|
Album
Trịnh
Kim Tiến is with Pham
Doan Trang.
NHÀ BÁO PHẠM ĐOAN TRANG BỊ AN NINH “MỜI
ĐI” VÌ “CHÍNH TRỊ BÌNH DÂN”
PHẠM ĐOAN TRANG TẠM ĐƯỢC “THA” VỀ, CÔNG AN BAO
VÂY CHUNG CƯ LÊ ĐỨC THỌ
Nhà báo Đoan Trang vừa về đến nhà
riêng. Chị gọi điện thoại cho tôi trong bóng tối, điện
và Internet trong nhà đều đã bị cắt hết. Trang nói
họ tạm để chị về, sẽ tiếp tục lên làm việc trong những ngày
tới. Phía an ninh nói với Trang rằng chị đừng mong ra khỏi
nhà dù chỉ một bước chân, hiện người của họ đã
bao vây khắp chung cư chị ở.
Trang nói với tôi có lẽ họ chuẩn
bị bắt giam chị. Hôm nay chị bị đưa đến A92, số 3 phố Nguyễn Gia Thiều, trụ sở tiếp dân
của cơ quan an ninh Bộ công an. Họ ép chị phải ký nhận
những bài phỏng vấn từ năm 2015, những thứ chị không còn
chút ấn tượng. An ninh muốn biết chị in sách Chính Trị
Bình Dân ở đâu, in ra sao. Một bên ép, một
bên không có gì để nói, cứ như vậy từ
trưa cho đến bây giờ.
Nhà báo kể lại việc bị đưa đi vào
trưa nay, chị nói an ninh lừa mẹ chị họ là người của EU đến
thăm. Khi mẹ chị vừa mở cửa thì họ xông vào nhà.
Chị nói “nếu mà mẹ chị không mở, có khi hôm
nay cả chục người sẵn sàng phá cửa để lôi chị đi. Họ
đang rất muốn bắt chị rồi”. “Đây là bao vây, triệu tập
liên tục, gây sức ép trước khi muốn bắt người” Trang cho
biết.
Chị bảo ngồi trong đó lạnh với đau buốt chân,
đầu gối của chị nhức lắm. Vết thương mà họ đánh chị, có
lẽ cả đời cũng không thể lành.
Để chị lên nhà, họ không quên
đe dọa, muốn lớn chuyện thì sẽ cho lớn chuyện, đừng mong sẽ đi đâu
được, ở yên đấy đi và sắp tới ngoan ngoãn mà
lên làm việc.
nguồn Trịnh Kim Tiến
Về vị này, có 1 entry của Timothy Snyder,
trong "On Tyranny, 20 bài học của thế kỷ", thật xứng đáng:
Chưa bao giờ vị này sử dụng từ ngữ thô tục, đối với những
kẻ làm nhục bà.
9
Be kind to our language.
Avoid pronouncing the phrases everyone else does.
Think up your own way of speaking, even if only to convey that thing you
think everyone is saying. Make an effort to separate yourself from the internet.
Read books.
Victor Klemperer, a literary scholar of Jewish origin, turned his philological
training against Nazi propaganda. He noticed how Hitler's language rejected
legitimate opposition: The people always meant some people and not others
(the president uses the word in this way), encounters were always struggles
(the president says winning), and any attempt by free people to understand
the world in a different way was defamation of the leader (or, as the president
puts it, libel).
Politicians in our times feed their clichés
to television, where even those who wish to disagree repeat them. Television
purports to challenge political language by conveying images, but the succession
from one frame to another can hinder a sense of resolution. Everything happens
fast, but nothing actually happens. Each story on televised news is "breaking"
until it is displaced by the next one. So we are hit by wave upon wave but
never see the ocean.
The effort to define the shape and significance of
events requires words and concepts that elude us when we are entranced by
visual stimuli. Watching televised news is sometimes little more than looking
at someone who is also looking at a picture. We take this collective trance
to be normal. We have slowly fallen into it.
More than half a century ago, the classic novels of
totalitarianism warned of the domination of screens, the suppression of books,
the narrowing of vocabularies, and the associated difficulties of thought.
In Ray Bradbury's Fahrenheit 451, published in
1953, firemen find and burn books while most citizens watch interactive television.
In George Orwell's 1984, published in 1949, books
are banned and television is two-way, allowing the government to observe
citizens at all times. In 1984, the language of
visual media is highly constrained, to starve the public of the concepts
needed to think about the present, remember the past, and consider the future.
One of the regime's projects is to limit the language further by eliminating
ever more words with each edition of the official dictionary.
Staring at screens is perhaps unavoidable, but the
two-dimensional world makes little sense unless we can draw upon a mental
armory that we have developed somewhere else. When we repeat the same words
and phrases that appear in the daily media, we accept the absence of a larger
framework. To have such a framework requires more concepts, and having more
concepts requires reading. So get the screens out of your room and surround
yourself with books. The characters in Orwell's and Bradbury's books could
not do this-but we still can.
What to read? Any good novel enlivens our ability to
think about ambiguous situations and judge the intentions of others. Fyodor
Dostoevsky's The Brothers Karamazov and Milan Kundera's
The Unbearable Lightness of Being might suit our
moment. Sinclair Lewis's novel It Can't Happen Here is perhaps not a great
work of art; Philip Roth's The Plot Against America
is better. One novel known by millions of young Americans
that offers an account of tyranny and resistance is J. K. Rowling's Harry
Potter and the Deathly Hallows. If you or your friends or your children
did not read it that way the first time, then it bears reading again.
Some of the political and historical texts that inform
the arguments made here are "Politics and the English Language" by George
Orwell (1946); The Language of the Third Reich by Victor Klemperer
(1947); The Origins of Totalitarianism by Hannah Arendt (1951); The
Rebel by Albert Camus (1951); The Captive Mind by Czeslaw Milosz
(1953); "The Power of the Powerless" by Vaclav Havel (1978); "How to Be a
Conservative-Liberal-Socialist" by Leszek Kolakowski (1978); The Uses
of Adversity by Timothy Garton Ash (1989); The Burden of Responsibility
by Tony Judt (1998); Ordinary Men by Christopher Browning (1992);
and Nothing Is True and Everything Is Possible by
Peter Pomerantsev (2014).
Christians might return to the foundational book, which
as ever is very timely. Jesus preached that it "is easier for a camel to
go through the eye of a needle than for a rich man to enter into the kingdom
of God." We should be modest, for "whosoever shall exalt himself shall be
abased; and he that shall humble himself shall be exalted." And of course
we must be concerned with what is true and what is false: "And ye shall know
the truth, and the truth shall make you free."
Trang Simone Weil
Đầu năm khai bút bằng 1 bài
dịch Milosz, Sự quan trọng của Simone Weil,
trong To Begin Where I Am, Selected
essays. Trên Tin Văn đã có
bài Bad Friday, giờ thêm
bài này.
THE IMPORTANCE OF SIMONE WElL
FRANCE offered a rare
gift to the contemporary world in the person of Simone
Weil, The appearance of such a writer in the twentieth century
was against all the rules of probability, yet improbable
things do happen.
The life of Simone Weil was short. Born in 1909 in Paris,
she died in England in 1943 at the age of thirty-four. None
of her books appeared during her own lifetime. Since the end
of the war her scattered articles and her manuscripts-diaries,
essays-have been published and translated into many languages.
Her work has found admirers all over the world, yet because
of its austerity it attracts only a limited number of readers
in every country. I hope my presentation will be useful to those
who have never heard of her.
Perhaps we live in an age that is atheological only
in appearance. Millions were killed during the First World
War, millions killed or tortured to death in Russia during
and after the revolution: and countless victims of Nazism and
the Second World War. All this had to have a strong impact upon
European thinking. And it seems to me that European thinking
has been circling around one problem so old that many people are
ashamed to name it. It happens sometimes that old enigmas of mankind
are kept dormant or veiled for several generations, then recover
their vitality and are formulated in a new language. And the problem
is: Who can justify the suffering of the innocent? Albert Camus,
in The Plague, took up the subject already treated in the
Book of Job. Should we return our ticket like
Ivan Karamazov because the tear of a child is enough to tip the
scale? Should we rebel? Against whom? Can God exist if He is responsible,
if He allows what our values condemn as a monstrosity? Camus
said no. We are alone in the universe; our human fate is to hurl
an eternal defiance at blind inhuman forces, without the comfort
of having an ally somewhere, without any metaphysical foundation.
But perhaps if not God, there is a goddess who walks
through battlefields and concentration camps, penetrates
prisons, gathers every drop of blood, every curse? She
knows that those who complain simply do not understand. Everything
is counted, everything is an unavoidable part of the pangs
of birth and will be recompensed. Man will become a God for
man. On the road toward that accomplishment he has to pass through
Calvary. The goddess's name is pronounced with trembling in
our age: she is History.
Leszek Kolakowski, a Marxist professor of philosophy
in Warsaw,* states bluntly that all the structures of
modern philosophy, including Marxist philosophy, have been
elaborated in the Middle Ages by theologians and that an
attentive observer can distinguish old quarrels under new formulations.
He points out that History, for instance, is being discussed
by Marxists in the terms of theodicy-justification of God.
Irony would be out
of place here. The question of Providence, or of lack
of Providence, can also be presented in another way. Is there
any immanent force located in le devenir, in what is in the state
of becoming, a force that pulls mankind up toward perfec-
• At the time of this
writing
Nhân Ngày Tình Nhân
Cô bé của Vermeer
http://tanvien.net/Dayly_Poems/3.html
Cô bé của Vermeer, bây giờ nổi tiếng,
ngắm tôi. Viên ngọc trai ngắm tôi.
Ðôi môi của cô,
đỏ, mọng, long lanh
Ôi cô bé Vermeer, ôi viên
ngọc trai,
cái khăn xếp: tất cả là ánh sáng
còn tôi thì làm bằng bóng
tối.
Ánh sáng nhìn xuống bóng tối
với sự ẩn nhẫn, không, có lẽ, sự thương hại.
Adam Zagajewski: Mysticism for Beginner
Vermeer's Little Girl
Vermeer's little girl, now famous,
watches me. A pearl watches me.
The lips of Vermeer's little girl
are red, moist, and shining.
Oh Vermeer's little girl, oh pearl,
blue turban: you are all light
and I am made of shadow.
Light looks down on shadow
with forbearance, perhaps pity.
Ôi cô bé Vermeer, ôi viên
ngọc trai,
cái khăn xếp: tất cả là ánh sáng
còn tôi thì làm bằng bóng
tối.
Ánh sáng nhìn xuống bóng tối
với sự ẩn nhẫn, không, có lẽ, sự thương hại.
Note: Đọc 1 phát thì lại nhớ đến
1 nửa linh hồn Bắc Kít của GCC:
Ẩn dụ thơ “Đài gương soi đến dấu bèo”
- không phải của Gấu, tất nhiên - lần đầu Gấu thật ‘cay đắng
dã man’ được thưởng thức, là trong một lá thư tỏ tình,
của một cô gái mà Gấu tưởng là cô ‘thuơn’
Gấu, nhưng hóa ra ‘thươn’ đệ tử của Gấu!
Gấu đã nói sơ qua về vụ này một lần rồi.
Nay nhắc lại, một phần để đáp lại tí ‘tri tình’
của một độc giả Tin Văn, khi đọc câu chuyện tình mắc cỡ của
Gấu, bèn ‘mail’, khen, ui chao ẩn dụ thơ mới đẹp làm sao,
lần đầu tiên tui được nghe, và cuộc tình của ông
Gấu mới tội làm sao!
*
Thời gian trường Bưu Điện đang xây cất đó, Gấu làm
việc bên này, nhìn qua, thấy trong đám thợ
hồ có một em xinh thật là xinh. Thế là cứ rảnh
việc một tí, là thò đầu ra cửa sổ để ngắm em. Rảnh
hơn thì ra hẳn bên ngoài, ngó cho đã
con mắt.
Thế rồi, một bữa, được em ngó lại. Ôi chao, hạnh
phúc nào bằng.
Cho đến một ngày đẹp trời, em vẫy tay cho phép
gặp.
Gặp, em thẹn thùng đưa cho một lá thư mầu xanh,
thẹn thùng nói, xin nhờ anh làm con chim xanh, [mấy
từ con chim xanh này là của em, không phải của Gấu],
đưa lá thư xanh này cho cái anh nho nhỏ đẹp
trai, hay đứng kế anh, giùm em.
Trong thư, có câu, “đài gương soi đến dấu
bèo này chăng”?
Đài gương, là ông nhóc đệ tử Gấu.
Dấu bèo là thánh nữ của Gấu.
Ông già làm chung, ông Lân, còn
phạng thêm cho một câu, nó là thợ hồ, làm
sao dám ngó lên tới đài gương, là
ông cán sự Bưu Điện!
*
Nhưng thú vị nhất, là cái lần talawas bị
tường lửa, và bà chủ quán lên BBC than phiền,
cái vụ Gấu này nhanh hẩu đoảng, ăn mừng chiến thắng.
Sến nguẩy 1 phát, chìa đôi môi
dầy, bĩu, cũng 1 phát:
Tôi đâu có muốn được điểm của
hải ngoại!
Và Gấu lại phải lên tiếng thanh minh, hải
ngoại đâu cần điểm, mà cần một "nửa linh hồn" của nó,
bị thất lạc, từ thuở Tây mũi lõ đánh chiếm Nam
Kỳ!
*
“Còn những người, trong những ngày qua, có
lời chúc mừng talawas đã đạt được cái thành
tích là trở thành món hàng cấm và
vì thế có hương vị ngọt ngào hơn, thậm chí
cả những người cho rằng talawas cố tình bị tường lửa để kiếm điểm
tại nước ngoài, những người ấy sẽ thấy mình đã kết
luận vô lối và vội vàng như thế nào. Nếu phải
thành một huyền thoại thì đó là bất hạnh lớn
cho chúng tôi”.
Phạm Thị Hoài, trả lời BBC, đăng lại trên
talawas.
Trên tờ Gió Đông ngày nào -
mà đa số cộng tác viên là những cây
viết ra đi từ miền bắc - người chủ trương, Lê Trọng Phương, trong
một bài viết, đã mượn một ẩn dụ của Borges, khi nói
về một bức bản đồ Việt Nam, tỉ lệ xích là 1/1, bị rách
nát, mà những người Việt hải ngoại cố mang ra ngoài
này để khâu vá lại, cho nó được như xưa.
Một tấm bản đồ "văn học" như thế, chỉ có một nửa, nếu
thiếu những người như Lê Trọng Phương, những diễn đàn
như talawas.
Trong tinh thần đó, Tin Văn viết, "... và như vậy
văn học hải ngoại sẽ không còn ở trong tình trạng
chông chênh, thiếu tới một nửa 'cuộc đời, linh hồn'... của
nó."
*
Bài post lên, NTV đọc, phôn khen: Hình
ảnh một "nửa linh hồn", mày dùng, đắt lắm !
Gấu, vừa mừng lại vừa lo, hỏi:
-Nhưng liệu bà chủ quán có biết, có
'đài gương soi đến dấu bèo'... ?
NTV:
-Làm sao không biết !
damau.org
online literary magazine, tạp chí văn chương Da Màu, văn
chương không biên giới, văn…
Comments
Tks
Bộ Borges Tám Bó, có hai cuốn,
khi đó, ông 85 tuổi.
Cuốn 1 thần sầu, nhưng cuốn 2 nghe nói, Người loạng quạng
rồi, không biết cho xb hay không nữa. Tuy nhiên, Borges
ở trong đó, là 1 Borges của Trò Chuyện, Conversations.
Gấu, hung hăng hơn sư phụ nhiều, vưỡn hăm he đụng ổ kiến lửa!
Viết
mỗi ngày
http://www.nybooks.com/articles/2018/02/22/istanbul-blues/
Re: Pamuk
Trên
tờ NYRB số Feb 22, 2018, có bài về Istanbul, nhân
cuốn sách tái bản, bản deluxe. Giả như có 1 “hội
chứng Pamuk”, như Trần Vũ tưởng tượng ra, rồi khoác vào tác
phẩm của Sến, thì cũng không thể. Vì Pamuk không
phải là 1 nhà văn của đi và viết, ông cứ ngồi
ở 1 chỗ, và viết về chỗ đó, là Istanbul, như GCC,
có 1 cú Mậu thân Sài Gòn, có
thằng em tử trận 1 năm trước đó, viết hoài còn hoài…
Đây là lý do GCC dịch Istanbul, và lạ làm
sao, cái tay DTH, ông chủ nhà xb NN, ở phía
Nam, không hiểu làm sao lại ‘đoán” ra được, và
tự động viết mail, đề nghị dịch. Khi nhận được mail, Gấu quá đỗi ngạc
nhiên phải nhờ em CM của Gấu, khi đó còn ở trong nước,
bạn thân của NL, check giùm, tếu thế!
Đây cũng là 1 dịp để tác giả nhìn lại
Istanbul của mình, như đoạn sau đây cho thấy [GCC phải mua
tờ báo, vì không cho đọc free] tóm tắt, đại
khái, Pamuk viết về 1 Pamuk, bị nhìn bởi lũ mũi lõ,
hơn là được nhìn bởi 1 cư dân của nó, là
ông.
Và Istanbul của ông u ám quá.
Khác Sài Gòn của Gấu rất nhiều.
Both Pamuk's book and a new history, Istanbul: A Tale of Three Cities
by Bettany Hughes, make it clear that part of the reason for this distortion
is that the country is so rarely described from within. Hughes, like many
who have written about Istanbul, is a foreigner, and thus prone to the
familiar hyperbole about the glories of the premodern city. Pamuk, meanwhile,
devotes much of his book to addressing foreigners' perceptions of his
native city, and admits he is obsessed with how Westerners see it. These
discussions can have the effect of keeping one very far from the actual
streets of Istanbul.
But much of Pamuk's book is also dark and intimate, and not at all
like foreigners' accounts, which so often wallow in the city's exotic beauty.
In 2017, his memoir of love does not read like urban hagiography but instead
like a story of disintegration. When we remove our fantasy-inflected perceptions,
what is left of historic Istanbul? What was this great civilization that
Pamuk would say the modern-day Turks were "unfit or unprepared to inherit,"
and what did they do to it?
Re: PTH
http://damau.org/archives/48826
Trần Vũ: Vẫn Orhan Pamuk, đã kể
một kinh nghiệm cá nhân: Sinh ra ở Istanbul nằm vắt lên
hai miền Âu-Á, Pamuk bị dằn xé giữa Đông và
Tây, giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo thủ và
cấp tiến, giữa thế tục và phạm thánh. Trong mình
Pamuk thường xuyên phát vang những đồng cảm với dân
tộc bị thất lạc phải quay về cội nguồn tìm cứu rỗi, cùng lúc
là những trỗi dậy của lý trí giận dữ tệ u mê
sùng bái. Xâu xé tinh thần của Pamuk dữ dội,
vì càng đến gần các giá trị nhân bản
bác ái của Tây phương, Pamuk càng đến gần Thiên
Chúa giáo, trong lúc bản thân là một
tín đồ Hồi giáo. Tuy nhiên, Pamuk đã tranh đấu
duy trì một nhà nước thế tục và là nhà
văn chống tử lệnh Fatwa của Ayatollah Khomeini xử tử khiếm diện Salman
Rushdie. Pamuk còn công nhận thảm sát dân Kurdes
dưới đế chế Ottoman, khiến bị kết án "sỉ nhục căn cước Thổ", phải
lưu vong sang Hoa Kỳ. Pamuk, cũng là nhà văn thú nhận:
"Những quyển sách của tôi là những ý tưởng ăn
cắp không xấu hổ từ thử nghiệm tiểu thuyết của Tây phương, rồi
pha với cổ tích và truyền thống Hồi giáo. Sự trộn lẫn
nguy hiểm của hai khuynh hướng tương khắc, làm nên ánh
lửa mạnh mẽ." Còn Phạm Thị Hoài? Sống lâu ở Đức, nhà
văn có bị "hội chứng Pamuk"? Những khi nhìn đồng hương bị
lôi ra tòa Bá Linh vì phạm pháp, làm
thông ngôn, Phạm Thị Hoài có trắc ẩn?
Phạm Thị Hoài: Giữa Việt Nam và
Đức không chỉ là một khoảng cách về không gian
mà trước hết về thời gian. Đa số người Đức đang sống ở thế kỷ
21, trong khi đa số người Việt còn ở thế kỷ 20, thậm chí
thế kỷ 19, riêng Bộ Chính trị là đã vọt lên
trước, ở thế kỷ 29, là thời đại thiên đường cộng sản. Hai
xã hội đó vận hành khác nhau căn bản. Ở Việt
Nam, đó là một đám đông vừa tán loạn vừa
dính chặt vào nhau, vừa bịt mồm nhau vừa chửi nhau, vừa
mất tiền vừa làm tiền nhau, vừa giành nhau từng centimet
vừa nhích từng centimet về phía trước, trên những phương
tiện lạc hậu nguy hiểm và bóp còi inh ỏi. Ở Đức, đó
là một tập hợp lỏng lẻo của những cá nhân tự do nhưng
có hình khối kết nối rõ ràng, rất kềnh càng
tốn chỗ, nhưng trật tự di chuyển trên những phương tiện hiện đại an
toàn và khá yên tĩnh. Tôi thấy mình
rất may mắn được quan sát cùng một lúc cả hai thế giới
đó, cộng đồng Việt ở Đông Berlin là một xã hội
Việt Nam thu nhỏ. Nhưng người Việt phạm pháp
ở Đức không thấm vào đâu so với ở chính trong nước.
Tôi không hiểu vì sao người ta thấy nhục cho quốc thể
khi đồng bào mình lừa đảo, ăn cắp hay buôn lậu ở nước
ngoài bị phát hiện. Việt Nam đang là đất nước của lừa
đảo, ăn cắp và buôn lậu. Nếu người Việt ra nước ngoài
cũng lừa đảo, ăn cắp và buôn lậu thì đó chỉ là
thể hiện đúng diện mạo dân tộc, không hơn không
kém, họ chỉ trung thành với bản sắc và căn cước Việt
Nam hiện tại.
Note:
Thú thực, viết như thế, là chỉ nhìn thấy hiện
tượng, không thấy cốt lõi.
Cái gọi là bản sắc và căn cước hiện đại này,
chắc chỉ có ở xứ Đức của những người ra đi từ miền Bắc?
Có 1 nước Mít, người Mít khác hẳn, trước
1975, ở cả hai miền đất nước. Người Miền Nam trước 1975, chưa từng bị
thế giới coi là những tên lừa đảo, ăn cắp, và buôn
lậu.
Miền Bắc còn bảnh hơn nữa, qua nhận xét của Brodsky
và của Milosz, khi họ viết về đất nước của họ, và về những
người dân của chúng, mà họ là những đại diện
đích thực.
Có 1 xứ Bắc Kít cực kỳ tuyệt vời, như 1 cái
bát cổ mà một nhà văn của nó [LMH, qua 1 truyện
ngắn đăng trên tờ Văn Học của NMG] cố gìn giữ, chỉ sợ bể
vỡ.
Những dòng sau đây, là viết về xứ Bắc, người
Bắc, khác hẳn nhận xét tàn nhẫn của Sến.
Gấu bị chửi là chửi Bắc Kít cực kỳ dã man.
Không đúng.
Coetzee dẫn lời nhà thơ cổ điển vĩ đại nhất
của thời của riêng chúng ta, nhà thơ Ba Lan Zbigniew
Herbert.
Ông này phán: đối nghịch của cổ điển thì
không phải là hiện đại, mà là man rợ.
Cú đụng độ “cổ điển vs man rợ” không hẳn một đối nghịch,
mà là một đối đầu [not so much an opposition as a confrontation].
Với Herbert, đối
nghịch Cổ Điển không phải Lãng Mạn, mà là
Man Rợ. Với nhà thơ Ba Lan, viết từ mảnh đất văn hóa Tây
Phương không ngừng quần thảo với những láng giềng man rợ,
không phải cứ có được một vài tính cách
quí báu nào đó, là làm cho
cổ điển sống sót man rợ.
Nhưng đúng hơn là như thế này: Cái sống
sót những xấu xa tồi tệ nhất của chủ nghĩa man rợ, và cứ
thế sống sót, đời này qua đời khác, bởi những con
người nhất quyết không chịu buông xuôi, nhất quyết bám
chặt lấy, với bất cứ mọi tổn thất, (at all costs), cái mà
con người quyết giữ đó, được gọi là Cổ Điển
Miền Bắc, sở dĩ tồn tại được là nhờ cuộc chiến chống man
rợ, kể trên, mà Brodsky diễn tả qua những dòng được
Milosz vinh danh:
Trong một tiểu luận, Brodsky
gọi Mandelstam là nhà thơ văn hóa. Brodsky, chính
ông, cũng là một nhà thơ văn hóa, và
có thể chính vì thế mà ông trước tác
hài hòa với dòng sâu thẳm của thế kỷ, trong
đó con người, bị de dọa bởi sự tuyệt giống người, đã khám
phá ra quá khứ của nó, như là một mê cung
chẳng hề tận cùng. Nhập vào lòng mê cung, chúng
ta khám phá ra một điều, là, bất cứ cái chi,
nếu mà sống sót từ quá khứ, thì đều là
hệ quả của nguyên lý ‘mày khác tao, tao khác
nó, nó khác mày’, tức nguyên lý
dựa trên đẳng cấp, tôn ti trật tự, không phải cứ xoa
đầu hay nâng bi ông tiên chỉ, ông Trùm văn
nghệ, thì là bằng vai vế với họ, thí dụ vậy.
Mandelstam, khi ở trong Gulag,
điên khùng, và tìm kiếm đồ ăn trong đống rác,
là thực tại về bạo tàn, thoái hoá đưa đến
huỷ diệt. Nhà thơ đọc thơ của mình cho bạn tù, là
một khoảnh khắc thăng hoa hoài hoài.
Cái xứ Bắc Kít đẹp đẽ đó, giống như 1 cái
bát cổ dễ vỡ, sống sót man rợ, có ở trong những
dòng văn chương của những người như Nguyễn Tuân [Chữ Người
Tử Tù, thí dụ], đúng là xứ sờ quê hương
của Milosz, khi ông vinh danh nó:
It is good to be born in a small country
where nature is on a human scale, where various languages and religions
have coexisted for centuries. I am thinking here of Lithuania, a land of
myth and poetry.
Thật lốt lành khi sinh ra tại một xứ nhỏ, nơi thiên
nhiên không so le với con người, nơi ngôn ngữ và
tôn giáo cùng rong ruổi bên nhau qua nhiều đời.
Tôi đang nghĩ về Lithuania, miền đất của huyền thoại và thi
ca.
Milosz, Diễn văn Nobel văn chương.
Cái gì, làm cho
1 xứ sở đẹp đẽ như thế biến mất?
Theo GCC, cái chết của Bắc Kít,
là do nền học vấn dậy con nít hận thù, trăm năm trồng
cây.
Y hệt Nazi.
NOTES GERMANY & ON THE WAR
A Pedagogy of Hatred
Displays of hatred are even more obscene and denigrating
than exhibitionism. I defy pornographers to show me a picture more vile
than any of the twenty-two illustrations that comprise the children's book
Trau keinem Fuchs auf gruener Heid und keinem Jud bei seinem Bid [Don't
Trust Any Fox from a Heath or Any Jew on his Oath] whose fourth edition now
infests Bavaria. It was first published a year ago, in 1936, and has already
sold 51,000 copies. Its goal is to instill in the children of the Third
Reich a distrust and animosity toward Jews. Verse (we know the mnemonic virtues
of rhyme) and color engravings (we know how effective images are) collaborate
in this veritable textbook of hatred.
Take any page: for example, page 5. Here I find, not without justifiable
bewilderment, this didactic poem-"The German is a proud man who knows
how to work and struggle. Jews detest him because he is so handsome and
enterprising" -followed by an equally informative and explicit quatrain:
"Here's the Jew, recognizable to all, the biggest scoundrel in the whole
kingdom. He thinks he's wonderful, and he's horrible." The engravings are
more astute: the German is a Scandinavian, eighteen-year-old athlete, plainly
portrayed as a worker; the Jew is a dark Turk, obese and middle-aged. Another
sophistic feature is that the German is clean-shaven and the Jew, while
bald, is very hairy. (It is well known that German Jews are Ashkenazim,
copper-haired Slavs. In this book they are presented as dark half-breeds
so that they'll appear to be the exact opposite of the blond beasts. Their
attributes also include the permanent use of a fez, a rolled cigar, and
ruby rings.)
Another engraving shows a lecherous dwarf trying to seduce a young
German lady with a necklace. In another, the father reprimands his daughter
for accepting the gifts and promises of Solly Rosenfeld, who certainly will
not make her his wife. Another depicts the foul body odor and shoddy negligence
of Jewish butchers. (How could this be, with all the precautions they take
to make meat kosher?) Another, the disadvantages of being swindled by a
lawyer, who solicits from his clients a constant flow of flour, fresh eggs,
and veal cutlets. After a year of this, the clients have lost their case
but the Jewish lawyer "weighs two hundred and forty pounds." Yet another
depicts the opportune expulsion of Jewish professors as a relief for the
children: "We want a German teacher;' shout the enthusiastic pupils, "a joyful
teacher who knows how to play with us and maintain order and discipline. We
want a German teacher who will teach us common sense." It is difficult not
to share such aspirations.
What can one say about such a book? Personally I am outraged, less
for Israel's
sake than for Germany's,
less for the offended community than for the offensive nation. I don't know if the world can do without
German civilization, but I do know that its corruption by the teachings
of hatred is a crime.
[1937]
Jorge
Luis Borges: Selected Non-Fictions, Penguin Books
Người dịch: Suzanne Jill Levine
*
Note: Tình cờ vớ được bài trên, Sư Phạm của Hận Thù, đọc, Gấu
bỗng nhớ đến bài viết Còn Lại Gì? của PTH, thí
dụ, những đoạn dậy toán bằng đếm xác Mỹ Ngụy...
I don't know
if the world can do without German civilization, but I do know that its
corruption by the teachings of hatred is a crime.
Cái việc dậy con nít hận thù
là một tội ác. Cái sự thắng trận và băng hoại
sau đó, chính là cái tội ác vì
dậy con nít thù hận.
Phạm Thị Hoài
Còn lại gì
Như mây đã sẵn ở trên trời, lúc
tôi sinh ra chiến tranh cũng đã sẵn. Tôi không
phải làm quen với nó, nó phải làm quen với
sự xuất hiện của tôi. Mười lăm năm, ngày ngày ngửa
mặt ngắm chiến tranh chầm chậm trôi, tôi không là
một đứa bé bất hạnh. Những đám mây ấy phần lớn đều mầu
hồng. Thỉnh thoảng có đám mây giông, nhưng chỉ
để mầu hồng sau đó càng rực rỡ. Ngay cả khi chiến tranh
ở nơi sơ tán là chùm bom lao vùn vụt, nhanh
hơn mọi vật biết chuyển động mà tôi từng biết cho đến lúc
ấy; ngay cả khi chiến tranh là những cánh tay và khúc
chân rơi rải rác mà lúc đi nhặt tôi cố
đoán chúng từng thuộc về bạn nào, lớp nào...,
thì với tôi, sinh ra và lớn lên tại miền Bắc Việt
Nam những năm sáu mươi và bảy mươi, chiến tranh tự nhiên
thuộc về cuộc sống, là phần tươi hồng của cuộc sống. Gắn với cuộc
chiến ấy, cái chết cũng lấp lánh, cũng nháy mắt hẹn
ngày mai gặp lại. Nếu không có thay đổi gì đặc
biệt, lúc tôi ra khỏi cuộc đời thì chiến tranh hẳn vẫn
bình thản trôi tiếp, như mãi mãi là thế,
như mây trên trời.
Mùa
xuân năm 1975, từ giữa tháng Ba với Buôn Ma Thuột, mỗi
buổi sáng trước giờ khai giảng một học sinh tiên tiến được
vinh dự cầm cây cờ đỏ sao vàng bé xíu lên
cắm trên tấm bản đồ đất nước, đúng ở điểm vừa được giải phóng,
vừa “hoàn toàn thuộc về ta“. Huế 26.3, Đà Nẵng 29.3,
Phan Rang 16.4, Xuân Lộc 21.4... Mầu đỏ san sát, tiến ào
ạt xuống phiá Nam tới mức tôi sợ đến
lượt mình thì không còn đất cắm. Ngày
27.4, cầm lá cờ làm bằng giấy mầu và tăm tre tiến
vào Bà Rịa, tôi cũng khóc như bao người, nhưng
không phải nước mắt của chiến thắng. Tôi có biết gì
đâu về cái giá của chiến thắng. Đó là
nước mắt của chia tay. Chiến tranh đã làm quen với tôi,
nay tôi phải làm quen với sự ra đi của nó. Ai sẽ thay
nó, nháy mắt chào? Còn lại gì, sau chiến
tranh?
Một
thập kỉ hậu chiến với chế độ phân phối thời chiến, nếp sống hà
khắc thời chiến, tư duy sắt đá thời chiến, xung đột quân
sự ở biên giới phiá Tây với Cambodia, xung đột quân
sự ở biên giới phía bắc với Trung Quốc và sự tiếp diễn
của chiến tranh lạnh đã biến nền độc lập dân tộc vừa giành
được thành sự cô lập quốc tế, biến đất nước vừa thống nhất
thành một lãnh thổ toàn vẹn của nghèo đói,
lạc hậu và đàn áp từ Bắc chí Nam. Sống ở Hà
Nội đầu những năm tám mươi, tôi đã hình dung
mình sẽ sinh một đứa con, và nó sẽ mở đầu lí
lịch bằng câu: Như mây đã sẵn ở trên trời, khi
tôi sinh ra hậu chiến cũng đã sẵn. Ngày ngày
cúi mặt cho những đám mây hậu chiến mầu chì
chầm chậm trôi... Nhưng giữa thập niên tám mươi, chính
sách Đổi mới bắt đầu. Những người chiến thắng phải mất mười năm
để nhận ra rằng vinh quang không phải là thứ nhai được thay
cơm. Năm 1994, lệnh cấm vận thương mại với Việt Nam được
bãi bỏ, tiến trình bình thường hoá quan hệ
Việt-Mĩ bắt đầu. Nước Mĩ mất hai mươi năm để kí giao kèo
hoà thuận với quá khứ của chính mình. Với Mĩ,
chiến tranh Việt Nam
đã hoàn toàn thuộc về lịch sử. Nó chỉ còn
được dùng bốn năm một lần làm phép thử không
mấy hiệu nghiệm cho lòng ái quốc và tư cách
đạo đức của các ứng viên tổng thống, hoặc để đối chiếu với
những cuộc chiến khác mà Mĩ đã và có
thể sẽ bận bịu tiến hành. Ba mươi năm sau, người ta nói ngắn
gọn: Lịch sử đã lên sẹo, hãy cho nó được nghỉ
yên, không có lí do gì để khai quật những
chứng tích chẳng còn liên quan đến hiện tại. Hãy
nhìn về tương lai.
Tôi
thuộc về số - có lẽ là thiểu số - những người không
dễ dàng tuyên bố như thế. Ba mươi năm sau, lá cờ nhỏ
bằng nửa bao diêm gắn trên đầu tăm mà tôi cắm vào
Bà Rịa trở nên trĩu nặng trong tay tôi hơn bao giờ.
Vâng, 4 triệu dân thường, 1 triệu binh sĩ tử vong, hàng
triệu trẻ em mồ côi và phụ nữ goá bụa, hàng chục
triệu người chịu thương tích thể xác và tâm
hồn, 76 triệu lít chất độc hoá học và 13 triệu tấn
bom đạn... là những con số đã thuộc về lịch sử, tôi
không khai quật những con số. Nhưng các hậu quả trầm trọng nhất
của cuộc chiến tranh đạt những kỉ lục không thể vượt qua của sự phi
nhân tính ấy vẫn còn nguyên, đơn giản vì
chúng chưa bao giờ được đưa vào danh sách các
hậu quả cần khắc phục.
Kết
cục của chiến tranh Việt Nam là sự toàn thắng
của những người cộng sản. Cuộc chiến ấy là nguồn sữa, trường học và
hòn đá thử của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam, là lời biện
minh của lịch sử cho quyền lãnh đạo tất yếu của Đảng Cộng sản, là
bằng chứng của sự hoàn thành một Thiên mệnh. Chủ nghĩa
cộng sản đã tìm được con đường đặc biệt của nó tại Việt
Nam
để lên ngôi: thông qua một Thiên mệnh đặc biệt đẫm
máu. Song chiến tranh thì đã qua, Thiên mệnh vẫn
còn lại. Từ ấy đến nay, tính chính đáng của ba
mươi năm trước được ôn lại ráo riết, được khẳng định bền bỉ,
được chân lí hoá và thần thánh hoá;
những anh hùng thời chiến tiếp tục giành độc quyền chỉ huy
thời bình; chế độ chỉ đạo quân sự trong chiến tranh thăng hoa
trọn vẹn vào chế độ lãnh đạo toàn trị trong hoà
bình. Hơn ai hết, Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu rõ rằng mọi thứ
đều có thể đối mới, nhưng huyền thoại về Thiên mệnh ấy không
được phép suy suyển, bởi mọi lí tưởng của chủ nghĩa cộng sản
hoặc đã bị bản thân những người cộng sản đang cầm quyền phản
bội mà không một lời tự xin lỗi, ít nhất trước chính
mình, hoặc đã hoàn toàn phá sản. [1] Chẳng
lẽ có thể xếp cuộc chiến tranh ấy vào hồ sơ của một giai đoạn
lịch sử, nhưng giấy ủy nhiệm của giai đoạn lịch sử ấy thì giữ vô
thời hạn cho riêng mình? Tại Việt Nam ba mươi năm sau chiến
tranh, những giá trị nền tảng của văn hoá Việt truyền thống
đều đã mất hiệu lực, những giá trị cao cả nhất của lí
tưởng cộng sản đã trở thành trò hề, những giá
trị căn bản nhất của mô hình dân chủ xuất phát
từ phương Tây chưa tìm được chỗ đứng, và những giá
trị tích cực nhất của một thế giới toàn cầu hiện đại chưa
thành hình. Nạn tham nhũng, tình trạng phạm pháp,
sự băng hoại đạo đức và nhân cách, sự sụp đổ của hệ thống
y tế và giáo dục, đà tăng tiến chóng mặt của
bất bình đẳng xã hội, quả bom nổ chậm của xung đột sắc tộc
và tôn giáo, nguy cơ hỗn loạn từ một nông thôn
khổng lồ hoàn toàn bị bỏ rơi, sự tàn phá và
ô nhiễm môi trường, sự nghèo nàn thảm hại của
đời sống tinh thần, sự tê liệt của tầng lớp trí thức, sự vô
hiệu hoá khả năng liên kết của các tầng lớp xã
hội, sự khủng hoảng niềm tin và thiếu vắng hi vọng..., trước tất
cả những vấn nạn đó của thời hậu cộng sản, chế độ toàn trị
tại Việt Nam đã có đủ thời gian và cơ hội để chứng minh
xuất sắc rằng mình không còn thẩm quyền, và nhất
là không còn độc quyền đưa ra giải pháp. Chẳng
lẽ có thể tiễn cuộc chiến tranh Việt Nam vào bảo tàng, nhưng đi
theo chế độ toàn trị Việt Nam vào tương lai? Chẳng
lẽ cái giá xứng đáng cho hoà bình là
một nền độc tài?
Kết
cục của chiến tranh Việt Nam không phải là sự sụp đổ của
Hợp chúng quốc Hoa Kì, mà là sự tiêu
vong của Việt Nam Cộng Hoà, quốc gia từng hiện diện trên một
nửa lãnh thổ Việt Nam không kém hợp pháp hơn
người anh em của nó ở phiá Bắc, và - bất chấp tất cả
sự thối nát của những nội các cụ thể, sự bất lực của các
nhân vật lãnh đạo cụ thể - là nhà nước đầu tiên
trong lịch sử Việt Nam thiết lập trên những nguyên tắc căn bản
của nền dân chủ hiện đại. [2] Tôi sẽ không bao giờ gột
nổi thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan trong bức hình nổi tiếng của Eddie
Adams ra khỏi trí nhớ, và những lời nói sau của người
phóng viên nhiếp ảnh ấy chỉ tô đậm đường nét
bi kịch quái đản mà Orina Fallaci đã phác hoạ
sau buổi gặp giữa bà và ông Giám đốc Nha Cảnh
sát Sài Gòn, người yêu hoa hồng, Brahms, Chopin,
khinh bỉ nghiệp võ biền, ví một nhà sư tự thiêu
trong phong trào Phật giáo phản kháng với một con chó
say ma tuý và coi Việt Cộng là một lũ trẻ hư đáng
bị ăn đòn [3] . Nhưng nhà tù, trại cải tạo, tước đoạt
tài sản, kì thị trẻ em lai, phân biệt đối xử và
thanh trừng trí thức, huỷ diệt và cấm đoán các
sản phẩm văn hoá văn nghệ, xoá trắng hàng loạt cuộc
đời và sự nghiệp... ở quy mô bao trùm toàn xã
hội miền Nam ngay sau ngày giải phóng nhất định không
phải là những hành vi xứng đáng với tư thế của kẻ chiến
thắng trong chính nghĩa, không phải là bằng chứng cho
tính ưu việt của chế độ mới so với chế độ mà nó vừa
kết liễu. Ba mươi năm sau, Việt Nam vẫn chưa một lần chính thức ghi
nhận cuộc di tản đau thương của gần một triệu người Việt miền Nam. Như
thể họ không thuộc về dân tộc Việt và khối đại đoàn
kết dân tộc đã khai trừ họ. Như thể nước Việt Nam là
của những người Việt này và không của những người Việt
khác. Như thể lúa đã mọc lại trên chiến hào
ra sao thì tình dân tộc ắt bắt rễ trên miệng hố
sâu của chia rẽ và hận thù như thế, chẳng cần ai khoả
lấp. Người ta dễ dàng nói ngắn gọn: Vết thương đã ăn
da non, đừng ngoáy sâu vào nữa. Nhưng đó không
là vết thương. Đó là khối u mà thời gian không
hề là phép chữa nhiệm mầu. Ngược lại. Sự chia cắt dân
tộc là điểm xuất phát của cuộc chiến, chẳng lẽ điều còn
lại ba mươi năm sau chiến tranh vẫn là chia cắt? Làm sao
có thể hoà giải, nếu không sám hối và
tha thứ? Làm sao có thể khép lại quá khứ, khi
người Việt và người Mĩ đã có thể chìa tay cho
nhau, nhưng người Việt tiếp tục không chìa tay cho người Việt?
Ba
mươi năm nay, với mỗi ngày một lòng biết ơn không thuyên
giảm tôi làm quen với hoà bình. Nhưng những
cái bóng đen nhất mà chiến tranh Việt Nam hắt
lại vẫn còn đó. Vẫn chầm chậm trôi, như mãi mãi
là thế, như mây trên trời. Nếu không có
thay đổi gì đặc biệt.
(Phần
chính của bài viết này đã đăng trong bản dịch
tiếng Anh ngày 29.4.2005: http://www.opendemocracy.net/themes/article-1-2464.jsp)
© 2005 talawas
[1]
Tôi muốn dành chú thích này để bày
tỏ lòng tôn trọng với những người cộng sản còn giữ
nguyên ước mơ về một thế giới đại đồng, lòng kính trọng
với những người cộng sản đã ngã xuống cho ước mơ ấy, lòng
cảm phục và hi vọng với những người cộng sản phản tỉnh và
li khai đường lối toàn trị của chủ nghĩa xã hội hiện thực.
[2]
Nhận định này không đồng nghĩa với việc chia sẻ hay ủng hộ
các nỗ lực phục hồi Việt Nam Cộng Hoà như thường thấy ở không
ít cộng đồng người Việt tị nạn. Lịch sử không thể làm
lại, mặc dù có thể viết lại.
[3]
Orina Fallaci, Niente e cosí sia, 1969, chương 3, ngày 17
tháng 12.
Sến phán, cực
bảnh:
Nhận định này không đồng nghĩa với việc chia sẻ hay ủng
hộ các nỗ lực phục hồi Việt Nam Cộng Hoà như thường thấy
ở không ít cộng đồng người Việt tị nạn. Lịch sử không
thể làm lại, mặc dù có thể viết lại.
Đọc văn Sến, thì Gấu bỗng nhớ dến 1 cái mail của 1 vị
độc giả Tin Văn, thời gian Gấu, như 1 con sói đơn độc bị cả 1 bầy
chó xúm lại tính làm thịt, ở, hơn 1 diễn đàn
trên lưới, nào Chợ Cá Bá Linh, nào Đàn
Chim Vẹt, nào Hạ Bộ, nào Da Vàng. Vị này nhận
xét, giọng văn của mi tếu táo, làm ra vẻ phách
lối, mất dậy, nhưng thực sự không phải như vậy.
Tks.
Gấu sợ văn của Sến, giả như gặp vị này, chắc “không được
an ủi như vậy”!
Cái chuyện vực dậy xác chết VNCH, như Sến phán,
không hề có, giả như có, cũng vô phương. Xã
hội Miền Nam, sau khi bị Bắc Kít đô hộ, đã không
còn như trước nữa, đó là sự thực. Sở dĩ VNCH được như
vậy, là nhờ xã hội Miền Nam, khi có chế độ VNCH. Người
dân nhớ, và thèm, cái nền tảng, cái quá
khứ đẹp đẽ đó, không phải VNCH. Sến không đọc ra cái
nhớ cái thèm, lại tưởng là họ muốn vực dậy 1 cái
xác chết!
A Critic at Large
The military
historian Max Boot takes on the counter-insurgency maven Edward Lansdale.
By Louis
Menand
This article
appears in the print edition of the February 26, 2018, issue, with the
headline “Made in Vietnam.”
Note: Tờ
NY điểm cuốn viết về Trùm Xịa ở Miền Nam ngày nào.
Nhiều người đọc Graham Greene, và nghĩ tiền thân
của Người Mỹ Trầm Lặng, là Lansdale.
Không phải. Nguồn của Người Mỹ Trầm Lặng rắc rối
hơn nhiều, như trong cuốn tiểu sử của ông cho thấy.
"Đại tá Edward Lansdale - người được coi là khuôn
mẫu cho nhân vật chính trong Người Mỹ Trầm Lặng của Graham
Greene".
Bass
Một anh
Xịa cáo già như Lansdale làm sao lại có thể
là nguyên mẫu cho một Mẽo gà mờ cù lần như
nhân vật Pyle trong Người Mỹ Trầm Lặng?
Như Norman Sherry cho thấy, Pyle là tổng hợp của nhiều
người. Có cả Lansdale trong số đó. Nhưng Sherry chứng minh,
Pyle bản chất là một anh Hồng Mao: Pyle is straight out of a good
quality public school - in essence he is
English.
Có thể Ẩn giống Pyle, theo nghĩa này, bản chất
của anh là một Cộng Sản. Một người Bắc
vô Nam trước 1954 và là một Cộng Sản, làm
việc cho Bắc Bộ Phủ.
Đây là sự khác biệt giữa Trung [phi công
ném bom Dinh Độc Lập] và Ẩn.
Trung là một con người, với lòng hận thù
rất con người của anh. Có thể, chuyện anh ta theo CS chỉ giản
dị như thế này: Tụi bây giết cha tao, tao thù tụi
bay, tao theo Cộng Sản, chủ nghĩa đó tốt xấu tao đếch cần biết,
nhưng chắc chắn, nhờ nó, tao sẽ trả thù được cho cha tao.
Ẩn, không. Anh chẳng thù hằn gì cái
miền đất đã nuôi dưỡng anh, nhưng, có thể, anh tin
rằng, miền đất này sẽ còn khá hơn thế nhiều, nếu
nó được Bác và Đảng chăm lo. Cái tay Hoàng
Tùng [?] dâng Đất Thục, cho, hết Tào Tháo đến
Lưu Bị, đâu phải hắn là một tên phản quốc khốn kiếp!
Hắn nghĩ rằng, như vậy là tốt cho Đất Thục!
Có thể Cao Bồi đã nghĩ như vậy, khi "nằm gai nếm
mật", ăn cơm quốc gia, giả đò làm việc cho Mẽo, nhưng
thực tình thì là một con ngựa Hồ hướng về, hí
về... Đất Bắc! Tâm sự của anh là như vầy:
Từ thuở
mang gươm đi dựng nước,
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long!
The Spy
Who Loved Us: Tên Điệp Viên Thươn[g] Chúng Ta.
Ẩn dẫn tôi qua vườn của anh, một khu
vườn nhiệt đới xum xuê hương hoa cây trái. Dõi
theo chúng tôi, từ bên trong mấy cái chuồng
dưới gốc cây, là một con diều hâu, thứ chim cắt chuyên
săn mồi, và ba con gà chọi của Ẩn. Chúng tôi
ngừng ở giữa vườn để ngắm một bức tượng, bằng sành, một trong những
chú chó săn cừu nòi Đức thân thương của Ẩn.
Ẩn nói, anh học cách dùng chó trong tình
báo từ một tay Xịa: Đại tá Edward Lansdale - người được coi
là khuôn mẫu cho nhân vật chính trong Người
Mỹ Trầm Lặng của Graham Greene. “Tôi huấn luyện chúng, để chúng
có thể báo động, khi mấy anh cảnh sát xét nhà,
khi còn cách xa cả kí lô mét.”, Ẩn nói.
"Nó là một điệp viên tốt".
Bass: The Spy Who Loved Us
Chuyện mấy anh Mẽo hay nhắc tới Greene khi viết về Ẩn, và
Ẩn, khi thú nhận, mình học từ ông thầy Xịa cách
luyện chó để trị cảnh sát, tất cả đều có nguyên
nhân sâu xa của chúng.
Norman
Sherry, trong bộ ba khổng lồ, Cuộc Đời Greene, của ông, có
đưa ra nhận xét, anh phóng viên Mẽo nào, trên
đường tới Việt Nam, vào những năm tháng nóng bỏng
đó, đều lận lưng một bửu bối, là cuốn Người Mỹ Trầm Lặng.
Trong truyện ngắn, gần như là một thứ tự truyện, Cõi
Khác, Gấu đã lầm, khi nghĩ rằng, mấy anh Mẽo này
mơ tưởng viết một cuốn tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam có
vóc dáng Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh của
Remarque.
Tại sao lại có sự "lầm lẫn" như thế? Liệu có phải
Greene hơn Remarque? Gấu vẫn thường tra vấn mình, và sau
cùng, nhân đọc một số tác giả, trong số đó,
có Steiner, Benjamin, Milosz... và ngộ ra là:
Sau Remarque, hay rõ hơn, sau Đệ NhấtThế Chiến, không
thể có một Mặt Trận Miền Tây nào, cho bất kỳ một
cuộc chiến nào.
Remarque là nhà văn chấm dứt thứ tiểu thuyết
viết về chiến tranh như cuốn của ông. (1)
Đây là điều những nhà phê bình
nước ngoài nhận ra, khi đọc Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh,
và coi nó cao hơn Mặt Trận Miền Tây. Cao hơn không
phải là do Bảo Ninh có tài hơn, mà là,
chiến tranh, con người, ở trong Nỗi Buồn Chiến Tranh khác với chiến
tranh, con nguời như được miêu tả trong Mặt Trận Miền Tây.
Tiếp theo đó, cũng thế, số phần của Greene, là
phải viết Người Mỹ Trầm Lặng. Những so sánh nhắc nhở tới ông,
là vì ai cũng muốn được như... ông.
Toan tính rõ rệt nhất, và, thất bại rõ
rệt nhất, là trường hợp cuốn Thời Gian Của Người của Nguyễn Khải.
Nó thất bại, là do muốn hay hơn cả Người Mỹ Trầm Lặng,
theo nghĩa, lọc bỏ hết cái xấu xa, cái ác quỉ, của
cả con người lẫn cuộc chiến, và nhất là của con người, như
là một tên điệp viên. Nó thiếu cái phần
sự thực cay đắng, chua chát nhất, ở một nhà văn Ky Tô
như Greene, [so với một nhà văn Cộng Sản như Khải], khi ông
tuyên bố:
“Tôi phải kiếm cho ra một tôn giáo để đo lường
cái phần quỉ ma ở nơi tôi”.
Nhân vật Quân [hoá thân của Ẩn,] trong
Thời Gian Của Người "thánh thiện quá" [theo nghĩa thép
đã tôi thế đấy], nhà văn như Nguyễn Khải, một lòng
một dạ biết ơn Đảng, viết dưới ánh sáng của Đảng, thành
thử chỉ đẻ ra một thứ phẩm, đúng như Gide nói. [Những tình
cảm tốt đẹp đẻ ra một thứ văn chương tồi].
Một
cách nào đó, cuốn Người Mỹ Trầm Lặng có một
vị thế [position,status], của cuốn Bóng Đêm Giữa Ban Ngày
của Koestler.
Nó cũng chứa trong nó, vụ án của thế kỷ.
Tuyệt!
Gấu [tự
xoa đầu Gấu!]
*
(1) ... Steiner, đã chỉ ra sự khác biệt của văn
chương Tây Phương, giữa hai Cuộc Chiến Lớn. Cuộc chiến 1914-1918
đưa tới những tác phẩm cổ điển như "Thôi Đừng Diễn Hành"
(No More Parades), của Ford Madox Ford, "Lửa" (Feu), của Barbusse, "Phòng
Lớn" (Enormous Room) của Cummings, "Giã Từ Vũ Khí" (Farewell
to Arms) của Hemingway, âm hưởng chiến trường và thái
độ của người dân ở chương cuối của Proust. Những tác phẩm
lớn về thảm họa thứ nhì là phóng sự và chứng
nhân tức thời: "Bay Đêm" (Vol de Nuit) của Saint-Exupéry,
"Hiroshima" của Hersey, "Nhật Ký" của Anne Frank, "Ghi Chú
từ Ghetto Warsaw" của Emmanuel Ringleblum. Không một nhà thơ,
không một tiểu thuyết gia nào, cho tới nay, có thể đem
đến cho thực tại trại tập trung, sự sáng suốt nghiêm ngặt,
làm chủ kinh nghiệm, như là chúng ta nhận thấy ở trong
nghiên cứu xã hội "Trái Tim Biết" (The Informed Heart),
của Bruno Bettelheim. Giả tưởng ngậm câm trước
tính lớn lao của sự kiện; trước uy quyền lồng lộng như thế, chỉ
có phóng sự không hoa hòe hoa sói mới
có thể làm bật ra được.
[Đọc
Đó Đây của Trúc Chi]
Coezee, Portrait
Tính tằn tiện dã
man của J.M. Coetzee
Ghi chú về 1 giọng văn:
Simon Willis khui ra 1 giọng văn gầy còm, không
có tí mỡ, và đe dọa.
Đọc Coetzee thì như bơi
trong 1 biển, mặt biển phẳng lặng, và sóng dội
từ bờ, mới hung bạo làm sao. Những câu văn của ông
thì còm cõi, những đề tài, đe dọa [Trên
tờ TLS Gấu mới đọc, kiếm hoài không thấy trong mớ sách
báo, 1 bài viết về ông, theo đó, hai
đề tài chủ yếu của ông là race and rape, sắc
dân và hiếp dâm]: quyền lực, sắc dân, quyền
của thú vật, và thú tội. Trong những tác
phẩm sau này, có sợi chỉ tôn giáo và
cứu chuộc. Cuốn tiểu thuyết mới có tên “Tuổi thơ của Chúa
Ky Tô”.
Sinh tại Nam Phi, 1940, ông
trải qua tuổi đôi mươi đau nỗi đau nôn mửa, khi đối
diện trang sách trống rỗng – Mít kêu là
trang giấy trắng tinh – Cơn bịnh bớt đi, khi, vào năm 1974,
ông cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay, “Dusklands”. Kể từ đó,
ông viết những tác phẩm thấm thiá về thời kỳ
phân biệt, và hậu phân biệt chủng tộc – bao gồm
“Đời và Thời của Michael K” (1983) và Ô Nhục, Disgrace (1999), cả
hai đều đợp Booker Prize, cũng như là những tiểu thuyết quá
tiểu thuyết đến trở thành những tiểu luận, và những
hồi ức, memoirs, quá memoir đến trở thành tiểu thuyết.
Ông đợp Nobel năm 2003.
Trước khi là tiểu thuyết
gia, thì là 1 nhà toán học, nhà
khoa bảng, và câu văn của ông sáng lên
nhờ cái vẻ khắc khổ, và, trong sáng. Vài
chuyên gia phê là cứng quá, cằn cỗi quá.
Nhưng, như là 1 văn phong, như Michael Wood chỉ ra, nó
đưa bạn “qua 1 xứ sở còi cọc, nhưng tới một miền của nỗi chán
chường, tuyệt vọng”.
Quyết định Chìa Khóa
Đi Mẽo [Austin, Texas]. Vào
năm 1965, Coetzee tới đó, làm cái luận án
Tiến sĩ. Ở thư viện đại học, ông vớ được những bản thảo
đầu của cuốn tiểu thuyết “Watt” của Samuel Beckett. Ông la
lên, “ơ rơ ka”, kiếm thấy rồi! Beckett đem đến cho Coetzee
một “sound” [âm, vọng, tiếng, giọng…] Bạn có thể nghe
thấy nó, rõ ràng nhất, mạnh mẽ nhất, khỏe nhất,
ở trong những độc thoại "xa rồi, xưa rồi, diễm ơi, nhạt nhòa
như mưa", của “Dusklands”, và “Ở Trái Tim của Xứ Xở” (1977).
Bài học quan trọng nhất của tất cả, là, sự kiềm chế, cố
nén. “Tư tưởng thì như con chó thèm cục
kít," [Em như cục kít trôi sông/Anh như con
chó chạy rông ven bờ], Coetzee viết, “văn xuôi thì
như sợi dây [kìm con chó]
Luật Vàng
Keep it spare [Giữ riêng ra, thật
chặt]. Sợi dây dẫn chó trở thành cái
thòng lọng, và ông bèn xiết thật chặt,
trong Ô Nhục, đẩy nhân vật của ông,
giáo sư David Lurie, vào đống lửa, bằng, chỉ 1 câu
văn: “Quẹt cây diêm đánh dzẹt 1 phát, và
thế là ông bèn ngập trong một biển lửa, xanh,
lạnh”. Nhưng sợi thòng lọng rung lên, như người đọc
run lên, theo từng trang sách, cùng với những
đề tài khủng khiếp và quyền lực của chúng: “Tôi
ngập ngụa trong ô nhục đến không làm sao cất mình
ra khỏi”, Lucy sau đó nói.
Điểm mạnh
1. Đại từ.
“Tôi”, hay “anh ấy” thì
là những từ đơn giản, ngoại trừ dưới tay Coetzee, khi
ông sử dụng tới chúng. Tuổi thơ, "Boyhood"
(1997), Tuổi Trẻ,
"Youth" (2002), Hạ Thì, "Summertime"
(2009), thì đều là những tác phẩm tự thuật.
Hai cuốn đầu, viết bằng ngôi thứ ba, thời hiện tại. Trong
cuốn thứ ba, Coetzee ngỏm.
Trò chơi đặt ra những câu hỏi nghiêm
trọng:
Chúng ta biết, nhiều như thế nào,
về chúng ta?
Nghĩa là gì, nói... sự thực?
2. Hình thức. Thể
dạng.
Xiêu vẹo tới đây hay tới đó,
đó là hồi ký, đó là Coetzee
viết những ẩn dụ, và thư từ. Trong Nhật Ký Năm Xấu, "Diary of a
Bad Year" (2007), ông chia 1 trang ra thành 3,
mỗi trang nhỏ như thế treo 1 dòng kể. Kết quả, 1 tẩu khúc
cho ba giọng.
Re: Tiếng Anh mới tinh [còn
trinh] của những đấng Bắc Kít vs Tiếng Anh có mùi
bồi Mẽo của lũ Ngụy.
Chúng rất khác nhau. Đừng nghĩ là
thằng Gấu khốn nạn, khi viết như thế, cố tình gieo thêm
hận thù giữa hai miền. Đây là 1 đề tài rất
ư nghiêm chỉnh, Gấu mới ngộ ra, nhân đọc cuốn “Phịa ra kẻ
thù”, “Inventing the enemy” của Eco. Từ từ trình tiếp
Trên tờ NYRB, Oct 27, 2011,
có bài viết, mới tìm thấy, đăng lần đầu, một tiểu luận
của Saul Bellow, “Một nhà văn Do Thái ở Mẽo”, “A Jewish Writer in America”. Ðọc loáng
thoáng trên subway trên đường về nhà, thấy câu
này, thứ ngôn ngữ lưu vong không thể kéo dài
mãi mãi được, the language of the Diaspora will not last, GCC
bỗng nhớ đến những bản nhạc “lưu vong”, “bầy chim bỏ xứ” của PD, thí
dụ, và tự hỏi, PD về rồi, nhà nước OK rồi, và từ từ
sẽ cho hát hết những bài nhạc của ông, nhưng, “bầy chim
bỏ xứ”, thì sao?
Hà, hà!
Căng dữ hà!
Bài viết của Saul
Bellow mới đăng phần đầu. Còn 1 phần nữa. Ðọc thú
lắm. Cũng nhắc tới cái từ thật đểu để chỉ đám Pháp
lai, métèque, khách trú, dịch sang tiếng
Anh, outsider, resident alien.
Bên Da Màu, trong bài “lại
nói chuyện về thơ” của cây viết Phan Xuân Sinh
có đoạn:
... Phạm Duy có gặp một
số anh em văn nghệ tại Boston, trong cuộc gặp gỡ nầy có
người hỏi Phạm Duy là: “Anh phổ nhạc thơ của nhiều thi
sĩ, có hai thi sĩ lớn như Thanh Tâm Tuyền và
Tô Thùy Yên. Sao anh không phổ thơ của
họ?” Phạm Duy trả lời: “Hai ông nầy thơ hay thật, thế nhưng
thơ của hai ông lý trí quá khó
phổ thành nhạc được.” Nói thế để chúng ta biết
rằng thơ hay chưa chắc làm rung cảm được người đọc...
Source
PD phán như thế, theo tôi, là
đúng, thực, theo suy nghĩ của ông, chứ không
nhằm che đậy gì hết. Nhạc PD thiên về tình
cảm, thứ tình cảm tục lụy, hệ lụy, [hệ lụy, thí dụ,
giai thoại ăn chè Nhà Bè, nhờ đó mà
dân Mít được thưởng thức bản nhạc phổ thơ MDHT], không
phải thứ tình cảm thanh cao như trong thơ TTT, hay TTY. Ðây
là do cái tạng của ông, và có thể
cũng là do yêu cầu của đa số quần chúng thưởng
thức nhạc. Những bài thơ phổ nhạc của TTT, TTY không có
nhiều thính giả, những nhạc sĩ phổ thơ của TTT, là bạn
thân ngoài đời của ông, họ hiểu ông, thơ của
ông, cho nên phổ nhạc thơ của ông.
PD đâu có thuộc
cái giới đó.
Ðẩy đến cực điểm, thơ phổ
nhạc của TTT hay của TTY muốn nhắm tới cái gọi là
không còn chủ âm trong nhạc, hay tới thứ âm
nhạc không cần lời.
Vấn đề này lớn quá, chỉ nêu
ra đây, như là 1 đề xuất, đặt viên gạch,
rồi tính sau.
... đặt viên gạch,
rồi tính sau.
Sách
& Báo
Mới
Introduction
Animalia is the Latin term for the animal kingdom,
and the most powerful animal in that diverse group of sentient beings
is Homo sapiens. Humans in turn have created new forms of life - or 'life'
- known as robots. The term derives from the Czech robota, denoting drudgery
or forced labor, and was coined in the 1920 play R.U.R. by Karel Capek.
Some robots are builders and some are servants. The latter are still
new, and tend to be gendered: the 'males' seem often designed to be small
and chirpy, the 'females' to be attractive. The latter are bland machine-creatures
who speak and try to understand. Like the Stepford Wives they have no
emotions, we assume, but perhaps the tangles of logical thought they are
capable of produce after-effects, some kind of gravel in the system which
may be akin to feeling. We know where that thought goes. As Capek wrote,
'Robots of the world! The power of man has fallen! A new world has arisen:
the Rule of the Robots! March!'
Animals are rarely part of science fiction, but we live in the future
now, and animals are still with us. What effect will the age of robotics
have on our relationship with them? Will we still breed animals for food
and for experimental purposes? Will we genetically enhance our pets?
Will robots of the future be animal-based, if the inventors (and investors)
can get past the ethics committees? Will we see hybrid machine life, gene-edited
lambs singing in Alzheimer care homes, purring kittens kneading preset
patterns on human laps, beautiful nightingales and hummingbirds switched
on and off at will? We don't know - but we do know this: we are transcending
animalia. Our lead piece, 'The Taxidermy Museum' by Steven Dunn, is part
of a longer work made up of a number of fictional interviews, mostly with
soldiers, adding up to a surreal and compelling indictment of the US military
machine. In this excerpt, a taxidermist explains the process of mounting
the bodies of soldiers who have died in war (often, we can't help but
notice, from suicide or friendly fire) in military dioramas. The distinction
between humans and animals is erased, and no one really notices. We end with
Joy Williams's bleak and funny animal allegory. 'Be not afraid and be not
lonely, Wilhelmina thought, but couldn't bring herself to say it. She wanted
to reflect on her pretty piglets but night had fallen and she and her friends
were once again hopelessly caught up in trying to comprehend the terrible
ways of men.'
As are we all.
In between Dunn and Williams we have a number of dystopian and/or
humorous short stories. Christina Wood Martinez writes about a mysterious
astronaut landing in a small American town. Yoko Tawada describes a futuristic
Japan, a poisoned world without wild animals, Cormac James's disturbing
short story contemplates the destruction of marine life. Ben Lasman imagines
professional rat hunters in dystopian America and Nell Zink has written
an allegorical tale about immigration and incarceration.
But there is more, of course. Arnon Grunberg embeds himself in slaughterhouses
in Holland and Germany, Cal Flyn goes deer stalking in the Scottish Highlands
and Aman Sethi investigates rumors about village responses to a man-eating
tiger on the outskirts of a nature reserve in Uttar Pradesh. Adam Foulds
meditates on swifts and perspective and John Connell remembers life on
a small Irish farm. We have three photoessays, poetry and some shorter
pieces, too.
Most of the issue is about the transition to the future. But what
if you were given a puppy, a tame evolved being, and it revealed its
wild nature? Nadeem Aslam tells the story. There were moments of anger,
he writes, 'something electric spilling into the air from him, his teeth
bare with hate for me or for what I represented.'
What did he, and all of us, represent? Dominion over animalia, presumably.
Displacement and destruction. +
Sigrid Rausing
Bài Intro, và cả số báo, về loài
vật, đọc thú lắm. Từ từ, GCC sẽ dịch, và giới thiệu 1 vài
mẩu ngăn ngắn. Khi Đông Phương lấy mấy con thú tượng trưng
cho 12 tháng trong năm, liệu họ đã tiên liệu ra, 'Robots
of the world! The power of man has fallen! A new world has arisen: the
Rule of the Robots! March!'
Như Marx đã từng hô hoán,
Debout, les Damnés de
la terre,
Vùng lên hỡi những kẻ trầm luân
Rô Bô Của Thế Giới, Hãy Vùng
Lên!
Quyền Lực của con người đã cáo chung!
Chú thích hình:
Cast of a Dog Killed by the Eruption of Mount Vesuvius,
Pompeii, c. 1874
© THE J PAUL GETTY MUSEUM
Granta 142: Winter 2018
Animalia
https://granta.com/issues/granta-142-animalia/
Mừng năm chó, tờ Granta số mới nhất đi 1 đường
về Animalia.
https://granta.com/issues/granta-142-animalia/
https://granta.com/dog/
Chuyện chó của Mít, bảnh nhất, theo Gấu,
là của Nam Cao, "Lão Hạc", nhớ đại khái, và nó
mắc mớ đến xứ Đàng Trong và cơn đói dài 4 ngàn
năm của xứ Bắc.
Nhớ luôn nhận xét của 1 vị bằng hữu thân thiết
của Tin Văn. Bà cho biết, mấy cơ quan nhận trẻ em mồ côi
rất sợ nhận những đứa trẻ bị bỏ đói lâu quá, vì
não bộ của chúng bị ảnh hưởng nặng nề...
UI chao, nếu thế thì đói 4 ngàn
năm khủng khiếp cỡ nào!
Hà, hà!
Nửa thế kỷ xa xứ Bắc, năm 2001, Gấu trở lại, mang về
đủ thứ kỷ niệm về cái đói, và lẩm bẩm tự hỏi thầm, không
biết bà chị của Gấu có còn nhớ.
Bà nhớ đủ hết.
Nhưng với thằng em, nó trở thành những viên
ngọc quí, còn với bà chị, nó là những
hòn chì bà nặng nề đeo theo suốt cuộc đời, không
làm sao rũ đi được.
Nhớ,1ần bà cụ đi buôn bán xa, bà chị lấy
gạo nấu cơm, chắc là lấy quá đô. Nồi đất. Gấu đang
ngồi nhìn nồi cơm sợ nó biến mất, bỗng thấy cái nồi
từ từ nứt làm đôi…
Nhớ hoài hoài, nhớ mãi mãi!
Về những hòn chì, từ từ kể tiếp!
Vị bằng hữu phán, phục mi sát đất vì
những kỷ niệm thần sầu về cái đói!
|
Trang NQT
art2all.net
Istanbul
Lô
cốt trên
đê
làng
Thanh Trì,
Sơn Tây
|