*

Nguyễn Quốc Trụ

Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê: Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975, công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định 1994, Canada


Đã xuất bản
Những ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
 Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi dòng sông
chảy về phiá Nam

[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]

Trang Tin Văn, front page, khi quá đầy, được chuyển qua Nhật Ký Tin Văn, và chuyển về những bài viết liên quan.
*
Một khi kiếm, không thấy trên Nhật Ký, index:
Kiếm theo trang có đánh số.
Theo bài viết.
Theo từng mục, ở đầu trang Tin Văn.

Email

Nhìn lại những trang
Tin Văn cũ
  5

Bản quyền Tin Văn
*
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, chỉ để sử dụng cho cá nhân [for personal use], xài thoải mái [free]






*

Noel this year @ Regent Street, London
[from CM FB]


Thơ Mỗi Ngày

Mật khu Lê Hồng Phong

Tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng
Còn ngại hành quân động Thái An
Cát lún bãi mìn rừng lưới nhện
Mùa khô thiếu nước lính hoang mang

Ðêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng buồn bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu

Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Vung tiền mua vội một ngày vui

Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoát đã ở phương tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ biến thành mây bay

Linh hồn ta sẽ thành đom đóm
Vơ vẩn trong rừng động thái an
Miền Bắc sương mù giăng bốn quận
Che mưa giùm những đám sương tàn

Nguyễn Bắc Sơn

Evening

The snail gives off stillness.
The weed is blessed.
At the end of a long day
The man finds joy, the water peace.

Let all be simple. Let all stand still
Without a final direction.
That which brings you into the world
To take you away at death
Is one and the same;
The shadow long and pointy
Is its church.

At night some understand what the grass says.
The grass knows a word or two.
It is not much; It repeats the same word
Again and again, but not too loudly ...

Charles Simic

Chiều Tối

Con ốc sến rùng mình 1 phát
Cái mầm thì được chúc phúc
Cuối ngày dài
Con người tìm thấy nguồn vui, nước, bình an

Hãy cứ giản dị như thế, tất cả. Hãy đứng im
Đếch cần biết hướng đi sau cùng
Điều mang bạn tới thế giới này
Đưa bạn qua thế giới bên kia
Thì là một, như nhau
Cái bóng dài, nhọn
Thì có nhà thờ của nó

Vào ban đêm một người nào đó hiểu, cỏ rì rầm điều gì.
Nó biết một, hay hai từ
Không nhiều.
Nó lập đi lập lại vưỡn một từ
Không lớn giọng

BERTOLT BRECHT

"When I'd reported to the couple, thus"

The Augsburger walks with Dante through the hell of the departed. He addresses
the inconsolable and reports to them that on earth some things have changed.

When I'd reported to the couple, thus
That up there no one murders now for gain
Since no one owns a thing, the faithless spouse

Who'd beguiled that woman so improperly
Lifted his hand, now tied to hers by chains
And looked at her and turned perplexed to me

So no one steals, if there's no property?
I shook my head. And as their hands just touched
I saw a blush suffuse the woman's cheeks.

He saw it too and cried, She hasn't once
Shown so much since the day she was seduced!
And murmuring, Then there's no abstinence?

They moved off swiftly. And the ties that fused
Them tight were of no weight or consequence.

Translated from the German by Tom Kuhn

Poetry Magazine Nov 2014

Khi tớ nói với cặp vợ chồng như thế

Khi tớ nói với họ, như thế đó
Rằng trên thế gian không còn sát nhân để chiếm đoạt
Kể từ khi chẳng ai còn gì

Người chồng vô đạo
Từng lừa dối người đàn bà một cách chẳng ra gì
Nhắc cánh tay lên, lúc này bị xiềng vào người đàn bà
Nhìn bà vợ, và quay qua nhìn tớ, vẻ bối rối

Vậy là chẳng có ai ăn cắp, nếu chẳng có của cải?
Tớ lắc đầu.
Và khi tay của họ chạm nhau
Tớ nhìn thấy má người đàn bà ửng đỏ

Ông chồng cũng thấy, và bèn khóc.
Bà chẳng bao giờ rạng ngời
Từ cái bữa bị ông chồng dụ khị!
Và lẩm bẩm, vậy là cũng chẳng kiêng khem?

Và như thế, họ từ từ rời bỏ
Những sợi dây buộc họ, thật chặt,
Chẳng sức nặng, mà cũng chẳng hậu quả



Nobel 2014

 Modiano update.

In our previous bulletin, we were obliged to report that on the day after the award of the Nobel Prize in Literature to Patrick Modiano, London's largest bookshop, Foyles, was unable to supply a single one of his books, in French or English. On the generally well-equipped Foreign floor, the counter assistant appeared not to know who he was.
    After a further outing, we are pleased to say that you may now purchase The Search Warrant, first published by Harvill in 2000 and reissued (it appeared in French in 1997 as Dora Bruder). Yale University Press is about to publish Suspended Sentences, three interrelated novellas in one volume (the other two are After image and Flowers of Ruin).
    In Foyles's French department, we saw Accident nocturne, La Place de l'étoile, Rue des boutiques obscures and the memoir Un Pedigree, in both audio format (read by Jean-Louis Trintignant) and as a Folio paperback.
We plumped for the latter. Immediately following us at the caisse was a cultured-looking chap with Rue des boutiques obscures in his hand. You will be relieved to learn that we resisted saying that Modiano was now selling like gateaux chauds.

J.C
. [TLS Nov 7]

Nobel cập nhật. Trong bản tin trước, chúng tôi có bố cáo rằng thì là vào cái ngày Modiano được Nobel, tiệm sách bảnh nhất ở London đếch có 1 cuốn nào của ông, tiếng Tẩy cũng như tiếng Hồng Mao. Hỏi cô bán sách, cổ bĩu môi, thằng chả là ai dzậy?
Tình hình thay đổi, Modinao bi giờ bán chạy như "gâteaux chauds".

Note: GCC nghi là tay J.C. [giữ mục Sổ Tay trên TLS] lầm "gâteaux chauds", với "pâtés chauds".
"Pâtés chauds" mới là đặc sản của Tẩy.

Ngồi Quán Chùa, ngày nào, Gấu cũng sính gọi món này, hay trứng ốp là, khi nhỉnh xu, thay vì cái "sừng bò", "croissant", như thường lệ!

*

Đường ra trận mùa này đẹp lắm:  Chiến tranh của những nhà thơ.

Số báo mới này, trong mục hộp thư độc giả, cho biết 1 chi tiết cực kỳ thú vị: Bản tiếng Nga, chính thức, của nhà nước, đã phải mua bản quyền từ 1 nhà xb Ý, mà cái chết của tay này, là 1 bí mật:

*

Nhà văn và tên bồi

*

Trên TLS, số Oct 10, 2014 điểm hai cuốn liên quan tới "Bác Sĩ Zhivago" của Pạt, "Bên trong trận bão Zhivago" và "Cú Zhivago". Bài điểm, thật tuyệt, cho thấy 1 điều, cũng nhiều người biết, là, cuốn tiểu thuyết không hề tố cáo nhà nước, chế độ Liên Xô, và chính vì thế mà nó mới cực là bảnh. Gấu phải nhấn mạnh điều này, để “dậy dỗ” những tên nhà văn lề trái VC như Nguyễn Vịt, thí dụ, chúng cứ tưởng chửi nhà nước cho thật dữ, là làm văn chương! Đọc chúng thật là tởm. Ngay cả Sến cô nương thì cũng thế, mỗi lần viết là mỗi lần lên gân, chán quá là chán!

"Bác sĩ Zhivago", có thể nói, là cuốn sách mở ra giấc mơ viết văn của Gấu: Làm sao viết được 1 cuốn tiểu thuyết, nối được hai thành phố.
Đọc cuốn tiểu thuyết, là giấc mơ bật ra, như là 1 giải pháp cho cuộc chiến Mít!

Hà, hà!

Ui chao, đó là quãng đời đẹp nhất của Gấu Cà Chớn. Của cả đám Thất Hiền, 7 đứa bạn, trong có ông em nhà thơ. Lần gặp lại ở San Jose, khi ông anh mất, bạn C còn nói, hồi đó, chúng mình sướng thiệt nhỉ!


Một bữa, vào thời kỳ đó, giữa thập niên 1950, Olga Ivinskaya nhận cú điện thoại từ người yêu, Pasternak. Giọng ông nức nở, đứt đoạn, đầy nước mắt.
Bà hoảng quá, hỏi dồn, "Chuyện gì, chuyện gì?"
"Ông ta chết, chết, chết", ông lập đi lập lại.
Ông ta nói về Yuri Zhivago. Đó là đoạn vị bác sĩ bị bịnh tim quật sụm trên xe điện Moscow, (cũng không xa nơi sau này con trai của Pasternak bị chết)...
Nghệ thuật, Pasternak viết, luôn luôn là suy tư về cái chết từ đó đẻ ra đời sống.
Gấu bỗng nhớ đến cái chết của nhân vật Kiệt trong Một Chủ Nhật Khác, của Thanh Tâm Tuyền.
Anh chàng này, may mắn được du học, nhưng ngu si, bỏ về, và chết lãng nhách tại Đà Lạt...
Chương Zhivago bị quất sụm coi như chấm dứt "thời kỳ đó".
Như cái chết của Kiệt.
Không ai có thể ngờ, đời sống lại được bắt đầu từ những trại tù.
Từ biển cả.

Russia

A wounded economy

It is closer to crisis than the West or Vladimir Putin realise


From Russia With Love

The Self Projected

Cái tôi phóng chiếu

"Nobody in a raincoat": "Chẳng là ai trong cái áo mưa"

Note: Bài viết này quả là hết xẩy con cào cào!
Chúng ta đã biết Brodsky ra tòa VC Liên Xô, và trả lời, khi chúng hỏi, Ai cho phép mi là thi sĩ?

Bài này thú vị hơn nhiều:
Chàng, qua Tây Phương, lần đầu đăng đàn phán về thơ, giữa cử tọa Tây Phương!
Tin Văn sẽ đi 1 đường dịch thuật liền, như món quà chờ...  Noel.
[Và chờ mail H/A]

IN THE OTHER hand, when Joseph left Russia, when he read for the first time in the West, at that poetry festival in London, he may well have been quite surprised at the enthusiasm of the audience. It is conceivable, even likely, that he had no inkling of what to expect. Of course, though still young, he was not new to the game. He had been translated, had become the object of what were in effect cultural pilgrimages, had been pilloried by the state, was close to the last of the great ones, Akhmatova. And then there were his readings in Russia (remember Etkind's description, cited above). I suppose he was already a cult figure, whatever that may mean, or well on his way to becoming one. So he was surely aware of the hallucinatory effect of his performances. Even so, there was no telling whether this would turn out to be exportable. Traumatized as Joseph evidently was, that first reading at the Queen Elizabeth Hall at once set him on the path. He gave reading after reading. He did not let the sound fade, or himself go out of fashion, be lost sight of. He kept himself, the sound of himself, current. In one respect, this can be seen as a triumph of the will to survive, though he may also have needed constant exposure of this sort to compensate for the loss of a native audience. And in any case, as we have seen, he regarded it as his particular mission - though he might have balked at putting it so grandly - to bring Russian to English. And beyond that, of course, was the larger mission, on behalf of Poetry itself. And there must have been a price to pay, that of privacy, of the seclusion most artists need. Still, he also had the invaluable knack of being just himself. And periodically, as at Christmas when he went to Venice, he became a "nobody in a raincoat".

    Or do I exaggerate? Was he, in fact, misled? Did he misunderstand the interest his person or presence aroused? Perhaps it was more a matter of curiosity. He had become a sort of institution, America's Poet-in-Exile. And as for his odd English, well, away with it, who cared really. It had seemed to me, from the start, that Joseph was a great improviser. He had not quite anticipated the reception he received, but he adjusted readily enough to it. And as for his style of reading, well, as noted, he claimed it was simply the way poetry was read in Russia. But even his disingenuousness worked to his advantage. So, perhaps it was all a kind of improvisation. He relied on the challenge of live situations, on his wit and his wits, on language itself. Joseph had faith. He adopted a casual manner, even though the delivery of the poetry was quite the opposite to casual. He resisted being turned into a monument, an institution, although he himself raised monuments to those he regarded as his mentors: Tsvetayeva, Mandelstam, Akhmatova, Frost, Auden.


The Case of  BNT

/ 3,144 203.57 KB 2,138 1,884


/phe_binh/phe_binh_la_gi.html 580 22.05 KB 174 174


/Tho_Poetry/trang_tho_ctc.html 186 2.42 KB 130 140


/GT/vnch.html 97 22.29 KB 90 89


/tgtp_02/Yann_Martel.html 77 67.89 KB 18 17


/new_daily_poetry/ 56 184.78 KB 9 22


/GT/tong_van_binh_do_kh.html 46 11.66 KB 36 35


/thoi_su/nobel_2013.html 46 94.02 KB 15 15


/Notes_New/ 44 569.16 KB 14 18


/thoi_su/Vo_Phien_Cas.html 44 61.85 KB 6 29



43 134.45 KB 34 35



43 437 Bytes 16 16


/GT/tho_nbs.html 42 57.62 KB 33 2


/tap_ghi_5/gach_bac_ho.html 42 20.53 KB 35 35


/thoi_su/ 40 81.65 KB 1 12


/Tuong_niem/why_tqc.html 38 33.37 KB 27 26


/new_daily_poetry/Feu_Khoa_Huu.html 37 23.09 KB 4 13


/GT/quach_tuong_tieu_muoi.html 37 16.69 KB 29 29


/Gossip/gossip_can_trong.html 37 23.68 KB 31 30


/thoi_su/nobel_2010.html 35 86.73 KB 13 14


/Ky/le_disparu.html 35 114.69 KB 29 10


/Viet/how_write_a_sentence.html 35 32.77 KB 3 17


/Al/ 34 50.49 KB 5 6


/pv/nth.html 34 14.27 KB 27 28


/Day_Notes/

Đây là Top Ten của tháng này. Thường, đầu tháng GCC mò vô, tìm bài lạ, trong rừng Tản Viên!

Note: Bài viết này, tháng nào cũng lọt vô Top Ten, vì, có thể, nó được Wiki Mít nhắc tới.
Đám này, theo Gấu, toàn VC, đếch thèm nhắc tới Ngụy.

Bài viết, đúng là di chúc của Văn Cao. Khi Văn Cao mất, tờ Time loan tin, và trích 1 câu trong bài Tiến Quân Ca, tức Kuốc Ka của VC, "thề phanh thây uống máu quân thù", ra ý, không có quốc ca của bất cứ một nước nào lại “máu” đến như thế. Nhưng câu ghê gớm nhất, theo GCC, là câu “Đứng vùng lên gông xích ta đập tan”, vì nó tiên tri 1 xứ Mít như bi giờ: Cái gông xích ta không thể đập tan, là do ta quàng lên ta, đích thị của VC. Của Cái Ác Bắc Kít.
Sở dĩ VC tính đổi quốc ca, là vì bài viết này. Văn Cao viết nó, để cho cả thế giới biết, khi chúng biểu tao làm Quốc Ca, khi tao tính viết, thì chúng kêu, khoan đã, đi làm thịt 1 thằng Việt Gian đã.
Cái quốc ca của Vẹm đầy máu của Mít làm thịt Mít.
Quân thù của VC... là Mít, bởi là vì, ai "đéo" theo Vẹm thì đều là Việt Gian, là Ngụy cả!
Cả hai cuộc chiến đều do ông VC phịa ra rồi thực hiện, để làm thịt những tên Mít đéo theo chúng!
Thằng Tẩy đã từng năn nỉ Vẹm - chúng là nạn nhân của Nazi, đâu phải Đồng Minh cái con mẹ gì - chúng mời, đúng hơn, Mít vô Liên Hiệp Pháp, chúng đâu muốn đánh nhau, nhưng Vẹm lắc đầu, không đánh mày thì làm sao làm thịt lũ Việt Gian VNQDĐ?
Thằng Mẽo cũng thế, chúng tao chỉ muốn kiếm 1 thằng Mít đéo theo Tẩy, đéo theo CS, đâu có muốn dầy xéo xứ Mít. VC lắc đầu, không nhử mày vô xứ Mít, làm sao ăn cướp Miền Nam?
Khủng thật.

Chỉ 1 mình ông phán, tao có mặt, và tao đã giết người.
Còn lại là 1 lũ không mặt, ẩn mặt.
Viết về Văn Cao đúng nhất, là… Kundera.

« Ce n'était pas seulement le temps de l'horreur, c'était aussi le temps du lyrisme! Le poète régnait avec le bourreau ".

Đâu chỉ là thời của ghê rợn, của CCRD, của Đấu Tố, của Nhân Văn Giai Phẩm, mà còn là thời của thơ ca trữ tình, Mặt Trời Chân Lý Chói Qua Tim, Đường Ra Trận Mùa Này Đẹp Lắm.
Thời Của Văn Cao: Thi sĩ lên ngôi trị vì cùng với đao phủ.


Nhặt những vụn vặt

Note: Đọc cái này thì GCC lại nhớ ra cái kia: "Hồn Ma Cũ" của BNL

Gòa không, Gòa không?

Bình Nguyên Lộc là nhà văn Miền Nam thân cận nhất đối với thằng bé di cư-tôi ngày nào. Tôi làm quen với Sài-gòn là qua ông. Cái trò ngồi quán nhâm nhi ly hồng trà, ngóng chờ hồn ma cũ, trong khi tương lai đang đợi ở một ngã tư nào đó, là do ông, phần nào.
Ông già tôi khi còn sống, đặt cho tôi một biệt hiệu: thằng Mõ Phố. Ông làm nghề dậy học, cứ bị đổi trú sở hoài. Nghe nói Tây không ưa ông. Thằng con, ngay những giờ phút đầu tiên đến đất lạ đã lân la làm quen, từ người đến cảnh. Chưa kịp làm quen người bố, ông đã bị đảng phái thủ tiêu.
Mõ Phố vào Nam, việc đầu tiên, mua một tấm bản đồ thành phố Sài-gòn, rồi "khốn khổ khốn nạn vì nó". Chả là, thằng nhỏ tin theo bản đồ, lần theo đường chỉ, đụng ngay một đồn Bình Xuyên. Thành phố những ngày đầu di cư, bản đồ nào "cập nhật hóa" cho nổi! Người lính gác, chắc chỉ muốn cho thằng nhỏ Bắc-kỳ một bài học, bắt đứng đó đến chiều tối; mỗi lần buồn buồn, anh lên cò súng lách cách, hăm: Tao bắn bỏ mày! Anh ta làm sao biết thằng nhỏ bị gắn khằn trong trí tưởng, hình ảnh một ông bố bị cột đá bỏ sông.
Truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc lúc đó rất ăn khách, và những tờ nhật báo tại Sài-gòn thường in kèm như phụ trương. Bạn mua tờ báo, mở ra, truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc là một "cahier" khổ nhỏ kẹp ở giữa.
Nhớ đến ông, tôi nhớ đến một người viết khác, ông anh rể của tôi, Nguyễn Hoạt.
Nguyễn Hoạt thuở mới vào cũng ham viết tiểu thuyết về miền nam. Cuốn Trăng Nước Đồng Nai của ông kể lại việc kiếm cơm miền nam bằng nghề dậy học tại Biên Hòa. Ông quá mê thằng nhỏ xe "lô" (location), mời chào khách: Gòa không, Gòa không? (Hòa không, Hòa không?). Ông tả những cô gái miền nam tự nhiên đến nỗi mặc "đồ ngủ", leo cây, hái trái!
Ông chú Th. của tôi cười ngất, buông một câu: Bộ nó tưởng gái miền nam "dễ dzô" lắm sao? Bà thím tôi ngồi kế bên cười tủm tỉm. Hai người sắp thành ba người, mới lo làm đám cưới! Nhân đó, ông hỏi tôi thường đọc ai, tôi nói: Cháu mê Bình Nguyên Lộc. Ông gật gù, trúng ý. Trên bàn là một tờ báo hàng ngày, với truyện ngắn mới nhất của ông.
Ông chú này, tôi đã nhắc tới, nhân đi tìm "cái tên", cho một cuộc chiến. Gọi là chú, vì cùng học với ông già. Ông thi rớt, bỏ vào Sài-gòn lập nghiệp từ khi còn "nước Nam-kỳ", "tân thế giới" của những chàng trai xứ Bắc. Bà thím gốc xa xưa Tiều, rất hiền. Bà kể lại, kỷ niệm lấy chồng. Ổng nói, nếu ngày đó, tôi "hỏng" chịu cưới, bà tính sao? Đành ôm bầu, đẻ con, chịu làm "gái ngoan" chứ làm sao giờ! Kỷ niệm dù sao cũng vui. Buồn: những ngày làm ăn khá giả, khi chưa xẩy vụ di cư, bà sợ nhất cảnh đếm tiền mỗi lần ông đưa về. Sau bà nghĩ ra một cách thật giản dị: dùng đấu, để đong, như đong gạo!
Là một thương gia giầu có nhưng có thể do bỏ miền bắc, ông lại càng tin vào một "mùa Thu" mà ông đã không có dịp được thưởng thức khí hậu. Mãi sau này, ân hận, nhưng cũng may, mất trước khi mất miền nam, không phải chứng kiến cảnh kiểm kê tài sản.

Cô con gái thứ của ông là mối tình đầu của tôi.

Tôi mê cô cùng lúc mê Bình Nguyên Lộc. Thương thằng nhỏ con người bạn học, ông chú kêu tôi về làm trợ giáo cho mấy đứa con ông. Không hiểu ông có một vầng trăng thề nào không, khi rời xứ Bắc, vì mấy cô con gái đều mang tên người đẹp cung Quảng. "Đệ nhị tiểu thư" được cưng nhất, nhưng không vì vậy mà bớt sợ bố. Ông là một "hung thần" trong gia đình.

Lần cuối, tôi tới thăm nhưng "vô ý" mang luôn đôi dép dính bùn vô nhà. Cô hoảng quá la lớn: Anh để dép bên ngoài! Tôi quay ra, dép theo luôn. Mãi sau này, khá trộng tuổi, cô mới lấy chồng. Bây giờ hình như hai vợ chồng ở Úc. Không hiểu khi chọn tôi làm "trợ giáo" cho mấy đứa nhỏ, ngoài chuyện thương đứa nhỏ mồ côi, ông chú tôi có bị ảnh hưởng Bình Nguyên Lộc hay không?

Nếu miền nam của Sơn Nam là một miệt vườn, hoặc "trước" thuở miệt vườn, một hình bóng cũ; miền nam trong Bình Nguyên Lộc, là cảnh nhập nhằng kẻ chợ, người quê. Những nhân vật của ông cũng nửa quê nửa tỉnh. Đây là lý do theo tôi, dân Sài-gòn rất mê ông, nhất là những độc giả "nhựt trình". Trong tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc đã manh nha một Sài-gòn sắp sửa biến mất, như một miền nam biến thành huyền thoại, ở Sơn Nam. Người ta tự hỏi mấy cô gái trong Đò Dọc, lo chạy giặc Tây giạt về một xóm quê, suốt ngày lóng ngóng không biết làm gì, suốt đời chờ đợi một người lái "đi xem heo", họ sẽ sử sự ra sao, sau này, khi quân đội Mỹ và đồng minh đổ xô tới...

Nhận định văn ông, ở một số người viết:

-... không thành công ở truyện dài... đầy rẫy đối thoại, vết tích còn lại của những tiểu thuyết đăng báo từng kỳ... nhưng thái độ sống đã là tấm gương sáng cho tôi (Nguyễn Văn Sâm).
-... xét về toàn thể thì đến nay một thành công của Đò Dọc (có kết cấu linh động, kỹ thuật song suốt, xây dựng tâm lý ý nhị, hành văn trôi chẩy, đối thoại duyên dáng hơn cả) vẫn không đủ sức để cứu vãn giá trị cho sự nghiệp văn chương thiên về lượng hơn về phẩm đó... vốn dĩ ông đã tỏ ra khá xem nhẹ cái công phu viết văn rồi. (Cao Huy Khanh).
Trong lời giới thiệu Tuyển Tập, Võ Phiến trân trọng những bận tâm "khác", (ngoài cõi văn?): Đồng Nai là bận tâm của một dòng họ, Phù Sa là bận tâm của cả miền Nam... mối bận tâm thứ ba bao trùm cả dân tộc. Ông gọi: Bình Nguyên Lộc, một nhân sĩ trong làng văn.

Những nhận định cho thấy, Bình Nguyên Lộc không được coi như là "một nhà văn".

Ở đây, có nhiều vấn đề: hoặc thể văn đối thoại là một tiền-văn chương. Hoặc nó không đủ lực để chuyên chở những rắc rối đa đoan của tâm lý con người, sự chuyển biến của một xã hội, như xã hội miền nam trước cơn bão chiến tranh. Hoặc tác giả như Bình Nguyên Lộc không đủ khả năng làm bật nó ra, nhưng ở trong ông vẫn bàng bạc một nỗi lo: xã hội xuống cấp, "về chiều", "đồi trụy", và đây đúng là những bận tâm của một người viết, khi chọn lựa hình thức văn chương: tiểu thuyết. Như Georges Lukacs định nghĩa: tiểu thuyết, một thế giới về chiều, nhân vật chính, một anh chàng ù lì (passif), do ý thức quá rộng, mà thế giới về chiều quá chật không làm sao thỏa mãn. Điều này giải thích tại sao Bình Nguyên Lộc thành công trong những truyện ngắn: Đây là nơi trú ẩn của ông, trong những hồn ma cũ, trong hình bóng một cô đào hát cậu bé đã một thời mê mệt (Tình Thơ Dại), trong nỗi Thèm Mùi Đất...
Anh chàng ký giả nhựt trình trong Hồn Ma Cũ giải thích: chàng đã ghiền không khí ở đây, ghiền cả thời gian nữa... cho đến cái dơ bẩn của tiệm này chàng cũng yêu... Nhưng đúng ra là chàng đang rình... nó đây rồi:

Thình lình Kỳ ngây người ra: chàng vừa thấy người cha đứa bé rót cà-phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa mà uống. Cảnh này, chàng đã thấy rồi... trời ơi... lâu lắm... những hai mươi năm về trước...

Cảnh này, thằng bé Bắc-kỳ ngày xưa cũng đã thấy rồi, khi miền nam đã đổi chủ.
Bữa đó, hai vợ chồng từ rẫy lên chợ (chợ Cai Lậy). Bà vợ xà ngay vô một gánh bún, hay cháo lòng heo trong lúc anh chồng xớn xát kiếm một ly cà-phe túi. Khi quay lại anh thấy bà vợ đang thong thả lật phía bên trong chiếc gấu quần, hài lòng lau miệng...

Trời ơi, nó đây rồi, bấy lâu nay anh tìm kiếm hoài lúc đó mới hiểu ra, tình yêu là gì...

Nguyễn Quốc Trụ

Đọc lại cái viết này, cảm khái chi đâu, khi nghĩ đến cảnh gái Nam Bộ xếp hàng cho anh Hàn, anh Tẫu xem hàng....
VC làm nhục đất nước đến cùng cực, mà vưỡn có những tên bợ đít chúng. 

Hình Bóng Cũ

Trong những tác phẩm của Sơn Nam, có một, ít được nhắc tới, nhưng đối với cá nhân người viết, có lẽ đây là cuốn hay nhất của ông: Hình Bóng Cũ. Những tác phẩm như Hương Rừng Cà Mâu, Chim Quyên Xuống Đất... là một Miền Nam sau này, hoặc vẫn tiếp tục còn đó, tuy đã tang thương dâu bể. Hình Bóng Cũ là một Miền Nam đã mất hẳn, như một Viễn Tây của lịch sử Hoa Kỳ. Ở đó, huyền thoại lấn át thực tại, và khi huyền thoại biến mất, nó kéo theo cùng với nó, những con người nửa hư nửa thực. Tất cả biến thành thần. Những vị phúc thần (anges gardiens).

Tôi đọc cuốn sách đã lâu. Sau cố tìm gặp lại nhưng không thể. Như thể cái duyên giữa cuốn sách và tôi đã trọn vẹn: Một đứa bé di cư, một mình xuống tầu há mồm vào Nam tìm gặp Hòn Ngọc Viễn Đông, vô tình khám phá viên quặng làm nên hòn ngọc đó.

Câu chuyện một xóm nhỏ, có một "thầy ký nhựt trình", như dân trong xóm vẫn thường trầm trồ về một anh chàng ngụ cư. Bản thân anh ta lâu lâu có một bài thơ được nhà báo thương tình đăng lên, thay vì để trống một khoảng nhỏ.

Một bữa có một bà tới kiếm, tính mướn anh viết hồi ký cho "bả". Người đàn bà ôm trong mình cả một kho tàng. Đã từng là đào hát, chủ gánh, sau bỏ hết, gá nghĩa cùng một ông tây thuộc địa, một trong những người khai phá ra những cánh đồng thẳng cánh cò bay, tiền thân của những ông Hương, ông Cả trong những cuốn tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, tiền thân của những cô Ba, cô Tư trong những câu chuyện ngồi lê đôi mách, cà kê, dê ngỗng của một số tác giả Miền Nam hiện nay. Một nhân vật kiểu Faulkner, sự tàn bạo, dã man không thua, số người bị giết do ông, bởi chính ông chắc cũng không kém. Người đọc chỉ đoán lờ mờ những chi tiết "thực" đó. Chỉ lờ mờ biết được quá khứ của một Lọ Lem một bữa biến thành Công chúa Thuộc địa. "Bả" có cay đắng khi phải "bó thân về với triều đình", khi phải đồng hóa Miền Nam với chủ nghĩa thực dân khai hóa... nào ai biết được. Tất cả chỉ là những "tầng kiến giải" về một huyền thoại. Về một Hình Bóng Cũ.

Người xưa thường nói, nếu vẽ rồng chớ có "điểm nhãn". Vẽ mắt rồng, bữa nào hứng lên, rồng vàng, hạc vàng... bay mất, để trơ lại một thành Thăng Long mất cả Gươm Thiêng lẫn Rùa Thần, một Hoàng Hạc Lâu biến thành tiệm chả cá Lã Vọng...

Tôi nghĩ, Sơn Nam đã quên lời dặn đó của cổ nhân, khi viết Hình Bóng Cũ.

Mối tình đầu của tôi với Miền Nam ngày xửa ngày xưa chỉ có vậy. Số mệnh khiến tôi suốt đời lẽo đẽo chạy theo mối tình đầu đó, khăng khăng cứng đầu, cố biến nó thành hiện thực. Sau này, đọc những nhà văn Miền Nam, cũng là để cố tìm lại chút văn minh, "tư tưởng man rợ" (pensée sauvage, chữ của C. Lévi- Strauss), của một thuở miệt vườn.

Nhưng có lẽ không giản dị như vậy, Miền Nam, mối tình đầu, và tôi.

Ngay từ khi học trung học ở Hà-nội, đọc Tô Hoài, tôi đã cố mường tượng ra một "nước Nam Kỳ" xa xôi, chốn đầy ải, nơi trốn chạy của những anh đàn ông, con trai "Bắc Kỳ" của một Xóm Giếng, một Trăng Thề, một Quê Người - một làng Nghĩa Đô đã không còn là quê mình - nên đành hy sinh đi làm phu đồn điền cho Tây, nếu không may thì làm phân bón cây cao su, còn may ra thì lại có phen áo gấm về làng. Có thể khi xuống tầu há mồm vào Nam, giấc mơ của chú bé di cư vẫn chỉ là giấc mơ cũ kỹ đó. Giấc mơ của một Nguyễn Hoàng về một Hoành Sơn nhất khoảnh, hay khiêm tốn hơn, một tương lai bên ngoài lũy tre làng.

Khi còn ở Trại Cấm, nhân có một cán bộ Cộng Sản thất sủng, bị anh em đồng chí tính cho đi mò tôm, nên đành phải vượt biển, và được đậu thanh lọc, rồi sau đó xẩy ra một cuộc tranh luận gay gắt giữa một số người. Người cán bộ đã nói thẳng ra một điều: tại sao các anh không giải phóng chúng tôi, tại sao các anh tạo ra tình cảnh cả nước phải đi ăn mày tình thương của toàn thể nhân loại... Khi lấy được Miền Nam, có thể giấc mơ muôn đời của Miền Bắc đã được thực hiện: Giải phóng cho chính mình, rồi sau đó, cho cả nước. Đối với lịch sử, Miền Nam chỉ có công: Thất trận.

Qua đây, đọc những nhà văn hải ngoại, tôi nhận thấy chỉ có dòng văn chương chứa đựng tư tưởng "miệt vườn" là không bị cuộc chiến làm xấu đi, huỷ hoại, hoặc tiêu diệt. Như là một đối trọng với gánh nặng hội nhập.

Ở trong nước, dòng văn chương hiện thực tiền chiến, ở những tác giả như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Tô Hoài... đã đầu tư hết mọi ước mơ, hoài vọng và năng lực cho những ngày đầu cách mạng, đã hy sinh hết cho Đảng, dù có phải đốt cháy cả dẫy Trường Sơn, đã bị kiểm thảo, học tập nghị quyết, học tập cách ngồi, cách suy tư, cách đi thực tế, cách viết dưới ánh sáng của Đảng... cuối cùng nhường chỗ cho dòng văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa, chết bất đắc kỳ tử ngay những ngày đầu chiến thắng Miền Nam.

Độc giả trong nước bây giờ đổ xô tìm đọc những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh... là cũng nằm trong ý nghĩa đó: Tha hóa không phải chỉ ở đây, vào lúc này. Chất nghĩa khí, cõi công bằng, tình bà con lối xóm... vốn đầy rẫy trong những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là những hình bóng cũ mà người dân hai miền đang trân trọng.

Nguyễn Quốc Trụ


The Wall



Cảnh đẹp VN

Giới Thiệu Sách, CD

*

“ Đợi bọn mọi”, tiểu thuyết của J. M. Coetzee, bản dịch tiếng Việt của Crimson Mai& Phương Văn, Bách Việt & NXB Văn Học, 2014.


Art2all
Việt Nam Xưa
Talawas
Guardian
Intel Life
Huế Mậu Thân
Cali Tháng Tám 2011

30. 4. 2013

Thơ JHV

TMT

Trang đặc biệt

Tưởng nhớ Thảo Trường

Tưởng nhớ Nguyễn Tôn Nhan

TTT 2011
TTT 2012
7 năm TTT mất

Tribute to PCL & VHNT
Xử VC

Hình ảnh chiến tranh
Việt Nam của tờ Life


Vĩnh Biệt BHD

6 năm BHD ra đi
Blog TV


Trang NQT

art2all.net


&

Lô cốt trên đê làng
Thanh Trì, Sơn Tây

Tribute to NCT:
Vietnam's Solzhenitsyn

NQT vs DPQ