|
TIN VĂN TRÊN
ART2ALL
Album
Strange Feast
It makes my heart glad to hear
one of these
Chirpy little birds just back from Mexico-
Or wherever it is they spend their winters-
Come and sit in a tree outside my window.
I want to stay in bed all morning
Listening to the returning ones greet the friends
They left behind, since in their rapture
At being together, I find my own joy.
As if a festive table was being
set in the garden
By two composed and somber women
Clad in dresses too light for this time of year,
Mindful every glass and fork is in its proper place,
Leaving me uncertain whether
to close my eyes,
Or to hurry in shorts over the old snow
And make sure the dishes they've laid out
Are truly there to be savored by one like me.
Tiệc lạ
Nó làm tim Gấu
vui
Khi nghe một trong những chú chim nhỏ chip chip, khi vừa từ Mexico
-
Hay là từ chốn viễn du nào đó,
Nơi chúng trải qua mùa đông –
Trở về và đậu trên 1 cái cây ở bên ngoài
cửa sổ
Sáng nay Gấu muốn ngủ nướng, nằm ì trên giường
Nghe lũ chim ríu rít
Những con mới trở về hàn huyên với đám chim ở lại
Gấu bèn tìm thấy nguồn vui của riêng mình
Như thể bàn tiệc được
đặt để ở ngoài vườn
Bởi hai người đàn bà, điềm tĩnh và buồn rười rượi
Ăn mặc hơi bị nhẹ quá, vào cái thời gian này
của năm
Săm soi từng cái ly, muỗng, nĩa, ở vào đúng chỗ của
chúng, trên bàn tiệc
Ba thứ lẩm cẩm như thế đó
khiến Gấu
Không biết nên
Nhắm mắt lại
Hay là, mặc xà lỏn chạy băng
qua tuyết cũ (1)
Chắc, một điều,
Những dĩa ăn được bầy ra đấy,
Là thực sự dành cho
Một tên như Gấu thưởng thức.
(1) Tuyết cũ:
Neige d'antan?
K diễn
tả khúc trên, qua thơ xuôi, thật tuyệt, và làm
bật ra cái ý “tuyết xưa”:
Thời gian trong bài thơ này rõ ràng là
vào đầu xuân, khi đàn chim di trốn mùa đông,
trở về ríu rít gọi bạn, trời còn lạnh, nhưng tuyết
đã không còn mới.
Còn làm rõ ra cái hình ảnh "mặc nhẹ",
ở khúc sau.
Tks. Many Tks
NQT
Nhân French Open
Sometimes thinking is a bad
idea. Không suy nghĩ, vậy là tớ hiện hữu.
Note: Bài này, đã post trên Tin Văn,
lâu rồi, nay post lại nhân giải quần vợt Pháp Mở Rộng
sắp diễn ra. Bài dưới, mới thấy trên net, là về 1 tài
năng mới nổi, cực lạnh lẽo trong tennis, GCC post, cho Seagull, em chỉ mê
thứ thơ thật lạnh....
Hàng mới về
New Arrival, Hard Cover. Sẽ đi vài đường.
https://www.economist.com/obituary/2018/05/19/ninalee-allen-craig-died-on-may-1st
Nhân tiện, tờ NKT, May 19 có bài
ai điếu Beatrice, quá tuyệt. Đành phải mua số báo.
Beatrice là của Dante. Và nếu coi Dante, là...
TTT - chàng đếch thèm về Hà Nội, dù,
kể cả, sau khi ngỏm - thì Beatrice là cô Hiền
trong MCNK. Kiệt đưa Hiền tới đó đó - Hell - rồi trở
lại với vợ con! (1)
(1). Thiên đường, mới đúng. Không phải địa ngục,
Hell. Hay, “Lost Domain”, Miền Đã Mất, như của Anh Môn.
Post ở đây, dịch sau. Độc giả Tin Văn có thể đọc bản tiếng
Anh, trên net.
Trong Reading Diary, bài về Don Quixoe, Manguel viết: Dante,
do muốn chúng ta tin, cái đẹp của Beatrice là tuyệt
hảo, nên chỗ của nàng là thiên đàng....
Don Quixote không toan tính những thứ bèm bèm
như thế, ta chỉ cần mi tin có 1 cái đẹp như thế…
Và Manguel kết luận, có 1 vài nhân vật trong
văn chương, thứ bảnh nhất, tránh người đọc hiểu biết tường tận về
họ.
Hiền của MCNK là thế.
Bởi thế mà Duy hỏi Kiệt hoài, Hiền đâu rồi?
Bây giờ chúng ta biết Hiền đâu rồi, sau khi đọc
thư tình của Kiệt gửi cho Hiền!
January
… Dante wants us to believe in the beauty of Beatrice, so perfect that
her place is in heaven. Catullus and Petrarch try to convince us of the
many attractions of their beloveds. Don Quixote attempts no such arguments.
When the merchants whom he meets on his first outing ask that he show them
a portrait of Dulcinea before they swear to her unparalleled beauty, he
answers, "If I were to show her to you, what would be the merit of your
confessing such a notorious truth? The importance of my demand consists
in your believing, acknowledging, affirming upon oath and defending her
beauty before you have seen it."
Perhaps the great literary characters are those few who will always
escape our full understanding. The unbearable Lear bringing his hundred
cronies to his daughter’s house, the love-dejected Dante obsessed by a young
girl he has only briefly met, the trouble-prone, delusional Don Quixote beaten
and stoned for persisting in his delusions-why do they move us to tears,
why do they haunt us, why do they intimate that this life makes sense after
all, in spite of everything? They offer no reason; they demand that we believe,
acknowledge, affirm their existence, "upon oath."
Manguel: Don Quixote
A Woman Walking
Ninalee Craig, née Allen,
star of one of the 20th century's most controversial images, died on May
1st, aged 90
THE photograph, by Ruth Orkin, was called "American Girl in Italy,
Florence, 1951". Whenever it surfaced, in restaurants, in students' rooms,
on 'r-shirts, on tote bags, so did the questions for Ninalee Allen Craig,
who walked at its heart through a phalanx of Italian men. They stared and
leered; one grabbed his crotch; their calls were almost audible. Wasn't
she afraid? Surely she was upset? Her downcast eyes, that clutch of her
shawl, strongly suggested both those things.
Then she would laugh her boisterous full laugh and
say, not at all. On the contrary, she was imagining she was Dante's Beatrice.
She had studied the "Divine Comedy" with Robert Fitzgerald at Sarah Lawrence
in New York, and had fallen in love with that notion of unattainable beauty.
Her dollar-a-night hotel was on the Arno, and she had a corny postcard of
a Victorian painting by Henry Holiday that showed Beatrice walking by the
river, in shining white, ignoring the stricken Dante, who pressed his pounding
heart at the sight of her. Who knew whether her very own Dante might not
be standing on some corner, while she swept luminously by?
Besides, even when she was not Beatrice, she was
a New York girl having a wonderful time. When she left college she didn't
know where her place in the world was, so the answer seemed to be to explore
it. Her mother, who had travelled young to Sicily, encouraged her to tour
Europe until the money ran out. So she sailed third-class with a cardboard
suitcase, going to France and round Spain on buses, ending up in Italy to
look at art and to paint.
At 23, she was quite alone. That was rare for a woman,
and intoxicating. Europe was open and empty of tourists, recovering from
the war. Almost no papers were needed. In that spirit of adventure she revived
her childhood nickname, "Jinx", which sounded larky and exciting. No one
kept tabs on her. She could call at the American Express office to check
letters, but there was no need to communicate with home. And just as well,
because when her father saw The Photograph, blown up big one day in Grand
Central, he was horrified that she had been walking round Italy in that way.
The world was hers to conquer.
Ignoring Pan
When she met Ruth, who was doing the same and taking pictures as she
went, they agreed to do a photo essay together, a spoof on the perils
of girls travelling alone. It was August, the hottest day of the year In
full Jinx mode, she put on her New Look long skirt, a wide belt and an
orange Mexican shawl. Her purse was a horse-feed bag which she had picked
up in Spain. As they walked through the city she asked the way from a policeman,
bargained for straw bags in a market, visited the Amex office. Much of
what she did was flirty. She chatted to a young man in a cafe while putting
on her violent red lipstick. Guide book in hand, she gawked at a statue
of two naked wrestlers and sat, with a bored look, in front of a statue
of Pan with his usual erection. Ignoring him.
In most of these pictures men were staring at her.
At six feet tall, beautiful, foreign and walking alone, she was clearly
an object of curiosity. And so she was when they turned at 10.30 into the
Piazza della Repubblica, where there was a sea of men, and Ruth told her
to walk through. She did so twice. Two shots, 35 seconds. After that, she
climbed onto the back seat of the Lambretta whose rider had drawn up to
admire her, and went for a ride.
Nothing was posed, she insisted. The men were just
there, hanging round the Caffe Gilli because they had no jobs. She was
furious when the Metropolitan Museum of Art, in an exhibition, described
it as "staged". Her second walk had increased the reaction, but that did
not make it inauthentic. It was the real McCoy.
This was not, however, the ground on which she had
to defend the picture for the rest of her life. As she moved through two
marriages and from America to Italy to Canada, where she settled in Toronto,
it was the sexual message that bothered people. In 1952, when it first
appeared in Cosmopolitan magazine with a piece advising single women that
"ogling the ladies is a popular, harmless and flattering pastime .. .in many
foreign countries", the crotch- grabber was cropped out. Time-Life books
airbrushed his hand out in 1961. She couldn't think why. She was used to
Italian men doing it, almost as a good-luck sign; a sort of reassurance,
that the family jewels were intact. As if she cared.
When the censoring ended, feminist commentary began.
Time after time the Photograph was used for stories of women's harassment
and victimhood. #MeToo made it worse. Though she supported the movement
and thought it was a wake-up call, as ardent in her late 80S as she would
have been in her Jinx years, it also made many more people see something
sinister and awful in that image of her younger self In 2017 she was heartbroken
to hear that a restaurateur in Philadelphia had taken the picture down after
two dozen customers complained.
How to persuade them that she had not been scared,
that she felt thrilled and strong? In the first contact print, she looked
frightened. Ruth told her to walk the second time "as if it's killing you,
but you're going to make it". She explained that her shawl had been her
shield, sheathing her body, and that the last thing she wanted to do was
to look the men in the eye and smile. Yet the more other, younger women
called this harassment, the louder she denied it. When a man whistled at
you, or called out "Que bellal", you were appreciated. You walked taller.
In that moment, you owned the street. She still kept the bag and shawl from
that day, as well as the postcard in which Dante stood, staring, in Beatrice's
path. How could Beatrice ever be vulnerable? •
http://tanvien.net/Viet/Mit_Criric.html
Grass cực bảnh, theo GCC. Cái cú thú
tội của ông thần sầu, khó có ai bắt chước được.
Chỉ cần 1 tên nhà văn Bắc Kít làm được như ông, là lịch sử xứ Mít
đổi khác.
Lũ tinh anh của chúng, tên nào, não cũng
bị thiến 1 mẩu, là thế!
The Greatness of Günter Grass
http://www.newyorker.com/…/pa…/the-greatness-of-gunter-grass
He danced across history’s horrors toward literature’s
beauty, surviving evil because of his personal grace.
Sự vĩ đại của GG.
Ông khiêu vũ qua những ghê tởm,
gớm ghiếc của lịch sử, tới cái đẹp của văn chuơng, sống sót
cái ác, nhờ ân sủng cá nhân của mình.
Ui chao, thèm câu phán quá,
đeo ở cổ... Gấu Cà Chớn, như cái tai người, của 1 nhân
vật, của NMG trong Mùa Biển Động.
Hà, hà!
[Note: Bạn chỉ cần dịch, từ "ân sủng", là
"nhân hậu và cảm động", là ra GCC, thay vì
GG!]
Noel coming I MISS U SO MUCH
To those journalists who wanted me to diss him in
1982, I said, “Maybe he has to die before you understand what a great man
you have lost.” That time has now arrived. I hope they do.
Ta ra lịnh cho mi trước khi die...
Có lẽ GCC phải die, trước khi lũ Mít lưu vong hải
ngoại hiểu ra rằng....
Hà, hà!
Tưởng Niệm
Roth vs Trump
http://www.haaretz.com/us-news/.premium-1.766903
Philip Roth Slams Donald
Trump as 'A Humanly Impoverished Con-man'
Roth gọi Trump là 1 tên "bịp
bợm mạt hạng"
In remarks to New Yorker, famed
American-Jewish novelist says Trump 'wields a vocabulary of
77 words better called Jerkish than English.'
read more: http://www.haaretz.com/us-news/.premium-1.766903
VIẾT MỖI NGÀY / MAR. 27, 2018 : EDWARD HIRSH : POET LAUREATE OF
GRIEF
https://www.momentmag.com/edward-hirsch-poet-laureate-of-grief
Edward Hirsch — Poet Laureate
of Grief
Nhà thơ với vòng nguyệt
quế của nỗi thống khổ
I did not know the work of mourning
Is like carrying a bag of cement
Up a mountain at night
The mountaintop is not in sight
Because there is no mountaintop
Poor Sisyphus grief
–Gabriel
Tôi không rành
cái việc than khóc, tưởng niệm
Chắc là cũng giống như vác
tảng đá hay bao xi măng
Lên đỉnh núi vào
ban đêm
Đâu thấy đỉnh núi
Mà làm chó gì
có đỉnh núi
Ui chao, thật là tội nghiệp
cho anh chàng Sisyphus
Với nỗi thống khổ của anh ta!
Do you think Americans are uncomfortable
dealing with loss?
American culture is extremely uncomfortable
with grief. People just want you to get over it. I’ve
heard from a tremendous number of people who find this hard,
Jews and non-Jews. They don’t feel their grief is welcome
in the culture. People are very sympathetic for a little while,
but then they just want it to be okay. For most of us who suffer
major losses, it’s not okay. I don’t think you should go on mourning
for the rest of your life, but the experience isn’t only mourning.
It’s how to get on with your life. You carry ađượcround this loss inside
of you. And as you get to be an older adult, more and more people are
carrying that around inside of them.
Ông có nghĩ là
người Mẽo không thoải mái gì khi đụng
tới mất mát?
Người Mẽo đếch chịu nỗi khổ đau.
Note: Đúng như thế. Thi sĩ
Mẽo Robert Hass, không đọc nổi những nhà thơ
Nga, như Osip Mandelstam, là vậy. Auden cũng không
chịu nổi Mandelstam.
Robert Hass, trong bài viết
“gia đình và nhà tù, families
and prisons” in trong “What light can do”, nhắc tới Mandelstam,
ông cảm thấy khó chịu, về cái sự bị hớp
hồn của chúng ta đối với nhà thơ, vì vài
lý do, but I am uneasy by our fascination with him for
a couple of reasons.
Thứ nhất, là sự nghi ngờ, có
thể cái sự tuẫn nạn của ông gãi ngứa chúng
ta, the first is the suspicion that our fascination exists
because his martyrdom flatter us.
Và ông đưa ra 1 nhận
định cũng thật thú: Có 1 số nhà thơ
có tài, nhưng vì 1 lý do nào
đó, thiếu can đảm, và có những đấng đếch
có tài, nhưng lại quá thừa can đảm.
Nhân đó, ông lèm
bèm tiếp về Akhmatova. Cũng theo cách nhận thức
như vậy.
Theo GCC, Robert Hass không
đọc được, cả hai nhà thơ trên. Lý do,
theo Gấu vẫn là, có 1 cái gì
đó thiếu, về mặt độc ác, tính ác,
ở những nhà thơ Mẽo như ông, cho nên
không đọc ra được những nhà văn nhà thơ của
phần đất Á Châu, như Mandelstam, Akhmatova.
Đẩy quá lên bước nữa,
có thứ văn chương chúng ta đếch cần đọc, vì
chẳng bao giờ nó ngó ngàng đến cái
độc, cái ác của con người, nhất là Cái
Ác Á Châu, trong có Mít.
Kafka to his friend Oskar Pollak, on Sunday, 24 August,
1902: "I sat at my beautiful desk. You don't know it. How could
you? It is namely a good bourgeois well-disposed desk, meant for teaching.
It has, there where usually the writer's knees are, two frightful
wooden points. And now pay attention. When one sits quietly, carefully,
and writes something good and bourgeois, then one is fine. But woe
to one who becomes excited and twitches the body just a little, for
then one inevitably gets the points in the knees and how it hurts.
I could show you the dark blue marks. And what does that mean, then?
'Don't write anything exciting and don't allow your body to twitch.'"
Note: Đọc những lời vinh danh 1 số nhà văn nhà
thơ Mít, dưới đây, thì, lạ làm sao,
Gấu lại nhớ đến cái mẩu viết của Kafka, gửi cho bạn, Chủ
Nhật 24, Tháng Tám, 1902, dịch thoát: Tôi
ngồi ở cái bàn viết tuyệt vời của tôi. Chắc là
bạn không biết nó tuyệt vời ở chỗ nào? Ở cái
chỗ mà đám viết văn thường rung đùi, có hai
mẩu gỗ nhọn hoắt. Cứ mỗi lần anh ta cực khoái, vì viết ra
được những dòng văn chương thần sầu, thí dụ những dòng
của ngài Võ Đình, hay của thi sĩ Nguyễn Đức Tùng…
là hai cái đinh gỗ nhô ra, đâm cho anh ta vài
cú!
Hà, hà!
Lời khuyên của Kafka: Đừng bao giờ viết bửn như
thế nữa, nhe!
Võ Đình
Đêm Tận Thất Thanh là một nhánh kỳ
hoa đó...
Văn Học số Xuân Đinh Sửu [129&130], trong phần
Tạp Ghi, ông Nguyễn Quốc Trụ viết: "... rằng sau Auschwitz,
'nếu cá nhân nào đó mà còn
làm được thơ thì thật là dã man' (sic), và
'mọi văn hóa sau Auschwitz chỉ là rác rưởi'.
Tôi chưa từng được quen biết, trong lãnh
vực văn học, ông Adorno này, nên không lạm
bàn rông rài. Chỉ "trộm" nghĩ rằng câu
nói của ông [ta] có vẻ như... "vung tay quá
trán". Có thể đổi được chăng những câu phê
phán này thành... "sau Auschwitz mà còn
làm thơ... Trời ơi, Tuyệt!"? Hay là, "Mọi văn
hóa sau Auschwitz là những nhánh kỳ hoa bung lên
từ bãi dơ bầy nhầy, ruồi nhặng sâu bọ lúc nhúc,
thối um"?
Đêm Tận Thất Thanh là một nhánh kỳ
hoa đó.
.....
Tôi không may mắn từng đọc tác giả
Adorno nói trên....
Loxahatchee, Florida 5-2-97
24 tiếng trước Tết Đinh Sửu, ở Việt Nam
http://damau.org/archives/49305
NDT nâng bi TDT:
Khác với các nhà thơ hậu Auschwitz
của châu Âu như Samuel Beckett, các nhà
thơ Việt Nam thời kỳ sau này có nhiều niềm tin hơn vào
khả năng bày tỏ và giao tiếp của thơ ca. Rõ ràng
là trong một bối cảnh kinh hoàng không kém,
hỗn loạn không kém, vì nhiều lý do, các
nhà thơ ấy tin rằng họ có thể vượt qua thời đại khó
khăn mà không gục ngã, bằng sự can đảm của người
tin vào các giá trị mà họ bảo vệ. Tôi
cho rằng chính niềm tin ấy trực tiếp dẫn họ đến niềm tin vào
ngôn ngữ, hiện tượng ít tra vấn đối với nó.
Cánh cửa bứt khỏi cổng. Nhà bứt khỏi người
Trang giấy bứt khỏi mặt bàn
Chữ nghĩa bứt khỏi sách
http://phovanblog.blogspot.ca/search?updated-max=2018-05-21T07:05:00-07:00&max-results=7
Đó là đồn lũy cuối cùng của Chí
Thiện trước vòng phong tỏa của muôn trùng cái
Ác. Sự “dị thường” của việc nhận ra “xứ sở chiêm bao”
này là: cái Ác không còn
khả năng làm ta nao lòng nữa. Sau khi đọc xong tản văn
thi của Nguyễn Thị Khánh Minh, niềm tin nơi cái Chí
Thiện của chúng ta được xác lập.
Cũng vẫn Kafka, viết cho bạn, khi được hỏi, đọc sách
gì, thơ gì văn gì:
“I think we ought to read only books that bite and sting
us. If the book we reading doesn't shake us awake like a blow on
the skull, why bother reading it in the first place? So that it can
make us happy, as you put it? Good God, we'd be just as happy if we had
no books at all; books that make us happy we could, in a pinch, also write
ourselves. What we need are books that hit us like a most painful misfortune,
like the death of someone we loved more than we love ourselves, that make
us feel as thought we had been banished to the woods, far from any human
presence, like a suicide. A book must be the axe for the frozen sea within
us. That is what I believe."
"Tôi nghĩ chúng ta chỉ nên đọc những cuốn
sách ngoạm, hoặc đâm chúng ta. Nếu cuốn sách mà
chúng ta đọc không lay động chúng ta tỉnh hẳn người,
giống như bị ai đó giáng một cú vào sọ, thì
ích chi đâu mà đọc nó? Sách làm
cho chúng ta hạnh phúc? Cám ơn Trời, chúng ta
hạnh phúc biết bao nếu chẳng sách gì hết. Những cuốn
sách làm chúng ta hạnh phúc, chúng
ta có thể tự viết lấy. Sách mà chúng ta
cần, chúng đập chúng ta giống như gặp một chuyện bất hạnh
đau đớn nhất, như cái chết của một người thật thân thiết
mà chúng ta yêu hơn cả yêu chúng ta,
nó làm chúng ta cảm thấy như bị tống xuất tới một
nơi rừng rậm, hẻo lánh, xa hẳn con người, giống như tự tử. Cuốn
sách phải giống như cái rìu phá cái
biển đóng băng ở bên trong chúng ta. Tôi tin
như vậy."
(Alberto Manguel trích dẫn, trong cuốn A History
of Reading, nhà xb Alfred A. Knopf Canada, 1996)
Hay, như Edward Hirsch, khi đọc thơ Ba Lan:
Năm 1973, 23 tuổi, tôi quyết định ngừng ở Warsaw 1
năm, trong chuyến đi Âu Châu. Kỷ niệm xám xịt,
nhất là khi loanh quanh ở cái khu Ghetto. Phố phường
bận rộn, nhưng hình như càng làm nặng thêm
sự vắng mặt u uẩn của những người đã mất. Bạn chẳng cần phải tới
Lò Thiêu làm khỉ gì, chỉ ở đây thôi
mà đã cảm thấy cái sự trống vắng tội lỗi, mân
mê, sờ xoạng được!
Tối hôm đó, tôi đi 1 đường đọc thơ
Milosz. Ui chao, những bài thơ đầu đời thơ của ông,
ám ảnh làm sao, là cái mặc cảm sống sót,
cái nỗi thống khổ, “sống, sau những cái đó”, cái
tận cùng thế giới đó.
Thơ như thế, là 1 dâng tặng cho người chết,
một hình thức cứu chuộc.
Đọc Zbigniew Herbert, Tadeusz Rózewicz,
and Wislawa Szymborska- nửa thế hệ sau Milosz – tôi liền khám
phá ra là, tất cả thơ ca hậu chiến Ba Lan thì
đúng là bị ám ảnh bởi tội lỗi, bật ra từ những
ngọn lửa tận thế của lịch sử....
GCC thực sự tin rằng, những nhà văn nhà
thơ Mít, còn 1 chút lương tri, sẽ cảm thấy
nhột, hoặc quá nữa, nhục, khi được khen tặng như trên.
NQT
Cánh cửa
bứt khỏi cổng. Nhà bứt khỏi người
Trang giấy bứt khỏi mặt bàn
Chữ nghĩa bứt khỏi sách
Bạn đọc thứ thơ, trên, thấy… sao?
Khác với các nhà
thơ hậu Auschwitz của châu Âu như Samuel Beckett…
Trên tờ NYRB số mới nhất, May 24, có hai bài
viết về Auschwitz. Lũ Âu Châu xem ra chưa quên được
nó, và Gấu nghĩ, chẳng bao giờ họ quên.
Brodsky chẳng đã từng vặc lại Adorno, khi phán,
thay bất cứ 1 cái tên 1 trại tù Gulag, cho Auschwitz,
thì đều quá xứng đáng.
Lần đầu đọc, Gấu ngạc nhiên, về già đọc, thì
lại nhận ra, quả thế thực. Cái Ác Á Châu
khủng khiếp quá, quá cả tri thức, lương tri của lũ mũi
lõ, của 1 tên như nhà thơ Mẽo Robert Hass, bởi thế,
ông không đọc được Mandelstam, thí dụ.
Cái gì làm cho Mít chúng
ta tự hào, khi dám nói, chúng ta khác
các nhà thơ mũi lõ sau Lò Thiêu?
Những dòng thơ văn của Nobel Mít, nhặt từ
sọt rác lên, như trên, của Trần Dạ Từ, ư?
Hay thứ thơ vô tội vạ của Khánh Minh?
NQT
http://www.nybooks.com/…/beate-klarsfeld-children-strike-b…/
“My role is not to make people happy,” declares Beate
Klarsfeld in Hunting the Truth, the assertive memoirs she has written
with her husband, Serge. “It is to tell the truth [about Nazism and
the Holocaust] as strongly as possible—bluntly, even savagely, if necessary.”
The Klarsfelds have never stopped trying to “kick up a storm.” On
November 7, 1968, Beate—a German citizen by birth—slapped West German
chancellor Kurt Georg Kiesinger, a former Nazi Party member, during
a public meeting.
Vai trò của tôi, là không
làm cho mọi người hạnh phúc. Mà là nói
sự thực về Nazi và về Lò Thiêu, mạnh mẽ chừng nào
hay chừng đó, ngay cả thật dã man, nếu thấy cần.
Note: Số báo này, còn bài điểm
cuốn Warlight cũng thần sầu.
Tin Văn đã từng giới thiệu Ondaatje, cũng dân
Canada như Gấu. Cuốn mới này, thì vẫn kinh nghiệm lưu
vong...
Bạn trở về với thời gian trước đó, được trang bị bằng
hiện tại, và dù thế giới tối thui thế nào, bạn
không rời bỏ nó, nếu không... thắp lên 1 ngọn
nến - cái này là thuổng văn của GCC: Trong
mỗi chúng ta, thì đều có 1 Sài Gòn
đang âm ỉ cháy, tôi đốt lên ngọn nến của tôi,
để cho Sài Gòn của bạn sáng ngời -
....The narrator of Warlight, an Englishman called Nathaniel
Williams who is fourteen when the story begins and twenty-nine (though
sounding much older) when he looks back and tries to piece it all together,
tells himself this about the past:
You return to that earlier time armed with the present, and
no matter how dark that world was, you do not leave it unlit. You take
your adult self with you. It is not to be a reliving, but a rewitnessing.
Dark worlds, blackouts, night scenes, bonfires in unlit streets,
the hour before dawn “as night began dissolving,” sodium lamps, points
of light, writing by candlelight, and the gray buildings of postwar London
pattern this novel of chiaroscuro. Secrets and hidden lives remain obscure
for a long time; some mysteries never come to light; some things stay
lost in darkness. The narrator is feeling his way back through the half-dark.
The Mists of Time
Hermione Lee
May 24, 2018 Issue
Warlight
by Michael Ondaatje
Knopf, 290 pp., $26.95
Michael Ondaatje
Michael Ondaatje; drawing by Siegfried Woldhek
Có bài thơ, không cho đọc free. Bèn
post sau đây, và dịch liền, hầu độc giả Tin Văn, hà,
hà.
http://www.nybooks.com/articles/2018/05/24/michael-ondaatje-warlight-mists-of-time/
SOME JOY FOR MORNING
Now the connection with spring has dissolved.
Now that hysteria is blooming.
Says every day I want to fly my kite.
Says what's a grammar when you is no longer you.
My world is hydrogen burning in space and in the fullness
of etc.
I have read the news and learned nothing.
I try to understand the whooshing overhead.
But for a little light now.
I didn't realize the tree was weeping.
How was I to know I am not alone.
Wild light.
-Peter Gizzi
Vẫn tờ NYRB, 1 trong những số mới nhất, có
1 bài về Trùm Xịa ở Việt Nam: Lũ Yankee mũi lõ,
cũng không quên Việt Nam.
Cái tên thi sĩ dởm NDT, cũng Ngụy như GCC, nhưng
đã từng nghe Thiệu đọc diễn văn thông báo mất nước,
mà lọc ra được số lỗi văn phạm: Không phải tự nhiên
mà hắn về lại xứ Kinh Bắc châm đóm cho Hoàng
Cầm hút thuốc lào, hay làm 40 năm thơ Mít
lưu vong – chào mừng 19 Tháng Tám năm nay, 2018-
Một khi ca ngợi những tên thi sĩ dởm như TDT, theo thiển ý
của GCC, là hắn cố tình quên những Cái Ác
đang tràn lan ở trong nước, do lũ Vẹm đối xử với dân Mít:
Bạn phải nhìn thẳng vào Cái Ác Mít,
do Vẹm gây nên, không giả đò được.
Trong bài điểm cuốn Người Mẹ Cầm Súng,
của Nguyễn Thi, cũng 1 đấng Bắc Kít giả danh Nam Kít,
Gấu có đưa ra nhận xét, cuộc chiến Mít, quá
khủng khiếp, và nó nuốt sạch những ai dám thực sự
đương đầu với nó, theo nghĩa, sau nó, hết còn cái
gọi là “đực”, của Mít.
Rõ rệt nhất, là ở trong đám tinh anh
Bắc Kít, ở cả hai miền: Đám Bắc Bộ Phủ ở trong nước, và
bộ lạc Cờ [Hoa] Lăng [Bác] ở Tiểu Sài Gòn, thì
đều ghê tởm như nhau, đều là những cặn bã thải ra
từ cuộc chiến.
TDT, Nobel Mít, Ông Số 2, Trùm bộ lạc Cờ
Lăng…. là ở trong đám đó.
http://tanvien.net/Day_Notes/Kafka_Coupable.html
Lẽ dĩ nhiên, Kafka đâu
phải nhà văn đầu tiên, càng không
phải nhà văn cuối cùng, nhìn ra mình,
lọc mình ra, như là 1 kẻ tuẫn nạn, vì cái
thứ nghệ thuật mà mình chọn lựa cho mình:
“dziếc dzăng”!
Hãy nghĩ tới Flaubert, hãy
nghĩ tới Joyce [Xém 1 tí là thêm
tên GCC vô!]. Nhưng ông bảnh nhất, khác
hẳn mấy tay kia, là, loay hoay hì hục, chỉ chúi
vô có mỗi cú đó, với “cái
mình, cái đầu, cái tim của mình” [the
single-minded] chỉ xoáy vô có mỗi chỗ “ấy ấy”,
và từ đó, tìm ra, nhận ra vai trò của
mình, "nhà dzăng".
Làm sao có thằng cha nào,
ngoài Kafka ra, phịa ra được cái máy tra
tấn người ở trung tâm câu chuyện đáng sợ
“Ở thuộc địa trừng giới" [xém thêm cái tên
của nó, là Xứ Mít bi giờ!], nó hành
quyết những tên “ly khai, dám chống lại Đảng VC”,
bằng cách dùng cây kim châm khắc mẹ bản
án [le mot
juste], vô da vô thịt họ.
Dịch lại & Lại dịch "Hóa Thân"
của Kafka qua tiếng Anh
Cú
khó sau chót, về dịch, là cái
từ trong cái tít. Không giống từ tiếng Anh,
“metamorphosis,”
“hóa
thân”, từ tiếng Đức
Verwandlung
không đề nghị cách hiểu tự nhiên, tằm nhả
tơ xong, chui vô kén, biến thành nhộng, nhộng
biến thành bướm, trong
vương quốc loài vật. Thay vì vậy, đây là 1
từ, từ chuyện thần tiên, dùng để tả sự chuyển hóa,
thí dụ như trong chuyện cổ tích về 1 cô gái đành
phải giả câm để cứu mấy người anh bị bà phù thuỷ biến
thành vịt, mà Simone Weil đã từng đi 1 đường chú
giải tuyệt vời.
“Hóa thân” là phải hiểu
theo nghĩa đó, giống như GCC, có thể đếch chết,
và thay vì chết, thì biến thành
rồng, như lời chúc SN của bạn DV!
Hà,
hà!
One
last translation problem in the story is the title itself.
Unlike the English “metamorphosis,” the German word Verwandlung
does not suggest a natural change of
state associated with the animal kingdom such as the change from
caterpillar to butterfly. Instead it is a word from fairy tales used
to describe the transformation, say, of a girl’s seven brothers into swans.
But the word “metamorphosis” refers to this, too; its first definition
in the Oxford English Dictionary is “The action or process of changing
in form, shape, or substance; esp. transformation by supernatural means.”
This is the sense in which it’s used, for instance, in translations of
Ovid. As a title for this rich, complex story, it strikes me as the most
luminous, suggestive choice.
Mémoirs
Thời Tập
5.5.1974
Gấu Nhà Văn đọc Tắt
Lửa Lòng
Khi viết
Tắt Lửa Lòng,
Nguyễn Công Hoan có lẽ chỉ muốn cuốn sách của ông
nằm trong dòng văn chương xã hội…. nhưng đã vô
tình ‘điểm thêm mắt rồng’ cho nó, khi hoàn
thành tác phẩm, nó bay mất và lạc vào
thế giới tình yêu, một thế giới hoang đường với những Tiểu
Nhiên Mị Cơ, Mỵ Châu Trọng Thủy… và Lan và
Điệp.
… Đây
là chiếc chìa khoá để cho các tiểu thuyết
gia chuyên viết truyện tình dùng để mở căn nhà
mồ Lương Sơn Bá: Hãy làm sao cho nhân vật trong
truyện tình chết đi [ở trong tiểu thuyết] để rồi sống lại [trong
huyền thoại]...
NQT
Ui chao,
liệu ‘ba trăm năm sau’, (1) truyện tình của BHD và anh
cu Gấu cũng sẽ ‘chết đi ở trên không gian ảo’ và rồi
‘sống lại ở trong huyền thoại’?
Hà, hà!
(1)
TV: Đúng rồi, nên thay đổi, kẻo không như O nói,
ba trăm năm sau (hihi) có người đi tìm tác phẩm của
NQT chỉ thấy toàn ‘kít’ với ‘đếch’, ‘như kít’… thì
không biết sẽ xếp tác phẩm vào loại văn chương
gì?
Hihi
K
|
Trang NQT
art2all.net
Istanbul
Lô
cốt
trên
đê
làng
Thanh Trì,
Sơn Tây
|