Lý thuyết phê bình | Tác giả Việt | Tác giả ngoại | Tác giả & Tác phẩm | Tạp ghi | Text  Scan | Tin văn vắn | Thời sự | Thư tín | Phỏng vấn | Phỏng vấn dởm | Phỏng vấn ngắn
Giai thoại | Potin | Linh tinh | Thống kê | Viết ngắn | Tiểu thuyết | Lướt Tin Văn Cũ Kỷ niệm | Thời Sự Hình | Gọi Người Đã Chết
 Thơ Mỗi Ngày | Chân Dung | Jennifer Video
Nhật Ký Tin Văn / Viết mỗi ngày

Last Page
Thơ Mỗi Ngày


WISLAWA SZYMBORSKA
1923-

We were taught that only man has an immortal soul. If today we speak differently of a line separating us from the rest of living beings, does it mean that this line, for us, doesn't exist? We feel it exists, and, using an old-fashioned expression, it is due to the consciousness and free will of man. In other words, only we know guilt, amidst the universal innocence of nature. And this is the subject of Wislawa Szymborska's poem.

Chúng ta được dạy cho biết, rằng thì là, con người là 1 thứ thú vật có linh hồn bất tử. Nếu bây giờ, chúng ta nói khác đi, về 1 dòng, phân biệt chúng ta với tất cả những sinh vật còn lại, liệu dòng đó, đối với chúng ta, không hiện hữu?
Chúng ta cảm thấy nó hiện hữu, và, sử dụng 1 cách diễn tả cổ hủ, điều này là do ý thức, và ước muốn tự do của con người.
Nói 1 cách khác, chỉ chúng ta biết tội lỗi, giữa cái ngây thơ vô tội phổ cập của thiên nhiên.
Và đây là đề tài của bài thơ của Szymborska:


IN PRAISE OF SELF-DEPRECATION
The buzzard has nothing to fault himself with.
Scruples are alien to the black panther.
Piranhas do not doubt the rightness of their actions.
The rattlesnake approves of himself without reservations.
The self-critical jackal does not exist.
The locust, alligator, trichina, horsefly
live as they live and are glad of it.
The killer-whale's heart weighs one hundred kilos
but in other respects it is light.
There is nothing more animal-like
than a clear conscience
on the third planet of the Sun.

Translated from the Polish by Magnus J. Krynski and Robert A. Maguire

Ngợi Ca Cái Chuyện Coi Thường Chính Mình
Con ó chẳng có điều gì để mà tự trách
Báo đen xa lạ với cái gọi là đắn đo, ngại ngùng
Cá pranhas chẳng bao giờ hồ nghi về chuyện, lẽ phải thuộc về chúng ta, khi rỉa thịt con mồi
Rắn rattlesnake xoa đầu mình một cách hết mình
Làm đếch gì có thứ chó rừng tự phê, tự kiểm
Châu chấu, cá sấu, giun xoắn, mòng
Sống như là chúng sống và rất ư hài lòng về chuyện này
Trái tim của con cá voi ăn thịt người nặng một trăm ký
Nhưng trong những trường hợp khác, nhẹ hều
Không có gì tuyệt vời hơn, có lương tâm trong sáng, như của con thú
Trên hành tinh thứ ba của Mặt Trời.

A similar theme is treated in this poem: the self-torment afflicting us in the early morning.
Bài này cũng cùng đề tài, một mình thì lại chán mình làm sao, vào cái giờ sớm sủa
bốn giờ sáng!

FOUR IN THE MORNING

The hour from night to day.
The hour from side to side.
The hour for those past thirty.
The hour swept clean to the crowing of cocks.
The hour when earth betrays us.
The hour when wind blows from extinguished stars.
The hour of and-what-if-nothing-remains-after-us.
The hollow hour.
Blank, empty.
The very pit of all other hours.
No one feels good at four in the morning.
If ants feel good at four in the morning
-three cheers for the ants. And let five o'clock come
if we're to go on living.

Translated from the Polish by Magnus J. Krynski and Robert A. Maguire

Czeslaw Milosz: A Book of Luminous Things
Bốn giờ sáng
Giờ, đêm qua ngày
Bên này qua bên kia.
Giờ, cho những kẻ quá bốn bó
Giờ lên ngôi của tiếng gáy của những con gà trống
Giờ trái đất phản bội chúng ta
Giờ “đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ nghe từ ngàn thu “vọng” về”!
Giờ của “thiên thu liệu còn chi sau khi ta ngỏm”?
Giờ hổng
Bạch bản!
Rỗng tuếch!
Lỗ đen, đích thị nó, của tất cả những giờ khác!
Chẳng ai cảm thấy thú vị: Bốn giờ sáng!
Nếu lũ kiến cảm thấy thú, bốn giờ sáng
Mừng cho chúng!
Năm giờ sáng, hãy tới!
Thì cũng đành tiếp tục sống
Chứ biết làm sao bây giờ!

Wislawa Szymborska (2 July 1923 – 1 February 2012)

-Anh coi thường em quá. Oanh ngăn xúc động, dịu dàng nói.
-Rồi em sẽ hiểu, nên để người ta coi thường mình.


TTT: MCNK

*

[Without title. Fragment of an
unfinished poem]

The grass of your eyes, bitter grass.
Wind, billow above it, eyelid of tallow.
The water of your eyes, forgiven water.

   
Night of the New Year

During the night of the New Year, season without hours,
you dispatched the young catafalque to petition your lover;
towards her the incendiary tears marched out of the
        mirrors
in the torch snowed over with sorrow, sprouting out of her
        head.
The ring extinguished in a cup perched up on the window
to spy her traipsing through snow with slumbering tresses;
the unbraided hands rushed to the gate to await her,
while above in the chambers the poets stepped to the
        waltz.
But she strolled through the threshold to fight back an
        eyelid,
to witness the quick of her wakening breast drift off to
        sleep.
A die tumbled between the slabs, with eyes of a nectarine
        hue,
and the wooden citadel's steeple left with a shadow.
Encounter
Tonight it'll rain on the green dunes of limestone,
The wine preserved til today in the mouth of a dead man
will awaken the land of foot-bridges, displaced in a bell.
A human tongue will trumpet audacity in a helmet.

And thus the trees will arrive in a fury
to wait for the leaf that speaks, delivered in an urn,
the heralds of the coast of sleep sent off to the tide of
        banners.
Let it douse in your eyes, so I'll think that we'll die
        together.
Your hair dripping out of the mirrors will blanket the
regions of air,
where, with a hand of frost, I'll set an autumn on fire.
From the waters imbibed by the blind my short laurel will
        scurry
up on a belated ladder, to take a bite from your forehead.

Paul Celan

Thơ Celan không dễ đọc. Gấu mua cuốn thơ vì mấy bài viết về ông, bài nào cũng thần sầu. Không thể bỏ bài nào.
Vấn nạn thơ Celan, cũng là vấn nạn không thể viết, nhất là bằng tiếng Đức, của Kafka, theo Gấu. Trong bài viết về ông, của Edmond Jabès, cũng in trong cuốn sách, Hồi ức của chữ, The Memory of Words, nguyên tác tiếng Tây, La Mémoire des Mots, (Paris: Fourbis, 1990), Jabès viết: Đằng sau ngôn ngữ Celan là tiếng vang chẳng thể nào tắt ngấm của một ngôn ngữ khác.
Nhận xét này cũng áp dụng cho Kafka, theo Gấu.

Nhưng nhận xét sau đây, của Jabès, mới thần sầu:
Stéphane Mosès ghi nhận, trong bài nghiên cứu của ông, “Trò chuyện trong núi, Conversations in the Mountains", trong bài thơ này, việc Celan sử dụng một số cảm nghĩ vay mượn từ Judeo-German [Đức-Do Thái] có thể nằm trong phần thách đố của ông, đối với đám đao phủ thủ [could well be on his part a challenge to the executioners]
Theo Jabès, không phải như vậy.

Cái sự thách đố lũ VC Đức Nazi này, thì nằm ở chỗ khác. Nó nằm ngay trong chính cái gọi là thơ, chính thơ.
The challenge to the executioner lies elsewhere. It resides in the very language of the poetry.

Tuyệt!

Tin Văn sẽ đi hết mấy bài viết về Celan, trong ENCOUNTERS WITH PAUL CELAN, bài nào cũng ngắn.
Bởi là vì có thể, đây cũng chính là vấn nạn của thơ Mit, ngôn ngữ Mít.
Cũng chính là vết thương hình chữ S.


Sách & Báo

*

Cũng sách xôn. Một thứ "chuyện nghề" của Vargas Llosa. Có bài, “Làm thế nào để biến 1 lời nói dối thành sự thực”, đọc cũng thú. Vargas Llosa, lúc đầu cũng rất chịu Steiner, nhất là cuốn “Ngôn ngữ và Câm Lặng.” Sau chán, chê nổ quá, cũng 1 thứ “enfant terrible” của thế kỷ. Rushdie thì kể như không đọc nổi Steiner. Chê rầm trời. Nhưng, đa số những người chê Steiner, theo GCC, đều không có nỗi đau Lò Thiêu, như 1 thứ bịnh kín, mort dans l'âme. Và thiếu nội lực, về tôn giáo Do Thái, thí dụ. Nhưng khi Oz chửi Steiner, khi ông này chọn thái độ vô tổ quốc, [bằng giá nào tớ, Oz, đếch bỏ cái chất Bắc Kít (căn cước Do Thái)], là không đọc tới ông.

* *

*

Bản tiếng Tẩy, mua từ hồi mới qua, ở Montreal, nhân 1 lần lên gặp Nguyễn Khánh Long, với Nguyễn Tiến Văn, hẳn thế.
Mới lục ra được.
Bản tiếng Anh, mua gần đây, do không kiếm thấy bản tiếng Tẩy, chán thế!
Dịch giả: Marthe Robert [Traduit et présenté par Marthe Robert].

Chúng ta có mắt để nhìn
Để biết đến Chúa, chúng ta có sự hiện hữu của chúng ta

Đây là bằng chứng nhức nhối nhất, của tất cả văn chương. Trở thành ra sao, khi một con người bị "verbe" [động từ, lời, thoạt kỳ thuỷ là lời] đâm vô, quyết định đời anh ta, làm cho anh ta hy vọng một sự cứu rỗi bí ẩn?
“Chúng ta bị đuổi khỏi  thiên đàng, nhưng thiên đàng đàng không vì thế mà bị hủy diệt”. Cái thiên đàng này, thì mới đẹp làm sao, khi trở về từ xa….

Ui chao, không lẽ Kafka viết Nhật Ký là nhắn nhủ lũ Mít?


Thông điệp gửi thế kỷ 21
*

Thảo Trường by Phạm Phú Minh

Phạm Phú Minh: Xin anh cho biết những tác phẩm nào trước 1975 mà anh bằng lòng nhất trong công việc phản ảnh những bi đát của một cuộc chiến vừa mang tính chất ý thức hệ vừa là huynh đệ tương tàn của Việt Nam? Và xin anh cho biết tác phẩm của anh có liên quan đến điều mà người ta thường nói, là “phản chiến”?

Thảo Trường: Trước hết, tôi là người tham chiến. Nếu có ai bảo tôi là phản chiến thì là không đúng, vì tôi ở trong cuộc chiến đó. Những năm đầu sĩ quan của tôi, tôi đi theo những đơn vị tác chiến từ vĩ tuyến 17 cho đến Ðồng Bằng Sông Cửu Long, và làm một số công việc, chẳng hạn đi tiền sát cho pháo binh trong những trận đánh. Những năm về sau tôi được điều động về cơ quan tham mưu, từ đây tôi có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn những diễn tiến của cuộc chiến Việt Nam. Tất cả những cái đó dù muốn dù không cũng “ám” vào tác phẩm của tôi.

 Trong những truyện tôi đã viết, có những truyện tôi rất thích mà tôi nghĩ độc giả cũng thích, ví dụ truyện Người Ðàn Bà Mang Thai Trên Kinh Ðồng Tháp, hoặc Viên Ðạn Bắn Vào Nhà Thục chẳng hạn. Trong số những truyện loại này có một truyện tôi muốn dùng một nhân vật ngoài cuộc chiến nhìn vào cuộc chiến ấy, đó là một cô nữ sinh trong một trường nội trú ở Ðà Lạt trốn ra về với mẹ, và chứng kiến cảnh chiến tranh. Cô đã thấy cảnh đánh nhau, cảnh giết nhau, thấy những tử thi... Tôi muốn dùng một nhân vật không biết gì về cuộc chiến để nhìn cuộc chiến đó. Không biết độc giả có để ý đến truyện này không, riêng tôi, tôi rất thích cái nhìn khác về cuộc chiến của nhân vật trong truyện này. Ðó là truyện Thềm Ðá Xanh Rêu.
 Rồi đến những cái thê thảm của trại giam, dù muốn dù không nó cũng nằm trong truyện của tôi. Có người nói rằng mọi thứ bây giờ đã qua rồi, nói lại chuyện ấy làm gì, nhưng tôi thì cho rằng không thể nào không nói đến.

By Đặng Phú Phong

Đặng Phú Phong:  Như vậy anh đã có cả thảy 2 lần “ra” Bắc đều đặc biệt. Lần thứ nhất “ra” Bắc trước 1975 để “nghiên cứu”, lần thứ hai là để ở tù. Ở tù thì nhiều người và chính anh cũng đã viết về nó. Anh có thể cho biết thêm về thời điểm, bối cảnh… chuyến ra Bắc lần thứ nhất để nghiên cứu của anh không?

        Thảo Trường:  Năm 1973, thi hành hiệp định ngưng bắn ký ở Paris, trong cuộc trao trả tù binh lần 2 tại Hà nội, Cục An ninh đã thoả thuận với Phái đoàn VNCH trong ban Liên hợp quân sự 4 bên để cử 1 sĩ quan của Cục đi trong phái đoàn đó. Tướng Cục trưởng Cụ
c An ninh đã giao cho tôi làm nhiệm vụ đó. Ông đã gặp riêng tôi và nói tôi phải nhân cơ hội này nhìn tận nơi, nghe tận tai “bên trong” chế độ cộng sản miền Bắc. Từ trước đến giờ tôi chỉ nghiên cứu đối phương qua tài liệu và qua những buổi làm việc với các cán bộ CS bị bắt làm tù binh, nay ông muốn tôi ra tận nơi ngoài ấy để nhìn tại chỗ xã hội đó. Tôi bay ra Hà Nội cùng Phái đoàn 4 bên và Ủy hội quốc tế 4 nước. Tôi ở khách sạn Hòa Bình (tên cũ trước 1954 là Splendite Hotel) chính quyền đãi ăn cơm tám giò chả, đưa đi tham quan thành phố và gọi tôi là… ngài. (Lần thứ hai, năm 1976, ra ngoài Bắc làm tù binh tôi ăn củ sắn và bị kêu là… thằng ngụy). Tôi thăm nhà giam Hỏa Lò (nơi giam giữ cuối cùng, chiếu theo qui định của bản hiệp định, những tù binh Mỹ sẽ thả). Ở sân bay Gia Lâm tôi chứng kiến Hà Nội trao cho phái đoàn Mỹ 43 tù binh trong đó có một đại tá và một viên chức ngoại giao Đức. Một sĩ quan Hà Nội đưa tặng tôi một gói sách, nói hôm trước có sĩ quan miền Nam đưa tặng quyển Mùa Hè Đỏ Lửa của nhà văn Phan Nhật Nam, nay họ tặng lại. Tôi cởi dây chuối buộc thấy có quyển thơ văn Nguyễn Đình Chiểu và một tập nhạc. Tập nhạc gồm toàn những bài hát ca tụng ông Hồ chí Minh. Quyển sách biên khảo văn học có những thơ văn của cụ Nguyễn Đình Chiểu nhưng vào đầu sách là một bài dài nói thơ của cụ chống ngoại xâm và đưa cụ vào chiến tuyến chống Mỹ cứu nước. Hôm sau nhật báo ở Saigòn đi tin lớn trang nhất “Cuộc trao đổi văn hóa đầu tiên giữa hai miền Nam Bắc VN, qua hai nhà văn”. Tôi đã chụp nhiều ảnh và phải viết một bản nghiên cứu về cộng sản VN. Tôi cũng đã viết quyển tùy bút “Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng”. Sách do Đại Ngã xuất bản. Nội dung quyển sách tôi ghi lại chuyến đi và suy nghĩ của tôi về hòa bình VN. Tôi đã nhận định rằng “Hà Nội, nơi giam giữ cuối cùng những tù binh Mỹ và còn là nơi giam giữ cuối cùng những gì nữa của dân tộc, quyền tự do dân chủ, việc thống nhất đất nước?”

Viết mỗi ngày
Follow

một bài viết công phu của nhà phê bình Đặng Tiến
những ai quan tâm đến Phạm Duy & âm nhạc phổ thơ của ông hẳn sẽ tìm ra được nhiều điều thú vị

NHẠC SĨ PHẠM DUY, PHAM DUY ĐẠO CAO, CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ VIỆT NAM, LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM, Tiểu Thuyết, Truyện, Newvietart
newvietart.com


Phạm Duy: Thơ Phổ Nhạc

Note: Bài viết này, của “Tiện Đắng”, theo GCC, nhảm, theo nghĩa, làm xàm, bá láp

Thơ Phổ Nhạc của PD, là tuyệt đỉnh võ công của PD, và sở dĩ được như thế, là nhờ thơ. Lời nhạc do PD sáng tác, thường rất tục, theo nghĩa trần tục. Nhờ thơ, nó bay lên cao thêm 1 nấc. GCC đã từng viết về nó, và coi đây là hiện tượng doping.
Phải nói, PD có tài ngửi thần sầu.

Cuộc chiến Mít, ông ngửi thấy phần người chết, thương tật. Thành ra mấy bài về kháng chiến, tới nhất, là những bài về người thương binh trở về, Ai có hay chăng người về, chiều nay thời gian đứng im để nghe… Nhưng, do bỏ chạy, ông bèn thổi đít VC, để chạy tội, qua những bài như Bà Mẹ Gio Linh, thí dụ.
Bạn có thể coi PD như 1 Dơi Xanh Hút Máu, Vi Bức Vương, trong Kim Dung, mỗi lần thi triển thượng đỉnh võ công [khinh công] là phải hút máu người.
Với PD, máu người là thơ, hoặc đàn bà.
Trên net, GCC có đọc loáng thoáng 1 bài viết về ông, hình như của 1 tay nhạc sĩ,
[Lê Quỳnh?] về lời ông than, bi giờ già quá, thấy gái xụi lơ, thành ra hết làm nhạc được nữa!

*

Tình cờ, GCC đọc bài viết ngắn trên, cùng lúc đang đọc cuốn A Reader on Reading [Một độc giả về Đọc] của Alberto Manguel. Trong có bài viết The End of Reading [Chấm dứt Đọc].
Trích:

Lars Gustafsson, trong cuốn tiểu thuyết cảm động của mình, Death of a Beekeeper [Cái chết của Người giữ mật ong], trong đó, nhân vật kể chuyện, Lars Lenmart Westin, chết vì ung thư, trước khi chết, làm 1 danh sách những hình thức nghệ thuật, art forms, theo mức độ khó khăn của chúng, according to their level of difficulty.
Đứng đầu là nghệ thuật huê tình [erotic arts. Thảo nào viết về sex cực khó!], tiếp theo là âm nhạc, thơ, kịch…
Nhưng có 1 thứ hình thức nghệ thuật không làm sao lọt vô danh sách trên: Nghệ thuật ôm nỗi đau, the art of bearing pain. “Chúng ta đụng hình thức nghệ thuật độc nhất mà mức độ khó quá cao”, Westin viết, “cho đến nay, chưa từng có ai hiện hữu để mà thực tập nó”. (1)

Có thể, Mít chưa có một tác giả nào đạt tới thứ “nghệ thuật mang nỗi đau”, thành ra không có tác phẩm lớn?

Mỹ là mẹ đạo hạnh: Bạn thực sự đau nỗi đau Mít tới đâu, thì tác phẩm văn học nghệ thuật của bạn tới đó, đây là ý của Brodsky trong bài diễn văn Nobel văn chương của ông:

“Trong diễn từ Nobel, Brodsky vạch ra một mỹ tín [aesthetic credo] mà cuộc sống đạo đức của dân chúng sẽ được xây dựng trên nền tảng đó. Mỹ học như ông nói, là mẹ của đạo đức, theo nghĩa, con người càng trọng mỹ tới đâu thì sàng lọc ra cái vô đạo tới đó. Và nếu như vậy, nghệ thuật tốt sẽ ở về phía của cái tốt. [Good art is thus on the side of the good]. Cái ác, cái tà ma, về mặt còn lại, ‘đặc biệt là cái ác chính trị, luôn luôn là một thứ văn phong tồi tệ” [Evil, on the other hand, ‘especillay political evil, is always a bad stylist”. On Grief… trang 49].”
Coetzee

Toàn 1 lũ bỏ chạy, trước 1975, hoặc miệng ngập ngụa "chiến lợi phẩm", trong có kít Mẽo bỏ chạy, sau khi ăn cướp được Miền Nam, mà viết lách cái nỗi gì?
Chúng đâu có bao gi
ờ “đau” đâu?

Tribute to Phạm  Duy

PD & VC

Ai đã từng đọc Cô Gái Đồ Long, hẳn phải nhớ cảnh, đồng minh, ngũ đại chính phái, liên minh diệt Ma Giáo, Vi Bức Vương từ trong cát hiện thân, túm một nữ đệ tử của Nga Mi, cắn cổ hút máu, rồi giở khinh công thượng thừa, chạy trên mặt cát, như 1 con rồng, Diệt Tuyệt Sư Thái không làm sao bén tới gót chân.
Đọc & Nghe Kỷ Vật Cho Em, Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng, thì mới ngộ ra thiên tài ngửi thơ, ngửi máu người, ngửi ra nỗi đau…  khi người thương binh trở về trong chiếc quan tài bằng kẽm…  của PD.
Những tên bỏ chạy làm sao mà ngộ ra được những nhân sinh kỳ ngộ như thế.

ĐT sự thực đọc ít. Tài thẩm thơ của ông là do bẩm sinh. Thơ mũi lõ, giỏi lắm, đọc được mấy tên Tẩy, ngoài ra là hết. Làm sao biết đến những cõi thơ Ba Lan, như Milosz, Szymborska, cõi thơ “dưới hầm” của Nga, như Akhmatova, thí dụ.
Lại càng không biết thứ “thơ là nghệ thuật của nhà khoa bảng”, Poetry is the scholar's art, của Helen Vendler, nữ phê bình gia bậc thầy của Mẽo
.

  Helen Vendler

Helen Vendler khám phá ra tài phê bình thơ của bà năm 23 tuổi, khi đọc thơ Wallace Stevens. Trước đó bà cũng đã đọc thơ, và nhớ khá nhiều bài, nhưng đọc Stevens, là, như thi sĩ Mít hải ngoại Nguyễn Đức Tùng, hòa tan vô liền - chôm từ của Thanh Thảo, hay dùng từ của chính bà:  tôi cảm thấy cái tinh anh khoả thân của chính tôi nói với tôi từ trang giấy, “as if my own naked spirit spoke to me from the page”!
Bài viết này tuyệt lắm. Mít ta chưa có tay nào phê bình thơ bảnh như bà này.
Có Đặng Tiến, nhưng với riêng Gấu, Đặng Tiến phê bình thơ có cái bẩm sinh, nghĩa là ít…  đọc, còn bà này, đọc kinh người, khác hẳn.

Với tôi, hay nhất ở Phạm Duy, vẫn là những bản nhạc tình. Ông không thể, và chẳng bao giờ muốn đến cõi tiên, không đẩy nhạc của ông tới tột đỉnh như Văn Cao, để rồi đòi hỏi "thực hiện" nó, bằng cách giết người. Một cách nào đó, "tinh thần" Văn Cao là không thể thiếu, bắt buộc phải có, đối với "Mùa Thu", khi mà nhà thơ ngự trị cùng với đao phủ. Kundera đã nhìn thấy điều đó ở thiên tài Mayakovsky, cũng cần thiết cho Cách mạng Nga như trùm cảnh sát, mật vụ Dzherzhinsky. (Những Di chúc bị Phản bội). Nhạc không lời, ai cũng đều biết, mấy tướng lãnh Hitler vừa giết người, vừa ngắm danh họa, vừa nghe nhạc cổ điển. Cái đẹp bắt buộc phải "sắt máu", phải "tyranique", (Valéry). Phạm Duy không nuôi những bi kịch lớn. Ông tự nhận, chỉ là "thằng mất dậy" (trong bài phỏng vấn kể trên). Với kháng chiến, Phạm Duy cảm nhận ngay "nỗi đau, cảnh điêu tàn, phía tối, phía khuất", của nó và đành phải từ chối vinh quang, niềm hãnh diện "cũng được chính quyền và nhân dân yêu lắm".

Những bài kháng chiến hay nhất của Phạm Duy: khi người thương binh trở về. Ở đây, ngoài nỗi đau còn có sự tủi hổ. Bản chất của văn chương "lưu vong, hải ngoại", và cũng là bản chất của văn chương hiện đại, khởi từ Kafka, là niềm tủi hổ, là sự cảm nhận về thất bại khi muốn đồng nhất với đám đông, với lịch sử, với Mùa Thu đầu tiên của định mệnh lưu vong.

Phạm Duy muốn làm một người tự do tuyệt đối nên đã bỏ vào thành. Nhưng Văn Cao, chỉ vì muốn đồng nhất với tự do tuyệt đối, nên đã cầm súng giết người. Thiên tài Mayakovski cần thiết cho Cách Mạng Nga cũng như trùm công an mật vụ, là vậy. 

"Mặt trời chân lý chiếu qua tim". (Tố Hữu). Tính chất trữ tình không thể thiếu, trong thế giới toàn trị (totalitarian world): Tự thân, thế giới đó không là ngục tù, gulag. Nó là ngục tù, khi trên tường nhà giam dán đầy thơ và mọi người nhẩy múa trước những bài thơ đó, (Kundera, sđd).

Bằng cung cách của một người hát rong vượt bực, Phạm Duy có thể cảm nhận "niềm nủi hổ" của Kafka, khi ông không làm hiện thực chủ nghĩa. Có thể ông cảm nhận, và "yêu" sự tự do tuyệt đối của ông, vì nó là tinh thần nghệ thuật hiện đại. Và chủ nghĩa hiện đại là nạn nhân đầu tiên của chủ nghĩa CS. Cenek, trong "Chuyện Diễu" của Kundera, bị đưa đi tù vì say mê hội họa lập thể, "Kẻ Thù Số Một" của "nhân dân", của Cách Mạng. Kundera không thể nào quên nổi nhà thơ Konstantin Biebl, và thuộc lòng những vần thơ của ông. Khốn khổ cho thi sĩ, ông là người say mê chủ nghĩa CS. Được Đảng giao trách nhiệm, làm những vần thơ tuyên truyền, cuối cùng, để trốn tránh thơ ca, và cách mạng, ông gieo mình từ cửa sổ căn phòng ông xuống hè đường Prague, và chết.

Với tôi, Phạm Duy hay nhất vẫn là những bản nhạc tình. Giống những cửa sổ, đối với K. trong Vụ Án.

Lần đó, ở trong trại cải tạo, nằm kế một anh bạn. Chẳng bao giờ anh hát. Một buổi tối, cả hai không ngủ được. Nói chuyện lăng nhăng một hồi, và đột nhiên anh thủ thỉ một mình. Những gì ..."đưa nhau tới bên cầu", "giờ đây cơn mộng tan rồi"...

Sau này, mỗi lần nghe nhạc Trịnh Công Sơn, tôi có cảm tưởng cuộc chiến còn nguyên đó, đối với riêng tôi, những ngày ở Trung Tâm Ba Quang Trung, lần đầu tiên xa Sài-gòn, xa cô bạn.

Nhưng, nếu không có nhạc Phạm Duy, không hiểu những ngày ở trong trại cải tạo còn thê thảm tới bực nào, đối với hai bạn tù...

Mùa Thu Những Di Dân

Hai kỷ niệm tuyệt vời nhất của Gấu, về nghe nhạc Phạm Duy khi ở tù VC, là lần một bạn tù chơi đàn Tây Ban Cầm bản Thuyền Viễn Xứ, và lần 1 anh bạn tù khác, hát lên bản Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng. Đó cũng là lần thứ nhất GCC được nghe bản nhạc.

Nhưng để mà được nghe như thế, thì phải được Ông Trời “chi ly đến tận chi tiết”, để “hoàn thiện” hai cái buổi nghe nhạc đó. Bởi vì thiếu, chỉ 1 chi tiết, là “ọc dzơ”!

Có lần GCC có kể 1 giai thoại về Leibnitz, khi ông giải được 1 bài toán, tất cả là ảo số, nhưng đáp số thì lại là 1 số thực [thứ này, sau chúng ta gặp đầy, trong toán về suite, về série, nhưng đó là thời kỳ hậu-Leibnitz. Bản thân Gấu cũng đã từng giải 1 bài toán như thế, về chuỗi số ảo, như khi nó đến ‘limite’, thì lại là 1 số thực. Áp dụng vào lý thuyết Mác Xịt, vào cái cú 30 Tháng Tư 1975, thì nó như vầy: Trước 1975, là ảo số, là lý tưởng, là ảo tưởng, là không tưởng - chủ nghĩa Mác và căn nhà thống nhất Mít -, nhưng 30 Tháng Tư, là số thực, là cái thực, là địa ngục Mít, là anus mundi…].

Lần đó, Leibnitz ngửa mặt trên Trời la lên, không có Ông là không thể có cái đẹp như thế này!

Với GCC lần đó, thì cũng vậy, phải có Ông Trời, thì mới có cái đẹp tuyệt vời như thế: được nghe hai bản nhạc của PD, như là số thực - hạnh phúc- limite, của cả một chuỗi đau khổ [ảo số].

Sướng đến nỗi GCC phải la lên Ngài Phạm Duy đã sáng tác hai bản nhạc, chỉ để cho Gấu, nghe, trong 1 dịp trọng đại như thế.
Thiên hạ, người khác, nhân loại, thì chỉ nghe… ké, hưởng ké!

Note: Bài viết này, GCC viết, khi “hero” của GCC và của cả xứ Mít, còn lang thang ở hải ngoại, và còn nghĩ là ông sẽ được an táng ở Bắc Cực.
[Văn Cao có cái vinh cái nhục của Văn Cao. Tôi cũng thế. Văn Cao được chết ở đất quê. Chứ còn tôi, nay mai chết sẽ được chôn ở Bắc cực chăng? (cười)...] 

Nhưng hóa ra rằng thì là, ngay từ khi đó, vào lúc GCC hớn hở vì chạy thoát quê hương, 1997, [Gấu tái định cử Canada 1994, sau 3- 4 năm ở Trại Tị Nạn], thì “hero” của Gấu đã tính đường chuồn về, và đang tìm cách thổi VC, nào là 10 năm “đoàn kết tới chỉ” [chỉ có làm thịt sạch một dúm đảng phái không phải VC].

Man is not merely one who lives, taught Alain in a rare moment of pride, 'he is one who survives".
"Con người đâu chỉ sống, ông thầy Alain, trong một lần rất ư hiếm hoi là tỏ ra tự hào, phán, 'nó còn là kẻ sống sót'".

Steiner: Những Bài Học của Những Ông Thầy.

Phạm Duy, như "mọi" tên Bắc Kít khác, đều thuộc týp đếch cần tới cái tự hào “sống sót” đó!
Ông không những sống, mà còn sống nhanh, sống hơn, sống quá... mọi tên Bắc Kít khác
Chẳng thế mà trong clip video do tờ Người Việt Cali thực hiện (?), ông phán, trước khi dinh tê, tôi thương hại những người chửi tôi, vì họ không thành công như tôi!

Hà, hà!

Saigon ngày nào của GCC

*


*

SAIGON 1954 - Operation Passage to Freedom - by Howard Sochurek
Có lẽ ghe thuyền dùng sào tre đưa hàng lên bán cho người trên tàu
[hình manhai]
Em tôi còn để lại một thành phố Sài-gòn trong đó có tuổi trẻ của tôi, của em tôi, thấp thoáng đâu đó nơi đầu đường, cuối chợ Vườn Chuối, ngày nào ba mẹ con dắt díu nhau rời con tầu khổng lồ Marine Serpent, miệng còn dư vị hột vịt lộn, người dân Sài-gòn trên những ghe nhỏ bám quanh con tầu, chuyền lên boong, trong những chiếc giỏ lủng lẳng ở đầu những cây sào dài. Hai anh em mồ côi cha vừa mới mất Hà-nội, ngơ ngác nhìn thành phố qua những đống rác khổng lồ nơi đại lộ Hàm Nghi, qua ánh điện chói chang, sáng lòa trên mặt sông, trên những con tầu đậu nối đuôi nhau suốt hai bên bờ vùng Khánh Hội, và đổ dài trên những con lộ thẳng băng. Qua những lần đổi vai đòn gánh của bà mẹ, từ cháo gà, miến gà, tới cháo lòng, bún riêu, bánh cuốn... Qua ánh mắt thất vọng của Người. Bốn anh chị em, bây giờ chỉ còn hai đứa, vậy mà cũng không nuôi nổi. Cuối cùng cả ba mẹ con đành lạc lối giữa những con hẻm chi chít, chằng chịt vùng Bàn Cờ. Tôi đi làm bồi bàn cho tiệm chả cá Thăng Long, làm trợ giáo, cố gắng tiếp tục học. Em tôi điếu đóm, hầu hạ một ông cử già, bà con với anh Hoạt, chồng người chị họ. Anh Nguyễn Hoạt, tức Hiếu Chân, bị bắt chung với Doãn Quốc Sĩ, sau mất ở trong khám Chí Hòa, chính quyền CS bắt phải hủy xác thành tro, trước khi mang ra khỏi nhà tù.
Một Sài-gòn trong có quán cà phê Thái Chi ở đầu đường Nguyễn Phi Khanh, góc Đa Kao. Bà chủ quán khó tính, chỉ bằng lòng với một dúm khách quen ngồi dai dẳng như muốn dính vào tuờng, với dăm ba tờ báo Paris Match, với mớ bàn ghế lùn tịt. Trên tường treo một chiếc dĩa tráng men, in hình một cậu bé mếu máo, tay ôm cặp, với hàng chữ Pháp ở bên dưới: "Đi học hả? Hôm qua đi rồi mà!"
Đó là nơi em tôi thường ngồi lỳ, trong khi chờ đợi Tình Yêu và Cái Chết. Cuối cùng Thần Chết lẹ tay hơn, không để cho nạn nhân có đủ thì giờ đọc nốt mấy trang Lục Mạch Thần Kiếm, tiểu thuyết chưởng đăng hàng kỳ trên nhật báo Sài-gòn, để biết kết cục bi thảm của mối tình Kiều Phong-A Tỷ, như một an ủi mang theo, thay cho những mối tình tưởng tượng với một cô Mai, cô Kim nào đó, như một nhắn nhủ với bạn bè còn sống: "Đừng yêu sớm quá, nếu nuốn chết trẻ." Chỉ có bà chủ quán là không quên cậu khách quen. Ngày giỗ đầu của em tôi, bà cho người gửi tới, vàng hương, những lời chia buồn, và bộ bình trà "ngày xưa cậu Sĩ vẫn thường dùng."
"Sao không hát cho những người vừa nằm xuống..."
Đã có một thời, tôi không sao chịu nổi. Chúng rũ rượi, mệt lả. Đầy sũng nước mưa, nước mắt. Chúng gọi tên thảm kịch. Thảm kịch của những cái vô ích. Của cuộc chiến điêu đứng, rồ dại. Chúng gợi tâm trạng nhớ. Nhớ bùn. Nhớ đời sống thảm hại, nhàm chán. Nhớ những kỷ niệm chẳng đáng nhớ. Nhớ ngã tư đường Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng gần nhà cô bé, khi chưa có tượng Thích Quảng Đức. Cô bé hớt hải chạy ra, hớt hải lắc đầu, rồi lại hớt hải chạy về. Nhớ những ngày nhà cô bé dời lên đường Gia Long. Buổi sáng, cô đưa em đi học trường Kiến Thiết gần khu Chợ Đũi, đưa mắt nhìn người yêu đang chờ đợi trong quán cà phê Tầu ở ngay đầu đường. Khi về, cô tha thẩn giữa những hàng cây nơi vườn Tao Đàn. Mùa Thu theo chiếc lá nhẹ nhàng đậu trên vai cô bé đang mơ mộng, đang trở thành người lớn.

Nhớ, nhớ..."Nếu mai không nở, anh đâu biết Xuân về hay chưa...", em tôi vẫn thường nghêu ngao một mình trước khi bỏ đi.
Như những lời chúc dữ, chúng báo trước một Miền Nam mòn mỏi, suy sụp, trước một Miền Bắc lì lợm, dai dẳng.
Trong mỗi chúng ta đều có một Sài-gòn âm ỉ cháy. Tôi khơi cục than hồng của tôi, để cho Sài-gòn của bạn sáng ngời.