*

Nguyễn Quốc Trụ
Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975 công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định cư năm 1994
Canada

Đã xuất bản
Những ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
 Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi dòng sông
chảy về phiá Nam
[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]

Bản quyền Tin Văn
*
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, đều chỉ để sử dụng với tính cách cá nhân, [for personal use], xài vô tư, thoải mái [free].

&
Lô cốt trên đê làng
Thanh Trì, Sơn Tây

Email

*
*
*
Happy Birthday To U, GrandPa
[Note: Anh Cu Tý đau nặng phải đưa vô ER, ông ngoại ngất ngư... ]

Tribute
Bài mới nhất của David Remnick, về Nga & Putin nhân vụ xung đột biên giới. Và về Solz
Boundaries Issues 

Công trình nghiên cứu dành cho  chương trình “Project Diaspora: Study of the Vietnamese Overseas” của Trung Tâm William Joiner Center thuộc viện Đại học Massachusetts, Boston, MA, USA.
Ấn hành với sự đồng ý của tác giả - Café Damàu
Vài lời thưa trước
Chủ đề nghiên cứu, tuy chỉ là một phác thảo, nhưng tự nó mang tính chất của thể loại văn học sử (khác với các thể loại nghiên cứu văn học khác như lý luận văn học, phê bình văn học…). Chủ đề trước hết quan tâm đến những tiêu chuẩn nghệ thuật cần có của “văn” (như giá trị văn chương, giá trị tư tưởng) đồng thời cũng có tính “sử”, nghĩa là đặt văn chương trong bối cảnh của lịch sử, xem xét các tác động của lịch sử lên những biến chuyển trong văn chương hải ngoại.
Cơ cấu lý thuyết nghiên cứu này vẫn bị phê phán là đặt văn chương vào vai trò thứ yếu của một công cụ: văn chương không tự nó hiện hữu, mà chỉ là một tư liệu, một công cụ để chứng minh cho cái gì khác với văn chương, như biến chuyển chính trị, như hậu quả của chiến tranh, như kinh nghiệm di dân. NMG

Thú thực, Gấu đọc, chỉ mấy dòng mở ra công trình nghiên cứu trên đây, là đã thấy nhức đầu rồi.
Theo như Gấu hiểu, ý NMG muốn nói, giản dị như vầy

Sau khi lấy mớ tiền của WJC, phải trả bài. Và đây là bài trả của tôi. Một phác thảo, hay sơ thảo, hay biểu nhất lãm, hay tản mạn, hay tạp ghi..  văn học hải ngoại, và mặc dù phác, sơ, tạp, tản...  nhưng được viết theo tinh thần văn học sử, [khác kiểu viết, như lý luận, phê bình văn học].
Và chú trọng đến văn nhiều hơn sử
Kiểu viết này vẫn bị coi thường…
How? 

Nhưng, đâu cần thưa trước?
Bởi vì những gì gì, "ngâm cứu của tôi, tuy chỉ là một phác thảo nhưng tự nó...", hãy để cho người đọc, đọc, và nhận ra.
Viết như thế, là bắt người đọc phải đọc bài viết của mình, theo ý mình muốn.
Như thế thì đọc làm quái cho mệt!
Vả chăng, giả như Gấu đọc, và chẳng thấy một tí văn học sử nào, thì sao?

Không hiểu WJC trả bao nhiêu tiền một bài, nhưng viết như thế này, đúng ra nên viết...  chùa!
Như Tin Văn, chuyên viết chùa!

Đúng là miễn cho xong một show! [ý này của PNH]
*
Đề án chung do Trung tâm William Joiner chủ trương: “Diễn trình (tái) xây dựng diện mạo và quê hương của người Việt ở nước ngoài” tự nó đã là một nghiên cứu xã hội học di dân.
NMG

Cái này thì ghê quá!
Câu phán của NMG, nhằm xổ toẹt cái gọi là mảng lưu vong của văn học hải ngoại.
Đâu có thua gì câu phán của VTH, này, liệu có cái gọi là văn học hải ngoại?

Quái đản nhất, là, từ đề tài của WJC “Diễn trình (tái) xây dựng diện mạo và quê hương của người Việt ở nước ngoài”, suy ra, "tự nó đã là một nghiên cứu xã hội học di dân" mới lại càng ghê!
Cả một nước, chứ không phải nửa nước, chạy VC, lao ra biển, chết như rạ, đủ các kiểu chết, nhân loại thương tình, uỷ cho cơ quan Cao Uỷ Tị Nạn nhận cho vô nước này nước nọ, mà bây giờ chỉ là di dân, thì đúng là sỉ nhục những người đã ra tay cứu mình, cho mình một quê hương thứ nhì.
Sỉ nhục cả thằng cha Gấu này, cứ khăng khăng tao là lưu vong đếch phải di dân!

Bản thân NMG, cũng đã từng vượt biển, và nhờ lượng bao dung của xứ người mà còn sống tới ngày nay, nhưng ông tự coi ông là di dân, là quyền của ông.
Nhưng, ngược lại, một người ra đi từ Miền Bắc, theo diện di dân đàng hoàng, vẫn có quyền tự coi mình là lưu vong, theo suy nghĩ, những gì tao viết ở hải ngoại, có tính lưu vong, có tính đối kháng, ly khai, có tham vọng đòi hỏi tự do dân chủ cho trong nước.
Ngay cả, ở trong nước, cũng vẫn có thứ văn chương lưu vong, khi người viết nghĩ rằng, thứ mà họ đang viết ra, thuộc diện ngoài luồng.
*
There are so many different kinds of literary exile. At random from memory, in roughly chronological, non-evaluative order: "Isaiah" (and in a very wide sense, all Jewish writers of the Diaspora), Ovid, Virgil, Cavalcanti, Dante (from Florence under Charles de Valois), Petrarch (to Provence), Thibault de Champagne (to his new kingdom of Navarre), Charles d'Orleans (imprisoned by the English), Voltaire, Mme de Stael, Adam Mickiewicz, Shelley, Keats, Byron, Cyprian Norwid, Charles Baudelaire (debts), Victor Hugo, Heinrich Heine, Oscar Wilde, Henry James, Joseph Conrad, Gabriele D'Annunzio (debts), W. B. Yeats, Edith Wharton, Tristan Tzara, Kurt Schwitters, T. S. Eliot, Ezra Pound, James Joyce, Gertrude Stein, Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, H. D., Djuna Barnes, Henry Miller, Radclyffe Hall, D. H. Lawrence, Max Beerbohm, Somerset Maugham, Stefan Zweig, Bertolt Brecht, Andre Breton, Christopher Isherwood, Aldous Huxley, W. H. Auden, Thomas Mann, Mallcolm Lowry, Witold Gombrowicz, Vladimir Nabokov, Paul Bowles, Jane Bowles, Samuel Beckett, Eugene Ionesco, Jorge Sempnin, Luis Cernuda, Milan Kundera, Aleksandr Solzhenitsyn, Harry Matthews, Halo Calvino, Anthony Burgess, Muriel Spark, and no doubt many others, all the way to the modern "foreigners" or "post-colonials" who write in English or French today, from Kazuo Ishiguro to Salman Rushdie, an exile within an exile.
Clearly, this list alone covers a great variety of exiles, from temporary (e.g., Hugo) to permanent, though the exile can't always know this; early (e.g., Ishiguro, who came to England at six from Nagasaki) or en fin de carrière (Wilde). But the most obvious and commonly made distinction is between the following:
1. Involuntary exile, usually political or punitive ("Isaiah," Ovid, Dante, Thibault, Charles d'Orleans, Byron, Mickiewicz, and all the moderns such as Ionesco, Sempnin, Cernuda, Kundera, Solzhenitsyn, etc., alas). And these can be further divided into those exiled for their books or their behavior (Ovid, Byron, Mme de StaeI, Victor Hugo, Wilde, Solzhenitsyn) and those who as private persons fled from political conditions or war.
2. Voluntary exile, usually called expatriation, itself for many more personal reasons: social, economic, sexual (e.g., Radclyffe Hall and the lesbian group in Paris in the twenties), or simple preference (Beerbohm retired in Rapallo, Ezra Pound choosing Italy).
Involuntary exiles may tend to be unhappy, poor, bitter (like Gregory VII), nostalgic about the society left behind, self-righteous; voluntary exiles may tend to be happy, comfortable, satiric about the society left behind, self-righteous. But that is obviously a useless generalization, with too many exceptions on anyone feature, and some, like Byron (a sexual scandal but rich and noble) or Wilde (a sexual scandal but broken by prison and poverty) hover between the two, while Cyprian Norwid, though a voluntary exile, lived and died in Paris in abject poverty and was buried in a pauper's grave.
It seems to me that there are more pertinent distinctions, which cut across the differences in causes and conditions. The first is formal and thematic, the second linguistic.

Christine Brooke-Rose: Exul, in Exile and Creativity
Editor: Susan Rubin Suleiman

Duke University Press Durham and London 1998


Nhật báo Người Việt
Buổi ra mắt sách
“Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết”
của THẢO TRƯỜNG
THƯ MỜI
Kính mời quý vị tham dự buổi ra mắt cuốn sách
“Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” của nhà văn Thảo Trường.
Thời gian: Từ 1:00 pm đến 4:00 pm ngày Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2008.
Địa điểm: Phòng sinh hoạt Lê Đình Điểu nhật báo Người Việt,

14771 Moran Street, Westminster, CA 92683.
Thảo Trường là nhà văn nổi tiếng của miền Nam, đã trải qua gần 17 năm tù sau 1975 trong chế độ cộng sản. Từ khi sang định cư Hoa Kỳ năm 1993, ông đã tiếp tục viết  nhiều tác phẩm. “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” do Người Việt xuất bản là một Tuyển Tập gồm những tác phẩm quan trọng nhất của ông.
Ban Tổ Chức kính mời
*
Miểng