*

Nguyễn Quốc Trụ
Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975 công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định cư năm 1994
Canada


Đã xuất bản
Những ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
 Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi dòng sông
chảy về phiá Nam

[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]

Trang Tin Văn, front page, khi quá đầy, được chuyển qua Nhật Ký Tin Văn, và chuyển về những bài viết liên quan.
*
Một khi kiếm, không thấy trên Nhật Ký, index:
Kiếm theo trang có đánh số.
Theo bài viết.
Theo từng mục, ở đầu trang Tin Văn.

Email

Nhìn lại những trang
Tin Văn cũ
  5

Tin Văn @ VB

Bản quyền Tin Văn
*
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, chỉ để sử dụng cho cá nhân [for personal use], xài thoải mái [free].














 


*

Nhìn hình mới nhất của ông trên TV thấy già đi nhiều quá!
TT


Gấu có nhớ Xứ Đoài không?


Mùa Xuân & Hạnh Phúc
Đặng Tiến


As for me, I prefer to smell French shit for five years, rather than Chinese shit for the rest of my life.
Ta thà ngửi cứt Tây năm năm còn hơn ngửi cứt Tầu cả đời
Di chúc Bác Hồ


Trở lại nơi một thời vang bóng


Interview: Gao Xingjian

Về cái sự “nghiêm ngặt với chính mình”, “self-discipline” [kỷ luật tự giác]

Mọi người đều biết tôi gặp nhiều khó khăn khi xb sách tại TQ. Ngoài những giới hạn về in ấn, xuất bản, của nhà cầm quyền, nhà văn cũng phải đặt giới hạn cho chính mình, và thực tập sự “nghiêm ngặt với chính mình”. Nhưng tại TQ, ngay cả khi tôi “kỷ luật tự giác” như thế, tác phẩm của tôi vẫn bị biếm [banned]. Thế là tôi tung hê, đếch thèm chơi với nhà nước nữa. Linh Sơn là một tác phẩm mà suốt thời gian viết nó, tôi rất ư là thoải mái, chính là do tôi không nghĩ khi mình còn sống mà lại nhìn thấy nó chường mặt ra với nhân gian!

Về nhà văn như là những triết gia của thời của mình.

Hiểu biết của tôi về chuyện này là, sự trong sáng, rõ ràng là nhắm nói về tư tưởng, ý nghĩ. Nếu tư tưởng, ý nghĩ không rõ ràng, trong sáng, thì cái sự viết ra chữ viết cũng mắm sốt! Nhà văn, trước hết, phải suy tưởng rất ư là thận trọng, tới chỉ, về điều mà anh ta đang viết, và điều mà anh ta muốn chuyên chở, muốn gửi tới độc giả. Theo nghĩa này, có hai loại “tư tưởng gia”. Một, là thứ sử dụng một cách thức triết học để nhìn ngắm nhân sinh, và đưa ra những câu trả lời cho nhiều câu hỏi. Cũng còn một thứ suy tư lòng vòng chung quanh những hình ảnh. Nhà văn và nghệ sĩ, trong sự nghiên cứu sau cùng,


Ha Jin
Ngôn ngữ của sự phản bội

Thú thực, Gấu ngu này không làm sao chịu nổi cái từ "trồng người", được VC sử dụng để chỉ việc giáo dục.
Bây giờ lại thêm cái gọi là ‘virus phi nhân” nữa!

Mỗi đứa trẻ, khi ra đời, là có một số phận riêng của nó, mà chỉ có Thượng Đế mới hiểu được, biết được. Nhà trường giáo dục, dậy dỗ nó, rồi khi nó lớn, tới tuổi thành nhân, tự nó trồng nó!
Làm gì có chuyện trăm năm “trồng người”!
Trồng người?
Làm gì có thứ giáo dục sỉ nhục con người, khi coi, công việc trồng người, là, ngay từ khi đứa bé còn nhỏ xíu đã dậy nó hận thù?
Thử hỏi, cái ông nhà văn, khi viết ra hai từ “trồng người” đó, có nghĩ là, hiện cũng đang được nhà nước, hay ai đó, “trồng” ông ta không?

*

A Pedagogy of Hatred

Displays of hatred are even more obscene and denigrating than exhibitionism. I defy pornographers to show me a picture more vile than any of the twenty-two illustrations that comprise the children's book Trau keinem Fuchs auf gruener Heid und keinem Jud bei seinem Eid [Don't Trust Any Fox from a Heath or Any Jew on his Oath] whose fourth edition now infests Bavaria. It was first published a year ago, in 1936, and has already sold 51,000 copies. Its goal is to instill in the children of the Third Reich a distrust and animosity toward Jews. Verse (we know the mnemonic virtues of rhyme) and color engravings (we know how effective images are) collaborate in this veritable textbook of hatred.
Take any page: for example, page 5. Here I find, not without justifiable bewilderment, this didactic poem-"The German is a proud man who knows how to work and struggle. Jews detest him because he is so handsome and enterprising" -followed by an equally informative and explicit quatrain: "Here's the Jew, recognizable to all, the biggest scoundrel in the whole kingdom. He thinks he's wonderful, and he's horrible." The engravings are more astute: the German is a Scandinavian, eighteen-year-old athlete, plainly portrayed as a worker; the Jew is a dark Turk, obese and middle-aged. Another sophistic feature is that the German is clean-shaven and the Jew, while bald, is very hairy. (It is well known that German Jews are Ashkenazim, copper-haired Slavs. In this book they are presented as dark half-breeds so that they'll appear to be the exact opposite of the blond beasts. Their attributes also include the permanent use of a fez, a rolled cigar, and ruby rings.)
Another engraving shows a lecherous dwarf trying to seduce a young German lady with a necklace. In another, the father reprimands his daughter for accepting the gifts and promises of Solly Rosenfeld, who certainly will not make her his wife. Another depicts the foul body odor and shoddy negligence of Jewish butchers. (How could this be, with all the precautions they take to make meat kosher?) Another, the disadvantages of being swindled by a lawyer, who solicits from his clients a constant flow of flour, fresh eggs, and veal cutlets. After a year of this, the clients have lost their case but the Jewish lawyer "weighs two hundred and forty pounds." Yet another depicts the opportune expulsion of Jewish professors as a relief for the children:
"We want a German teacher;' shout the enthusiastic pupils, "a joyful teacher who knows how to play with us and maintain order and discipline. We want a German teacher who will teach us common sense." It is difficult not to share such aspirations.
What can one say about such a book? Personally I am outraged, less for Israel's sake than for Germany's, less for the offended community than for the offensive nation. I don't know if the world can do without German civilization, but I do know that its corruption by the teachings of hatred is a crime.
[1937]
Borges

Gấu đã có lần kể chuyện, đi thi Trung Học đệ nhất cấp, rớt, trượt vỏ chuối, không đỗ, không đậu, chỉ vì làm bài luận văn, trong đó nói lên “giấc mơ”, sẽ có một ngày về giải phóng quê hương Đất Bắc!
Ông thầy, và là vị giám khảo, đã đánh rớt Gấu, và sau đó, ông anh rể của Gấu, ký giả nhà văn Hiếu Chân, đã giải thích lý do cho thằng em vợ:
Mày còn nhỏ, hãy lo học. Khi nào lớn khôn, thì lúc đó, tự quyết định cái gọi là “ý thức chính trị” của mày!
*

 “Chúng em muốn một vị thầy giáo” đám trẻ háo hức, sôi nổi nói, “một vị thầy giáo vui vẻ biết vui đùa với chúng em, và gìn giữ kỷ luật, trật tự. Chúng em muốn một vị thầy giáo dậy chúng em lẽ sống ở đời”.
Thật khó mà không chia sẻ với trẻ em những khát vọng như thế.
Người ta có thể nói điều gì về một cuốn sách [dậy hận thù] như thế? Bản thân tôi, tôi phát điên lên được, không phải vì cái dân tộc bị sỉ nhục, mà chính vì cái dân tộc sỉ nhục kẻ khác, khi trồng con em của họ, bằng “vi rút hận thù”.
Tôi không biết, giả như nhân loại không có thứ văn minh đồng bằng Sông Hồng, thì có làm sao không, có bị huỷ diệt hay là không, nhưng tôi biết, cái sự trồng người khốn kiếp của nó, bằng hận thù, là một tội ác.
*

V/v dậy hận thù ở xã hội Miền Bắc, trong thời kỳ chiến tranh.
Con nít, mỗi khi làm bài tập toán, là, bữa nay, làm thịt được bao nhiêu tên Mỹ, Ngụy; hạ được bao nhiêu Thần Sấm, Con Ma…. Học sinh tiên tiến thì được lên bảng, cắm cờ giải phóng thành phố Miền Nam… như PTH viết:
Mùa xuân năm 1975, từ giữa tháng Ba với Buôn Ma Thuột, mỗi buổi sáng trước giờ khai giảng một học sinh tiên tiến được vinh dự cầm cây cờ đỏ sao vàng bé xíu lên cắm trên tấm bản đồ đất nước, đúng ở điểm vừa được giải phóng, vừa hoàn toàn thuộc về ta“. Huế 26.3, Đà Nẵng 29.3, Phan Rang 16.4, Xuân Lộc 21.4... Mầu đỏ san sát, tiến ào ạt xuống phiá Nam tới mức tôi sợ đến lượt mình thì không còn đất cắm. Ngày 27.4, cầm lá cờ làm bằng giấy mầu và tăm tre tiến vào Bà Rịa, tôi cũng khóc như bao người, nhưng không phải nước mắt của chiến thắng. Tôi có biết gì đâu về cái giá của chiến thắng. Đó là nước mắt của chia tay. Chiến tranh đã làm quen với tôi, nay tôi phải làm quen với sự ra đi của nó. Ai sẽ thay nó, nháy mắt chào? Còn lại gì, sau chiến tranh?
Còn lại gì


Tình lơ
Nguyễn Ngọc Tư




5 năm TTT ra đi
(22.3.2006-22.3.2010)


6 năm BHD ra đi