Lý thuyết phê bình | Tác giả Việt | Tác giả ngoại | Tác giả & Tác phẩm | Tạp ghi | Text  Scan | Tin văn vắn | Thời sự | Thư tín | Phỏng vấn | Phỏng vấn dởm | Phỏng vấn ngắn
Giai thoại | Potin | Linh tinh | Thống kê | Viết ngắn | Tiểu thuyết | Lướt Tin Văn Cũ Kỷ niệm | Thời Sự Hình | Gọi Người Đã Chết
 Thơ Mỗi Ngày | Chân Dung | Jennifer Video
Nhật Ký Tin Văn / Viết mỗi ngày/Sách & Báo Mới

https://www.facebook.com/quoc.t.nguyen.1



*

https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums/72157667208299185

*

Xeo-phi

*

April 17 2016
by Richie
Nắng Hè, y chang Xề Gòn!


TCDT Memoriam

Một sử gia khác: Jules Michelet, tự nói rõ thế mắc kẹt của mình. Michelet nói đại ý mình sinh ra dưới nền khủng bố của Babeuf (nhân vật mà độc giả Những người khốn khổ của Hugo không thể quên) và chết đi khi một nền khủng bố khác đang áp sát dần: khủng bố của bài hát "Quốc tế ca": cuộc đời sử gia bị mắc kẹt giữa hai kỳ khủng bố. Những sử gia đích thực được giao và bị bắt làm cái công việc làm rối dòng chảy, một dòng chảy nào đó, họ không thể tránh được một số thứ.
Blog NL

MEMORANDUM

MICHELET (Jules), French historian, born in Paris. His liberal opinions twice caused his lectures at the College de France to be suspended. In his Histoire de France and his Histoire de la Revolution, he managed to effect a veritable resurrection of our national life (1798-1874). -Petit Larousse illustré, 1906-34
CHRONOLOGY
"I was born during the great territorial revolution, and I shall have seen the dawn of the great industrial revolution. Born under the Terror of Babeuf, I see, before I die, the Terror of the Internationale."

Roland Barthes: Michelet

Với Barthes, trước hết Michelet là một người ăn lịch sử ("mangeur d'histoire": có phải là cách gọi thoát thai từ câu chuyện liên quan đến thuốc phiện, mangeur d'opium?
Blog NL

MICHELET THE WALKER How does Michelet eat History? He "grazes" on it; i.e., he passes over it and at the same time he swallows it. The corporeal gesture which best accounts for this double operation is walking; also, we must remember that, for the romantics, travel had an entirely different effect from its modern counterpart; nowadays we participate in a journey by "eyes only," and the very rapidity of our course makes whatever we see a kind of remote and motionless screen.
RB

Note: Có vẻ như NL viết về TCDT cùng lúc đọc Michelet của Barhes?
GCC tính làm cú này, lục mãi mới thấy cuốn sách.
Câu trích dẫn liên quan đến "Như có Bác Hồ" [Quốc Tế Ca, Internationale], nằm trong 1 đoạn, nguyên con như sau, khúc có cái thư gửi Victor Hugo.

THE APOCALYPSE OF OUR TIME

One of today's most serious, and least remarked phenomena, is that the gait of time has entirely altered. It has doubled its steps in a strange fashion. In a single lifetime (of ordinary length, seventy-two years), I have seen two great revolutions which once might have taken place at intervals of two thousand years.
    I was born during the great territorial revolution, and I shall have seen the dawn of the great industrial revolution.
    Born under the Terror of Babeuf, I see, before I die, the Terror of the Internationale.
    Several times the same panic has created in my lifetime what was believed to be a remedy: military government, the Caesar of Austerlitz, the Caesar of Sedan.
    A great change which, seizing public attention, has distracted it from a phenomenon no less grave and no less general: the creation of the greatest empire ever seen beneath the sun, the British Empire, ten times more far-flung than those of Bonaparte and of Alexander the Great.
    Never has death scored such triumphs round the globe. For if Napoleon in only ten years (1804-14), according to his own figures, killed seventeen hundred thousand Frenchmen, and no doubt as many Germans, Russians, etc., England, in a famous trial, accused one of her governors of having killed by famine, in one year, millions of Indians. By this mere fact, one may judge what a hundred years of colonial tyranny can be, imposed without control in an unknown world upon a population of two hundred million souls.
    But if the destructive forces have scored such triumphs, the creative forces are no less astounding by their miracles.
And this so recently! I seem to be dreaming when I think that these incredible things have occurred in one man's lifetime. I was born in '98. This was the period when M. Watt, having long since made his discovery, put it to work in manufacture (Watt and Bolton), producing without measure his workmen of copper and iron, by which England would soon have the power of four hundred million men. This prodigious English world, born with me, has declined. And this terrible century, applying to warfare its mechanical genius, yesterday produced the victory of Prussia.
    Those who believe that the past contains the future, and that history is a stream forever flowing one and the same, forever impelling the same waters between its banks, must here reflect and see that very often a century is opposed to the preceding century, sometimes furnishing it a harsh denial. As much as the eighteenth century, upon the death of Louis XIV, advanced lightly on the wing of ideas and of individual activity, by just so much our own century with  its great machines (the factory and the barracks), blindly harnessing the masses, has advanced into fatality.
    Consider that to these great phenomena here below there corresponds up above, very faithfully, a little bell: it is philosophy, which says the very same things. To the fatalism of  1815 and of Hegel succeeds the medical, physiological fatalism of Virchow, Robin, and Littré
.
    In general, this materialist history might be expressed in three words: Socialism, Militarism, and Industrialism. Three things which engender and destroy each other.
    Babeuf's Terror produced Bonaparte as well as his victories, which is to say that a dawning Socialism, by the panic it caused, produced the triumph of Militarism.
    And Militarism, what did it encounter in its great struggle? Invariably, the English gold created by the industrial power which paid and armed Europe. A power vanquished at Austerlitz, victorious at Waterloo.

            1872. Histoire du XlX" siè
cle, I, Origine des Bonaparte,
Preface

TTT 10 years Tribute

Nguyễn Trường Trung Huy reacted to this.

Hqcbm Thanh Thuý đọc bài này chưa? Một bài rất hay viết về quê hương Dran.

Khói sương như không muốn rời khỏi Dran. Hẳn đây là những dải lụa trời rồi. Nó cứ quần quanh thung lũng, kéo nhau lê thê từ đỉnh cao sườn bắc Trạm Hành vòng theo cánh cung sườn núi xuống đầu đèo Sông Pha, qua suối Cát, vắt các…
By BAOMOI.COM

Note: Bài này tưởng niệm DC & TTT thật tuyệt.


*

http://www.nybooks.com/daily/2016/04/16/syria-now-writing-starts-interview-adonis/

But can poetry address the terrible, barbaric violence now engulfing Syria? One thinks of Adorno’s claim about poetry after Auschwitz.

Thơ làm gì được, trước...  VC?
Sau.... VC mà còn làm thơ thì thật là dã man!

This is talk. Auschwitz was a catastrophic disaster, but humanity has gone through many catastrophic disasters. On the contrary, I believe that writing starts with asking questions and uncovering the sources of evil, wherever they come from. Because with Adorno’s words, he prevents us from posing questions and forces us to accept. This is wrong. I do not agree with him. Now the writing starts, after Auschwitz.

Còn lèm bèm được thì cứ lèm bèm. Tớ không đồng
ý với xừ Adorno nào đó!


Văn Học số Xuân Đinh Sửu [129&130], trong phần Tạp Ghi, ông Nguyễn Quốc Trụ viết: "... rằng sau Auschwitz, 'nếu cá nhân nào đó mà còn làm được thơ thì thật là dã man' (sic), và 'mọi văn hóa sau Auschwitz chỉ là rác rưởi'.
Tôi chưa từng được quen biết, trong lãnh vực văn học, ông Adorno này, nên không lạm bàn rông rài. Chỉ "trộm" nghĩ rằng câu nói của ông [ta] có vẻ như... "vung tay quá trán". Có thể đổi được chăng những câu phê phán này thành... "sau Auschwitz mà còn làm thơ... Trời ơi, Tuyệt!"?  Hay là, "Mọi văn hóa sau Auschwitz là những nhánh kỳ hoa bung lên từ bãi dơ bầy nhầy, ruồi nhặng sâu bọ lúc nhúc, thối um"?

Đêm Tận Thất Thanh  là một nhánh kỳ hoa đó...

Tôi không may mắn (?) từng đọc tác giả Adorno nói trên....

Loxahatchee, Florida 5-2-97
24 tiếng trước Tết Đinh Sửu, ở Việt Nam
Võ Đình

TO THE MEMORY OF A POET

Like a bird, echo will answer me.
B.P. (Boris Pasternak)
[Như một con chim, tiếng dội sẽ trả lời tôi]

1.
That singular voice has stopped: silence is complete,
And the one who spoke with forests has left us behind.
He turned himself into a life-giving stalk of wheat
Or the fine rain his songs can call to mind.
And all the flowers that hold this world in debt
Have come into bloom, come forward to meet this death.
But everything stood still on the planet
Which bears the unassuming name ... the Earth.
2.
Like the daughter of Oedipus the blind,
Toward death the Muse was leading the seer.
And one linden tree, out of its mind,
Was blooming that mournful May, near
The window where he told me one time
That before him rose a golden hill,
With a winged road that he would climb,
Protected by the highest will.
1960
Akhmatova 

Boris Pasternak: 1890-1960, renowned Russian poet and novelist.

Oedipe mù, được cô con gái dẫn dắt
Nữ thần thi ca đưa anh tới cái chết của mình
Một bông hoa đoan, khùng, độc nhất,
Nở, vào đúng Tháng Năm đau buồn đó
Ở gần cửa sổ
Nơi ông đã có lần tâm sự cùng tôi
Ông nhìn thấy dựng lên một cảnh đồi vàng
Cùng con đường dốc có cánh
Và ông trèo lên
Được bảo vệ bởi Thánh Ý.

*

It seems that the voice we humans own
Will never sound, never celebrate,
Only a wind from the age of stone
Keeps on knocking at the black gate.
And it seems to me that under the sun
I alone remain-this honor's mine,
Simply because I was the first
Who wanted to drink the deadly wine.
1917
Akhmatova 

Có vẻ như cái thứ tiếng người mà chúng ta có đó
Nó sẽ chẳng bao giờ kêu lên
Chẳng bao giờ ăn mừng
Chỉ là tiếng gió từ thời kỳ đồ đá
Liên tục gõ lên chiếc cổng đen
Và hình như chỉ còn tôi, đơn độc dưới ánh mặt trời
Và đây là niềm vinh quang của tôi
Giản dị, ấy là vì tôi là người đầu tiên
Muốn uống ly rượu độc

TTT 2012

17.

Having arrived abroad, Tsvetaeva wrote, "My motherland is any place with a writing desk, a window, and a tree by that window." She wrote of exile: "For lyric poets and fairy-tale authors, it is better that they see their motherland from afar-from a great distance." Compare this to Gogol: " ... my nature is the ability to imagine a world graphically only when I have moved far away from it. That is why I can write about Russia only in Rome. Only there does it stand before me in all its hugeness.'?" Again, Tsvetaeva: "Russia (the sound of the word) no longer exists, there exist four letters: USSR-I cannot and will not go where there are no vowels, into those whistling consonants. And, they won't let me there, the letters won't open."
So Tsvetaeva spent seventeen years in France. France did not allow foreigners to have regular jobs and papers were hard to obtain. But Paris had a large concentration of journals, publishing houses, and emigre intellectuals. Tsvetaeva wrote, "I get numerous invitations, but I cannot show myself because there is no silk dress, no stockings, no patent leather shoes, which is the local uniform. So 1 stay at home, accused from all sides of being too proud,'?" After Hitler assumed power in Germany, the USSR began to look brighter to many emigres. After much family drama (which we need not explore here), Tsvetaeva, without any particular nostalgic feeling, returned to Moscow on June 18,1939.  

Ra hải ngoại, Tsvetaeva viết, “Đất mẹ của tôi là bất cứ chỗ nào, với một cái bàn viết, một cửa sổ, và 1 cái cây kế bên cái cửa sổ”.
Bà viết về lưu vong, “Với những nhà thơ trữ tình, và những tác giả viết chuyện thần tiên, tốt nhất là họ nên nhìn đất mẹ từ xa, càng xa chừng nào tốt chừng đó”
So với Gogol, “….tôi là thứ người chỉ có thể tưởng tượng ra thế giới đồ thị, ‘vẽ bản đồ’, khi tôi ở xa nó. Chính vì thế mà tôi chỉ có thể viết về Nga, từ La Mã. Chỉ ở đó, tôi mới cảm thấy quê hương hùng vĩ lớn lao biết là chừng nào!”
Lại vẫn Tsvetaeva, “Nga (cái tiếng, cái âm thanh của từ này), đếch còn hiện hữu, thay vì thế, thì là bốn con chữ, USSR – tôi không thể tới đó, nơi đếch có nguyên âm, phụ âm thì nghe sao lùng bùng, ở đó chúng không cho tôi vô, những con chữ đếch chịu mở”

Thơ Mỗi Ngày

ALONG THE BYWAYS OF NIMES

Like those roads back home
which stand out in my memory,
this tree-lined way in Provence
draws its simple Roman straightness
through Nimes' broad suburbs
full of space and a generosity of plain.
The water intones in a ditch
the sorrow that suits its restless journey,
and its murmuring is a first awakening,
and night comes on kindly as a tree,
and the loneliness urges me along on my walk.
This place is much like happiness,
yet I myself am not happy.
The sky is living out a full moon,
and from a doorway a music reaches me
that dies in love
and with pained relief comes back.
My own dark worries mortify the calm.
I am deeply wrought
by the shame of being sad among so much beauty
and the disgrace of unfulfilled hopes.

Borges: Selected Poems 1923-1967

Edited and translated by Norman Thomas di Giovanni

Đi qua vùng Nimes

Như những con đường trở về nhà
Chắn ngang hồi ức
Con đường với bóng cây Provence
Có cái thẳng một nét của La Mã
Xuyên qua vùng ngoại ô rộng lớn của Nimes
Đầy không gian và sự rộng lượng của đồng bằng.
Tiếng nước ngâm nga ở 1 con mương
Y chang tiếng ngâm nga của nỗi sầu dài ngoằng của chuyến đi không ngừng nghỉ
Và tiếng thì thầm của nó thì đúng là tiếng đánh thức đầu tiên
Và đêm tới nhẹ nhàng như cây
Và sự cô đơn khiến tôi rảo bước
Nơi này còn quá cả hạnh phúc
Vậy mà tôi chẳng cảm thấy hạnh phúc
Trời đầy như trăng đầy
Và từ một căn nhà bên đường tiếng nhạc vẳng đến tôi
Và nhạc chết như tình yêu chết
Và nỗi khuây khoả đau thương trở về
Những phiền não của riêng tôi làm xấu xa cái êm ả
Tôi quá tã tệ
Bởi nỗi tủi hổ:
Buồn bã trong 1 khung cảnh đẹp đẽ như vầy
Và ô nhục vì những hy vọng không hoàn tất


In Wonder
By Charles Simic   

I cursed someone or something
Tossing and turning all night—
Or so I was told, though I had no memory
Who it could be, so I stared
At the world out there in wonder.
The frost on the bushes lay pretty
Like tinsel over a Christmas tree
When a limo as black as a hearse
Crept into view, stopping at each
Mailbox as if in search of a name,
And not finding it sped away,
Its tires squealing like a piglet
Lifted into the air by a butcher.

Ngạc nhiên

Tớ trù ẻo, một tên nào đó, hay một điều gì đó
Trằn trọc suốt đêm –
Tớ nghe kể lại.
Tuy nhiên tớ không nhớ
Tên đó là tên nào
Thế là tớ bèn nhìn ra bên ngoài
Ngạc nhiên
Băng giá phủ lên bụi cây mới đẹp làm sao
Như kim tuyến trên cây Giáng Sinh
Một chiếc xế hộp, đen như cái xe tang
Bò vô tầm nhìn
Chiếc xế ngưng
Ở từng hộp thư
Như kiếm 1 cái tên
Chẳng thấy
Bèn tếch
Bánh xe ré
Như con heo con
Bị tên đồ tể nhấc bổng lên trời

Tại lễ cưới Phạm Thanh Nghiên và Huỳnh Anh Tú tối hôm qua, 17/4/2016, tôi được diện kiến nhân vật lịch sử và nhà chính trị lớn nhất Việt Nam hiện đại, bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Đó là người mà tôi vẫn mong gặp từ nhiều năm nay. Ông có ảnh hưởng lớn đến nhận thức chính trị của tôi từ khi tôi còn là sinh viên luật qua những câu chuyện ba tôi kể về ông.

Tháng 7/2010, vừa đến trại Xuân Lộc sau một ngày, tôi cùng các anh Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long bị nghe "giảng huấn" về nội quy trại cải tạo. Trong lúc "giảng", vị phó giám thị cố tình kể chuyện về sinh hoạt cá nhân của bác sĩ Nguyễn Đan Quế ở trại ngày trước với dụng ý bôi nhọ ông. Anh em chúng tôi nhìn nhau cười khẩy. Những trò bẩn thỉu của cộng sản cuối cùng cũng chỉ có tác dụng tấu hài, mua vui trong thời gian khốn khó của anh em chúng tôi mà thôi.

Cả ba chúng tôi đều kính trọng bác sĩ Nguyễn Đan Quế và tin tưởng rằng hình ảnh của ông luôn có sức hiệu triệu muôn người. Tương lai sẽ vẫn là như vậy!

Lê Công Định's photo.
947947

Note: Nestcape lại cho copy & paste!
Tks


Marina Tsvetaeva 

Penguin Russian Poetry

Robert Chandler
 Anna Akhmatova, pseudonym of
Anna Gorenko (1889-1966)

Anna Andreyevna Gorenko's father was a maritime engineer. She was born near Odessa, but her family moved to Tsarskoye Selo, near St Petersburg, before she was one year old. She began publishing poetry in her late teens; since her father considered this unrespectable, she adopted her grandmother's Tatar surname - Akhmatova. In her last years she wrote this of her name:

Dense, impenetrable, Tatar,
 drawn from God knows when,
it clings to every disaster,
itself a doom without end.

Anna Akhmatova, bút hiệu của Anna Gorenko (1889-1966)

Cha là kỹ sư hải thuyền. Sinh gần Odessa, nhưng gia đình dời tới Tsarskoye Selo, gần St Petersburg, khi được 1 tuổi. Bắt đầu in thơ ở tuổi mười chín, đôi mươi. Bởi là vì ông bố phán ai mà trọng kẻ làm thơ, nhất là thứ nữ thi sĩ, nàng bèn lấy họ ngoại, dòng dõi Mông Cổ làm bút hiệu.
Trong những năm chót đời, bà viết về tên của bà:

Đặc một cục, không làm sao vô, dòng Tarta
Đến từ đâu, chỉ có Trời biết
Bám như đỉa vô mọi tai ương thảm họa
Chính nó,
Một trầm luân đời đời

A PAGAN CHILDHOOD.  IN the neighborhood of that dacha (Joy, Streletsky Bay, Khersones) I was nicknamed the "wild girl," because I went barefooted, walked around without a hat, jumped off the boat in the open sea, swam when it was storming, and sunbathed until my skin peeled. And all this shocked the provincial young ladies of Sevastopol.
*
I wrote my first poem when I was eleven years old (it was terrible), but even before that my father for some reason called me a "decadent poetess".... Because my family had moved to the South, I did not graduate from the Tsarskoe Selo School, but the Kiev (Fundukleyevskaya) School, where I studied for all of one year. Then I studied for two years at the Kiev Women's College .... All this time (with rather long breaks) I continued to write poetry and for some unknown reason numbered each poem. Just for fun I can report that judging from the surviving manuscript, "Song of the Last Encounter" was my two hundredth poem."

Pages from a Diary
*
What makes our century the worse?
Has it, dazed with grief and fear,
Touched the blackest sore of all,
Yet not had strength enough to heal?

Điều gì làm thế kỷ của chúng ta, thế kỷ tệ hại?
Choáng váng đến mê mụ vì đau thương và sợ hãi
Trúng một đòn, đen thủi thùi thui, trong tất cả mọi đòn
Tuy nhiên, đếch có đủ sức mạnh để mà chữa lành?

Volkov: Bên dưới bài thơ thấy ghi 1911, lẽ dĩ nhiên. Sự thực, thực khó mà biết bài thơ được viết ra khi nào. Ngôn ngữ, văn phong cho thấy, nó đếch cần đến 1 sự khai triển nào có ý nghĩa. Bài thơ là cho mọi thời.
This is a language and style that in general does not undergo significant development. It's for all time.


*

Kafka’s Only Enemy

Kafka's social life is striking for the fact that he was generally well received by all: by men and women, Germans and Czechs, Jews and Christians alike. Not only was Kafka popular among his colleagues and superiors, who had known him for a long time, he was also at ease with the tables of strangers he might join at a hotel or sanatorium, and he was well liked by the more distant acquaintances of his close friends. In his everyday life, Kafka was friendly, helpful, charming, a sensitive listener, but also discreet. His witty, self-ironizing observations prevented anyone from seeing him as a sexual or intellectual rival.
Kafka kept his distance from any sort of public feuds, and we find no harsh words for him in the diaries or letters that his close contemporaries left behind.
    With one notable exception.
        "The longer I'm away from Kafka, the more I dislike him, with his slimy maliciousness."
            These words were written by the doctor and writer Ernst Weiss in a letter to his lover, the actress Rahel Sanzara. Weiss had been one of Kafka's few friends not from Max Brod's circle, and he competed with Brod in a certain sense. In Weiss's view, the only way that Kafka could conceivably solve all of the problems in his life was to extract himself from his many obligations and entanglements in Prague, and begin a new literary existence in Berlin.
    It is not entirely clear what led these two men to part ways, but it seems Weiss was angry that Kafka, who had long promised to write a review of his novel Der Kampf  (The Struggle), ultimately declined. The novel was published in April 1916, at a time when Kafka was suffering from a long spell of unproductivity and felt himself incapable of even the slightest literary work, but Weiss saw that as an excuse. "We plan to have nothing more to do with one another until things begin to go better for me," Kafka wrote to Felice Bauer. "A very reasonable solution."
    In the years after the war, the two writers managed a half-hearted reconciliation, but this did not quell Weiss's latent animosity, which experienced a resurgence after Kafka's death. Thus Weiss assured Soma Morgenstern, an admirer of Kafka, that Kafka had behaved "like a scoundrel" toward him. And as late as the 1930S, Weiss was still portraying his one-time friend as socially autistic, as he did in the magazine Mass und Wert (Measure and Value), even while expressing admiration for his literary work.

*

Kẻ thù độc nhất của Kafka.
Nhờ viết bài thổi cuốn sách mà cũng vờ, sao không thù?
GCC có nhiều kẻ thù là vậy!

&

Writers who spied
The unsurprising link between authorship and espionage
Nhà văn cớm

Cái link chẳng có gì là ngạc nhiên giữa viết văn và làm nghề gián điệp

Of the CIA spy, Alden Pyle, Greene’s narrator in “The Quiet American”, observes, “I never knew a man who had better motives for all the trouble he caused.”  
Về tên Xịa, Alden Pyle, nhân vật kể chuyện – anh ký giả già, ghiền
Hồng Mao, Fowler - trong Người Mỹ Trầm Lặng nhận xét, tôi chưa từng biết 1 tên với nhiều thiện ý, về tất cả trouble, do anh ta gây ra.

*
Greene chọn Norman Sherry, giáo sư văn chương đại học Trinity San Antonio, Texas, là người viết tiểu sử, là do mê ông này, khi viết về Joseph Conrad [Conrad’s Western World]. Nhất là sự kiện Norman Sherry, để viết về Conrad, đã thực hiện những chuyến đi thực tế tới vùng Viễn Đông và đặc biệt là những khám phá của Norman Sherry ở Tây Phi về Trái Tim Của Bóng Đen, của Conrad. Chính Greene đã tìm cách tiếp cận Sherry, qua một nhà báo, William Igoe. Ông này nói với Sherry, trong một bữa cùng ăn trưa, “Có một tay, đúng là một huyền thoại của chính thời đại của anh ta, và tay này rất mê tác phẩm của bạn”. Sau đó, hai người gặp gỡ, vào lúc đó, như Sherry sau này mới biết, Greene đang bị gia đình và bạn bè đòi hỏi, phải kiếm cho ra một tay viết tiểu sử về mình. Và trong khi ông đang tỏ ra thích thú bởi nụ cười rất ư là đặc biệt, và cặp mắt xanh của Greene, bất thình lình, ông này nói: “Bạn khó mà viết về tôi, như là bạn viết về Conrad. Bạn khó có thể viết về tôi, bởi vì bạn không thể tới Sài Gòn." [Bối cảnh của cuốn Người Mỹ Trầm Lặng là Sài Gòn thập niên 1950. Câu nói của Greene là vào năm 1974, tình hình chiến sự và thái độ của nhà cầm quyền miền nam không cho phép Sherry tới đây, như đã từng tới Phi Châu, khi viết về Conrad.]
 *

Khó khăn thứ nhì, Greene đòi hỏi, Sherry, người viết tiểu sử của mình, phải "theo từng bước chân của tôi". Thế là Sherry phải đi thực tế tới những nơi từng làm bà đỡ cho những tác phẩm lớn của Greene, như Mexico, Liberia, Cuba, Việt Nam, và cả lố những vùng chẳng hề thân thiện với đám mũi lõ. Trong khi cố gắng hoàn thành lời hứa, đi theo những vết chân của tôi, ông đã tới những vùng như Haiti, Argentina, Paraguay, Japan, Malaya, Sierra Leone, và nhiều nơi khác nữa, và trong những chuyến đi thực tế như vậy, đã bị mù sáu tháng, bị sốt rét tại Africa, và hoại thư, khiến ông mất một khúc ruột tại Panama.

  Sherry gần như xục xạo tới từng chi tiết trong đời Greene, và ông khám phá ra, tất cả những nhân vật của Greene đều có nguyên mẫu ở ngoài đời, và nguyên mẫu số một, còn ai trồng khoai xứ này nữa, nếu không phải là chính chàng!

   Điều này gây trở ngại lớn. Greene sống, đến mút chỉ đời mình, và có rất nhiều mối tình, tình nào cũng lâm ly bi đát. Có nhiều mối tình cùng xẩy ra một lúc, sóng đôi sóng ba mí nhau. Ông làm điệp viên cho MI6, phản gián Anh. Ông hít tô phe. Đi xóm hằng bữa! Càng "đi" nhiều càng viết khỏe. Làm sao nhuần nhuyễn tất cả, mà vẫn tôn trọng sự kín đáo, vẫn bảo vệ đời tư của tất cả, và nhất là của Greene? Bản thân Greene cũng chơi tới hai cuốn nhật ký, viết song song, hai ấn bản khác nhau, để giấu giếm những lần đi chơi điếm, hoặc tới động hút. Có lần ông viết cho Catherine Walston, một trong những cô bồ lâu ngày của mình: "Nếu có ai cố tìm cách viết tiểu sử của tôi, người đó sẽ thấy rắc rối, phức tạp làm sao, và rất dễ lầm đường lạc lối như thế nào."

  Nhưng như trên đã viết, cái chiều sâu thăm thẳm của tác phẩm của Greene chỉ được vén mở, nếu chúng ta nhìn lại giá sách của ông, và nhận ra rằng, người đi trước, “thần tượng” của ông, chính là Henry James, hay nói theo Zadie Smith, trong tiểu thuyết của Greene cũng như của James, tất cả những thăng trầm của một kiếp người, “những thói đời”, đều được đem lên bàn mổ. Cá tính nhân vật, mà người đọc cảm thấy như là nói về chính mình, và hãnh diện về chúng [“Tốt lành như tôi đây, còn nó, bạn thấy đấy, chỉ là một tên đểu giả”], đột nhiên bị lột trần, và chẳng là cái đếch gì cả khi bị đẩy tới cực điểm: Chiến Tranh, Chết Chóc, Mất Mát, Đổ Vỡ, Tình Yêu…. Đúng như Greene nhận xét: Bản chất con người không đen và trắng, mà là đen xám, hay đúng hơn, xám xịt.[Human nature is not black and white but black and grey].

Chính trong cái bầu khí xám xịt đó, là Sài Gòn thập niên 1950, mà cuộc tình tay ba, trong Người Mỹ Trầm Lặng, với ba đỉnh của nó, được mở ra: tính dễ bị mua chuộc, mà cũng rất ư là thành thực, không mầu mè, của một cô Phượng [với giấc mơ lấy chồng Mẽo, làm dâu Mẽo, hay tệ hại hơn, làm dâu Đài Loan, Đại Hàn… như những cô Phượng hiện nay ở Việt Nam…], tính dãn ra, chẳng còn muốn vướng vào những vấn đề của một xứ xở thuộc địa như Việt Nam, của anh mũi lõ già nghiền thuốc phiện, là Fowler, và sự ngây thơ của một anh Mẽo trẻ tuổi đẹp trai, thiện nguyện viên, hay cố vấn Pyle! Đúng là một tam giác lý tưởng để dựng nên một cuốn tiểu thuyết lý tưởng! Nó làm cho Zadie Smith [trên tờ Guardian] nhớ tới trò chơi “jack straw”, trong đó mỗi người chơi, tới lượt mình, rút một cọng rơm mà không đượcđụng những cọng rơm còn lại. Tài nghệ của tiểu thuyết gia ở đây, là làm sao cân bằng cả ba, bắt từng nhân vật đối diện với chính mình, và với hai kẻ kia, trong tấn trò đời, với tất cả những lên voi xuống chó, những hy vọng, những thất bại - và nhất là, phải làm sao cho độc giả đừng trông mong có được một nhận định, đánh giá sau cùng, khi gấp sách lại, [và thở phào, rằng, việc đọc của ta như vậy là xong!]. Greene không thích những độc giả của ông có được sự hài lòng, thoải mái, theo nghĩa này: “Khi chúng ta không chắc chắn, như vậy là chúng ta vưỡn còn sống!”

 
Trường hợp Người Mỹ Trầm Lặng, bầu khí mang chất đạo hạnh trong đó được xây dựng từ từng mỗi viên gạch của nó, như Zadie Smith đã nói tới, về một hệ thống đạo đức được so đo đong đếm đến từng chi tiết. Nó làm Zadie Smith nhớ tới Henry James trong tác phẩm Những Người Âu Châu, nhưng có khác, với Greene, câu chuyện không xẩy ra ở trong một căn phòng, mà là ở trận địa. Có gì là chắc chắn khi lọt vào một trận địa. Độc giả, như Greene, bị đẩy vào trong những cuộc tranh chấp dơ dáy, bẩn thỉu, tởm lợm nhất của thế kỷ, thí dụ như cuộc chiến Việt Nam, và rất nhiều cuộc chiến khác, một khi con người vẫn cứ lăn xả vào nhau, chém giết nhau, cho dù những “nghĩa cả” đã trở nên tối mò mò, chẳng ai còn tin tưởng vào chúng nữa. Những nhân vật của Greene làm bật ra sự bất toàn, tính không thể nào xác định được, của cái gọi là đạo đức, đạo hạnh, sự lẫn lộn, chẳng biết đàng nào mà lần, một khi con người sống ở trong một cuộc chiến không [làm sao] chấm dứt. Nhưng, cho dù vậy, tại Việt Nam, trong Người Mỹ Trầm Lặng, Phượng và tay phóng viên Fowler đã tìm được nhau, đúng là một sự chúc phúc, quá mức mong đợi ít ra là đối với Fowler. Đây đúng là một sự cứu nguy vào phút chót, sắp sửa chìm lỉm thì vớ được sợi thừng cứu mạng!

“Tôi là một kẻ có niềm tin lớn lao vào Lò Luyện Ngục”, Greene đã từng trả lời như vậy, trong một cuộc phỏng vấn. “Lò Luyện Ngục, với tôi, là có ý nghĩa…. một khi bị ném vào đó, con người có ấn tượng về sự du di, chuyển động. Tôi không thể nào tin vào Thiên Đàng. Mọi người cứ ỳ ra, ở đó. Đâu còn có điều gì để mà làm nữa!”

 Ở Lò Luyện Ngục đó - ở cuộc chiến Việt Nam đó – Fowler vô trước, sau tới anh chàng thiện nguyện, cố vấn Mẽo, đẹp trai, trẻ măng. Anh này tin vào Thiên Đàng. Anh ta tới, được trang bị bằng cả một tự sự lớn [a great narrative], về Việt Nam. Anh ta sẽ bắt ép Việt Nam phải “thích hợp” với nó – Tiền Đồn Chống Cộng cho cả một trái đất sẽ không còn Cộng Sản nữa, thí dụ vậy. Anh ta có một câu chuyện của anh ta về Fowler, và ngược lại, Fowler cũng có một câu chuyện riêng của mình, về tên thực dân mới ngu si đần độn, cứ tưởng mình sẽ đem tự do dân chủ theo kiểu Mẽo đến cho thuộc địa cũ của Tây, và đây là giọng kể chính của cuốn tiểu thuyết. Cả hai tay này lại có những câu chuyện của riêng của họ về Phượng. Chẳng có một câu chuyện nào tin được. Chúng đều được dựng lên, theo yêu cầu của từng cá nhân, cho hợp với vai trò của mình. Greene hiểu rất rõ, những toan tính vị kỷ, nằm nơi đáy sâu con người, sẽ đẩy con người đi tới đâu. Ở trong Người Mỹ Trầm Lặng, những toan tính cá nhân này được hiện rõ ra, trên cái nền chính trị, và cùng với nó, là một xứ sở. Qua Phượng, người đọc cảm thấy, đây là một người đàn bà thực, đang hít thở không khí, không phải là một ý tưởng về một người đàn bà mà Pyle đang chôm từ Fowler.

Gừng càng già càng cay, càng ngày, tính ngây thơ ngốc ngếch, mù tịt về thế giới của anh chàng cố vấn Mẽo Pyle càng nổi lên cùng với cuốn truyện, kể từ khi được xuất bản, đúng như Fowler cảnh cáo anh ta:

“Tôi cầu mong Chúa làm cho anh hiểu được những gì anh đang làm ở đây. Ôi, tôi hiểu rất rõ, những nguyên nhân, những mục đích, những ý hướng tốt đẹp của anh.  Chúng luôn luôn tốt… Tôi chỉ mong, đôi khi anh có được một vài ý hướng xấu, có lẽ anh sẽ hiểu thêm được một tí, về thế thái nhân tình, về con người. Điều này áp dụng luôn cho cả cái xứ Mẽo của anh đấy, Pyle ạ.”

Nhưng theo Zadie Smith [Guardian], Pyle không chịu học. Sau cùng, anh ta cho rằng, niềm tin quan trọng hơn hoà bình, tư tưởng sống động hơn con người. Sự ngây thơ của anh ta, trên bình diện thế giới, chẳng khác gì một thứ chính thống giáo [fundamentalism]. Đọc lại cuốn truyện càng củng cố thêm lên nỗi sợ của  Zadie Simith, về tất cả những me-xừ Pyle trên toàn thế giới. Họ đâu có muốn làm cho chúng ta bị thương tổn. Chúng tôi tới với bạn là do thiện ý, do niềm tin, cơ mà? Nhưng chính những me-xừ Pyle này làm chúng ta đau khổ, làm thương tổn chúng ta. Thành quả lớn lao của Greene ở trong Người Mỹ Trầm Lặng, là cho tên già đểu giả, Fowler, nhân danh “nghĩa cả”, khi chỉ vào đống xác người mà Pyle coi, đó chỉ là biểu tượng. Fowler, và những người như anh ta, đều lý tưởng quá đủ, để mà chứng minh rằng, trên trái đất này, chẳng có một lý tưởng nào xứng đáng để mà lăn xả vào nhau, chém giết lẫn nhau,  vì nó. Khi Pyle hỏi Fowler, như vậy, anh tin vào điều chi, “Tôi tin, tin chứ. Tôi tin, mình đang tựa lưng vô tường, và có một họng súng ở đằng kia kìa”. Pyle lắc đầu: “Tôi đâu tính hỏi bạn như vậy”.

Nhưng tác phẩm của Greene là đúng như vậy đó. Ông mang tới cho người đọc, một hy vọng, thứ hy vọng mà một người quan sát viên dán mắt vào sự kiện đem lại cho chúng ta. Theo nghĩa đó, Greene là tay ký giả bậc thầy. Ông dâng hiến cho chúng ta những chi tiết, và những chi tiết chính chúng, sẽ chiến đấu, trong một cuộc chiến đấu nhằm chống lại những thùng rỗng kêu to, nói rõ hơn, những ý nghĩ, tư tuởng lớn lao, nhưng vô ngã, vô vị, vô hình, vô ảnh, như của Pyle.

Ruth Franklin trên tờ Người Nữu Ước, tìm ra, Thượng Đế là ở trong những chi tiết, ngược hẳn với Zadie Smith, trên tờ Guardian, bà thấy Ma Quỉ ở trong những chi tiết, khi đọc Greene. Nhưng bà thêm vô, cứu chuộc cũng là từ đó.

Và có thể, đó cũng là của Greene, như ông từng có lần cầu nguyện, “Một vài người trong chúng ta có thiên hướng tin yêu Chúa. Một vài người khác, có thiên hướng tin yêu con người. Cầu xin làm sao thiên hướng của tôi đừng bị phí phạm”.

Cầu sao được vậy.

Nó quả đã không bị phí phạm.

NQT

Trở lại với Zadie Smith. Greene, 1 cách nào đó, là Thầy của Gấu. Thế là bèn mò đọc thêm về Zadie Smith. Mua vài cuốn của bà, trong có cuốn Changing my mind, On beauty… Hoá ra bà này còn mê cả Barthes. Rồi lại thấy Thầy Đạo dịch ZS trên Gió O nữa chớ!

30 Tháng Tư mà đọc bài này cũng thú.
Rảnh thì đọc thêm bài của đệ tử
của GG, viết cả 1 cuốn sách về thầy của mình.
* *

GG by Pico
Pico Iyer

Theo GCC, cuốn Người Mỹ Trầm Lặng được phát sinh, là từ cái tên Phượng, đúng như trong tiềm thức của Greene mách bảo ông.
Cả cuốn truyện là từ đó mà ra. Và nó còn tiên tri ra được cuộc xuất cảng người phụ nữ Mít cả trước và sau cuộc chiến, đúng như lời anh ký giả Hồng Mao ghiền khuyên Pyle, mi hãy quên “lực lượng thứ ba” và đem Phượng về Mẽo, quên cha luôn cái xứ sở khốn kiếp Mít này đi!


Sách Báo

*     *

http://www.economist.com/news/books-and-arts/21695369-fun-and-philosophy-paris-smokey-and-bandits

Existentialism

Smokey and the bandits
Fun and philosophy in Paris
Mar 26th 2016 | From the print edition

Quán Chùa ở Paris: Khói, Sex, và Hiện Sinh
 
At the Existentialist Café: Freedom, Being and Apricot Cocktails.
 By Sarah Bakewell. Other Press; 439 pages; $25. Chatto & Windus; £16.99.

EXISTENTIALISM is the only philosophy that anyone would even think of calling sexy. Black clothes, “free love”, late nights of smoky jazz—these were a few of intellectuals’ favourite things in Paris after the Simone de Beauvoir was “the prettiest Existentialist you ever saw”, according to the New Yorker in 1947. Her companion, Jean-Paul Sartre (pictured) was no looker, but he smoked a mean Gauloise. Life magazine billed their friend, Albert Camus, the “action-packed intellectual”.
Certainly there was action. One evening in Paris, a restaurant punch-up involving Sartre, Camus, de Beauvoir and Arthur Koestler spilled out on to the streets. In New York another novelist, Norman Mailer, drunkenly stabbed his wife at the launch of his abortive campaign to run for mayor on an “Existentialist Party” ticket in 1960. In addition to such excitements, existentialism offered a rationale for the feeling that life is absurd.

Countless adolescents, both young and old, have discovered the joys of angst through the writings of Sartre and his ilk. In her instructive and entertaining study of these thinkers and their hangers-on, Sarah Bakewell, a British biographer, tells how she was drawn as a teenager to Sartre’s “Nausea” because it was described on the cover as “a novel of the alienation of personality and the mystery of being”.
It was over apricot cocktails on the Rue Montparnasse that Sartre and de Beauvoir glimpsed a novel way to explore such mysteries. The year was 1932, and their friend Raymond Aron, a political scientist and philosopher, had just returned from Germany with news of the “phenomenology” of Edmund Husserl and Martin Heidegger. “If you are a phenomenologist,” Aron explained, “you can talk about this cocktail and make philosophy out of it!” The idea was to glean the essence of things by closely observing one’s own experience of them, preferably in mundane settings. Sartre and de Beauvoir set out to do just that.
Drawing on considerable personal knowledge, Sartre delved into “the meaning of the act of smoking”, among other things. Observing the behavioural tics of waiters, he noted that they sometimes seemed to be play-acting at being waiters. This led to labyrinthine reflections on the nature of freedom and authenticity. De Beauvoir’s efforts were more focused. By dissecting female experience of everyday life, she illustrated the ways in which gender is shaped by self-consciousness and social expectations. Ms Bakewell plausibly suggests that de Beauvoir’s pioneering feminist work, “The Second Sex”, was the most broadly influential product of European café philosophy of the period.

When Norman Mailer was asked what existentialism meant to him, he reportedly answered, “Oh, kinda playing things by ear.” Serious existentialists, such as Sartre, earned their label by focusing on a sense of “existence” that is supposedly distinctive of humans. People are uniquely aware of—and typically troubled by—their own state of being, or so the theory goes. Human existence is thus not at all like the existence of brute matter, or, for that matter, like the existence of brutes. People, but not animals, find themselves thrown into the world, as existentialists liked to say. They are forced to make sense of it for themselves and to forge their own identities.

The café philosophers came to regard each other’s existence as particularly troubling. Except for Sartre and de Beauvoir, who remained an intellectually devoted pair until his death in 1980, the main characters in post-war French philosophy drifted apart with varying degrees of drama. So did the German philosophers who inspired them.
Sartre’s embrace of Soviet communism, which he abandoned only to endorse Maoism instead, led Aron to condemn him as “merciless towards the failings of the democracies but ready to tolerate the worst crimes as long as they are committed in the name of the proper doctrines”. Ms Bakewell credits the existentialist movement, broadly defined, with providing inspiration to feminism, gay rights, anti-racism, anti-colonialism and other radical causes. A few cocktails can, it seems, lead to unexpected things.

*     *

Bài Tạp Ghi đầu tiên của GCC, là viết về Quán Chùa Saigon. Và về đám bạn hữu Tiểu Thuyết Mới, Hiện Sinh và không khí văn chương của thời mới lớn của GCC @ Saigon
Vào cái thời bây giờ, cả ba tờ báo, Người Kinh Tế, Văn Học Tẩy, và tờ điểm sách Ăng Lê, đều viết về cái mùi hiện sinh thời đó, ở Paris, toát ra từ bướm de Beauvoir!
Có 1 thứ triết học, là, hiện sinh, mà cái mùi của nó, là, sexy!
EXISTENTIALISM is the only philosophy that anyone would even think of calling sexy. Black clothes, “free love”, late nights of smoky jazz—these were a few of intellectuals’ favourite things in Paris after the Simone de Beauvoir was “the prettiest Existentialist you ever saw”, according to the New Yorker in 1947.
Sài gòn bảnh hơn nhiều, có hơn 1 bướm de Beauvoir:
Bướm anh lên em nhé, mưa không ướt đất, bướm mèo đêm, lao vào lửa, bướm vết thương dậy thì, vòng tay học trò.
Ra tới hải ngoại, vẫn còn bướm, nhà có cửa khóa trái!


Khí hậu ẩm ướt trong thế giới tiểu thuyết Nguyễn Đình Toàn

Những ngày sau này, kể từ ngày quán cà phê La Pagode phải đóng cửa để sửa chữa, chỗ gặp mặt dễ dàng và quen thuộc của một số bè bạn quen thuộc không còn nữa. Cũng không còn trông thấy một bóng dáng gầy ốm, gầy ốm đến nỗi không thể gầy ốm hơn được nữa, lọt thỏm trong chiếc ghế bành thấp và rộng, một ly trà đá hoặc trà sữa ở trên mặt bàn, một tờ báo mở rộng che kín khuôn mặt, và có thể, một người bạn, thời gian: buổi chiều khoảng 4, 5 giờ, có thể sớm hơn, 4, 5 giờ, nếu buổi chiều hôm đó là buổi chiều thứ bẩy hoặc chủ nhật; câu chuyện trao đổi thường tầm thường, giản dị, thứ chuyện trò của những người đàn ông sau một ngày làm việc mệt nhọc, Toàn thường than phiền buổi tối hôm trước không ngủ được và phải dùng thuốc ngủ, buổi sáng lại phải dậy sớm để viết những bài chẳng dính dáng gì đến văn chương nghệ thuật, và để có thêm một chút tỉnh táo, Toàn phải dùng cà phê để đánh tan tác dụng chậm trễ của những viên thuốc ngủ… Khi những phiền nhiễu của công việc mưu sinh đã bị xua đuổi, Toàn nói, Toàn không nói về tương lai, Toàn kể chuyện lại những dòng chữ đầu tiên của cuốn tiểu thuyết thứ nhất của Toàn, cuốn Chị Em Hải đã bị ngắt quãng, bị gián đoạn, bởi những cơn xuất huyết, những bất tỉnh, vì những giây phút chới với giữa sự cố gắng sống, hoặc cố gắng chết. Tôi bảo Toàn là chính ở trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh đó, tôi lại nhận ra tác giả, hay nói khác đi, những nhân vật của tác giả vẫn còn nhiều yêu thương và hy vọng, và những vụng về của người viết lại trở nên rất hợp, rất thực, đối với vụng về sống, vụng về suy nghĩ của những cô gái tên Dung, tên Hải…. 

Ui chao, đọc lại bài viết của chính Gấu, vào lúc mới bước chân vô làng văn, thì lại nhận ra bóng dáng của những vị thầy của Gấu: Rõ ràng là vào lúc viết bài này, Gấu đang đọc…  Beckett, “Toàn nói, Toàn không nói….”, cái thứ văn phong mà sau này ra hải ngoại, đọc tờ Le Monde & Documents, gọi là “chủ nghĩa anh hùng của cái gọi là… hư vô”, hay cái kiểu lập lại từ, “quen thuộc” rồi lại “quen thuộc”…. để nhấn mạnh