,
you stand in his porch,
smiling through white stars
as you slide your coat off;

you stand in his porch,
with the blizzard's song;
as you slide your coat off
we move into one, spinning

with the blizzard's song,
girl of grey eyes,
we move into one, spinning
on black ice.

DMT: Selected Poems
[D.M. Thomas]


Bài Ca Bão Tuyết

Trên băng đen
Vị phu nhân của những bí mật
Cô gái của đôi mắt xám
Chúng ta đụng nhau

Vì phu nhân của những bí mật
Mắt ngó nghiêng
Chúng ta đụng nhau,
Nhưng Gấu chẳng là gì đối với bà

Mắt bà ngó nghiêng
Nơi cổ áo cao
Nhưng Gấu chẳng là gì đối với bà
Bả đang vội

Giữa cổ áo cao
Đôi má bà như hai đám lửa
Bà đang vội
Tới với người yêu của mình

Má của bà như hai ngọn lửa
Bà mang cái ấm, cái nóng
Tới với người yêu của bà
Bộ hành tự chúng sưởi ấm lẫn nhau

Bà đang mang nhiệt
Tuyết lả tả
Bộ hành sưởi ấm cho nhau
Cười, qua những vì sao trắng

Trong lúc bà tuồn mình ra khỏi chiếc áo khoác
Bà đứng nơi cổng nhà anh ta
Với bài ca của bão tuyết
Trong lúc bà cởi áo khoác
Chúng mình chuyển vào nhau, thành một, quay tròn

Với bài ca bão tuyết
Cô gái với đôi mắt xám
Chúng ta chuyển thành một, quay tròn
Trên băng giá đen.

Image may contain: 4 people, outdoor and nature



http://nhilinhblog.blogspot.ca/2018/05/sinh-nhat-cua-mot-nguoi.html


RG Case

NANCY HUSTON

ROMAIN GARY:

A FOREIGN BODY IN FRENCH LITERATURE
[Romain Gary: Một cơ thể lạ trong cõi văn Tây]

DESPITE HIS HUGE and continuing popularity in France, Romain Gary is not part of the "canon" of postwar French literature. And despite his familiarity with American culture and language (six of his books were written directly in English), he has been virtually obliterated from the memory of North America.

Who was Romain Gary? What I think, after having, over the past year, passionately plowed through virtually all the books written by and about him in French (some thirty-five volumes in all), is that he was not only one of the great writers of this century, but also one of its most unusual and impressive human beings. And what I shall attempt to convince you of is the apparently incredible fact that he gradually came to think of and shape his life as if it were the Second Coming. Romain Gary was a self anointed, self-appointed, self-resurrected and, ultimately, self-crucified Messiah.

There are no simple lessons to be drawn from the life and work of Romain Gary, both of which were imperfect and magnificent. Theydefiinitely do not point toward an improvement of the human species - "I doubt we'll ever invent a new mankind," Gary once said (1973a); and yet, whatever the absurdity of hope, the crucial thing, in his eyes, was to preserve it. He lived obstinately at the heart of this contradiction and laid claim to it just in order to emphasize the irreducible complexity of human beings.
Yes, like you, Romain, all of us are hybrid bastards tossed onto this earth for no reason whatever, condemned to deal as best we can with the noble and the ignoble, the grace and disgrace that inhabit us.
A few months before he slipped the barrel of a .38-caliber Smith and Wesson into his mouth, Romain Gary said in a radio interview devoted to his final novel, Les Cerfs-volants: "I don't always manage to apply to my life the precepts of my books, but this whole book is the story of people who don't know how to despair" [Je n'arrive pas toujours à appliquer à ma vie les préceptes de mes livres, mais tout ce livre est l'histoire de gens qui ne savent pas désespérer] (1979).

This text is adapted from my book Tombeau de Romain Gary (1995).

[Trích trong Lưu vong và Sáng Tạo]

*        

“Lời hứa lúc bình minh”, một cách xuất sắc như văn chương vốn phải như vậy, như thể nói rằng con người ta tuyệt đối có thể lấy hư cấu bao trùm lên thực tại, coi thực tại chỉ là một phản ánh nào đó nhất thời và ngẫu nhiên của trí tưởng. Romain của “Lời hứa lúc bình minh” tự đặt tên cho mình để lôi hẳn cõi sống bên trong ra làm “khuôn mẫu” cho đời thực, còn Romain Gary sau này cũng sẽ tự đặt tên cho mình thành Émile Ajar, bắt cuộc đời chấp nhận thêm một hiện thân khác nữa của ông; khi ấy cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của “giai đoạn Ajar” sẽ là “Cuộc sống trước mặt” (1975), một cách viết lại chính “Lời hứa lúc bình minh”.

Tự đặt tên cho mình

Gấu tính viết về Romain Gary từ lâu lắm rồi, có thể nói, từ khi còn là sinh viên, chưa hề biết ông là ai, nhưng đã gặp một tay mà sau này, đối chiếu với ông, thì cũng cùng nằm trong một ‘truyền thống’, những cá nhân, ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ, mà đã nghĩ ra một cái vai cho mình đóng ở trên cõi đời này rồi!
Hà, hà!
Đừng nghĩ là Gấu này tếu!
Đề tài này, chỉ có một nửa của vấn đề.
Nửa còn lại kia, thì do nhà thơ Rilke nhận ra, khi ông cho rằng, vì ông ra đời, mà một người rất thân thương của ông mất đi.


BORGES AND I 

The other one, the one called Borges, is the one things happen to. I walk through the streets of Buenos Aires and stop for a moment, perhaps mechanically now, to look at the arch of an entrance hall and the grillwork on the gate; I know of Borges from the mail and see his name on a list of professors or in a biographical dictionary. I like hourglasses, maps, eighteenth-century typography, the taste of coffee, and the prose of Stevenson; he shares these preferences, but in a vain way that turns them into the attributes of an actor. It would be an exaggeration to say that ours is a hostile relationship; I live, let myself go on living, so that Borges may contrive his literature, and this literature justifies me. It is no effort for me to confess that he has achieved some valid pages, but those pages cannot save me, perhaps because what is good belongs to no one, not even to him, but rather to the language and to tradition. Besides, I am destined to perish, definitively, and only some instant of myself can survive in him. Little by little, I am giving over everything to him, though I am quite aware of his perverse custom of falsifying and magnifying things. Spinoza knew that all things long to persist in their being; the stone eternally wants to be a stone and the tiger a tiger. I shall remain in Borges, not in myself (if it is true that I am someone), but I recognize myself less in his books than in many others or in the laborious strumming of a guitar. Years ago I tried to free myself from him and went from the mythologies of the suburbs to the games with time and infinity, but those games belong to Borges now and I shall have to imagine other things. Thus my life is a flight and I lose everything and everything belongs to oblivion, or to him.
I do not know which of us has written this page.
[Trans. James E. Irby] 

We have just heard the great name, perhaps the forgotten name, of Robert Louis Stevenson. Of course you all remember that he wrote Jekyll and Hyde, and from Jekyll and Hyde came this page. But in Stevenson's fable the difference between Jekyll and Hyde is that Jekyll is compounded, as all of us, of good and evil while Hyde is compounded of pure evil. And by evil Stevenson did not think of lust, since he did not think of lust as being evil. He thought of cruelty. He thought that cruelty was the forbidden sin, the sin that the Holy Ghost himself would not forgive. Of course the same scheme was used by Oscar Wilde in The Picture of Dorian Gray, not so effectively as Stevenson's, but in my case the difference between Borges and I is other. Borges stands for all the things I hate. He stands for publicity, for being photographed, for having interviews, for politics, for opinions-all opinions are despicable I should say. He also stands for those two nonentities, those two imposters failure and success, or, as he called them: where we can meet with triumph and disaster and treat those two imposters just the same. He deals in those things. While I, let us say, since the name of the paper is "Borges and I," I stands not for the public man but for the private self, for reality, since these other things are unreal to me. The real things are feeling, dreaming, writing-as to publishing, that belongs, I think, to Borges, not to the I. Those things should be avoided. Of course I know that the ego has been denied by many philosophers. For example, by David Hume, by Schopenhauer, by Moore, by Macedonio Fernandez, by Frances Herbert Bradley. And yet I think we may think of it as a thing, And now it comes to me that I am being helped at this moment by no less a person than William Shakespeare. Remember Sergeant Rolles. Sergeant Rolles was a miles gloriosus, a coward. He was degraded. People found out that he wasn't really a brave man. And then Shakespeare came to his aid, and Sergeant Rolles said: "Captain I'll be no longer, simply the thing I am shall make me live, the thing I am." And that of course reminds us of the great words of God: "I am that I am." Ego sum qui sum. Well, you may think I stand simply for the thing I am, that intimate and secret thing. Perhaps one day I will find out who he is, rather than what he is. 

BORGES AT 80: I STAND SIMPLY FOR THE THING I AM 

http://www.tanvien.net/tgtp/tgtp11_borges_toi.html

Hiếm nhà văn được như Borges: ông đi vào truyền thuyết, ngay từ khi còn sống, không như một nhà văn nổi tiếng, mà là một huyền tượng. Trong chuyện Tàu có trường hợp tương tự: Để trốn tránh cơn giận dữ của nhà vua, và cái chết tiếp theo đó, Wang Fo rời cuộc đời, bước vào bức tranh ông vẽ. Trường hợp Borges rắc rối hơn: Sau khi trở thành huyền tượng, ông tiếp tục sống thêm nhiều năm, làm phiền cho chính ông trước tiên, như thể có hai, Borges, và "Borges", và ông đành phải chấp nhận sự nhập nhằng, đôi khi cũng cố gắng trần tình:

Không phải tôi đâu, mọi chuyện là do gã kia, Borges. Tôi, tôi đang đi trên đường phố Buenos Aires, nhẩn nha nhìn phố xá. Tôi nhận được tin tức của Borges, qua bưu điện, nghe đâu ông ta được đề nghị một chân nào đó, hay là được đưa vào một cuốn tiểu sử... tôi thích những chiếc đồng hồ bằng cát, thích nhâm nhi ly cà-phê, thơ xuôi Stevenson, ông ta cũng chia sẻ những sở thích tương tự... Của đáng tội, nếu nghĩ rằng giao tình giữa tôi và ông ta tồi tệ, tôi sống và mặc kệ chuyện đời, miễn sao Borges tha hồ thêu dệt văn chương của 'ông ta', vậy là đủ cho tôi rồi (Borges và Tôi).
Còn nữa: bởi vì số mệnh muốn ông không nhìn thấy gì, vào lúc 45 tuổi, người ta bèn gọi ông là Homer, hoặc Milton, những huyền tượng về thi sĩ mù.
Mặc kệ chuyện đời, nói vậy có khác chi, từ chối làm một điều gì đó, trong đời, để cho gã "chính tôi" kia tha hồ lo chuyện văn chương? Vả chăng,' thêu dệt' nghe chẳng thấy ngợi ca, mà còn ra vẻ ám muội, như thể viết văn là chơi trò ma mãnh, mưu mẹo, giăng bẫy, chẳng có chút cao sang thanh nhã; thôi đành cứ coi đây, những trang viết, cho dù giá trị thế nào đi chăng nữa, là một trong những trò chơi. "Trong nhiều năm, tôi đã cố gắng thoát khỏi ông ta, và đã trải qua, từ những huyền thoại nhăng nhít bên ngoài, cho đến những trò đùa cợt với thời gian và với vô cùng, nhưng những thứ đó bây giờ cũng thuộc về Borges, tôi phải nghĩ ra chuyện khác thôi".
"Borges và Tôi" tận cùng như vầy:
"Không biết ai, trong hai đứa tôi, viết trang sách này".


To Please a Shadow 

When a writer resorts to a language other than his mother longue, he does so either out of necessity, like Conrad, or because of burning ambition, like Nabokov, or for the sake of greater estrangement, like Beckett. Belonging to a different league, in the summer of 1977, in New York, after living in this country for five years, I purchased in a small typewriter shop on Sixth A venue a portable "Lettera 22" and set out to write (essays, translations, occasionally a poem) in English for a reason that had very little to do with the above. My sole purpose then, as it is now, was to find myself in closer proximity to the man whom I considered the greatest mind of the twentieth century: Wystan Hugh Auden.

Cuốn này, nhớ là, được Me-xừ Sao Mai tặng, lần qua Florida dự đám cưới cô con gái. Cả 1 cặp, nhưng Cô Út đem làm từ thiện, nhân ghé tiệm sách cũ, thấy nó, bèn bệ về.
Có hai bài đã được giới thiệu Trong Căn Phòng Rưỡi, và bài Tưởng Niệm bà vợ góa của thi sĩ Osip Mandelstam.
Lần này, tính chơi bài Brodsky viết về Auden, To Please a Shadow.

Khi 1 nhà văn dùng thứ tiếng không phải tiếng mẹ đẻ, người đó làm thế, hoặc là do cần thiết, như Conrad, hay vì tham vọng bừng bừng, như Nabokov, hay vì thèm 1 sự ghẻ lạnh lớn lao hơn, như Beckett.
Đếch nằm trong lũ này, vào mùa hè năm 1977, ở New York, sau khi sống ở xứ này 5 năm, tớ bèn ghé tiệm lạc xoong ở Khu Chợ Cũ và tậu 1 cái máy đánh chữ, và khởi sự viết bằng tiếng Anh, chỉ để thân cận với ông bạn quí của tớ là Auden!

Ui chao, bảnh thật. Lũ Bắc Kít, đa số học tiếng Nga, chỉ để có được 1 địa vị ở 1 xã hội chư hầu của Liên Xô. Lũ Nam Kít, học tiếng Tẩy, tiếng Anh, để có cơ hội bỏ chạy cuộc chiến.

Nhìn lại, xem ra chỉ có thằng cha Gấu Cà Chớn, thằng khốn cố học tiếng Tẩy để viết 1 cái thư cám ơn 1 ông Tây thuộc địa, vì đã cho nó có cơ hội ăn học!

Image may contain: text

Tưởng Niệm Nadezhda Mandelstam

Trong căn phòng rưỡi ( Joseph Brodsky)

VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 27, 2018 : EDWARD HIRSH : POET LAUREATE OF GRIEF


 

 

Yahrzeit Candle
 

Bạn thắp 1 ngọn đèn cầy trên mặt quầy, giữa chúng ta.
Một trầm tư 24 giờ cho bà thân sinh, khi bà chuyển từ cõi thực qua một cõi khác, hai mươi năm trước đây.


Thống khổ, chưng cất
Ngọn bấc, nỗi đau
Hồi tưởng, như thế nào
Sau cơn bịnh ngặt nghèo,
Tới hồi chót bi thương,


Chúng ta đưa bà ra khỏi nhà
Như 1 chuyến hành hương
Và trao bà cho bóng tối
Giải thoát linh hồn của bà vô không gian, như 1 cánh chim


Và trở lại cõi người
Như những kẻ gìn giữ những người đã khuất
Dấy lên u sầu
Kế thừa nguyện cầu


Chúa ơi
Chúng con, những kẻ nguyện cầu
Nhưng không thể tin tưởng
Những đứa trẻ trưởng thành quay qua nhạc cổ xưa
Nhấm nháp mất mát, chén lửa của chúng con

 

 

You've lit a candle on the counter between us,

a twenty-four hour mantra to your mother's passing from one realm to another twenty years ago,

distillation of grief, wick of suffering,
remembrance of how, after the stark drama
of her last illness, the tragic final act,

we ushered her out of her suburban home
like a pilgrim and handed her over to darkness,
releasing her spirit to the air, a wing,

and turning back to each other in light
of our fresh role as keepers of the dead,
initiates of sorrow, inheritor of prayers,

Lord, which we recite but cannot believe,
grown children swaying to archaic music
and cupping the losses, our bowl of flame


https://www.momentmag.com/edward-hirsch-poet-laureate-of-grief
Edward Hirsch — Poet  Laureate of Grief
Nhà thơ với vòng nguyệt quế của nỗi thống khổ

 

I did not know the work of mourning
Is like carrying a bag of cement
Up a mountain at night


The mountaintop is not in sight
Because there is no mountaintop
Poor Sisyphus grief
–Gabriel

 

Tôi không rành cái việc than khóc, tưởng niệm
Chắc là cũng giống như vác tảng đá hay bao xi măng
Lên đỉnh núi vào ban đêm


Đâu thấy đỉnh núi
Mà làm chó gì có đỉnh núi
Ui chao, thật là tội nghiệp cho anh chàng Sisyphus
Với nỗi thống khổ của anh ta!
 

Do you think Americans are uncomfortable dealing with loss?
 

American culture is extremely uncomfortable with grief. People just want you to get over it. I’ve heard from a tremendous number of people who find this hard, Jews and non-Jews. They don’t feel their grief is welcome in the culture. People are very sympathetic for a little while, but then they just want it to be okay. For most of us who suffer major losses, it’s not okay. I don’t think you should go on mourning for the rest of your life, but the experience isn’t only mourning. It’s how to get on with your life. You carry ađượcround this loss inside of you. And as you get to be an older adult, more and more people are carrying that around inside of them.


Ông có nghĩ là người Mẽo không thoải mái gì khi đụng tới mất mát?
Người Mẽo đếch chịu nỗi khổ đau.


Note: Đúng như thế. Thi sĩ Mẽo Robert Hass, không đọc nổi những nhà thơ Nga, như Osip Mandelstam, là vậy. Auden cũng không chịu nổi Mandelstam.

 
Robert Hass, trong bài viết “gia đình và nhà tù, families and prisons” in trong “What light can do”, nhắc tới Mandelstam, ông cảm thấy khó chịu, về cái sự bị hớp hồn của chúng ta đối với nhà thơ, vì vài lý do, but I am uneasy by our fascination with him for a couple of reasons.


Thứ nhất, là sự nghi ngờ, có thể cái sự tuẫn nạn của ông gãi ngứa chúng ta, the first is the suspicion that our fascination exists because his martyrdom flatter us.


Và ông đưa ra 1 nhận định cũng thật thú: Có 1 số nhà thơ có tài, nhưng vì 1 lý do nào đó, thiếu can đảm, và có những đấng đếch có tài, nhưng lại quá thừa can đảm.


Nhân đó, ông lèm bèm tiếp về Akhmatova. Cũng theo cách nhận thức như vậy.


Theo GCC, Robert Hass không đọc được, cả hai nhà thơ trên. Lý do, theo Gấu vẫn là, có 1 cái gì đó thiếu, về mặt độc ác, tính ác, ở những nhà thơ Mẽo như ông, cho nên không đọc ra được những nhà văn nhà thơ của phần đất Á Châu, như Mandelstam, Akhmatova.


Đẩy quá lên bước nữa, có thứ văn chương chúng ta đếch cần đọc, vì chẳng bao giờ nó ngó ngàng đến cái độc, cái ác của con người, nhất là Cái Ác Á Châu, trong có Mít.



VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 16, 2018 : LỤC BÁT CUNG TRẦM TƯỞNG

Nhân nói đến lục bát, mới đọc bài viết của DTL về Lục Bát Cung Trầm Tưởng, và bỗng nhớ tới Phan Nhật Nam, lần “mới” gặp Tháng Tám năm ngoái. Anh phán, lục bát đúng là cửa tử của thơ Mít. Gấu phản biện, phải nói, nó còn là cửa sinh nữa, thí dụ lục bát CTT, lục bát Viên Linh.... và dẫn câu của Brodsky, thơ vần, nói chung, thơ cổ điển... cho thấy rõ sự kém cỏi của những nhà thơ dởm, bắt đầu làm thơ bằng thơ tự do.
Ý này thì Borges cũng đã nói rồi.

Nhưng quả thế thật. GCC rất sợ thơ lục bát của những đấng đếch làm được thơ, đếch phải thi sĩ!

Cứ thấy lục bát là co rúm người lại!

Thơ lục bát Cung Trầm Tưởng còn rất nhiều bài hay, đâu chỉ có mấy bài PD phổ nhạc. DTL, cũng nhà thơ, đúng ra nên viết về những bài được ít nói đến mới phải. Bài viết của bạn ta nhảm, chẳng nói được tí chó gì về cõi thơ lục bát, của CTT, cũng như của nhiều nhà thơ khác.

Hai câu thơ lục bát sau đây của CTT mà chẳng bảnh sao:

Tháng Giêng buốt sẻ đôi đằng
Nửa chì mưa đục, nửa băng giá hồn
[Nhớ đại khái, không biết có đúng không]

GCC cũng có tí kỷ niệm với CTT. Ông có ghé nhà Gấu, khi Gấu chưa có Gấu Cái, [BHD thì cũng không còn, hà hà!], và căn nhà còn là nơi tụ họp bạn Xì Tẩy, và Gấu khi đó nổi danh là "Mòng", và CTT, cũng như MT, là những đại cao thủ trong cõi Xì Tẩy.
Mai Thảo "đến chỉ một lần", sau đó, phán, trên chốn giang hồ, ăn tiền của tụi nó thấy tội quá!
Toàn thứ học đòi đánh Xì, mua con Ách thứ năm, thứ sáu...
Ý MT muốn nói, nhìn thấy trên mặt bàn có ba con Xì rồi, thì thứ Mòng, như Gấu, vẫn tin, còn 1 con nữa nằm trong cỗ bài, đâu có biết là nó là con Tẩy nằm dưới đáy chiếu bài!
Về nick Mòng này, Phạm Đình Chương nói, “lịch sự” hơn. Ông là bạn của Hiếu Chân, ông anh rể của Gấu, và chắc có nghe MT loan truyền về Gấu Mòng.
Và bèn nói với HC, anh có thằng em nổi tiếng “phong nhã” trên chốn giang hồ!

Lên xe tiễn em đi , chưa bao giờ buồn "xế"!

Giới thiệu Cung Trầm Tưởng, tốt nhất, là một người sống cùng thời với ông, và sống những ngày "chưa" chiến tranh, tuyệt vời [chiến tranh chưa hứa hẹn những điều khủng khiếp], của Miền Nam, như ông.
Thời của "Paris có gì lạ không em"? "Ga Lyon đèn vàng", "Cho anh một tí Paris.... "
Những bài thơ tình của thời đó, mới đích thực là thơ "thời cuộc".
"Tình nhớ" mà mắc mớ gì tới phản chiến?, "ông bạn" Đặng Tiến có lẽ đi Paris mất tiêu rồi, không sống "Những ngày ở Sài Gòn", khi đó, nên không cảm nhận ra chăng?
Xin đừng nghĩ là Gấu chọc quê: Những ngày đẹp như thế, bỏ qua, ai mà không tiếc?

Ui chao, mấy cách đây chỉ vài... phút, ông bạn nhà thơ hậu duệ Cao Chu Thần, mail cho Gấu, mà còn nhắc tới cái câu, "Buổi sáng tôi chào Good Evening..." để mà xuýt xoa, cảm khái, tiếc hùi hụi "không khí thời chưa chín" [chưa chiến]

Nơi tôi làm việc là tầng lầu trên cùng một building, bất động sản của người Pháp; tôi là chuyên viên kỹ thuật lo sửa chữa máy móc, trông coi đường dây liên lạc vô tuyến điện thoại, viễn ký, viễn ảnh từ Sài Gòn tới những thành phố lớn, thủ đô các quốc gia trên thế giới. Do hoàn cảnh địa dư, buổi sáng tôi có thể chào buổi chiều, "Good Evening", với một đồng nghiệp ở California; nếu rảnh rang, tôi có thể hỏi thăm hoặc bông đùa đôi câu với một nữ điện thoại viên ở Hongkong, hoặc Tokyo… Buổi chiều, tôi có thể biết thời tiết một Paris buổi sáng; tôi hỏi thăm những đồng nghiệp không bao giờ gặp mặt, có phải tuyết bắt đầu rơi, mùa đông ở nơi xa xôi đó có gì tương tự với những ngày giá lạnh của miền quê hương cũ…

Những ngày ở Sài Gòn (1965)

Giấc mơ Paris chính là giấc mơ phản chiến.
Một mai qua cơn mê, anh bèn đi Paris, anh bèn làm thi sĩ!
*

Gấu này cũng có một vài kỷ niệm với Cung Trầm Tưởng.
Gấu quen ông, cùng thời gian quen... Cao Bồi. Cũng trên cái chiếu xì, tại nhà Gấu. Cao Bồi hình như chỉ ghé một, hoặc hai lần. Hai người hình như cũng không quen nhau. Cái nhà nhà nước cấp, khi Gấu còn độc thân, ở chung cư NBK, sau này, rước Gấu Cái, bằng thuyền, từ Cai Lậy về, đám bạn Xì bèn dạt qua nhà NDT, cũng kế bên, cũng thuộc một chung cư, khác, của Bưu Điện.

Nhưng với thi sĩ, với thơ, tuyệt nhất là những vần lục bát của ông.

Mùa đi bỏ lại gốc dừa cội măng
Tháng Giêng buốt sẻ đôi đằng
Nửa chì mưa đục nửa băng giá hồn

Đọc, một phát, ở trong cái "không khí thời chưa chín" đó, là nó bèn cắm sâu vào hồn bạn.
*

Pamuk, trong Hồi Ức Istanbul, có nói đến cái không khí tuyệt vời trước khi tai họa đổ ập xuống:

Ôi, ôm Em trong tay mà đã nhớ Em những ngày sắp tới [khi ở trong Trại Tù VC]

Đúng là cái không khí của thời của Gấu, thập niên 1960. Viết về cái thời đó, không dễ, cả ở hai phiá của cuộc chiến. Gấu muốn nói, giữa mấy anh VC nằm vùng, và lớp người như Gấu, không thể nào chọn VC được.

Cái bát cơm tám thơm quá thơm, thành ra ngần ngại.
[Câu này là muốn nhắc tới “dụ ngôn” của Nguyễn Đức Quỳnh, CS như chén cơm gạo Tám Thơm, trộn thuốc độc, Quốc Gia như chén cơm gạo hẩm, trộn cứt]

Lạc Đường là một thí dụ. So với nó, thái độ ngậm miệng ăn tiền, [hitman], của HPNT, coi bộ lại.. có lý!
Gấu đọc Lạc Đường, chịu không nổi, thú thực.
Sượng quá, biến thành hà!
[Thân em như củ khoai hà, cho chó chó lảng, cho gà gà chê!]

Điều này, có một tay, viết blog, lạ làm sao tiên đoán được:

Hồi ký và tiểu sử: hai thể loại hung hiểm, có thể làm gãy tay bất kỳ ai dám chạm vào.
Blog Nhị Linh

Nothing reveals a poet's weakness like classic verse and that why it's so universally dodged
Brodsky [Intro to Anna Akhmatova's Poems, selected and edited by Lyn Coffin. Norton]

Không gì tố cáo cái yếu kém của một nhà thơ cho bằng thơ cổ điển, và chính vì thế mà mấy nhà thơ Mít dởm của chúng ta tránh nó như tránh... hủi!

Thơ lục bát: Một duyên phận long đong
TYT

Note: Tay này đặt ngược vấn đề!
Thơ lục bát không long đong, nhưng nhà thơ long đong, nếu đụng vô nó, mà không đủ nội lực.
Đây là nhận định của hơn 1 nhà văn, nhà thơ, trên thế giới, khi cho rằng, ‘truyền thống’, trong có lục bát, tất nhiên, là một thách đố, đối với những nhà thơ dởm, và chính vì nó, truyền thống [ở đây, là lục bát], mà đẻ ra ba thứ thơ nhảm nhí, như tự do, không vần, tân hình thức, những nhà thơ cách tân, canh tân, hậu vệ, mở miệng....!
Trong quá khứ, cũng có hơn 1 nhà thơ Mít, đụng vô lục bát, mà thành công, thí dụ, Cung Trầm Tưởng, [Bùi Giáng nữa, ở 1 số bài, thí dụ như khi ông dịch Apollinaire], Đồng Đức Bốn, Viên Linh, [nhớ đại khái vài cái tên]
TTT phải đến khi vô tù mới trở lại được với truyền thống, một phần là vì hoàn cảnh, cái khó nó bó cái khôn, nhưng theo Gấu, chính ở trong tù ông mới ngộ ra được truyền thống, một phần là do, cái gọi là bạo lực trong thơ của ông tới được cõi viên mãn của nó: thiền.
Source

Cung Trầm Tưởng

Đêm Sinh Nhật

mưa rơi đêm lạnh Saigon
mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi?
mưa hay trời cũng thế thôi
đời nay biển lạnh, mưa bồi đất hoang.
hồn tu kín xứ đa mang
chóng hao tâm thể, sớm vàng lượng xuân
niềm tin tay trắng cơ bần
cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng xưa.
đêm nay trời khóc trời mưa
gió lùa ẩm đục, trời đưa thu về
trời hay thi khóc ủ ê?
cổ cao áo kín đi về buồn tôi.

Nguồn Dac Trung
Cali Tháng Tám 2011

Thú thực Gấu không nghĩ có ngày được đọc lại những trang TSVC. Đọc 1 phát, là kỷ niệm cũ những ngày mới quen Joseph Huỳnh Văn trở lại. Cái truyện ngắn dịch Joyce, anh thích lắm, cái dòng giới thiệu, “mười lăm truyện ngắn trong Dubliners đúng là mười lăm mảnh đời xé ra từ xứ Ái nhĩ lan, từ thành phố Dublin nghèo khổ.”

Không có Joseph, không có Tử Lộc, là GCC không viết cho tờ TSVC. Lúc đó GCC quá chán đời rồi. Quá chán viết nữa. Bao nhiêu bài viết phê bình đọc sách, dịch dọt, vứt thùng rác sạch, thế rồi bây giờ lại được đọc lại, trước khi đi xa, cảm khái chi đâu.

Sau 1975, GCC chỉ còn có 1 người bạn, là Joseph HV.

Trước 1972, thì cũng đã thế rồi. Những lần chịu không nổi, là mò tới anh, anh bày 1 cái chiếu ra ở dưới bếp, không phải chỉ để nhậu, mà là để cho thằng bạn mình ngồi xuống, khóc.

Đến nhà như thế, mà hầu như chưa 1 lần Gấu nói gì với mấy đứa nhỏ, cũng như bà xã anh, dù 1 câu chào hỏi.
Nhớ có lần khóc khủng khiếp quá, rống lên như bò, chắc thế, cả nhà chạy xuống bếp, bà xã anh và mấy đứa nhìn Gấu sợ quá, không hiểu chuyện gì xẩy ra

Lần nói chuyện đầu tiên với bà xã anh, là qua điện thoại, sau khi anh mất. Bà có vẻ bực đám bạn trẻ, sau 1975. Theo Bà, mấy người bạn cùng ngồi bàn cà phê bữa đó giá mà biết anh bị tim, ngất đi, cứ để anh nằm xuống, nghỉ ngơi một lát, có thể anh chưa mất. Họ hoảng quá chở anh tới 1 tay bác sĩ ở gần đó, tay này hoảng quá, kêu chở ngay đi nhà thương, do di chuyển nhiều, vết thương vỡ ra...
Không phải như vậy, theo NDT, cũng có mặt bữa đó. Anh nói, Joseph đang ngồi, gục xuống, và đi liền lúc đó....
Ghi lại ở đây, để gia đình hiểu rõ về lúc ra đi của anh.

Chỉ có mấy người bạn cũ của anh ấy những ngày trước 1975 là tôi còn nhớ, chị viết, trong mẩu giấy gửi anh bạn, nhà thơ HT, thay mặt Gấu tới nhà đốt nén hương trước bàn thờ của anh.

Lạ là GCC không phải thứ hay khóc, trước người khác, tuy bi lụy. Như thể có 1 đấng nào đó biết, GCC rất cần khóc, nên ban cho Gấu Joseph HV. Anh nói, mi bi lụy quá.
Và với NLV: Tội thằng Trụ quá.
Y chang Bà Trẻ của Gấu than thở, uổng quá, mi dư sức đi tu, làm đệ tử Phật, nhưng bi lụy quá, thành ra sống cũng khó, mong gì tu.
Rồi những bài thơ của Joseph nữa. Những bài viết của Tử Lộc.
Cám ơn tất cả các bạn, và… quê nhà, ở bên đó.

NQT

Ui chao, giá mà Gấu đi tu, nhỉ!
Không đi tu thì thờ Cô Ba cũng thế!
Hà,, hà!

Từ trước 1975, đúng hơn, từ lúc xin làm đệ tử Cô Ba, Gấu gần như chẳng gặp bạn văn, đừng nói bạn quí. Điều mà Gấu tự hào, là chưa từng ngửa tay xin tiền bạn, để đi hút, hoặc chích; trước 1975, thì cũng dễ, nhưng cả sau 1975; và điều này là nhờ Gấu Cái, bà lo gia đình, lo mấy đứa nhỏ, Gấu chỉ phải lo cho thân Gấu, về mặt cơm đen!
Bạn C có lần ra Bưu Điện kiếm Gấu, trao tiền [hình như 20 đô, hồi đó quí lắm, của bạn Luận, 1 trong Thất Hiền từ Mẽo gửi về cho], mà còn phải gật gù khen, cậu hơn tớ, tớ chẳng biết kiếm tiền, chỉ trông vào Viện Trợ Mẽo!
Ý anh muốn nói, từ bà con đi thoát được. Nhưng cái cụm từ “Viện Trợ Mẽo” còn có ý nghĩa khác: Thời gian Gấu còn ăn bám bà cụ C, mỗi lần bà cô của bạn C. tức phu nhân Đại Tá Út, tỉnh trưởng Bạc Liêu, về Sài Gòn, là bạn C trịnh trọng thông báo Thất Hiền, Viện Trợ Mỹ tới rồi, hà, hà!
Cho tới khi gặp Joseph.
Biết anh cùng đám bạn cũ của Gấu làm tờ TSVC, Gấu vì quá quí anh nên cầm lại cây viết.
Không phải hoàn toàn không cầm đến cây viết, nhưng chỉ những khi kẹt quá, thì đành ghé VL, lấy tiền, rồi sau đó, viết bài cho tờ TT, trừ.

Sau này, về già, Gấu tự hỏi, giả như tình cờ gặp bạn quí, ngửa tay xin tiền đi chích, thì sao, nhỉ?
Hà, hà!



VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 23, 2018 : ĐÁ / STONE

 

 



Đá
( Stone - D.M. Thomas)



Tập thơ thứ nhất của 1 nhà thơ nên gọi là Đá
Hay Buổi Chiều, diễn tả trong 1 từ
Sự khiêm tốn là 1 phần của trái đất
Sự tốt lành của buổi chiều và đá, quá cả nhà thơ

Cuốn thứ nhì nên có 1 cái tên
Bẽn lẽn, thẹn thò,
Với tính đại cương, tổng quát, lớn lao,
Thí dụ Đời Của Chị Tôi
(Hay, chôm mẹ Nguyễn Tuân
Tóc Chị Hoài!)

Choáng, trong sự kiêu ngạo của nó, còn hơn cả khiêm tốn:
Cái gì gì, “mi làm phiền ta quá, ta bận chồng, bận con, bận làm thơ, bận công việc nhà thờ…. Ta đâu có thì giờ thí cho mi…
Đầm ấm, tinh nghịch, chăm chút, tinh ý, dịu dàng.

Những cuốn thơ sau nên rút vào cõi riêng tư bí ẩn
Như thể chúng ta làm tất cả chỉ cho chúng ta:
Cái gì gì Biển, Những Ngày Ở Sài Gòn, Kiếp Khác..
Nhớ là ghi rõ là ở đường Trương Công Định
Vườn Bờ Rô
Quán

Nơi cuốn sách của mi rớt xuống, mở ra
Như người xưa đánh rớt cây gươm
Bèn ghi dấu ở nơi mạn thuyền

 

Hình như là 7 cuốn cả thẩy
Cuốn thứ bẩy chưa viết, chưa xb
Cuốn mà 1 đứa con nít nghĩ là nó có thể viết
Làm bằng phiến đá vững chãi nhất, và những chiếc lá sáng sủa nhất

Rằng, cả dân tộc Mít tiếp tục sống, nhờ nó!


 

VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 25, 2018 : ANIMAL FARM


          Nhân đọc 1 entry trên FB của 1 vị bằng hữu, điểm cuốn Animal Farm. Cái tít, theo GCC, phải dịch là Trại Loài Vật. “Súc vật”, là 1 từ dùng để chửi, với lũ Ngụy, hay tất cả Miền Nam, mi là đồ “súc vật”, thí dụ.

Orwell

On Animal Farm

For all I know, by the time this book [Animal Farm] is published my view of the Soviet regime may be the generally-accepted one.
But what use would that be in itself? To exchange one orthodoxy for another is not necessarily an advance.
-George Orwell, "The Freedom of the Press"

ANIMAL FARM, as its author later wrote, "was the first book in which I tried, with full consciousness of what I was doing, to fuse political purpose and artistic purpose into one whole." And indeed, its pages contain a synthesis of many of the themes that we have come to think of as "Orwellian." Among these are a hatred of tyranny, a love for animals and the English countryside, and a deep admiration for the satirical fables of Jonathan Swift. To this one might add Orwell's keen desire to see things from the viewpoint of childhood and innocence: He had long wished for fatherhood and, fearing that he was sterile, had adopted a small boy not long before the death of his first wife. The partly ironic subtitle for the novel is A Fairy Story, and Orwell was especially pleased when he heard from friends such as Malcolm Muggeridge and Sir Herbert Read that their own offspring had enjoyed reading the book.
Christopher Hitchens

[Bài viết được dùng làm "Intro" cho ấn bản 2010 của cuốn Trại Loài Vật]

 


Tình hình Orwell viết "Danh sách đỏ" rất tương tự của Hồ Hữu Tường, khi viết Trầm Tư: Trong lúc đếm từng giờ từng phút cái chết đang tới gần. HHT, án tử hình của Diệm. Orwell, bệnh lao phổi giai đoạn chót.

Một ông mơ Đức Phật trở lại với dân Mít. Một ông lo Tây Phương thua Cuộc Chiến Lạnh.

 

 

Từ đi thực tế tới làm một nhà tiên tri

De l’exprérience au prophétisme

Nicole Zand 17 Sept 1982

Nếu ông không đi Catalogne, nếu ông không tận mắt chứng kiến những bạn bè của ông bị thủ tiêu theo lệnh của Moscow bởi những người CS Tây Ban Nha, chắc chắn ông không thể nào viết ra được hai tuyệt tác Trại Loài Vật và 1984, cuốn sau ông vừa hoàn tất là buông cây viết, thở phào một phát, rồi đi. Ấy, quên chưa kể tuyệt tác “Hommage à la Catalogne” [Cuốn này dịch ra tiếng Việt có thể gọi là Giã Biệt Cách Mạng 30 Tháng Tư 1975, bởi vì quả là có một thời kỳ ngắn ngủi, cả nước không nói, nhưng chắc chắn cả Miền Nam say mèm giấc mơ “Tổ quốc ơi ta yêu Người mãi mãi, Từ trận thắng hôm nay ta xây lại bằng 10”, cho đến khi giấc mơ biến thành thực tại giống như ác mộng, “Tổ quốc ơi, ăn khoai mì chán quá, Từ trận thắng hôm nay ta ăn độn dài dài!”]. Hommage là một ghi nhận tuyệt vời, một chứng từ, về cuộc chiến Tây Ban Nha, ở đó, ông khám phá ra, một xã hội không giai cấp ở trong dạng tí ti, microcosme, của nó, cùng lúc ông nhận ra, ở những kẻ chiến đấu "một điều gì rất quái, insolite, rất thê lương, sinistre - một không khí sợ hãi, nghi kỵ, bất an, bất trắc, và thù hận”. Giống như một bầy chuột.

Con người này, Orwell, không hề biết sợ hãi, bạn bè của ông xác nhận điều này, nhưng suốt đời bị ám ảnh bởi những con chuột.
 


http://nhilinhblog.blogspot.com/…/van-chuong-mien-nam-ho-hu…

Văn chương miền Nam: Hồ Hữu Tường (1)

Đã đến lúc có thể nói đến một trong những nhân vật đặc biệt nhất của miền Nam một thuở, Hồ Hữu Tường.
NL

“Danh sách Orwell” (1949), có thể được coi là một “Trầm Tư” của ông, giống như của Hồ Hữu Tường: Từ cuộc chiến Tây Ban Nha, Orwell biết rất rõ cái gọi là guồng máy CS [bỗng nhiên Gấu lại nhớ tới Nguyễn Đức Quỳnh và những buổi Đàm Trường Viễn Kiến của ông, những ngày liền sau 1954 tại Sài Gòn. Tờ Sáng Tạo, lúc đầu cũng có ý định này: báo động về một guồng máy thâm hiểm của VC], những điệp viên của nó, cách hành xử tàn nhẫn vô nhân đạo của nó, thông qua quyền lực, hay, một khi nắm được quyền lực. Chẳng thua gì Koestler, ông không hề có một tí ti ảo tưởng về thực tế Xì ta lin nít. Cuộc xâm lăng Đông Âu của các “đảng anh em" cũng làm ông tỉnh thêm ra.

http://www.tanvien.net/tgtp_02/Yann_Martel.htm

Trại Loài Vật là thí dụ tuyệt hảo về những điều mà văn chương có thể đem đến cho chúng ta: một thứ lịch sử cầm tay. Một độc giả chẳng biết tí gì về thế kỷ thứ 20, Stalin là thằng chó nào, Trốt Kít quái vật hả, Cách Mạng Tháng 10 quái thai ư: Trại Loài Vật sẽ chuyên chở tới cho vị độc giả đó cái cốt yếu, cốt tủy về điều gì đã xẩy tới cho những người láng giềng ở bên kia Bắc Cực của chúng ta [dân Canada]: Cái quái thai, tởm lợm, bại hoại của một lý tưởng [giải phóng, thống nhất đất nước, thí dụ], sự hư ruỗng, thối nát của quyền lực, sự lạm dụng ngôn từ, sự băng hoại của cả một quốc gia – tất cả đều có ở trong đó, chỉ trong một tiếng nấc của trên trăm trang sách. Và khi đọc những trang này, độc giả trở nên minh mẫn hơn, nhờ uống 'lầm' thuốc độc chính trị! Điều này thì cũng là văn chương: Sự tiêm chủng vắc xin!

Ui chao, đúng là trường hợp đã xẩy ra cho GNV: Giả sử những ngày mới lớn không vớ được Đêm giữa Ngọ, thì thể nào cũng nhẩy toán, lên rừng làm VC, phò Hoàng Phủ Ngọc Tường, đúng như một tên đệ tử của Thầy Cuốc 'chúc' Gấu!
Đoạn trên thật là tuyệt cú mèo, nhưng thua… Brodsky khi ông viết về thơ, về Kinh Cầu: "Ở vào một vài giai đoạn của lịch sử, chỉ có thơ mới có thể chơi ngang ngửa với thực tại, bằng cách nhét chặt nó vào một cái gì mà nhân loại có thể nâng niu, hoặc giấu diếm, ở trong lòng bàn tay, một khi cái đầu chịu thua không thể nắm bắt được. Theo nghĩa đó, cả thế giới nâng niu bút hiệu Anna Akhmatova."

Và bây giờ cái lý do rất cá nhân tại sao tôi viết ‘mấy lời’ gửi ông, kèm cuốn Trại Loài Vật: người Do Thái Âu Châu, bị Nazi sát hại cũng cần có lịch sử của họ, dạng cầm tay. Và đó là điều tôi cố gắng làm với cuốn sách tới của tôi.
Nhưng căng lắm đấy, tôi tự nhủ tôi, làm sao sàng lọc từ đống rác lịch sử, [lịch sử Mít cùng cuộc chiến đỉnh cao của nó] với bao nhiêu là máu, là lệ, vào một tiếng nấc, của vài trang [Tin Văn], làm sao biến sự ghê rợn, điều tởm lợm, kinh hoàng thành một điều gì nhẹ nhàng ư ảo, [trên không gian net], chẳng ngon cơm một tí nào đâu!

__________

 

a2a : Đọc từ internet

ANIMAL FARM

TRẦM TƯ CỦA MỘT TÊN TỘI TỬ HÌNH

VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 27, 2018 : NHỮNG BÀI VĂN SỬ


 

Note: Không biết cuốn này, TCDT có cho xb ở trong nước hay không?

Trong những cuốn sách của “bạn ta”, Gấu mê cuốn này nhất, nhất là cái câu bạn phán, trong bài Tựa: Nếu cứ nghiêm túc một cách khắt khe thì văn chương quả có hại cho sử học.

Nhưng liền đó, bạn trích dẫn 1 ý, mà chẳng thú ư:.... các tác giả như A. Dumas-père thường 'đẻ ra những đứa con hoang khoẻ mạnh hơn cả (1) lịch sử"?

Ui chao, liệu có thể coi những tác phẩm văn học mang tính lịch sử của một NHT, thí dụ, khoẻ mạnh hơn lịch sử Mít, thời vừa qua?

(1)

TCDT dùng chữ "của", Gấu đổi là "cả".
Ý của TCDT, những đứa con khỏe mạnh “của” lịch sử. Của Gấu, khỏe mạnh hơn “cả” lịch sử.
Chỉ 1 chữ thay đổi, khác hẳn đi.
Chết chỉ vì 1 cái dấu phẩy là vậy.


Lần Gấu đọc 1 bài thơ dịch Brodsky của đấng Mít Butor, không có bản tiếng Anh tiếng Tây đính kèm. Đọc 1 phát là như bị ai “đấm” vô mặt, và lẩm bẩm, làm sao lại có 1 ông Brodsky “máu” đến như thế này! Thế là đành phải đi kiếm bản dịch tiếng Anh của bài thơ.

Hóa ra dịch giả muốn lấy lòng VC, vì ông này vẫn tự hào, người đầu tiên đem Brodsky đến cho độc giả Mít, thế là ông bèn sửa mẹ câu thơ đi, cho hợp ý nhà nước VC, theo đúng truyền thồng, "Thơ có thép", “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. (1)

NQT

(1)
Nhân chuyện nói không với cuộc chiến [nói không với phong bì là cũng thuổng của Gấu đấy!], và nhân đọc thơ Brodsky (1940-1996), do Hoàng Ngọc Biên dịch, đăng trên Tiền Vệ, Gấu tôi xin ghi ra đây.

Odysseus nói với Telemachus

Telemachus con yêu của ta,
Cuộc chiến thành Troy
giờ đây đã kết thúc; ta không còn nhớ ai đã thắng trận.
Người Hy lạp, hẳn thế, bởi cho đến nay chỉ có họ
mới có thể đánh gục được nhiều người đến vậy khi xa quê hương mình.
[HNB dịch]



Bản tiếng Anh

[Collected Poems in English]
Odysseus to Telemachus

My dear Telemachus,
The Trojan war
is over now; I don't recall who won it.
The Greeks, no doubt, for only they would leave
so many dead so far from their own homeland.

Câu trên, ông bố nói với thằng con, ta đếch thèm nhớ, ai thắng trận.
Câu dưới, ông bố quả quyết, chắc chắn mấy thằng... VC, ấy chết xin lỗi, mấy thằng Hy Lạp, bởi vì chỉ chúng nó mới dám đi xa quê hương của chính chúng nó. Để... ăn cướp!

Nhưng Brodsky viết, họ "để lại nhiều xác chết", chứ không phải "đánh gục nhiều người".
Nhà thơ không hề phân biệt, giữa rất nhiều xác chết đó, cái nào "được" coi là... liệt sĩ, cái nào "bị" coi là... Nguỵ.
 

------------------------


Bình luận

Ngô Nhật Đăng:
Chỉ có Một khoảnh khắc VNCH nối dài là không in trong nước thôi anh.




VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 24, 2018 : THE HOUSE OF DREAMS

  

 


Image may contain: 1 person, closeup and text




O Michele, Ma Belle


Michelle, ma belle
Sont des mots qui vont très bien ensemble
Très bien ensemble


[Intro]
Michelle, ma belle
These are words that go together well
My Michelle

[Chorus]
Michelle, ma belle
Sont des mots qui vont très bien ensemble
Très bien ensemble

[Verse 1]
I love you, I love you, I love you
That's all I want to say
Until I find a way
I will say the only words I know that
You'll understand

[Chorus]
Michelle, ma belle
Sont des mots qui vont très bien ensemble
Très bien ensemble

[Verse 2]
I need to, I need to, I need to
I need to make you see
Oh, what you mean to me
Until I do I'm hoping you will
Know what I mean

I love you

I want you, I want you, I want you
I think you know by now
I'll get to you somehow
Until I do I'm telling you so
You'll understand

[Chorus]
Michelle, ma belle
Sont des mots qui vont très bien ensemble
Très bien ensemble

[Outro]
I will say the only words I know that
You'll understand, my Michelle

The Beatles

Note: Gửi thêm bài này nữa, cho Ma Belle Michelle - Em ra lệnh, cấm chụp hình -

You Are on Some Road
The evening star
trembling in blue light

The red star
breaking through the dusk
like acetylene

The Orion stars
blossoming
like desert flowers

Even the Pleiads
sharply visible
like children in white
on a dark street

Tribes of stars
never seen before
drumming beyond the drift
of the Coal Sack

You are on some road

D.M. Thomas: Selected Poems



Em của Gấu thì đang ở trên 1 con đường nào đó

Ngôi sao buổi chiều
Run rẩy trong ánh sáng xanh

Ngôi sao đỏ
Băng 1 phát, qua buổi chạng vạng
Như acetylene

Chòm sao Orion
Nở rộ
Như hoa sa mạc

Ngay cả chùm Pleiads,
thì cũng thật rõ nét
Như những đứa bé trong màu trắng
Trên con phố tối

Những bộ lạc sao
Chưa từng nhìn thấy bao giờ
Đập đập những hồi trống
Quá cả vùng mây Coal Sack phiêu dạt

Em của Gấu
Đang trên con đường nào đó
Ở San Diego.

Thêm bài nữa, cũng của D.M. Thomas, cũng về Seagull của GCC.

Friday Evening

You are on the train crawling across country towards me.
I am in the car driving to a half-way station.
You are switching on the overhead reading-light.
I am switching on the car sidelights.
You are losing yourself in a book.
I am losing myself in a poem.
I know this road like the palm of your hand.
To give up is as desperate as to go on.
You lean your head on the glass, speckling with rain like sperm.
I switch on the wipers.
Dusk deepens.
The station will always be there to meet us,
Unable to go even when the last train is in,
Even when the sun flickers low, a waiting-room fire.

Chiều Thứ Sáu


Em đang ở trên chuyến xe lửa bò qua miền đồng bằng, về phía GCC
Gấu thì đang lái xe hơi tới 1 ga xe lửa ở cuối cuộc đời
Em bèn bật cái đèn đọc sách ở phía trên đầu 
Gấu loay hoay hì hục với mấy cái đèn bên
Em mất hút cùng với cuốn sách đang đọc
Gấu mất Gấu trong 1 bài thơ – đúng là bài này!
Gấu biết rõ đường đi, như lòng bàn tay Seagull
[Không giống cái lần Em ghé thăm Gấu ở Tiểu Sài Gòn
Gấu phải phôn cho NKL nhờ chỉ đường]
Chịu thua có nghĩa là thất vọng, chán chường,
Như cứ thế tiếp tục
Em của Gấu tì trán lên kính
Ngắm mưa rơi
Như 1 lần ở Sài Gòn, với em CM tưởng tượng:
Have you ever the seen the rain?
Gấu bật cái gạt nước xua đi nỗi nhớ - thuổng Phạm Tiến Duật.
Choạng vạng chạng vạng thêm
Ga xe lửa thì luôn luôn ở đó, sẵn sàng gặp Đôi Gấu
Không thể đi đâu, ngay cả khi chuyến xe lửa cuối cùng đang lừng khừng bò vô
Ngay cả khi mặt trời le lói thấp
Trong ánh lửa phòng đợi. 

Image may contain: text



The Penguin Poets

Erotic, horrific, eulogistic, these poems reflect many of the themes that D. M. Thomas explored in his best-selling masterwork The White Hotel-exile, sexual love, the influence of the personal and collective unconscious-as well as his love for the harsh and beautiful landscape of Cornwall. Selected by Mr. Thomas from five previous volumes, these poems confirm his reputation as a writer of ranging and fertile imagination.

Ướt át, ghê rợn, hoan khúc…  những bài thơ này phản ánh rất nhiều đề tài D.M Thomas khai triển trong tuyệt tác best-seller Khách Sạn Trắng – lưu vong, tình dục, ảnh hưởng của tiềm thức cá nhân hay tập thể  - cũng như là tình yêu của ông với phong cảnh miền đất Cornwall.
Note: Cuốn thơ này, đồ thải ra từ 1 thư viện công cộng ở Toronto, GCC có được, nhân 1 lần ghé 1 tiệm sách cũ.




  TIN VĂN TRÊN ART2ALL 



Album


Note: Có mấy bức hình về Buổi Sáng Địa Trung Hải của Camus, nhưng không tiện trình ra trên Trang Nhất. Xin mời...

VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 24, 2018 : THE HOUSE OF DREAMS

Căn nhà của những giấc mơ

The House of Dreams

D.M. Thomas: Selected Poems


Một căn nhà tốt, làm bằng gỗ tếch
Xung quanh là rừng.
Đằng sau cõi giá lạnh thẳm sâu
Một tay “bushmaster” có thể làm mi ngạc nhiên, kinh ngạc.

Khách sạn trăng mật,
Được người còn sống, kẻ đã chết, thăm viếng
Họ chia sẻ cùng chiếc tắc xi,
Và tên khùng làm rối bét những ‘dành riêng, đặt chỗ trước’
Họ yêu mi
Họ có đó để được yêu

Chúa Giê Su thì ở trong máng cỏ.
Những người chăn cừu đã tới
Có điều gi đó, cái gì gì, “hình như là tình yêu”,
Hay là, “yêu mọi người”
Và mi có thể ngạc nhiên
Rằng cái thiệp mời, vô tình đánh rớt,
Đã được nhặt lên hai mươi năm sau

Trong một căn phòng -quầy rượu với những tấm màn màu tím
Có 1 em da đen chơi cái cóc-xê đen
Chơi dương cầm
Có bóng rổ
Có TV
Và một căn phòng dành cho cô đơn

Nữ thi sĩ Sappho thì có ở đó, và Jung, và Freud
Và cô gái cùng đi với mi trên chuyến xe lửa.
Cô thò người ra khỏi cửa sổ,
Và phán:
Ta muốn mi đi cùng với ta.
Họ yêu mi, tên Gấu Cà Chớn của ta
Họ có đó, là để được yêu
Losa Montez thì đang khiêu vũ với nường mọi đen

 

----------------------------

 

The house of dreams

 

It is a good house, and made of teak,
surrounded by a forest. Behind the deep-freeze
a bushmaster may surprise you, surprised.


It is a honeymoon hotel
visited by the dead and the living.
They share the same taxis, and a fool
has muddled all the reservations.
They love you. They are to be loved.


Jesus is in the manger. Shepherds have come.
It is something about loving everyone
and you may be surprised
that the casually dropped invitation
has been taken up, twenty years later.


In an ornate bar-room with purple drapes
there is a negress in a black corset
playing the piano. There is a croquet
and television, and a room for loneliness.


Sappho is there, and Jung, and Freud,
and the girl you shared a train journey with,
who leaned out the window and said,
«I wish you were coming with me».
They love you. They are to be loved.
Lola Montez is dancing to the negress

 

 

 


Image may contain: 1 person, closeup and text




O Michele, Ma Belle


Note: Gửi thêm bài này nữa, cho Ma Belle Michelle - Em ra lệnh, cấm chụp hình -

You Are on Some Road
The evening star
trembling in blue light

The red star
breaking through the dusk
like acetylene

The Orion stars
blossoming
like desert flowers

Even the Pleiads
sharply visible
like children in white
on a dark street

Tribes of stars
never seen before
drumming beyond the drift
of the Coal Sack

You are on some road

D.M. Thomas: Selected Poems

Image may contain: text




The Streets

My soul is in the streets
of Buenos Aires.
Not the greedy streets
jostling with crowds and traffic,
but the neighborhood streets where nothing is happening,
almost invisible by force of habit,
rendered eternal in the dim light of sunset,
and the ones even farther out,
empty of comforting trees,
where austere little houses scarcely venture,
overwhelmed by deathless distances,
losing themselves in the deep expanse
of sky and plains.
For the solitary one they are a promise
because thousands of singular souls inhabit them,
unique before God and in time
and no doubt precious.
To the West, the North, and the South
unfold the streets-and they too are my country:
within these lines I trace
may their flags fly.
-S.K.
Borges


Những con phố

Hồn Gấu ở trong những con phố Sài Gòn
Không phải những con phố tham lam,
với những đám đông xô đẩy, xe cộ chèn ép
Nhưng những con phố với những ngõ hẻm, khu xóm, nơi chẳng có gì đang xẩy ra
hầu như là vô hình do sức mạnh của thói quen,
được cái thứ ánh sáng nhàn nhạt, yếu ớt của buổi hoàng hôn
làm thành bất tử.
Và những khu xóm xa hơn tí nữa, những Ngã Ba Chú Ía, Ngã Năm Chuồng Chó, Cây Da Xà, thí dụ;
trống rỗng, không hàng me Nguyễn Du với ly cà phê ấm lòng buổi sáng
Nơi những căn nhà nhỏ khắc nghiệt chẳng hề mơ tưởng chuyện phiêu lưu
Bao phủ bởi những khoảng cách vời vợi
Tự xoá nhòa vào khoảng không sâu thẳm
Của bầu trời và đồng bằng
Với 1 kẻ cô đơn như Gấu, thì chúng là một hứa hẹn,
Bởi vì hàng ngàn linh hồn bướm lẻ loi, mình ên ngụ ở đó
Độc nhất trước Thượng Đế và đúng lúc
Và chẳng hồ nghi
Cực quí giá.
Về hướng Tây, hướng Bắc, hướng Nam
những con phố trải dài mãi ra – và chúng là xứ sở của Gấu
Trong những dòng thơ này, Gấu vẽ ra, và cầu chúc
Cờ Ba Que phất phới!



VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 27, 2018 : LORCA

 

  

LORCA

D.M. Thomas

Lorca - TTT lang thang ban đêm


Nơi phố đèn đỏ
Bỗng nghe một bướm đêm đi 1 đường Lệ Đá Xanh, phổ từ thơ của chính mình!
Chàng xúc động
Như thể sao và đèn đổi chỗ cho nhau
Bài thơ, nỗi tủi nhục, nói cho cùng
Chúng cũng đổi chỗ cho nhau
Và chẳng ‘thuộc về” bất cứ 1 ai!
Khi em ngưng hát
Đời cứ thế tiếp tục, it went on
Cái chết phải là 1 điều tệ hại
Một điều tệ hại

 

-------------

 

Lorca


Lorca

walking

in a red-light

district at night

heard one of his own songs

being sung

by a whore

 

he was moved

as if the stars

and the lanterns

changed places

 

neither the song

to himself belonged

nor the girl

to her humiliation

nothing belonged

to anyone

 

when she stopped singing

it went on


death must be a poor thing

a poor thing

 

D.M. Thomas
 

 




VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 23, 2018 : LAY BACK THE DARKNESS

 

 VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 23, 2018

 

 

                  

Lay Back the Darkness

Edward Hirsch: The Living Fire

 

Đẩy lùi bóng tối



Ông tớ lần mò suốt đêm, nơi hành lang, từ phòng này qua phòng khác
Như thể ông có 1 “mission” u ám nào đó

Hỡi các linh hồn,

hãy giúp tớ, thằng Cu lùn của ông,
nhập vào cơn mơ của ông tớ
Và làm ông hết còn lục đục

Đẩy lùi bóng tối cho 1 anh mại bản
Kẻ có thể mê hoặc mọi thứ, trừ những cái bóng

Một tên di dân
đứng ở bậc thềm
của một đêm bao la

Không xe chống, hay gậy chống
Và không thể nhớ điều ông muốn nói

Tay phải giơ lên, như tính tiên tri
Trong khi trái thì vung vẩy, vẫy vẫy 1 cách vô ích,
Như tính báo động, hay cảnh báo

Ông tớ lần mò suốt đêm, hết phòng này qua phòng khác
chẳng còn là người ông, người cha, hay người chồng nữa


mà chỉ là một thằng bé đứng ở mép rừng
Lắng nghe tiếng hú xa xa của những con chó sói,


tiếng của những con chó hoang,
tiếng đập cánh của loài thú thuở hồng hoang,
xào xạc trên đỉnh cây

 

 

LAY BACK THE DARKNESS


My father in the night shuffling from room to room
on an obscure mission through the hallway.


Help me, spirits, to penetrate his dream
and ease his restless passage.


Lay back the darkness for a salesman
who could charm everything but the shadows,


an immigrant who stands on the threshold

of a vast night


without his walker or his cane

and cannot remember what he meant to say,


though his right arm is raised, as if in prophecy,
while his left shakes uselessly in warning.


My father in the night shuffling from room to room
is no longer a father or a husband or a son,


but a boy standing on the edge of a forest
listening to the distant cry of wolves,


to wild dogs,
to primitive wingbeats shuddering in the treetops

 

 




Robert Frost: Acquainted with the Night ( Làm quen với đêm)




ACQUAINTED WITH THE NIGHT

I have been one acquainted with the night.
I have walked out in rain—and back in rain.
I have outwalked the furthest city light.

I have looked down the saddest city lane.
I have passed by the watchman on his beat
And dropped my eyes, unwilling to explain.

I have stood still and stopped the sound of feet
When far away an interrupted cry
Came over houses from another street,

But not to call me back or say good-bye;
And further still at an unearthly height,
One luminary clock against the sky

Proclaimed the time was neither wrong nor right.
I have been one acquainted with the night.

~~oOo~~

 


LÀM QUEN VỚI ĐÊM

 

Tớ là kẻ làm quen với đêm
Tớ bước ra ngoài mưa, rồi trở lại trong mưa
Tớ lang thang thật xa, xa nhất, ánh sáng thành phố

Tớ nhìn xuống lối đi buồn nhất thành phố
Tớ đi ngang qua một người gác đêm đang đi tuần
Mắt xịu xuống, tớ không tính phân trần với ông ta

Tớ đứng sững, và bèn ngưng tiếng chân của tớ
Khi xa xa vọng tới một tiếng khóc nức nở
Vượt qua những mái nhà, từ một con phố khác

Nhưng không kêu tớ trở lại, hay nói, bye bye
Và vẫn xa ơi là xa, ở một nơi chốn thật cao, không thuộc cõi trần tục này
Một cái đồng hồ treo tường lấp lánh chống lại bầu trời

Đòi điệc, cấm kiếc thời gian thì đếch sai, đếch đúng, cái con mẹ gì hết
Tớ là một kẻ làm quen với đêm


Borges Tám Bó


BARNSTONE: I wonder whether we could finish our talk by your saying something about Robert Frost. Perhaps you remember by heart his poem "Acquainted with the Night"?

BORGES:

I have been one acquainted with the night.
I have walked out in rain—and back in rain.
I have outwalked the furthest city light.

And at the end, we get the same line "I have been one acquainted with the night." In the beginning, at the first reading, you think that acquainted with the night means: I have walked through a city at night. But then you foresee, as you come to the last lines, that the night stands for evil, especially for sensual evil as felt by a Puritan, because

One luminary clock against the sky
Proclaimed the time was neither wrong nor right.
I have been one acquainted with the night.

And that, I think, is the chief achievement of Frost. He could write poems that seem simple, but every time you read them you are delving deeper and finding many winding paths and many different senses. So Frost has given us a new idea of metaphor. He gives us metaphor in such a way that we take it as a simple, straightforward statement. And then you find that it is a metaphor. "And miles to go before I sleep/ And miles to go before I sleep." There we see that the same words have two different meanings. In the first of the last two verses, the words stand for miles and going and sleeping. And in the last line, sleep stands for death. But in a very unobtrusive way. He was a shy man, I suppose. But I think of him as being, perhaps, the greatest poet of the century, if "greatest poet" means anything. I think of Frost as being perhaps a finer poet than the other candidate, and that would be William Butler Yeats. I prefer Frost, but that would be a personal bias. Of course I revere Yeats. When I think back to such lines as "That dolphin-torn, that gong-tormented sea." That of course is gorgeous writing, the kind of writing that Frost tried to avoid, that I try to avoid also. But Yeats could also write straightforward verses. For example:

How can I, that girl standing there,
My attention fix
On Roman or on Russian
Or on Spanish politics?

Then:

And maybe what they say is true
Of war and war's alarms,
but a that I were young again
And held her in my arms!
Quoc Tru Nguyen
23 mins ·

Image may contain: one or more people and text


BARNSTONE: I wonder whether we could finish our talk by your saying something about Robert Frost. Perhaps you remember by heart his poem "Acquainted with the Night"?

BORGES:

I have been one acquainted with the night.
I have walked out in rain—and back in rain.
I have outwalked the furthest city light.

Tôi tự hỏi có nên kết thúc cuộc lèm bèm của chúng ta bằng 1 câu ông phán, về 1 điều gì đó về Robert Frost. Có lẽ ông thuộc lòng bài thơ "Làm Quen Với Đêm" của ông ta?

Borges:

I have been one acquainted with the night.
I have walked out in rain—and back in rain.
I have outwalked the furthest city light.
Tớ là kẻ làm quen với đêm
Tớ bước ra ngoài mưa, rồi trở lại trong mưa
Tớ lang thang thật xa, xa nhất, ánh sáng thành phố

Và ở khúc cuối, chúng ta có cũng dòng thơ “Tớ là kẻ làm quen với đêm”. Ở khúc bắt đầu, lần đầu đọc, bạn nghĩ “làm quen với đêm” nghĩa là, tôi qua thành phố vào ban đêm. Thế rồi bèn ngửi ra, khi bạn đọc tới dòng chót, rằng đêm, thì đứng sừng sững cho cái gọi là Chí Ác - từ này mới phịa ra được, nhân đọc một nhà phê bình khen thơ nữ thi sĩ Khánh Minh: (1)

http://phovanblog.blogspot.ca/

Saturday, May 19, 2018
ÁNH SÁNG NGÔN NGỮ MỘT LẦN TRONG XỨ SỞ CHIÊM BAO

Tô Đăng Khoa

Đó là đồn lũy cuối cùng của Chí Thiện trước vòng phong tỏa của muôn trùng cái Ác. Sự “dị thường” của việc nhận ra “xứ sở chiêm bao” này là: cái Ác không còn khả năng làm ta nao lòng nữa. Sau khi đọc xong tản văn thi của Nguyễn Thị Khánh Minh, niềm tin nơi cái Chí Thiện của chúng ta được xác lập – hà hà ! - nhất là cái ác mùi mẫn cực/cụp/ lạc, esp for sensual evil, như được 1 tín hữu Thanh Giáo, a Puritan - cảm nhận, bởi là vì:

One luminary clock against the sky
Proclaimed the time was neither wrong nor right.
I have been one acquainted with the night.

Nhưng không kêu tớ trở lại, hay nói, bye bye
Và vẫn xa ơi là xa, ở một nơi chốn thật cao, không thuộc cõi trần tục này
Một cái đồng hồ treo tường lấp lánh chống lại bầu trời

Đòi điệc, cấm kiếc thời gian thì đếch sai, đếch đúng, cái con mẹ gì hết
Tớ là một kẻ làm quen với đêm

Và tôi nghĩ đây là 1 hoàn tất chủ - the chief achievement - của Frost. Ông có thể viết bài thơ xem ra thì đơn giản, nhưng mỗi lần bạn đọc lại 1 phát, là bạn lậm sâu hơn và kiếm ra rất nhiều lối đi hầm bà làng – many winding paths – và rất nhiều ý nghĩa, cảm quan khác nhau – many different senses – Và như thế Frost đem đến cho chúng ta một ý nghĩ mới về ẩn dụ. Ông đem đến cho chúng ta, ẩn dụ, theo cái cách mà chúng ta tưởng nó đơn giản, phán thẳng 1 phát, như thằng cha Gấu Cà Chớn thường nói. Và rồi chúng ta nhận ra, đó là ẩn dụ.

"And miles to go before I sleep/ And miles to go before I sleep."

Chúng ta thấy, cũng những từ như nhau, mà nghĩa, lại đếch như nhau, thú thế. Trong dòng thơ thứ nhất, của hai câu sau cùng, những từ đúng là dặm, đi, và ngủ. Nhưng ở dòng thơ cuối, ngủ có nghĩa – stands for – là chết, ngỏm củ tỏi….

Note: Ui chao, cái bài thơ "Dừng ngựa bên rừng", với những câu thơ trên, là bài thơ tiếng Anh đầu tiên mà Gấu dịch, khi tới Trại Tị Nạn Thái Lan, khi kiếm miếng ăn, trong những ngày đói khổ, không thân nhân ở nước ngoài viện trợ, đằng đẵng chờ thanh lọc, bằng cách dậy tiếng Anh, qua cuốn sách, lấy đúng những từ của Frost, "Promises to keep", làm cái tít cho nó.

Những lời hứa phải giữ, trước khi lăn ra ngủ.

Có tên Mít nào bỏ nước ra đi, đến được trại tị nạn, còn giữ được những lới hứa phải giữ, trước khi lăn ra ngủ, GCC tự hỏi?

Hà, hà!

Robert Frost: Stopping by woods on a snowy evening (Dừng ngựa bên rừng

http://www.art2all.net/…/thomoingay_RobertFrost_StoppingByW…

Stopping by Woods on a Snowy Evening

Whose woods these are I think I know.
His house is in the village, though;
He will not see me stopping here
To watch his woods fill up with snow.
My little horse must think it queer
To stop without a farmhouse near
Between the woods and frozen lake
The darkest evening of the year.

He gives his harness bells a shake
To ask if there is some mistake.
The only other sound's the sweep
Of easy wind and downy flake.
The woods are lovely, dark and deep,
But I have promises to keep,
And miles to go before I sleep,
And miles to go before I sleep

Robert Frost

~~oOo~~

Dừng ngựa bên rừng buổi chiều tuyết rụng

Rừng này của ai tôi nghĩ tôi biết
Nhà ông ta ở trong làng
Làm sao ông ta thấy tôi ngừng ngựa
Ngắm tuyết rơi phủ kín rừng.
Ngựa của tôi chắc thấy kỳ kỳ
Tại sao ngưng ở đây, chung quanh chẳng nhà cửa trang trại,
Chỉ thấy rừng và hồ nước đóng băng
Vào đúng chiều hôm cuối năm

Nó bèn khẩy khẩy cái chuông nhỏ
Như để nói với chủ của nó, này, chắc có chi lầm lẫn
Để đáp lại tiếng chuông ngựa,
Là tiếng gió thoảng và tiếng mỏng của hạt tuyết rơi.
Rừng thì đẹp, tối, và sâu
Nhưng tôi còn những lời hứa phải giữ
Và nhiều dặm đường phải đi
Trước khi lăn ra ngủ
Lăn ra ngủ

(1)

Theo GCC, những lời vinh danh sau đây, 1 cách nào đó, hay, nói huỵch toẹt ra ở đây, làm người được vinh danh, hay khen ngợi… cảm thấy…  ngượng, nếu không muốn nói, thấy có tí nhục.
Võ Đình vinh danh Đêm Tận Thất Thanh của Phan Nhật Nam:

http://www.tanvien.net/Notes_2/kyniem_10.html


Võ Đình

Đêm Tận Thất Thanh là một nhánh kỳ hoa đó...


Văn Học số Xuân Đinh Sửu [129&130], trong phần Tạp Ghi, ông Nguyễn Quốc Trụ viết: "... rằng sau Auschwitz, 'nếu cá nhân nào đó mà còn làm được thơ thì thật là dã man' (sic), và 'mọi văn hóa sau
Auschwitz chỉ là rác rưởi'.
Tôi chưa từng được quen biết, trong lãnh vực văn học, ông Adorno này, nên không lạm bàn rông rài. Chỉ "trộm" nghĩ rằng câu nói của ông [ta] có vẻ như... "vung tay quá trán". Có thể đổi được chăng những câu phê phán này thành... "sau Auschwitz mà còn làm thơ... Trời ơi, Tuyệt!"?  Hay là, "Mọi văn hóa sau Auschwitz là những nhánh kỳ hoa bung lên từ bãi dơ bầy nhầy, ruồi nhặng sâu bọ lúc nhúc, thối um"?
Đêm Tận Thất Thanh là một nhánh kỳ hoa đó.
.....

Tôi không may mắn từng đọc tác giả Adorno nói trên....

Loxahatchee, Florida 5-2-97
24 tiếng trước Tết Đinh Sửu, ở Việt Nam
Võ Đình

 Trên đây trích từ bài viết của Võ Đình, ở cuối cuốn Đêm Tận Thất Thanh của "bạn ta" là Phan Nhật Nam. Trong cuốn sách bạn ta tặng, buổi tối tại nhà Nguyễn Đình Thuần. Với lời đề tặng:

Của Ông Sơ Dạ Hương [1] với tình thân 30 năm Nguyễn Quốc Trụ, La Pagode.
CA Oct/28/2003.
PNN ký tên. 

Hai Lúa quả đã từng ngồi với nhà văn người tù hiển hách này ở Quán Chùa, thời gian liền sau khi PNN cho ra lò cuốn đầu tay, Dấu Binh Lửa [?], chắc vậy, vì HL còn nhớ rõ, đây là tác phẩm đầu tay, và chắc đó là lần ra Quán Chùa cũng "đầu tay" [đầu tiên] của chàng, để trình diện.
Lính Mới mà!
Nhớ rõ, đó là thời gian ra đời Thuế Kiệm Ước, và do thuế đó, giá giấy sẽ tăng.
Chàng mừng quá, nói, đại khái:
May quá mình là nhà văn rồi! Có tác phẩm trình diện anh em rồi. Nếu không, thì bỏ mẹ với Kiệm Ước!
Nhớ, bữa đó, "bạn ta" mặc đồ nhà binh, một bộ quân phục kaki mầu vàng. Trông chàng còn trẻ măng!
[1] Sơ Dạ Hương là bút hiệu của Hai Lúa, khi mới tập tành viết.

(còn tiếp)



Borges Tám Bó

Yves Bonnefoy, trong New Poetry and Prose, Thơ mới và văn xuôi, 1991-2011, có kể, ba kỷ niệm về Borges. TV tính giới thiệu, vì cũng có tí, nhân đó, viết về Gấu.

Tôi [Yves Bonnefoy] lần giở những trang hồi ức, về một số hình ảnh, của 1 người, người này cho tôi cái cảm tưởng, trọn đời ôm nặng 1 mối sầu khổ, sâu và xa, a suffering, old and profound, nhưng, với bề ngoài trầm lắng, chẳng hề cho phép mình nhắc tới, which his quiet reserve never allowed him to mention.

Đó là cảm tưởng của tôi, về ông, ngay lúc thoạt đầu.

Ba hồi ức, bắt đầu bằng lần gặp gỡ đầu tiên, ở Cambridge, Mass, 1967. Borges tới đó, để đi 1 đường "đọc", to give the Charles Eliot Norton Lectures, ở Harvard, mùa đông năm đó.
Tôi quí ông ta, và tin rằng nếu gặp mặt, thì ông ta hẳn phải vậy, như tôi nghĩ về ông ta.

Khi tôi nói với một người bạn, Jorge Guillén,cũng đang sống tại Cambridge, ông ta cho biết, Borges tới rồi, “He’s here already, settling in. Bạn viết cho ông ta vài dòng, và đề nghị gặp.”

Tôi viết. Mười ngày trôi qua, đếch thấy trả lời. Sau cùng, ông bạn gọi cho tôi, cười lớn, cho biết, chiều qua, ông ta ghé thăm Borges. Bà vợ, Elsa kéo ông ra 1 góc, hỏi nhỏ, ông có biết người đàn bà này không. Bà ta cầm lá thư của bạn.

Sự thể là, Borges đọc thư, và đọc lớn cái tên “Yves”, “Ève”, và bà vợ nghĩ, đây là 1 người phụ nữ, thế là bèn tìm đủ mọi cách để ngăn Borges đừng gặp “Ève”!

Cái chuyện Borges có cô vợ trẻ, cũng là 1 mới mẻ, và theo như lời đồn, thì là do bà mẹ bắt, vì bà quá lớn tuổi, không thể nào đi đây đó, để lo lắng cho Borges.

Thế rồi một buổi chiều, Borges điện thoại, và OK ghé thăm chúng tôi, dùng cơm.
Tuy chưa từng gặp lần nào, nhưng thái độ của Borges thực là cởi mở. Ông vừa từ Concord trở về, và cho biết, rất ngưỡng mộ Hawthorne, thèm được thăm căn nhà ngày nào của Hawthorne.  Và Borges đã quỳ xuống, ở ngay bực thềm căn nhà, mặc dù trời lạnh, tuyết đầy.

Và Borges hỏi tôi, đã từng đọc “Wakefield”?
Tôi chưa đọc “Wakefield”, và Borges bèn tóm tắt cho tôi nghe, bằng tiếng Tẩy.

Một người đàn ông, nói với vợ, mình phải rời thành phố chừng đôi ngày. Và ông ta bèn từ giã vợ, với 1 nụ cười ngây ngô [a “sourrire idiot” – Bạn còn nhớ nụ cười của Trung Uý Kiệt, với bà vợ, trong MCNK:

“Ngửng lên hắn lại nhìn nàng. Nàng giữ nguyên vẻ mặt thách thức. Hắn thở phì, nhắm mắt rồi bỗng cười. Nụ cười lặng lẽ, mở rộng, lay động khuôn mặt ngẩn ngơ”].

Ra đường, đi được vài bước, người đàn ông chợt đứng sững, tự hỏi chính mình, đi ư, giang hồ vặt ư? Quận Cam ư, San Diego ư?
Đi xa làm quái gì cơ chứ? Có ai thèm gặp ta nữa đâu?

Hà, hà!

Thế là ông chồng bèn ghé 1 khách sạn cũng quanh quẩn khu đó, muớn 1 căn phòng, tính ngày hôm sau, thì về lại với bà vợ già!
Ngày hôm sau Wakefield bèn tự hỏi chính mình, về làm gì bây giờ, mai về không được ư?

Thế là người đàn ông bèn dời cái ngày trở về gặp lại vợ già, nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm!
Cải trang “qua loa dơ măng”, ông chồng nhiều lần đi qua căn nhà của mình, có lần, từ xa, nhìn thấy bà vợ già…
Và “ông ta” nhận ra 1 điều, trước chưa từng nhận ra, hay để ý tới, ui chao, Gấu Cái già đi quá nhiều rồi!

VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 12, 2018 : QUÁCH TƯỜNG CỦA TA ƠI

:


Trại Cấm Sikew, 1 trong những ngày sắp rời Trại, sau khi đậu thanh lọc. Gấu Cái đang rời khu C, trở về lại khu A, nơi vợ chồng Gấu cư ngụ. Khu A nhỏ, chỉ là 1 căn nhà gỗ khá lớn, và tầng trên, được chia ra thành từng lều, mỗi lều gồm 1 cái mùng. Đêm giăng ra, ngày cuốn lại. Bên ngoài khu A, là 1 khu sinh sống dành cho người Việt ở Thái. Cũng 1 trại tù, có thể nói.

Đám cưới Gấu, chỉ có Dirck & Sawada [UPI] mừng quà. Và, “bản tin” của Xìn Phóng- Tran Phong Giao - trên tờ Văn, thì thật khó mà coi là lời chúc mừng, với cái tít “nên vợ nên chồng”, nhưng hình như Gấu Cái rất ư hài lòng, trước đám bạn bè ở quê, ở trường nữ trung học Mỹ Tho, ở trường Sư Phạm Vĩnh Long, Gấu đoán thế!

Lần thanh lọc ở Trại Cấm Sikiew, cc 1994, tay sinh viên người Thái hỏi, khi bà lấy thằng cha mắt lé, thì nó đã viết văn chưa, Gấu Cái bèn dõng dạc trả lời, thằng khốn lúc đó đã là nhà văn nhớn rồi, và chính câu hỏi khiến Gấu Cái, ra khỏi phòng thanh lọc, là đã biết hai vợ chồng sẽ qua được cửa ải gay cấn, và sẽ có cơ may làm lại cuộc đời nơi xứ người. Những cặp ở Trại thường là gán ghép, tạm bợ, không phải thực sự vợ chồng.

Dirck cũng là người gợi ý, mày có muốn “bỏ chạy cuộc chiến” qua Tokyo làm cho UPI không. Rồi, khi Gấu làm thêm cho RCA/Manila, đám nhân viên Phi Luật Tân cùng làm trên Đài VTD cũng gợi ý, muốn qua Manila không, sau khi ăn mìn VC...

Granta 100

 



Ta sẽ nhớ mi vô cùng khi ta ngỏm
Đáng yêu nhất của những nụ cuời
Mềm mại nhất ở trên giường
Khi cả hai còn trẻ

Quách Tường của ta ơi
Hãy nhớ rằng khi ta ngỏm rồi
Mi cứ vưỡn còn sống hoài
Trong tim và trong hồn của ta

Xì Lô thân thương,

Xì Lô, cô Út sinh ngày 13 tháng 4 năm 1975. Sau này những lúc gia đình quá khổ sở, bố mẹ cô vẫn thường than thở, phải chi không có cô chắc là gia đình đã đi Mỹ từ những ngày tháng Tư năm đó rồi. Bữa nay sinh nhật thứ 21, bố mẹ chỉ có cô ở bên. Mấy anh chị của cô ở quá xa, biết ngày nào gặp lại. Bố mẹ chỉ còn biết cầu nguyện tất cả đều khỏe mạnh, an lành. Bố mẹ chỉ mong Xì Lô được hạnh phúc.

Người ta nói, những đứa trẻ sinh ra từ một gia đình vợ chồng không hòa hợp, nói rõ hơn, những đứa trẻ bất hạnh thường dễ thành công trên đường đời nếu chúng vượt qua được những mặc cảm tuổi thơ. Có lần cô nói, từ khi con qua đây, mới đó mà đã gần nửa năm, gạt nỗi nhớ anh chị qua một phần trái tim, mỗi lần thấy bố mẹ vui đùa con ứa nước mắt vì sung sướng. Suốt tuổi thơ chúng con chưa hề biết đến những giọt nước mắt hân hoan hạnh phúc đó.

Thật cũng may, cuối cùng bố mẹ lại tìm thấy nhau, cho dù bố mẹ biết rất rõ, nếu cuộc đời được làm lại từ đầu, thì mọi chuyện vẫn y nguyên như vậy. Chắc là bố sẽ lo cho mẹ thêm một chút xíu, nhờ vậy mẹ sẽ bớt đi một chút, niềm tủi thân.

Như con biết đấy, gia đình mình, ngoài chú Sĩ đã tử trận, bố còn một người chị và một đứa em trai út ở miền Bắc. Trong những năm chống Mỹ cứu nước, chú Bảo bị qui thành phần có mẹ và anh di cư nên không được quyền đi bộ đội, sau đó chú làm công nhân cho nhà máy đường Việt Trì, nhờ vậy mà còn sống. Bá Hiền lấy chồng có được một đứa con gái. Chồng vào Nam chiến đấu mất tích. Qua đây gần một nửa thế kỷ, bố mới nhận được tin tức của chị và em. Đúng là nửa thế kỷ, bởi vì khi ông Nội mất tích ngay từ năm 1945 vì tai họa đảng phái, bà Nội phải đem mấy đứa con gửi mỗi đứa một nơi, bố không gặp bá Hiền, chú Bảo kể từ ngày đó.

Con đã đọc thư chú Bảo thì biết gia đình mình ở ngoài Bắc. Đó là quê hương mà bố phải từ bỏ, theo bà Nội vào Nam, và khi chú Sĩ chết, bố tự nhủ sẽ chẳng khi nào trở về. Đấy là một phần lý do tại sao bố lấy mẹ. Bố muốn các con có một quê hương Miền Nam, các con sẽ cần tới nó như bố cần tới mẹ vậy.

Trước tháng tư năm 75, ngoài công việc của một công chức, bố còn làm thêm cho một hãng thông tấn nước ngoài. Khi hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam được ký kết, bố thôi làm cho họ, tính bỏ Sài-gòn đưa gia đình về một tỉnh lỵ. Nhưng biến cố 30 tháng 4 năm 75 đã xóa sạch mọi dự tính. Ngày 28 hay 29 tháng 4 bố không còn nhớ rõ, thành phố đang trong cơn hỗn loạn, bố gặp lại người sếp cũ, (1) lúc này làm cho tờ báo Time, tới Sài-gòn làm phóng sự về cuộc di tản. Lúc đó cơ quan DAO của Mỹ đã đóng cửa, không còn máy bay C.130, anh ta bảo chỉ có thể đi bằng trực thăng ra Đệ Thất Hạm Đội, và như vậy chỉ một mình bố đi được thôi. Bố không thể bỏ mẹ và các con trong lúc mấy chục binh đoàn Cộng Sản Bắc Việt đang chờ sẵn ở ngoại ô thành phố và viễn tượng biển máu đang chờ đợi người dân Sài-gòn. Chết một đống còn hơn sống một người, Bá Hiền viết thư qua cho biết, ngày xưa bà Nội đã nói với Bá như vậy, lần về đón Bá cùng đi vào Nam, nhưng Bá không đi vì còn mê phong trào. Bố đã ở lại. Phải chi ngày đó bố chạy theo người Mỹ, gia đình mình đã không gặp những cảnh ngộ đói khổ, tủi nhục như hầu hết những gia đình Miền Nam khi Cộng Sản Bắc Việt thắng trận. Nhưng chính những ngày tháng sống dưới chế độ Cộng sản, những ngày tù đầy, những nỗi đói khổ mà gia đình mình đã trải qua khiến bố mẹ hiểu nhau hơn. Vả lại, sự thành đạt ở nước người nhiều khi phải trả một giá quá đắt. Chắc chắn một điều, con không thể quên tiếng Việt. Đó là khí giới hữu hiệu nhất để chống lại sự tha hóa mà đôi khi người ta lầm lẫn là hội nhập. Và để chống lại sự cô đơn, niềm lãng quên, và tuyệt vọng.

Hôm nay là sinh nhật của con, đúng ra chẳng nên nhắc chuyện đau buồn nhưng tháng Tư vẫn luôn luôn làm những ngưòi như bố mẹ cảm thấy bứt rứt. Có lẽ đã đến lúc bố mẹ đem cất kỹ lá cờ phủ trên quan tài chú Sĩ vào một nơi thật yên ổn, thật thiêng liêng là trái tim của mình...

(1)

Mới nhận mail của Dirck, liền tức thì:

From:
Date: Thursday, July 21, 2005 11:36:18 PM
To: Nguyen_Quoc_Tru
Subject: Re:

It's wonderful to hear from you Tru. How are you?
We missed you at the reunion in Saigon in May.

Cuộc hội ngộ vào tháng Năm, the reunion in Saigon in May, là vào năm 1985, khi VC kỷ niệm Mười Năm Đại Thắng Mùa Xuân. Mời mấy anh ký giả Mẽo tới, trong có Dirck.

Dirck Halstead, hiện làm trang TheDigitalJournalist




TIN VĂN TRÊN ART2ALL 


Album


Note: Có mấy bức hình về Buổi Sáng Địa Trung Hải của Camus, nhưng không tiện trình ra trên Trang Nhất. Xin mời...

Mais les circonstances m'ont aidé. Pour corriger une indifférence naturelle, je fus placé à mi-distance de la misère et du soleil. La misère m'empêcha de croire que tout est bien sous le soleil et dans l' histoire; le soleil m'apprit que l'histoire n'est pas tout. Changer la vie, oui, mais non le monde dont je faisais ma divinité. C'est ainsi, sans doute, que j'abordai cette carrière inconfortable où je suis, m'engageant avec innocence sur un fil d'équilibre où j'avance péniblement, sans être sûr d'atteindre le but. Autrement dit, je devins un artiste, s'il est vrai qu'il n'est pas d'art sans refus ni sans consentement.
Albert Camus: L’Envers et l’Endroit. Préface.

Nhưng hoàn cảnh đã giúp tôi. Để sửa chữa một sự dửng dưng tự nhiên, tôi để mình ở giữa sự khốn cùng và mặt trời. Sự khốn cùng ngăn cản tôi tin rằng mọi chuyện đều tốt đẹp dưới ánh mặt trời và trong lịch sử, mặt trời làm cho tôi hiểu rằng lịch sử không phải là tất cả.

Đúng là tâm trạng của Gấu, Bắc Kỳ di cư, bỏ chạy sự khốn cùng để tìm mặt trời! (1)


http://tanvien.net/Tribute_1/Camus_Centenaire_Naissance.html

* *

Cuốn đầu tay của Camus, nhà xb nhỏ ở Alger, 1937, đúng năm GCC ra đời.
Bài Préface thần sầu.
Mua khi còn tiệm sách Tẩy, Champlain, 02/10/2003.
Về cuối đời, Camus nhận ra trong cuốn sách đầu tay của mình, nguồn cảm hứng đẻ ra toàn bộ tác phẩm sau đó… và cái đề tài tủ này: sự câm lặng đáng mến của 1 bà mẹ và sự cố gắng của 1 người đàn ông, để tìm một công lý, hay một tình yêu, cân bằng sự câm lặng.

“Nhưng những hoàn cảnh giúp tôi. Để sửa chữa một dửng dưng tự nhiên, tôi bị đặt để ở giữa sự khốn cùng và mặt trời. Sự khốn cùng ngăn cản tôi tin rằng, tất cả thì tốt lành dưới ánh mặt trời và trong lịch sử; mặt trời dạy tôi rằng lịch sử không phải là tất cả."

Người tóm lược bảnh nhất về Camus, là Faulkner: "Camus phán rằng, vai trò thực sự độc nhất của 1 con người, sống trong 1 thế giới phi lý, là sống, ý thức về cuộc sống, cuộc nổi loạn, và tự do của mình."
"Camus disait que le seul véritable rôle de l'homme, né dans un monde absurde, était de vivre, d'avoir conscience de sa vie, de sa révolte, de sa liberté."
*

Gấu này, ngay từ khi còn nhỏ xíu ở đất Bắc, mỗi lần đói quá, rét quá, lạnh quá, đau đớn nhục nhã quá vì bị khinh khi là đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu hết ông chú bà bác lại đến bên nội bên ngoại, và vì đọc Tô Hoài viết về cái thời ông lang bạt vào Đàng Trong, thế là bèn mơ tưởng có ngày vô được xứ Nam Kỳ!
*

Nhà văn là một cái phong vũ biểu của thời của mình. Hình như có một nhà văn mũi lõ phán như vậy.
“Gấu nhà văn”, tuy đã về nhà hai lần, và được đón tiếp cũng hậu hĩ ra trò, nhưng lần thứ ba, sắp sửa về, ngửi ra mùi khói ở nơi quê nhà có gì không thơm, thế là bèn đi một cái mail, và được phúc đáp, thời tiết bi giờ không được đẹp như là hai lần về vừa rồi! Đừng có vác cái mặt mo về mà khổ cái thân già, còn khổ lây đến tụi này!
Thế là bèn đếch về nữa!

Khi thằng cu Gấu lên tầu há mồm vô Nam, bỏ chạy quê hương Bắc Kít của nó, ngoài hai cái rương [cái hòm] bằng gỗ nhỏ, có thể để mỗi cái lên một bên vai, trong đựng mấy cuốn sách, thằng bé còn thủ theo, toàn là những kỷ niệm về cái đói.
Và nửa thế kỷ sau trở về, cũng mang về đầy đủ những kỷ niệm đó, và trên đường về, tự hỏi, không hiểu bà chị mình có còn giữ được chúng…

Bà giữ đủ cả, chẳng thiếu một, nhưng, chị giữ một kiểu, em giữ một kiểu.
Nói rõ hơn, cũng những kỷ niệm về cái đói đó, ở nơi Gấu, được thời tiết Miền Nam làm cho dịu hết cả đi, và đều như những vết sẹo thân thương của một miền đất ở nơi Gấu.

Ui chao, chỉ nội kể về hai chuyến trở về, cũng đủ vài trăm trang, dư dả một cuốn tiểu thuyết, "có đầu, có đuôi", làm mọi người hài lòng, nhất là "Bác Gái"!


Note:

Nhìn Văn Cao, như ông chánh tổng An Nam ở Paris, như sau đây, nhảm. Văn Cao, theo Gấu, là phải nhìn qua Kundera: Thời của Văn Cao là thời đao phủ và nhà thơ cùng ngồi ngai vàng Bắc Bộ Phủ, ngự trị thế giới toàn trị

Un piège tendu à la poésie

http://www.tanvien.net/gioi_thieu_3/piege_poesie.html

« Ce n'était pas seulement le temps de l'horreur, c'était aussi le temps du lyrisme! Le poète régnait avec le bourreau ".

Đâu chỉ là thời của ghê rợn, của CCRD, của Đấu Tố, của Nhân Văn Giai Phẩm, mà còn là thời của thơ ca trữ tình, Mặt Trời Chân Lý Chói Qua Tim, Đường Ra Trận Mùa Này Đẹp Lắm.

Thời Của Văn Cao: Thi sĩ lên ngôi trị vì cùng với đao phủ.

http://www.tanvien.net/tg/tg02_mua_thu.html
Mùa Thu, những di dân...

Di dân là "số" phần, (a matter of arithmetic), theo Kundera.

Joseph Conrad, sống 17 năm tại Ba-lan, và tại Russia, lưu vong cùng với gia đình. 50 năm còn lại, ở Anh, hay trên những con tầu Anh. Đương nhiên, ông viết văn bằng tiếng Anh, về đề tài Anh. Ông bị dị ứng, khi đụng phải những gì có "mùi Nga": dấu vết Ba-lan độc nhất ở nơi ông. Tội nghiệp Gide, không thể hiểu tại sao Conrad "không thiện cảm" với Dostoevsky.
Bohuslav Martinu sống ở Bohemia đến năm 32 tuổi, sau đó, 36 năm ở Pháp, Thuỵ sĩ, Hoa kỳ, rồi lại Thuỵ sĩ. Ông luôn coi ông là một nhà soạn nhạc Czech, và hoài cố hương cũng là chất nhạc của ông. Nhưng sau chiến tranh, ông từ chối mọi lời mời trở về. Vào năm 1979, hai mươi năm sau khi ông chết, những "biệt kích" làm hỏng ước muốn được mồ yên mả đẹp ở Thuỵ sĩ, đã quật mồ, "bắt cóc", long trọng làm một cuộc "hôn nhân cưỡng ép" với đất mẹ cho cái xác chết của ông.
Gombrowics sống 35 năm tại Ba lan, 23 năm tại Argentina, 6 năm tại Pháp. Tuy chỉ viết văn bằng tiếng Ba-lan; nhân vật, người Ba lan, nhưng khi được "mời về", ông ngần ngại, cuối cùng từ chối, rồi an nghỉ đời đời ở miền Nam nước Pháp.
Ba phần đời sấp xỉ bằng nhau của Stravinsky: Nga, 27 năm, Pháp và Thuỵ sĩ- Pháp, 29 năm và Hoa kỳ, 32 năm. Chất Nga đậm đặc trong sáng tác của ông, những năm đầu xa xứ tại Pháp. Rồi chiến tranh cắt đứt dần những mối nối, tuy nhiên ông vẫn là một nhà soạn nhạc Nga với những sáng tác mang chất thơ dân giã của quê hương. Sau Cách mạng Nga, ông hiểu rằng, ông đã mất hẳn, nơi chốn ra đời, và cuộc đời di dân thực sự bắt đầu. Khi ông chết, vào năm 1971, bà vợ đã bác bỏ đề nghị của chính quyền Xô-viết, và thực hiện đúng ước nguyện của ông, được chôn tại một nghĩa địa ở Venice.

Trong "gió đông", số 1, 1997, có bài phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Duy, người "hát rong" vượt bực. Người viết xin phép anh em tòa soạn, trích một hai câu hỏi, và trả lời của ông.
gđ: Nhạc sĩ Phạm Duy đã là một trong những linh hồn của giới văn nghệ sỹ trong sáu năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, khi văn nghệ còn ít nhiều tự do, chưa bị siết trong sự quản chế của Đảng Cộng sản. Đã sống và sáng tạo trong sự biến thiên sâu sắc của lịch sử hiện đại Việt Nam, bác nghĩ như thế nào về thời kỳ ấy? Liệu có thể coi đây là một trong những giai đoạn thành công, đáng ghi nhớ nhất trên hành trình sống và sáng tạo của nhạc sĩ Phạm Duy?
Phạm Duy: Tôi hãnh diện vì được tham gia vào kháng chiến chống Pháp và vì đã đóng góp được vào nền âm nhạc nước nhà bằng ba mươi bài ca kháng chiến. Không lúc nào tôi phủ nhận điều này. Giờ đây, tôi vẫn cho rằng trong vòng năm trăm năm nay, nước mình chỉ có mười năm đoàn kết, thực sự yêu nhau, cùng gánh vác giang sơn và đó chính là khoảng thời gian từ bốn nhăm đến năm nhăm (1945-1955). Còn nhà cầm quyền và nhân dân đánh giá như thế nào về phần đóng góp của tôi thời kháng chiến, là ba mươi ca khúc ấy, thì nói thật: tôi xin chịu. Tôi chỉ biết cống hiến xong rồi, là xong (cười).

gđ: Nhắc đến Phạm Duy, không thể không nhắc đến Văn Cao. Có thể coi Văn Cao như là điển hình cho thế hệ văn nghệ sỹ của bác, tài hoa nhưng gặp bao nhiêu là tai họa bởi chế độ độc tài cộng sản. Nhiều người đã nghĩ rằng gia tài âm nhạc của Văn Cao sẽ không chỉ có thế, ngót nghét hai chục bài, nếu ông được sống cho âm nhạc trong những điều kiện khác. Thế còn bác, bác nghĩ thế nào về vấn đề hết sức tế nhị này?
Phạm Duy: (cười) Tôi phải công nhận là anh Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều lắm. Về nhạc, về vẽ. Về thơ. Đủ thứ. Đủ mọi phương diện. Nói anh ấy không may thì cũng không đúng. Anh ấy đã chọn con đường của anh ấy. Tôi cũng chọn con đường của tôi: làm một người tự do tuyệt đối. Vào thời điểm 1951, tôi cũng được chính quyền và nhân dân yêu lắm. Nhưng tôi muốn được tự do, để sáng tác, vâng thế là tôi đi. Đi cho tới lúc này, ngồi cạnh các anh ở Hannover, vẫn chưa ngừng nhé, (cười). Ông Văn Cao thì ở lại. Việc đánh giá ông ấy, cũng như kết quả đến với ông ấy ra sao thì tôi không dám nói. Văn Cao có cái vinh cái nhục của Văn Cao. Tôi cũng thế. Văn Cao được chết ở đất quê. Chứ còn tôi, nay mai chết sẽ được chôn ở Bắc cực chăng? (cười)...

Trước hết, những con số, và "đi", vì đây là "đề tài" của bài viết: Mùa Thu, tháng Tám, 1945, ba mươi bài kháng chiến, năm trăm năm, sáu năm đầu, mười năm đoàn kết thực sự yêu nhau, ngót nghét hai chục bài...
Về Văn Cao, bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong Hợp Lưu (trích đoạn): Đêm ấy, trong cuộc tâm tình nghệ sĩ của Văn Cao với những ngư phủ trên Phá Tam Giang, tôi muốn biết một điều mà với tôi là một bí ẩn thuộc về đời ông:
-Tại sao kháng chiến chống Pháp, anh vẫn vẽ, vẫn làm thơ, nhưng người ta không nghe anh hát nữa?
-Hồi nhận viết Tiến Quân Ca, tôi không hề chuẩn bị trước để làm một bài hát, mà một đặc nhiệm nguy hiểm của đội biệt động. Tôi là đội viên biệt động vũ trang. Nhiệm vụ của tôi là trong một đêm, cầm một khẩu súng, vào một thành phố, để giết một người. Tôi đã làm xong việc ấy. Đó là chiến tranh, và căm thù, đơn giản thôi. Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi đã trở lại căn nhà ấy, thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công, hay phải nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng, và chỉ viết nhạc không lời.
(Khi Văn Cao mất, báo Time có loan tin, và trích dẫn một câu trong bài Tiến Quân Ca, người viết bài này ghi chú thêm).
Và Hoàng Phủ Ngọc Tường kết luận:... nhưng tôi nghĩ, chỉ có những nghệ sĩ lớn mới nuôi cho mình những bi kịch như vậy.
Những con số: một đêm, một người, một khẩu súng, một thành phố, một việc ấy, một gia đình mẹ goá con côi, những ngày đầu sau chiến tranh.

Không ai biết được, những người chết, "ở bên trong" con số 10 yêu thương đoàn kết. Khái Hưng và những đồng chí của ông, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu... Không phải chuyện chính trị đảng phái không thôi. Sống, chết. Đi, ở. Văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, ý thức hệ (quốc cộng), đất nước phân đôi, từ đó. Tâm trạng "thiên di" (émigration) bắt đầu từ Mùa Thu.

Với tôi, hay nhất ở Phạm Duy, vẫn là những bản nhạc tình. Ông không thể, và chẳng bao giờ muốn đến cõi tiên, không đẩy nhạc của ông tới tột đỉnh như Văn Cao, để rồi đòi hỏi "thực hiện" nó, bằng cách giết người. Một cách nào đó, "tinh thần" Văn Cao là không thể thiếu, bắt buộc phải có, đối với "Mùa Thu", khi mà nhà thơ ngự trị cùng với đao phủ. Kundera đã nhìn thấy điều đó ở thiên tài Mayakovsky, cũng cần thiết cho Cách mạng Nga như trùm cảnh sát, mật vụ Dzherzhinsky. (Những Di chúc bị Phản bội). Nhạc không lời, ai cũng đều biết, mấy tướng lãnh Hitler vừa giết người, vừa ngắm danh họa, vừa nghe nhạc cổ điển. Cái đẹp bắt buộc phải "sắt máu", phải "tyranique", (Valéry). Phạm Duy không nuôi những bi kịch lớn. Ông tự nhận, chỉ là "thằng mất dậy" (trong bài phỏng vấn kể trên). Với kháng chiến, Phạm Duy cảm nhận ngay "nỗi đau, cảnh điêu tàn, phía tối, phía khuất", của nó và đành phải từ chối vinh quang, niềm hãnh diện "cũng được chính quyền và nhân dân yêu lắm". Những bài kháng chiến hay nhất của Phạm Duy: khi người thương binh trở về. Ở đây, ngoài nỗi đau còn có sự tủi hổ. Bản chất của văn chương "lưu vong, hải ngoại", và cũng là bản chất của văn chương hiện đại, khởi từ Kafka, là niềm tủi hổ, là sự cảm nhận về thất bại khi muốn đồng nhất với đám đông, với lịch sử, với Mùa Thu đầu tiên của định mệnh lưu vong.
Phạm Duy muốn làm một người tự do tuyệt đối nên đã bỏ vào thành. Nhưng Văn Cao, chỉ vì muốn đồng nhất với tự do tuyệt đối, nên đã cầm súng giết người. Thiên tài Mayakovski cần thiết cho Cách Mạng Nga cũng như trùm công an mật vụ, là vậy.

"Mặt trời chân lý chiếu qua tim". (Tố Hữu). Tính chất trữ tình không thể thiếu, trong thế giới toàn trị (totalitarian world): Tự thân, thế giới đó không là ngục tù, gulag. Nó là ngục tù, khi trên tường nhà giam dán đầy thơ và mọi người nhẩy múa trước những bài thơ đó, (Kundera, sđd).

Đấng ĐT này, cũng Ngụy một chăm phần chăm như GCC, nhưng do quá mê Vẹm mà hư 1 đời. Đối thủ của Gấu, là Nhị Linh, cũng nhận ra điều này. ĐT chưa từng viết được 1 câu nào nghe được về những người như Thảo Trường, thí dụ.
Bài viết này, về Văn Cao, cũng thế, cố né cái phần mà ai cũng biết, mà Văn Cao còn hơn ai hết, càng biết: Tại Sao Viết Tiến Quân Ca!

Quá tệ!

Image may contain: 1 person, smiling
Son Lyngoc
1 hr

VĂN CAO, TIẾNG HÁT
Đặng Tiến
(Trích phần đầu - Thiên Thai)

----- ...

See More

 

TIN VĂN

 

Nguyễn Quốc Trụ

 

Viết Mỗi Ngày

 

 VIẾT MỖI NGÀY / MAY 05, 2018

 

 

It's May, let's talk abt Travel

Vương Duy
701-761

Và đây là 1 bài thơ thật duyên dáng đáng mến, về vẻ đẹp tuyệt vời của một thành phố, mà chúng ta tới, bằng thuỷ lộ, lần đầu tiên.

Tôi – Czeslaw Milosz - cũng đã từng trải qua 1 kỷ niệm tương tự, khi, hai chục tuổi, ba đứa chúng tôi cập bến thành phố Constance ở miền Nam nước Đức, bằng ca nô, A.D. 1931.

Tôi cũng nên viết thêm, giả như Vương Duy không phải là 1 tay thuỷ thủ tới chỉ, a very willing sailor, thì, ít nhất, ông ta là 1 người ưa tò mò. Ông bị đi du lịch, do bổn phận của mình, l nhân viên nhà nước, nhưng, cõi quan hoài của ông, cốt lõi của nó, là của 1 Phật Tử, và trong thơ của ông cõi Phật đó, luôn luôn được biểu tượng, bằng 1 xứ Đoài mây trắng lắm, như GCC, người đang dịch thơ của ông

Czeslaw Milosz: A Book of Luminous Things


Buổi sáng, dong thuyền tới Xinyang

Khi thuyền, xải buồm tới hồ Xingze Lake
Tôi sững sờ vì vẻ đẹp hiển hách của thành phố
Những đường quanh co, khúc khuỷu của con kênh,

do những cửa nẻo vườn tược, chật hẹp, bó bíu.
Lửa và khói bếp, như đám đông, bao trùm mặt nước.
Trong họ, tôi nhìn ra những tập tục xa lạ
Và thổ ngữ ở đây thì tối tăm
Mùa Thu, lúc này, muộn
Những cánh đồng, thả cửa, mặc sức.
Buổi sáng, sáng.
Tiếng động đánh thức những lòng giếng khơi
Thuyền chài lượn lờ trên mặt nước
Gà, chó.
Làng, bên này, bên kia sông.

Tôi rời xa cái xứ sở Mây Đoài Trắng Lắm của tôi
Và cánh buồm cô đơn của tôi
Ở cái tuổi trên tám bó này
Sẽ... tội nghiệp ra sao?

  

WANG WEI

701-761


Anh here is a charming poem about a marvel of a city to which we arrive by water for the first time. I, too, lived through a similar experience, in which three of us, twenty years old, approached the embankment of the city of Constance in southern Germany by canoe, A.D. 1931. I should add that if Wang Wei was not a very willing sailor, he was at least a curious one. He was forced by the duties of his office to travel, but he longed for a Buddhist detachment, which, in his verse, is always symbolized by white clouds.
 

MORNING, SAILING INTO XINYANG
 

As my boat sails into Xingze Lake

I am stunned by this glorious city!

A canal meanders by narrow courtyard doors.

Fires and cooking smoke crowd the water.

In these people I see strange customs

and the dialect here is obscure.

In late autumn, fields are abundant.

Morning light. Noise wakes at the city wells.

Fish merchants float on the waves.

Chickens and dogs. Villages on either bank.

I'm heading away from white clouds.

What will become of my solitary sail?

 
Translated from the Chinese by Tony and Willis Barnstone and Xu Haixin
 

 


 

Image may contain: 4 people, outdoor and nature



VIẾT MỖI NGÀY / MAY 01, 2018 : BORGES VÀ DỊCH THUẬT


 

Liệu bạn có thể tưởng tượng cuốn sách khổng lồ, là Bách Khoa Toàn Thư Tin Văn Toàn Tập, và cuộc gặp gỡ trên, là giữa GCC và… độc giả TV, trong 1 buổi ra mắt sách ở Tiểu Sài Gòn?

Yes, sure, why not?

Re: Editing and publishing...

Today at 4:54 PM

It's exactly right! Why not? Hooray...
Happy New Year, Gau Nha Van.
H/A

Tks
Take Care

The Moon
for Maria Kodama

There is such loneliness in that gold.
The moon of the nights is not the moon
Whom the first Adam saw. The long centuries
Of human vigil have filled her
With ancient lament. Look at her. She is your mirror.
-W.B.

J.L. Borges
Trăng

Có cái cô đơn khủng khiếp như thế đó ở trong mảnh trăng vàng.
Trăng của đêm không phải trăng Adam đầu tiên nhìn thấy
Những thế kỷ dài của những lời khẩn cầu của con người
Đã tẩm vào nàng lời than van xưa, cũ.
Hãy nhìn nàng kìa.
Nàng là tấm gương của em đó.

Bài thơ trên, trong “Borges Tám Bó”, ông có đi 1 đường còm thần sầu.

Post ở đây, và sẽ trình tiếp bản tiếng Mít, và nhân đó, lèm bèm về dịch thuật, nhân đọc 1 bài viết trên FB, của Sến Cô Nương về đề tài này.

Hồi học Nguyễn Trãi, Hà Nội, ông thầy dậy tiếng Anh của Gấu, tên là Xuân. Một bữa, có 1 anh trong lớp, vẽ 1 bức hý hoạ lên bảng, và ghi chú là Mr. Spring. Thầy bực quá, phạt, anh học trò bèn, thưa Thầy, Spring đâu phải tên Thầy. Thầy cười, tha, và nói, đúng rồi, tên ta là Xuân, không phải Spring!

Cũng theo nghĩa đó, “bread” không phải là “bánh mì”!

Nhưng phải là Borges, mới nhìn thấu được tới cõi trời, khi phán, chính thơ, và hồi ức, và quên lãng, đem giầu có đến cho từ, that poetry, that memory, that oblivion have enriched the word.

VP từng phán, thơ không dịch được. Dịch chỉ còn xương, thịt mất hết. Borges cũng tin như thế, nhưng ông nói thêm, nếu không dịch thì phịa ra nó, nghĩa là, sáng tạo ra nó. Một bài thơ dịch, dù là dịch sai, dịch chưa tới, cũng là 1 đời sống khác, của nguyên tác.  

 

LA LUNA
          a Maria Kodama
 

Hay tanta soledad en ese oro.
La luna de las noches no es la luna
Que vio el primer Ad
án. Los largos siglos

De la vigilia humana la han colmado
De antiguo Ilanto. Mirala. Es tu espejo.


Perhaps we are allowed to ask a few words. I think that poetry, that memory, that oblivion have enriched the word. I wonder if the word moon, that lingering English word, is precisely the same as the Latin or Spanish luna. I suppose they are slightly different, and that slight difference may be all important, for all we know. But in this case I thought of generations of men looking long and long at the moon and thinking of it and changing it into myths, for example, the myth of Endymion on Latmos. And then I thought to myself: When I look at the moon I'm not looking simply at a luminous volume in the sky. I'm also looking at the moon of Virgil, of Shakespeare, of Verlaine, of Góngora. And so I wrote that poem. I think the first line should not be forgotten—Hay tanta soledad en ese oro "There is such loneliness in that gold"—since without it the poem might fall to pieces—perhaps it has. For after all, writing poetry is a very mysterious thing. The poet should not tamper with what he writes, he should not intrude himself into his writing. Let the writing do itself. Let the Holy Ghost or the muse or the subconscious —to give it an ugly contemporary name—have its way and then perhaps we make up poetry. Even I may write a poem.
 

 Có lẽ chúng ta được phép hỏi vài từ. Tôi nghĩ, thơ, hồi nhớ, quên lãng làm giầu có cho “từ”, chữ. Tôi ngạc nhiên khi tự hỏi rằng cái từ “trăng” moon, dai dẳng, dằng dặc, mỏng manh của lũ Hồng Mao đó, that lingering English word, liệu có y chang từ tiếng La Tinh, hay tiếng Tây Bán Nhà luna. Tôi nghĩ chúng có tí khác nhau, và tí ti này thì lại quá quan trọng, như tất cả chúng ta biết. Nhưng, trong trường hợp này, tôi nghĩ hàng hàng thế hệ con người nhìn trăng dài dài dài dài và nghĩ đến nó, và biến nó vào trong thần thoại, giai thoại, thí dụ thần thoại Endymion on Lamos. Và tôi bèn nghĩ về mình, về chính tôi:
Khi tớ nhìn trăng, thì tớ không giản dị nhìn cái vầng sáng trên bầu trời. Tớ còn nghĩ tới vầng trăng của Virgil, của Shakespeare, của Verlaine, của Góngora. Và thế là tớ làm bài thơ đó. Tớ nghĩ, dòng thơ đầu, bạn chớ có quên, nó: There is such loneliness in that gold, bởi là là quên nó, là bỏ mẹ, là tiêu táng thòng: Kể từ khi, đếch có nó, là bài thơ rã rời ra, thành manh mún, mảnh vụn…
Nói cho cùng, làm thơ là 1 điều bí hiểm, rất ư bí hiểm. Thi sĩ chớ có táy máy mò mẫn, sờ soạng đừng có loạng quạng với thơ, đừng có "vầy", tamper thơ, như "vầy gái", nghe chưa, lũ thi sĩ gà mờ, làm thơ nhạt, hoặc thúi như nước cống mà ngày nào cũng làm thơ:
The poet should not tamper with that he writes, he should not intrude himself into his writing – cái này thì K. chửi Gấu hoài, mi dịch bài thơ nào cũng tìm cách chui mi, chính mi, vô trong đó – Hãy để cái viết làm chính nó. Hãy để Bà Chúa Thơ hay cái tiềm thức – thì hãy cho nó 1 cái tên xấu xí đương thời – có đường hướng, phương cách… của nó và có lẽ nhờ thế chúng ta có thơ.
Ngay cả tớ cũng thử 1 phát thơ coi sao!



VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 5, 2018 : NHỚ BỐ

April Writing


 

Bức hình độc nhất & Di sản độc nhất, ông cụ Gấu


Đọc Hà Sĩ Phu trả lời Lý Kiến Trúc, báo Văn Hóa, Cali, trên blog Sến Cô Nương, Gấu bỗng dưng nhớ tới ông cụ Gấu, chán thế!


Ông bố của Gấu không hề theo Việt Minh, vào cái giai đoạn cả nước theo Vẹm. Mấy đứa con ở lại Miền Bắc - ông em trai út & bà chị gái, nữ anh hùng thồ hàng chiến dịch DBP của GCC - không hề được VC công nhận là con liệt sĩ.


Gấu về lại đất Bắc, một phần là cố tìm cho ra câu trả lời. Gặp cô con gái của ông chú, Chú Cầm, vào thời kỳ đó, là huyện uỷ Hạc Trì [Bạch Hạc và Việt Trì] sau nghe nói, leo lên đến 1 chức vị gì cao lắm, cũng bị VNQDD bắt, nhưng trốn thoát. Bà cho biết, ông bố của bà, cho bà biết, ông giáo Dương, tức Nguyễn Tái Dương, bố của Gấu, chỉ được “tổ chức” coi là cảm tình viên của Việt Minh.


Gấu cũng được biết, qua cô con gái của Chú Cầm, ông bố của Gấu, bị tên học trò giết, là do không chịu đại diện cho VNQDD, ra tranh cử Quốc Hội Vẹm.


Ông qua sông đúng 30 Tết, dự tất niên với băng VNQDD chiếm giữ Việt Trì, là vì vấn đề Quốc Hội Vẹm, hẳn thế, và khi ông lắc đầu, đấng học trò bèn làm thịt Thầy, trước khi bỏ chạy VC qua Tẫu.


Như thế, ông cũng là cảm tình viên của VNQDD ?


Gấu tin là ông cụ Gấu, khi phải chọn giữa Nguyễn Thái Học và Bác Hồ, đã chọn Nguyễn Thái Học!


Trong bài viết về Koestler [điểm cuốn tiểu sử của K, của Michael Scammell, The Literary and political Odyssey of a 20 Century Skeptic, trong mục Di sản của chủ nghĩa toàn trị, Athur Koestler: The Zealot [“cuồng tín” – thay vì “bi quan”, skeptic], trong cuốn tiểu luận của ông, Arguably, Christopher Hitchens cho biết, Koestler bỏ đảng CS, liền sau khi thoát ra khỏi Tây Ban Nha, vì quá tởm những vụ án thanh trừng “mần tuồng”, the hysterical faking of the Moscow purge trials, 1938 [ông, sau dùng làm đề tài cho cuốn Đêm Giữa Ban Ngày].


Koestler diễn tả cái tởm của mình, thật là tuyệt cú mèo, theo Christopher Hitchens, đến nỗi ông phải bệ nguyên văn, vô bài viết của mình:
It is a logical contradiction when with uncanny regularity the leadership sees itself obliged to undertake more and more bloody operations within the movement, and in the same breath insists that the movement is healthy. Such an accumulation of grave surgical interventions points with much greater likelihood to the existence of a much more serious illness.
[Thật khốn kiếp khi, một mặt, cứ tiếp tục thanh trừng nội bộ, cùng lúc phán, Đảng ta đả biến thiên hạ vô địch thủ, mạnh khoẻ lắm]


Trong cuốn tiểu luận, có bài Hội Chứng Việt Nam, The Vietnam Syndrome, viết về vấn đề chất độc màu da cam, thú.


Thú hơn nữa, nó làm Gấu nhận ra, trong cái gọi là “hội chứng Mít”, có... “hội chứng Tẫu”!


Christopher Hitchens giải thích, bằng tiếng La Tinh: Mutato nomine de te fabula narratur: with the name changed, the story applies to you.


Cứ thay cái tên đi, là nó áp dụng vô ngay tim, ngay hồn lũ Mít. Đâu có phải là chúng không biết thằng Tẫu khốn kiếp đâu. Suốt chiều dài lịch sử, một mặt chống Tẫu, một mặt mở nước về phía Nam, làm cỏ mọi giống dân yếu hơn, ít người hơn, vậy mà đùng 1 phát, rước chúng vô nhà, vô giường, để ăn cướp cho bằng được Miền Nam.


Gấu thêm vô, còn "hội chứng nhân quả" nữa, ở đây.



VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 21, 2018 : THANH TÂM TUYỀN VÀ KY TÔ GIÁO/ A BURNT-OUT CASE

 

        

           A Burnt-Out Case.

          Cuốn này, “Một trường hợp lụi tàn”, theo Phạm Việt Cường cho biết, đã có bản tiếng Việt. Gấu sở dĩ chọn nó, để toan tính mở ra cuốn truyện ngăn ngắn của mình, là vì, Gấu cũng đã từng bị VC tính thịt 1 cánh tay của mình, lần ăn mìn claymore ở nhà hang nổi Mỹ Cảnh nơi bờ sông Sài Gòn, mà còn là vì, hình như giống như nhân vật chính trong truyện, Chúa đã bắt kịp Gấu… 1 cách nào đó, sau khi cố tìm cách làm thịt chính Gấu.

Còn nữa, cuốn A Burnt-Out Case, mắc mớ tới niềm tin Ky Tô, mà những người như TTT, và sau đó, lớp đàn em, trong có Gấu, không có.

Trong “Lụi Tàn”, có 1 xen giống cái cảnh TTT tả, trong Bếp Lửa, anh chàng Tâm đối diện với Chúa, và bèn vặc, ông mà có đầu thai làm người, thì cũng vô phương cứu loài người, nhất là lũ Mít!

Trên đường về Lao, GCC mang theo hai cuốn, 1 là cuốn mới mua, của Kadare. Và 1 là cuốn A Burnt-Out Case của Greene, tính mở ra 1 cú “tỉu thết”, chừng trăm trang. Bằng 1 câu thuổng, từ Greene.

www.tanvien.net/Day_Notes/PXA_vs_Greene.html

" Trong một vài đường hướng, đây là một cuốn sách tuyệt hảo đối với tôi - mặc dù đề tài và sự quan tâm của nó, thì rõ ràng thuộc về một cõi không tuyệt hảo. Tôi đọc nó, lần đầu khi còn trẻ, dân Ky tô, lớn lên ở Phi Châu, vào lúc mà trại cùi còn phổ thông. Tôi còn nhớ, lần viếng thăm cùng với mẹ tôi, một trại cùi như thế, được mấy bà sơ chăm sóc, tại Ntakataka, nơi hồ Lake Malawi. Và tôi sợ đến mất vía bởi cái sự cử động dịu dàng đến trở thành như không có, của những người cùi bị bịnh ăn mất hết cánh tay, y hệt như được miêu tả ở trong cuốn tiểu thuyết: “Deo Gratias gõ cửa. Querry nghe tiếng cào cào cánh cửa của cái phần còn lại của cánh tay. Một xô nước treo lủng lẳng ở cổ tay giống như một cái áo khoác, treo ở cái núm trong tủ áo”.

Vào cái lúc tôi đọc nó, thì tôi đang phải chiến đấu, như những người trẻ, hay già, phải chiến đấu, và cũng không phải chỉ ở Phi Châu, với những đòi hỏi về một niềm tin, khi mà niềm tin này thì thực là "vô ích, vô hại, vô dụng, vô can…", tại một nơi chốn, bất cứ một nơi chốn, bị tai ương, bệnh tật, và cái chết nhòm nhỏ, đánh hơi, quấy rầy, không phút nào nhả ra.

Thành thử câu chuyện của Greene về một gã Querry, một tay kiến trúc sư bảnh tỏng, tới xứ Công Gô, chỉ để chạy trốn, và tìm ra một thế giới, và có thể, Chúa bắt kịp anh ta đúng ở đó, một câu chuyện như thế, làm tôi quan tâm.

Trong một vài đường hướng, cuốn tiểu thuyết có thể được đọc như một cuộc điều tra, về niềm tin hậu-Ky tô, một toan tính để nhìn coi xem, cái gì dấy lên từ tro than của thế kỷ trứ danh về cái sự độc ác của nó…"

 

Ui chao, bạn đọc có thể mô phỏng đoạn trên, và đi một đường “bốc thúi” trang Tin Văn:

Trong một vài đường hướng, trang Tin Văn có thể được đọc như là "… niềm tin hậu chiến Mít, một cái gì dấy lên từ tro than của cuộc chiến trứ danh vì Cái Ác Bắc Kít của nó."!

Nhưng, biết đâu đấy, Ky Tô giáo đang lâm đại nạn tại nước Mít, là cũng ứng vào cuộc "điều tra" này, của trang Tin Văn?

 

 

http://www.tanvien.net/Roman/bep_lua_5.html

“Thượng Đế sẽ giải quyết được những vấn đề của loài người nếu loài người biết tìm về Người.”

“Không, tôi không tin như thế, Thượng Đế không sống cái sống xác thịt của nhân loại. Khi Thượng Đế nhập thể thành người như Chúa Jésus hay Phật Tổ thì chính ở những người ấy Thượng Đế đã bị lôi kéo vào tấn thảm kịch riêng tư của loài người, và chỉ có thể thoát ra với sự thất bại…”

“Tôi phải kiếm cho ra một tôn giáo”, Graham Greene nói, “để đo lường cái phần quỉ ma ở nơi tôi”.

Một thách đố như vậy đã đặt Greene vào cái thế của một “tiểu thuyết gia Ky tô giáo” – ông rất ghét định nghĩa này - đúng như viễn tượng về ông: trước khi chọn Chúa Ky Tô, như là một thế giá cao cả nhất, thì ông, trước hết, còn là một con người bị ám ảnh bới chính cái nấc thang thế giá đó. Không nhà văn nào của thế kỷ 20 này có thể so với ông, người muốn đi tới cùng trong cõi nhân sinh nhỏ xíu - ấy là nói về chuyện so sánh giữa con người với con người, và có thể, với Chúa nữa. Trong khi những tiểu thuyết gia thuộc loại tầm tầm mày mò, dị mọ những đòn phép nhằm phân biệt thằng cha này tốt, thằng cha kia xấu, Greene là bậc thầy của sự tách biệt đa tầng, dị dạng, khi xoáy vào những đường ranh thật là mỏng manh phân chia, giữa thế nào là quỉ ma thế nào là độc địa, thế nào là bất tương thân, thế nào là ngu si đần độn chứa đầy ác tâm. Những con người của ông loay hoay xoay sở bên trong cái khuôn mẫu đạo đức rất ư là chi ly. Sa sẩy, là từng bước chân, là từng lỡ bộ. Sai một ly đi một dặm. Thành thử vô phương, làm người tốt [to be good] ở nơi Greene. Nhưng có hàng triệu triệu cách, để đỡ tồi tệ hơn, ít hoặc nhiều.

Khía cạnh hiện thực mang tính đạo hạnh chi ly tỉ mỉ đó, ở Greene, thường không được người đọc để ý, thay vì vậy, là những mầu sắc “baroque” – trò truy hoan thẳng thừng, thú du lịch, cái lối viết nhà báo – những dấu ấn khiến ông được coi là đồng hội đồng thuyền với những tay phiêu lưu như Erskine Childers, Len Deighton, Alec Waugh, John Le Carré.

Chắc chắn rồi, Greene phải được coi như là một người viết quan tâm tới dòng văn chương điệp viên, tình báo – chú thiếu niên Greene ngày nào đã từng thử làm người hùng máu lạnh, qua trò chơi chết người Russian roulette. Tuy nhiên, người đọc đừng quên rằng, trên giá sách của ông, còn có sự ngự trị của, thí dụ như, Henry James. Hơn thế nữa, Greene quả thực là một điệp viên nhị trùng, theo đúng nghĩa đen của từ này.


THÁNG BA, NHỚ THANH TÂM TUYỀN

Kỳ 3

 

 

 

Mar 29, 2018

 

Khi anh đi, anh đi vào sương đen
Sương rất độc, tẩm vào người nỗi chết

TTT

 

Ngày xưa Xóm Gà

http://www.tanvien.net/Tap_ghi_6/xom_ga.html

 



Chuyện xưa về con trăng
Chìm mẹ xuống biển
Về những ngôi sao,
Khi ánh sao thứ nhất lịm đi
Về con hẻm ướt đẫm sương đêm
Về Xóm Gà lạnh lẽo
Thì cứ thế, cứ thế, và cứ thế:
Người thi sĩ ấy - thuổng nhà phê bình BVP
Trố mắt nhìn cái bóng của mình
Và phán, đây là tro than của chính ta
Rời bỏ ta
Và phán,
Những ngày ở Sài Gòn
Ở Xóm Gà
Là những lỗ đen thực trong không gian.
Nhưng chẳng có gì là thực
Bạn biết người mà tôi đang tưởng niệm,
Cái gì gì, Tháng Ba, nhớ TTT
Người về những giây phút cuối cùng
Những giờ, những tháng, những năm
Đó là câu chuyện tôi nói về chính tôi
Về bạn
Về mọi người

 

The Story
by Mark Strand

It is the old story: complaints about the moon
sinking into the sea, about stars in the first light fading,
about the lawn wet with dew, the lawn silver, the lawn cold.

It goes on and on: a man stares at his shadow
and says it's the ash of himself falling away, says his days
are the real black holes in space. But none of it's true.

You know the one I mean: it's the one about the minutes dying,
and the hours, and the years; it's the story I tell
about myself, about you, about everyone.

 

 

 

"Ông số một" (1) - TTT- quả đúng là ông anh của Hai Lúa. Tuy không phải ruột thịt mà sợ còn quá cả ruột thịt. Trong ba đứa, hai ông con ruột, là nhà thơ, và ông em, me-xừ C. bạn thân của HL, thì, tuy là phận ghẻ, nhưng HL được cụ thương yêu còn quá con ruột. Có những chuyện mà một bà mẹ chỉ thích nói cho thằng con nuôi nghe, ở đời thường vậy. Vì hai thằng con ruột ít chịu ngồi nghe cụ nói, hoặc, ôi dào, mẹ ơi, nói hoài chuyện đó, mệt lắm, đại khái như vậy. Đã có lần, ông số một cằn nhằn, tại sao những chuyện như thế mà mẹ cũng nói cho thằng Trụ nó nghe?

 

 

Hai Lúa này hay nhắc ông số một, là vậy, chứ không phải ông là sư phụ, thần tượng trong văn chương của Hai Lúa. Ông là sư phụ, là thần tượng, hay giản đơn hơn, ông anh ở đời. Những gì Hai Lúa hay nhắc tới, nếu có liên quan tới ông, là những kỷ niệm những ngày cả ba anh em sống quây quần dưới gối của bà cụ, chúng có "tính tự thuật" nhiều hơn là "chất văn chương". Nói vậy, để trả lời nhà thơ Viên Linh, đã nhiều lần "cảnh cáo" Hai Lúa, mày, hay Jennifer Tran, mà không nhắc tới ông số một, là bịnh liền tức thì!

Nhưng nhờ ông, mà HL tìm ra ông thầy văn của mình.

Hồi ông số một ở Hà Nội, đi dậy học, theo kiểu kèm trẻ tại gia ở tận Hà Đông. Thường là nhịn ăn sáng, [nhà có gì đâu mà ăn, cơm nguội không, tiền đâu ăn quà?]. Trưa, đạp được cái xe đạp về tới nhà, ông nói với mẹ:
- Con mệt quá, chắc bịnh.

Bà cụ biểu:
- Bịnh gì đâu. Tại đói quá đó.

Xóm Gà là một cái tên rất xưa, để chỉ con hẻm Đỗ Thành Nhân, ngay phía sau Toà Thị Chính Gia Định. Phía bên kia, là Nhà Thương Nguyễn Văn Học.

_____________________

 

(1) Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền



VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 6, 2018 : KHI PHỐ. VÀNG NHÀU

  

Cô chú kính,

Đã ngoài 80 mà cô chú còn đi chơi xa như vậy được, cô chú khỏe thật, mừng với cô chú.
Chắc cô Quyên là facebook friend của chú? Vào google cháu không tìm được info nào về phanbook.
Đã có một lần sau khi bố cháu vừa mất nhà xuất bản Nhã Nam đã hỏi in sách bố, nhưng mẹ cháu đã không đồng ý.
Cháu cũng nghĩ như chú vậy. Thiển nghĩ bài vở của bố trên tinvan và các webs cũng đủ for now. Về việc xb và biếu tặng là ý rất hay, cháu sẽ bàn với mẹ cháu.
Gửi chú, mong cô chú luôn khoẻ.


Kính.


khi phố. vàng nhàu

chẳng có gì. mất. đi
kể cả. sự ngu muội
sự kiêu mạn. của một. người
không cần. nói
chẳng hạn. như. steve hawkins
những. đám mây
thật. chông chênh
hờ hững. đến lạ
hơi thở ve. vuốt
cái lạnh. vẫn lãng đãng quanh. quẫn
chiều. về. một góc
ôm chặt. cái bóng của. những cao ốc
lạc. trong con phố. rất quen
sự lãng mạn. cần có trong. những căn phòng
phi. trọng lực
để không thể. khóc
khi nào? em đến
sẽ rung vui. bất tận
cái iphone. im. một xó
nhìn tôi. với ly rượu
tiếc nuối. những nụ. hôn. giả từ
cơn bão tuyết. sẽ đến
không có gì. mất. đi
phải. chẳng cần. nói
vì tình yêu. vẫn còn. đó
và nó. chỉ cần. trái tim



On Friday, April 6, 2018, 7:58:16 AM CDT, nguyen quocdung <quocoai_sontay@yahoo.com> wrote:

Theo tôi, không thể in thơ TTT chung với bất cứ ai, “bia mộ” đúng như Nhị Linh nhận xét. Tốt nhất là gia đình tự xb, không chỉ thơ, mà toàn bộ tác phẩm, nhất là cuốn MCNK, gần như tuyệt bản. In, rồi biếu không, in theo kiểu có người muốn xin, thì gửi, theo kiểu, chỉ in bìa, như Trần Hoài Thư làm, không tốn bao nhiêu đâu.

DS bàn với gia đình coi sao.

Thân.


https://www.economist.com/books-and-arts/2018/05/12/the-secret-life-of-fish

The secret life of fish

A salmon's lament

Eye of the Shoal: A Fishwatcher’s Guide to Life, the Ocean and Everything. By Helen Scales. Bloomsbury Sigma; 320 pages; $27.00 and £16.99

THOSE who lack gills typically meet members of the ichthyic kingdom à la meuniere or packed in oil. "So much of the brilliance of fish goes unseen and unknown," says Helen Scales, a serendipitously named marine biologist. "They live hidden beneath the waves." In "Eye of the Shoal", Ms Scales, whose previous book, "Spirals in Time", explored the world of seashells, brings readers nose to snout with fish in situ.
    This, after all, is mostly their world. Water covers 70 of the planet. Fish, the most abundant and diverse of the vertebrates- there are 30,000 species-are one of the great evolutionary success stories. Some can withstand sub-zero polar waters (a natural anti-freeze in the blood of Arctic cod enables them to survive) or a 34°C pool in California's Death Valley (home to the Devils Hole Pup fish). The Walking Catfish, faced with a shrinking pond, uses its front fins to amble over to safer waters. Torpedo-shaped tuna have retractable pectoral fins to lessen drag. Weaverfish, lionfish and stonefish deploy venomous spines to avoid becoming another fish's dinner.
    Colours provide camouflage-a Warty Frogfish adjusts its hue to blend into the background-or to signal a sex (flamboyance is typically a male attribute). There are deep-sea fish that flash, glow and shimmer to communicate, lure prey or illuminate their way. Most magical of all aquatic habitats is the coral reef, home to galaxies of fish in marzipan tones like the Lemonpeel Angelfish, or stunning patterns like the Picasso Triggerfish (pictured).
    Alas, reefs are perishable, vulnerable to ocean acidification, overfishing and global warming, which provoke a chain of events that bleaches coral dead white. A World Wildlife Fund report predicts that, if not checked, global warming will lead reefs to disappear by 2050. Meanwhile, the United Nations Food and Agriculture Organization estimates that nearly a third of commercial stocks are overfished. Ms Scales might have devoted more than a few pages of her engaging and informative bouillabaisse to these perils.
    Do fish have feelings? Can they think? As evidence that they can, Ms Scales cites examples of cognition and tool use. Tusk fish open clams by smashing them against rocks; sharks have been taught to press a target for a reward of food. They seem to be able to feel pain, too. Farmed salmon exhibit symptoms of depression. The temperature of Zebrafish rises when they are confined in a small net.
    Empathy for the plight of fish might not be so far-fetched. Consider Tiktaalik, one of the transitional species that made the long, slow leap from water to land some 375m years ago. Humans' so-called "inner fish"-in the words of Neil Shubin, a paleontologist at the University of Chicago and part of the team that discovered Tiktaalik in 2004-is reflected in the fossil's finned lobes, which feature a bone structure analogous to human limbs. "Man still bears in his bodily frame the indelible stamp of his lowly origin," Darwin wrote in "The Descent of Man". People, in other words, may simply be fish out of water. +




Note: Tờ này, cùng vài tờ khác, như The New Yorker, TLS, NYRB… thời gian mới ra hải ngoại, sau khi đậu cái bằng bán bảo hiểm, rồi bịnh, ăn tiền bịnh, rồi già, ăn tiền già, rồi thời gian Cô Út làm ăn khấm khá, suốt mấy chục năm làm trang Tin Văn, Gấu mua dài hạn, dài dài, chứa đầy 1 hầm nhà.

Bây giờ, thua, tờ báo cũng không cho đọc free, sau mấy số trial cái con mẹ gì đó, đành bấm bụng mua, mỗi khi thấy có bài OK.

Bài này, làm nhớ đến con cá hồi, của Gấu Cái, tức Cô Uyên, trong 1 truyện ngắn của Thảo Trần:

Nơi giòng sông chảy về phía nam

Uyên đã thực sự rời bỏ dòng sông để ra biển cả, không hề hiểu được một điều: biển cả, bởi vì mênh mông, cho nên thật khó mà nhận ra con đường ngày ra đi, hay tìm thấy được, con đường trở về...










*


*

Chân Dung Tự Họa, Picasso

No automatic alt text available.

Căn nhà với rừng cây sau nhà, Cô Út bán rồi.
Mua căn nhỏ hơn. Không có chỗ chứa sách, cô đem cho sạch, nói, Bố đừng đọc sách nữa.

Bức tự họa, Picasso vẽ khi 9 bó. Mô phỏng ông, năm nay, trên tám bó, Gấu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong đời, chừng 100 trang.

Hình ảnh mở ra nó, có rồi, và là kỷ niệm lần đầu tiên thằng bé thấy người ta đánh người.

Người ta, là vị phó quận, 1 sĩ quan Ngụy, tại 1 đồn Ngụy, nơi bờ đê, 1 làng Bắc Kít. Gấu và đám con nít trong làng đến đó, để học. Trong khi chờ vô lớp, Ngụy bắt được 1 tên du kích, đem về đồn. Khi vị phó quận tới, bèn tra hỏi tin tức, đá liên tiếp tên du kích.

Bất chợt nhìn lên, thấy thằng cu Gấu khiếp đảm nhìn, ông ta ngưng, và ra lệnh đem anh du kích Vẹm đi giam, chắc thế!

Sebald viết, kẻ nào bị tra tấn, là suốt đời “được, bị, thèm.. “ tra tấn.
Gấu đúng là 1 tên Bắc Kít, thèm được Bắc Kít tra tấn, đúng như Sến mắng yêu, sao mi cứ cay đắng “hoài” – hoài, là 'hoài hoài', mà cũng là “phạm thị hoài”, hà, hà - như thế!


https://www.economist.com/…/the-story-of-one-of-the-last-sl…

Vẫn chuyện “cay đắng”
Trên tờ NKT, số mới, có bài viết về nô lệ ở Mẽo.
Vừa cay đắng, vừa THNM, GCC tự hỏi, liệu bức hình sau đây, là chân dung tự họa của Gấu Tám Bó.
Và, liệu sẽ có hai cuốn sử thi sau này về lũ Mít, 1, Nam Kít nô lệ Bắc Kít, sau đó, Mít nô lệ Tẫu ?

Image may contain: 1 person, text





*

Elegy 1969

You slave away into your old age
and nothing you do adds up to much.
Day after day you go through the same motions,
you shiver in bed, you get hungry, you want a woman.

Heroes standing for lives of sacrifice and obedience
fill the parks through which you walk.
At night in the fog they open their bronze umbrellas
or else withdraw to the empty lobbies of movie houses.

You love the night for its power of annihilating,
but while you sleep, your problems will not let you die.
Waking only proves the existence of The Great Machine
and the hard light falls on your shoulders.

You walk among the dead and talk
about times to come and matters of the spirit.
Literature wasted your best hours of lovemaking.
Weekends were lost, cleaning your apartment.

You are quick to confess your failure and to postpone
collective joy to the next century. You accept
rain, war, unemployment and the unjust distribution of wealth
because you can't, all by yourself, blow up Manhattan Island.

                                (AFTER CARLOS DRUMMOND DE ANDRADE)


BI KHÚC 1969

Mi trầy trật già
Dù cựa quậy cách mấy
Xêm xêm, ngày tiếp ngày
Khi ở trên giường
Khi đói
Khi thèm đờn bà

Những vì anh hùng,
Với những cuộc đời
Hi sinh và tuân phục
Đứng đầy công viên
Khi mi bước qua
Và khi đêm tới
Trong sương mù
Họ mở những cây dù đồng
Hay rút về những hành lang trống trơn
Của những rạp hát, rạp chiếu bóng

Mi yêu đêm, vì cái quyền năng hư vô, hủy diệt của nó
Nhưng khi mi ngủ
Những vấn đề của mi đếch cho mi “đai”
Đi bộ chỉ chúng tỏ sự hiện hữu của Bộ Máy Lớn
Và ánh sáng đè lên đôi vai mi

Mi đi bộ giữa những người đã chết
Và chuyện trò về những ngày những giờ sẽ tới
Và những mắc mớ linh tinh về tinh thần
Văn chương làm phí thời gian mần tình đẹp nhất của mi
Những cuối tuần mất, lau chùi, quét tước, dọn dẹp nhà cửa, vườn tược

Mi vội vàng xưng tội, về thất bại đời mi
Và di dời niềm vui tập thể tới thế kỷ sau
Mi chấp nhận mưa, chiến tranh, thất nghiệp và sự phân chia không đồng đều của cải, vật chất
Bởi là vì mi
Không thể thổi phù 1 phát,
Bằng tất cả, chính mi,
Hòn đảo Manhattan Island.
   

MY LIFE BY SOMEBODY ELSE
I have done what I could but you avoid me.
I left a bowl of milk on the desk to tempt you.
Nothing happened. I left my wallet there, full of money.
You must have hated me for that. You never came.
 
I sat at my typewriter naked, hoping you would wrestle me
to the floor. I played with myself just to arouse you.
Boredom drove me to sleep. I offered you my wife.
I sat her on the desk and spread her legs. I waited.

The days drag on. The exhausted light falls like a bandage
over my eyes. Is it because I am ugly? Was anyone
ever so sad? It is pointless to slash my wrists. My hands
would fall off. And then what hope would I have ?

Why do you never come? Must I have you by being
somebody else? Must I write My Life by somebody else
My Death by somebody else? Are you listening?
Somebody else has arrived. Somebody else is writing.

Mark Strand: Collected Poems

Đời của ta bởi ai đó

Ta đã làm, cái có thể làm
Nhưng mà mi tránh ta như tránh hủi!
Ta để chén sữa trên mặt bàn, để dụ mi
Chẳng có gì xẩy ra.
Ta vờ quên cái ví ở đó, đầy tiền
Hẳn là mi thù ta vì điều đó
Mi chẳng hề tới.

Ta ngồi trước cái máy đánh chữ, trần truồng
Hy vọng mi sẽ quật ta xuống sàn nhà
Ta mần tuồng, với chính ta, hy vọng gợi hứng ở nơi mi
Chán chường đẩy ta vào giấc ngủ
Ta dâng bà xã của ta cho mi
Ta để bà lên mặt bàn, xoạc chân bả ra. Ta đợi.

Ngày cứ thể duỗn ra
Ánh sáng mệt nhoài rớt xuống như miếng băng trên mắt
Bởi là vì ta xấu xa?
Liệu có người nào buồn bã đến mức như thế?
Thật vô ích, rạch cổ tay.
Bàn tay sẽ rơi rụng
Và nếu như thế, rồi thì, hy vọng nào, ta sẽ có?

Tại sao mi chẳng hề tới?
Liệu ta có thể có mi
Bằng cách là 1 kẻ nào đó
Liệu ta phải viết “Đời của ta”, bởi ai đó ?
“Cái chết của ta” bởi ai đó?
Mi có nghe ta?
Một ai đó, tới
Một ai đó, viết.


W. S. MERWIN
1927-

At any moment in our life we are entangled in all the past of humanity, and that past is primarily language, so we live as if upon a background of incessant chorus, and of course it is possible to imagine the presence of every thins which has ever been spoken.

Czeslaw Milosz: A Book of Luminous Things

UTTERANCE
Sitting over words
very late I have heard a kind of whispered sighing
not far
like a night wind in pines or like the sea in the dark
the echo of everything that has ever
been spoken
still spinning its one syllable
between the earth and silence

Ở bất cứ khoảnh khắc đời, chúng ta đều bị “dính trấu”, trong tất cả quá khứ nhân loại, và với bài thơ sau đây, cái quá khứ đó, nguyên uỷ, là về ngôn ngữ, như thể chúng ta sống, trên nền tảng của một đồng ca không ngừng nghỉ, dài dài.
Và tất nhiên thật dễ hiểu, chúng ta có thể tưởng tượng ra, sự hiện diện của mọi thứ, mọi điều, chưa từng có tiếng nói.

Phán 1 phát

Ngồi lên đống chữ, mãi sau đó,
Tôi bèn nghe ra 1 thứ tiếng thầm
Của 1 cú thở dài, không xa
Như tiếng gió đêm trong đám lá thông
Hay như trong biển tối,
Tiếng vọng của mọi điều đã từng có 1 lần được thốt thành lời
Vưỡn đang cố rặn
Một chữ, 1 từ, hay 1 âm… của nó
Giữa trái đất
Và sự câm lặng.


*


 

 VIẾT MỖI NGÀY / APRIL 23, 2018 : BẮC KỲ, ĐẤT VÀ NGƯỜI


Cầu Việt Trì, under construction, nơi ông cụ Gấu bị 1 đấng học trò làm thịt.

 

          Gấu về lại Đất Bắc là để tìm đến chỗ này, thắp 1 nén nhang cho ông bố của mình, và cũng để tìm hiểu, tại sao ông không theo Việt Minh, mà chỉ có “cảm tình” - như lời cô con gái của ông, 1 ông chú của Gấu, Chú Cầm, khi đó, là huyện uỷ VC tại Việt Trì cho Gấu biết, và tên giết ông là 1 thủ lãnh của QDD. Mấy đứa con của ông, còn ở lại Đất Bắc, chẳng được phong là con của liệt sĩ.
Bây giờ thì Gấu hiểu, ông quá tởm nó, như con ông, sau này!
*

Note: Lần ông anh mất, Gấu tới San Jose, thăm ông em, có hỏi về bài thơ này, bạn C cho biết, khi đó chưa phân trại, thành ra hai anh em còn được ở chung.
Sau Long Giao, 1975, là Yên Bái. Sau Yên Bái - như Gấu vẫn gọi khi còn nhỏ ở đất Bắc - tới Lào Cai. Bài thơ mở ra khúc tù Lào Cai, là bài “Chiều cuối năm trồng sắn ở Lào Kay”, thấy ghi '77.
Như vậy cú té núi đúng thời gian mấy đấng Ngụy ngồi hầu đờn nhà văn cách mạng miệt vườn Nguyễn Quang Sáng!
Ông em kể, bữa đó, cả trại lo, vì tất cả tù đều về chuồng, đúng giờ. Phải đến 9 hay 10 giờ tối, mới thấy ông anh nhà thơ về.
*

Bạn quí HPA kể, khi TTT được VC cho về đời, trở lại Xề Gòn, có lần gặp, và có nhã ý mời ông tới 1 căng tin làm ly bia. Căng tin này có 1 em, chắc là tiếp viên, theo HPA, rất mê bài Lệ Đá Xanh, và hát rất tới. Nhưng ông lắc đầu.
Ui chao, GCC cứ tưởng tượng hoài, mà không thể, cái cảnh Giang Châu Tư Mã ướt đẫm áo, khi nghe ca nương hát bài thơ phổ nhạc của ông!
Thì cũng đâu có thua gì khúc Hậu Đình Hoa!
Trường hợp NTK rất giống Thảo Trường. Đưa vợ con lên tầu, thì bèn quay đầu xe, đi thăm Xề Gòn lần cuối, thế là kẹt lại. Thảo Trường dính 17 năm, đúng ra là chết rồi, nhưng nhờ ơn anh Tẫu dậy cho VC 1 bài học, chúng bèn đưa đám Ngụy trở lại Miền Nam, và khi đau nặng, gia đình hay tin, mang thuốc thang lên Trại Suối Máu, cứu mạng kịp!

Trường hợp Gấu có tí xêm xêm. Cũng những ngày tháng đó, gặp lại xếp UPI cũ, anh phán, cầm cái camera, đi theo tao, lên trực thăng, ra Đệ Thất Hạm Đội, hết C.130 rồi, đành bỏ mặc vợ con thôi… Gấu lắc đầu, không thể bỏ Gấu Cái và đàn con được. Anh ta nhét vô tay Gấu tất cả mớ tiền Ngụy còn sót lại, và vẫy tay bye bye.

Nhưng, chính là quãng đời tù đầy của Gấu sau đó, mới cho Gấu cơ hội làm người trở lại!

Khác hẳn NTK. Anh nhập vào chế độ mới, có bạn mới, sống thanh thản đời của anh, đâu có nhớ gì đến những bạn cũ, như Thảo Trường, TTT… đúng không?

Họ cũng là bạn của anh vậy? NQT

 

Wednesday, October 15, 2014 8:58 PM

Kính anh Trụ,

Rất lâu em không có thư hầu thăm anh. Hôm sinh nhật anh, nhiều người chúc quá nên em... đứng ngoài.
Em vẫn còn đi làm kiếm cơm nên thời gian hạn hẹp, nhiều hôm cố gắng đọc cho bằng hết bài anh post lên mà muốn ngộp thở.
Cầu chúc anh thật nhiều sức khỏe và niềm vui.

LNS
Không thấy mail, có tí lo.
Take Care. NQT

 

Nobel 2014

Đối với tôi, bạn bè là một phần đời sống của tôi: Gấu trải qua cú này rồi.

Hồi mới lớn, mê bạn quá, chưa ngủ dậy, là đã thấy mình đang ngồi ở Quán Chùa với bạn rồi.
Rồi may quá, mất hết bạn!
Ông Trời thương hại, bèn ban cho 1 thằng bạn, chỉ 1 thằng mà thôi, để khi nào buồn quá, tìm đến, để khóc cho đã.
Rồi sống tiếp.

Gấu Cái thường chửi Gấu, mi cần ta, như lũ con lũ cháu, cần ta, chứ đâu có thương yêu gì ta. Gấu Cà Chớn sợ đám bạn quí Bắc Kít, Hà Nội, cần bạn NTK cũng rứa! Đọc những bài viết, những lời còm thì thấy. Chúng qua Mẽo, tới cái ổ VC ở Mẽo, ngửa tay lấy tiền Mẽo, viết về lũ Ngụy tị nạn, cái gì gì diaspora mà chúng làm sao hiểu được, vì có thằng nào đã đi tù VC đâu, và muốn hiểu cái gọi là diaspora Mít, thì phải đi tù VC. Và chúng cần chỗ để ăn, để ngủ, cần 1 tên gốc Ngụy che chở cho chúng, trước đám Chống Cộng Điên Cuồng.

Cả 1 lũ đó, có thằng nào con nào, viết được, dù chỉ 1 chữ về nỗi đau của Miền Nam, về lũ Ngụy trong trại tù, chờ ngày đoàn tụ với gia đình, ở… Trại Tù?
Toàn 1 lũ cứt đái, mà bạn bè gì?
Gấu cũng đã từng gặp lũ này rồi, còn trước NTK rất nhiều!

Chính lũ này, hóa thân của chúng, đúng hơn, đã từng đứng trước tòa án Nuremberg, và khi ông tòa hỏi, tụi mi có biết những tội ác của Nazi không, chúng nói, không, và ông toà phán, tụi mi là tầng lớp trí thức, tinh anh số 1 của nước Đức, mà Nazi phạm những tội ác như thế, làm sao nói không biết được?

Lần HC, đại thi sĩ Kinh Bắc, nằm xuống, lũ này than khóc khủng quá, Gấu bèn lên tiếng, khi Tố Hữu ra lệnh viết tự kiểm, mà HC phán, ông đéo viết, thì tình hình đã khác hẳn, có thể không có vụ Lò Cải Tạo cũng nên, vị thân hữu, độc giả K, bèn đi 1 đường mail, viết thì viết, nhưng hãy chờ cho cỏ mọc xanh mộ đã!

Lần HC nằm xuống, Gấu lên tiếng có tí vội, nhưng để lâu 1 tị, là đếch thèm viết nữa.
Và trong lần đó, Gấu nhớ là, có nhắc đến trường hợp Brodsky, và 1 tên ‘bạn Hà Lội” của NTK, đã lầu bầu, làm sao so sánh được, mỗi trường hợp mỗi khác.
Không phải. Mỗi người mỗi khác.
Brodsky bị bắt, bị đưa ra tòa, bị ban cho cái án cải tạo, lưu đầy nội xứ, tại 1 nông trường cải tạo vùng Bắc Hải, sau này, nhìn lại, ông cho biết đó là quãng đời đẹp nhất trong đời của tôi, được cùng đau với cả nước, mà quả thật như thế.
Tuy nhiên, vấn đề là, trong khi ngay cả đám bạn quí của ông hồi đó, trong có thằng còn nẫng luôn người yêu của ông, chẳng thằng nào quan tâm, tới bữa ra tòa, chúng quên béng luôn, hè nhau đi ăn nhậu, thì, riêng ông, không hiểu bằng cách nào, bèn “mặc khải”, mình được Chúa cho ra đời, để làm cái cú này!
Tôi, Gấu Cà Chớn, tin là, HC được Ông Giời cho ra đời, để hùng dũng phán, ông đéo viết, khi Tố Hữu ra lệnh, hãy viết tự kiểm, thì ta tha.
Trường hợp này đã xẩy ra rồi, vừa mới tức thời: Điếu Cày, khi được nhà nước kêu lên, viết tự kiểm, ta tha, ông phán, ông đéo viết!

Cái sự kiện, không 1 tên nhà văn, nhà thơ, nhà trí thức Bắc Kít, Hà Nội nào, tỏ ra áy náy, và viết ra, dù chỉ 1 dòng, về số phận đám Ngụy, về tù cải tạo, là quá hiển nhiên.
Chúng vờ hẳn đi, làm như không có chuyện này.
Cũng như vào lúc này, chúng chửi Tẫu, vờ hẳn đi, đã từng dâng vợ, dâng con cho Tẫu, để ăn cướp cho bằng được Miền Nam.

Chúng tôi muốn biết? OK

Trên đường xẻ dọc TS kíu nước, nhìn xuống “trim” của mình, chẳng anh bộ đội cụ Hồ nào ngạc nhiên khi thấy hàng chữ “made in China”, thì còn muốn biết gì nữa?

Gấu cũng muốn biết, tại làm sao cả 1 xứ Bắc Kít chưa từng có 1 giọt nước mắt nhỏ xuống, vì phải dâng gái cho Tẫu, vì vợ sĩ quan Ngụy, 13, 17 năm... đằng đẵng thăm chồng cải tạo?

Câu trả lời cho câu hỏi, chúng tôi muốn biết, đã được Tolstaya, trả lời, trong 1 bài viết Gấu được đọc, những ngày đầu đến được trại tị nạn Thái Lan, Cái Ác CS không phải từ trên trời rớt xuống đầu dân Mít, hay Bác Hồ mang từ xứ mũi lõ về. Nó nằm ở những tầng sâu hoang vắng của lịch sử 4 ngàn năm văn hiến của Bắc Kít, và được ngọn gió độc, là chủ nghĩa CS thổi tung lên...
Bắc Kít không ăn, mà ăn thịt lẫn nhau (1)

(1)

Tatyana Tolstaya, trong một bài người viết tình cờ đọc đã lâu, khi còn ở Trại Cấm, và chỉ được đọc qua bản dịch, Những Thời Ăn Thịt Người (đăng trên tờ Thế Kỷ 21), cho rằng, chủ nghĩa Cộng-sản không phải từ trên trời rớt xuống, cái tư duy chuyên chế không phải do Xô-viết bịa đặt ra, mà đã nhô lên từ những tầng sâu hoang vắng của lịch sử Nga. Người dân Nga, dưới thời Ivan Bạo Chúa, đã từng bảo nhau, người Nga không ăn, mà ăn thịt lẫn nhau.
Chính cái phần Á-châu man rợ đó đã được đưa lên làm giai cấp nồng cốt xây dựng xã hội chủ nghĩa. Bà khẳng định, nếu không có sự yểm trợ của nhân dân Nga, chế độ Stalin không thể sống dai như thế. Puskhin đã từng van vái: Lạy Trời đừng bao giờ phải chứng kiến một cuộc cách mạng Nga!

 
Về cái sự hèn nhát của đám sĩ phu Hà Nội, thì phải để chính 1 trong đám đó, nói ra, thì mới thuyết phục. Đọc hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, tả con ếch Nguyễn Đình Thi co rúm người trước con cua Tố Hữu, hay đọc ông con của ông, viết về Bố, giá Bố tôi bớt hèn đi 1 tị, hay đọc Nhật Tuấn, trên Blog của anh… Cái sợ của đám này, là sợ 1 cá nhân Tố Hữu, hơn là sợ Đảng.

Gấu tin rằng, bất cứ 1 cá nhân nào, được Chúa cho ra đời, là để làm 1 chuyện gì đó, nhưng, làm hay không làm, thì lại do chính cá nhân này, quyết định. Brodsky cảm ngay ra là mình sinh ra đời, để đụng đầu với Đảng, ở tòa án. Hay Lênin, tôi sinh ra để làm ra Liên Xô, còn Solz, để huỷ diệt nó. Ông Nobel Toán, được Noel là để cầm cái đó, dí vô Lăng Bác Hồ, hô, biến. Sến, là để tạo ra 1 thiên sứ, thứ thiệt, nhưng bà, chính bà ta, biến nó thành giả.

Brodsky phán:

Một khi bạn bắt đầu biên tập đạo hạnh, đạo đức của bạn, cái này nên, cái này không nên, bạn đang tán tỉnh thảm họa.
When you start editing your ethics, your morality –according to what is or isn't allowed today - then you're already courting disaster.

(Trò chuyện với Joseph Brodsky. Solomon)



http://tanvien.net/Tribute_1/Adieu_NQS_1.html

*

Gốc cây mận (nhà Nguyễn Quang Sáng) - một kỷ niệm xa xôi
NgTrKhoi, Nguyễn Quang Sáng, Đinh Cường, Trịnh Công Sơn.
Bài hát trình bày: Đêm thấy ta là thác đổ

Nhìn bức hình, thì bèn tin là quả thế thực, và chàng nhạc sĩ hát rong hầu đàn không chỉ một anh Sáu!

Một khi bạn bắt đầu biên tập đạo hạnh, đạo đức của bạn, cái này nên, cái này không nên, bạn đang tán tỉnh thảm họa.
When you start editing your ethics, your morality –according to what is or isn't allowed today - then you're already courting disaster.
Trò chuyện với Joseph Brodsky
. Solomon Volkov.

Một tên như Trần Văn Thuỷ, khi viết Nếu Đi Hết Biển, nếu “tử tế”, thì hắn phải "dám" chấp nhận những người nói ngược lại với hắn ta chứ?
Thay vì vậy, thì là 1 lũ cò mồi.
Có thể nói, tất cả những bản văn của đám VC này, khi được Mẽo mời qua WJC, để viết về Mít lưu vong, thì đều giống nhau ở cái mức “vô lại”, vô trách nhiệm, “miễn xong 1 sô” - chữ của nhà thơ PNH.
Chúng đâu có biết, viết như thế, là tự làm nhục chúng?

Một khi bạn ngồi hầu đàn 1 tên như NQS, trong khi cả Miền Nam đang đói, khổ, nhục nhã, tù tội....  không lẽ bạn không biết, tớ đang tán tỉnh thảm họa?
Lũ Chống Cộng Điên Cuồng, ở chúng, dân Miền Nam có điều gì thông cảm, thay vì kết án, tại làm sao không... quên hết thù hận!

V/v Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với đồng loại để chau chuốt bộ da của mình.

GCC sợ rằng ngược lại.

Chính cái sự coi loài vật thua con người là cội nguồn của những dã man của con người.

*

*

Note: Mấy bài về Coetzee thật tuyệt. Khởi đầu của dã man của con người, là, khi nó nghĩ nó bảnh hơn loài vật. Ở cuối Vụ Án, Kafka cho K. chết, "như 1 con chó". Tên “Mít” K nhìn hai ông cớm VC [l'accusé regardait "les deux messieurs"] đâm lưỡi dao vô tim, như thể nỗi tủi hổ sẽ sống dai hơn anh ta.
Ngay từ "Những cảnh đời của 1 chú thanh niên", Scènes de la vie d'un jeune garcon, tập đầu của bộ ba có tính tự thuật, Coeztee đã nhận ra, tủi hổ là vấn đề trung tâm, la question centrale, của Nam Phi, và chỉ có chữ viết mới có thể làm cho nó sống động.

Chỉ 1 khi lũ Bắc Kít, lũ VC nằm vùng, cảm thấy xấu hổ, tủi nhục, khi ăn cướp Miền Nam, và đẩy xứ Mít vô tình trạng “đồng chí X”, thì may ra mới hé ra hy vọng. (1)

Cái bìa cuốn “Thượng Đế Đã Chết Trong Thành Phố”, là của NTK. Cuốn sách, Gấu chưa từng đọc, cho đến khi ông Nhàn, chủ nhà xb Vàng Son, đưa. Cái tít cũng của ông.
Chỉ đến khi đọc Kundera, đọc ông vinh danh Malaparte, thì Gấu mới nhìn lại nó, và khám phá ra, người dạy Malaparte đạo đức làm người, là 1 con chó!

Kundera đã dành những trang đẹp nhất của Gặp Gỡ để vinh danh Malaparte, và làm sao không, vinh danh con chó của ông.

*

*

Gấu & NTK
Thời gian dịch La Peau

*

*

Khi dịch “The Skin”, Gấu chẳng nhớ gì hết, đâu ngờ câu văn kết thúc ăn sâu vào tiềm thức, sau bật ra, lại nghĩ, là của mình!

THẮNG TRẬN NHỤC NHÃ LẮM!

Thượng Đế Đã Chết Trong Thành Phố

Intro

Thượng Đế Đã Chết, khủng khiếp thực.

Nó nói về Mẽo giải phóng Ý, và nó tiên tri ra hai cuộc giải phóng khác, tại Việt Nam. Gấu lập lại, hai cuộc giải phóng.
1. Quân đội Mẽo tới Miền Nam, nhằm giải phóng miền đất này, thoát cuộc xâm lăng của VC Miền Bắc.
2. VC Miền Bắc giải phóng Miền Nam. Và xoá sổ nó.

*

“LA PEAU” : UN ARCH-ROMAN

"La Peau [Làn Da]": Đại Gia - Tiểu Thuyết

10. Memory Turned into a Battlefield

ON THE GREAT STAIRCASE OF A NEWLY LIBERATED FLOREN-tine church, a group of Communist partisans is executing some young (even very young) Fascists, one by one. A scene that announces a radical turn in the history of European life: the victor having drawn definitive and untouchable frontiers, there will be no more slaughters between European nations; "war was dying now, and massacres among Italians were beginning"; hatreds withdraw to the interior of nations; but even there the struggle changes its nature: the goal of the fight is no longer the future, the next political system (the victor has already decided what the future would look like), but the past; the new European war will play out only on the battlefield of memory.
    In The Skin, when the American army is already occupying northern Italy, partisans execute a local informer in total security. They bury him in a meadow and, as a monument, they leave his foot, still in its shoe, sticking up from the earth. Malaparte sees this and he protests, but in vain; the partisans are delighted at leaving the collaborator as a ridiculous laughingstock in a warning for the future. And today we know: the further Europe moved away from the end of the war, the more it proclaimed it a moral duty to keep past crimes unforgotten. And as time went on the courts were punishing older and older people, whole regiments of denouncers were beating the bushes of the forgotten, and the battlefield stretched into the cemeteries.
    In The Skin, Malaparte describes Hamburg after the Americans dropped phosphorus bombs. To quench the fire devouring them, the inhabitants were flinging themselves into the canals that crisscross the city. But the fires drowned by the water immediately flared up again in the air, so people had to keep plunging their heads under again and again; this situation went on for days, during which "thousands of heads would emerge from the water, blink their eyes, open their mouths, speak."
    Another scene where the reality of war surpassed the plausible. And I ask myself why the managers of memory have not made that horror (that dark poetry of horror) into a sacred memory? The memory war rages on only among the defeated.

11. As Background, Eternity, Animals, Time, the Dead

"I NEVER LOVED A WOMAN, A BROTHER, A FRIEND AS I loved Febo." Amid so much human suffering, the story of this dog is far from being a mere episode, an interlude in the midst of a drama. The American army's entry into Naples is only a brief second in history, whereas animals have accompanied human life since time immemorial. Facing his neighbor, man is never free to be himself; the power of the one limits the freedom of the other. Facing an animal, man is who he is. His cruelty is free. The relation between man and animal constitutes an eternal background to human life, a mirror (a dreadful mirror) that will never leave it.
    The time span of the action in The Skin is short, but man's infinitely long history is always present in it. It is through the antique city of Naples that the American army, the most modern army of all, enters Europe. The cruelty of a super-modern war plays out before the background of the most ancient, archaic cruelties. The world that has changed so radically makes clear, at the same time, what remains sadly unchangeable, unchangeably human.
    And the dead. In peaceful times they only modestly interrupt our tranquil lives. But in the period described in The Skin, they are not modest; they are active; they are everywhere; undertakers haven't enough vehicles to carry them away, the dead stay on in the apartments, on the beds, they decompose, stink, they are in the way; they invade conversations, memory, sleep: "I hated these corpses. They were the foreigners, the only, the real foreigners in the common homeland of all the living."
    The war's closing moments bring out a truth that is both fundamental and banal, both eternal and disregarded: compared with the living, the dead have an overwhelming numerical superiority, not just the dead of this war's end but all the dead of all times, the dead of the past, the dead of the future; confident in their superiority, they mock us, they mock this little island of time we live in, this tiny time of the new Europe, they force us to grasp all its insignificance, all its transience ....

Milan Kundera. Encounter. The Skin: Malaparte’s Arch-Novel

TV sẽ dịch chương Kundera vinh danh Malaparte, và cuốn “The Skin”.
Cũng là 1 cách Tưởng Niệm ngày 30 Tháng Tư sắp tới.

Adieu & Bon Voyage, Nguyễn Quang Sáng!

Note: Thì lâu lâu cũng phải cho GCC khóc đồng nghiệp Đỏ 1 phát chứ!

“Để không bị lộ bí mật nơi đóng quân trong rừng, cấp trên đã ra lệnh may yết hầu con gà trống vì sợ nó gáy. Nhà văn cho rằng, làm gà trống mà không được gáy thì thà chết còn hơn”.

Nhà thơ Cách Mạng 30 Tháng Tư, tác giả bài thơ "Quê Hương Mỗi Người Có Một", cuối đời, cố gáy được 1 lần, khi xì ra, trên Đài của Đế Quốc Mẽo, VOA, “vế tiếp theo, đếch phải của tớ”!

Cái này là giai thoại, Gấu nghe qua bạn quí của Gấu.
Khi nộp đơn xin vô Hội Nhà... Thổ, anh cho biết, phải có nhà văn VC thứ thiệt đỡ đầu, và, với anh, đó là NQS.
Và khi có tiếng xì xào giữa đám "Khỉ Ở Rừng U Minh", NQS bèn "đứng về phe Ngụy", và phán, nếu nó mà không được vô Hội, thì thằng nào xứng đáng vô?

Nếu đúng như thế, thì đây là tiếng gáy của NQS!

Cái cú đưa sĩ quan Ngụy đi cải tạo tại vùng Cực Bắc Bắc Việt không giống giải pháp chót [final solution] của Nazi, mà mô phỏng Gulag của Xì. Đúng hơn, của Nga Hoàng. Tống tù đi Miền Đông Hoang Dã, lập những trại tù, thành 1 quần đảo, không chỉ đưa sĩ quan Ngụy, mà là tất cả vợ con họ hàng của chúng.
Cuối cùng, lũ Ngụy chỉ còn 1 quê hương là Trại Tù, Lò Cải Tạo. Dù có thả chúng ra, thì chúng cũng không có nơi nào để mà trở về.
Trên TV có dành 1 trang để viết về cú độc này, tất nhiên của Thầy của VC, là Xì.

Cuộc chiến VC Bắc Kít vs Tẫu làm hỏng chương trình tàn độc này.


 




Cảnh đẹp VN


Art2all
Việt Nam Xưa
Talawas
theguardian/books
Intel Life
Huế Mậu Thân
Cali Tháng Tám 2011

Thơ JHV

Trang đặc biệt

Tưởng nhớ Thảo Trường

Tưởng nhớ Nguyễn Tôn Nhan

War_Pix
Xử VC

Hình ảnh chiến tranh
Việt Nam của tờ Life

Vĩnh Biệt BHD

6 năm BHD ra đi


Blog TV

Trang NQT

art2all.net

Istanbul


&

Lô cốt trên đê làng
Thanh Trì, Sơn Tây

Bếp Lửa trong văn chương

Báo Văn [Phê Bình] cũ, có bài của GCC

Mù Sương
Hồi Ký Viết Dưới Hầm
Nghĩ về phê bình
Mây Bay Đi
Nguyễn Du giữa chúng ta
  "Tạp Ghi" by Tuấn Anh
Chữ và Việc
TSVC
Nhã Tập
Truyện Kiều ABC

Xuân Vấn Đề Kỷ Dậu

Truyện ngắn Võ Phiến

Những ngày ở Sài Gòn
nhà xb Hoàng Đông Phương

Mộ Tuyết
[Hồi bắt đầu đi làm]

Happy Birthday GCC

Cali 3.08

Cali Tháng Tám 2011

Tribute to NCT:
Vietnam's Solzhenitsyn

Cali 2012 With H/A

Lolita vs BHD