Viết đàng hoàng đi...
Độc giả TV
Thu 2014

  Thơ Mỗi Ngày

Michelangelo

Italian

1475-1564  

Very dear though it was I have bought you
a little whatever-it-is for its sweet smell
since by the scent often I find the way
Wherever you are wherever I am
beyond all doubt I will be clear and certain
If you hide yourself from me I pardon you
Taking it always with you where you go
even if I were quite blind I would find you

1973
W.S. Merwin: Translations


Isaiah Berlin

*

Hãy đốt cuốn sách này!

May quá, có mấy bài đã giới thiệu trên TV, của Salman Rushdie [Ghi chú về Viết và Nước, Notes on Writing and Nation], David Grossman [Viết trong Bóng Tối]. Sẽ giới thiệu tiếp bài của Toni Morrison: Peril: Hiểm nguy

Peril

Toni Morrison

Authoritarian regimes, dictators, despots are often, but not always, fools. But none is foolish enough to give perceptive, dissident writers free range to publish their judgments or follow their creative instincts. They know they do so at their own peril. They are not stupid enough to abandon control (overt or insidious) over media. Their methods include surveillance, censorship, arrest, even slaughter of those writers informing and disturbing the public. Writers who are unsettling, calling into question, taking another, deeper look. Writers-journalists, essayists, bloggers, poets, playwrights-can disturb the social oppression that functions like a coma on the population, a coma despots call peace; and they stanch the blood flow of war that hawks and profiteers thrill to.
    That is their peril.
    Ours is of another sort.
    How bleak, unlivable, insufferable existence becomes when we are deprived of artwork. That the life and work of writers facing peril must be protected is urgent, but along with that urgency we should remind ourselves that their absence, the choking off of a writer's work its cruel amputation, is of equal peril to us. The rescue we extend to them is a generosity to ourselves.
    We all know nations that can be identified by the flight of writers from their shores. These are regimes whose fear of unmonitored writing is justified because truth is trouble. It is trouble for the warmonger, the torturer, the corporate thief, the political hack, the corrupt justice system, and for a comatose public. Unpersecuted, unjailed, unharassed writers are trouble for the ignorant bully, the sly racist, and the predators feeding off the world's resources. The alarm, the disquiet, writers raise is instructive because it is open and vulnerable, because if unpoliced it is threatening. Therefore the historical suppression of writers is the earliest harbinger of the steady peeling away of additional rights and liberties that will follow. The history of persecuted writers is as long as the history of literature itself. And the efforts to censor, starve, regulate, and annihilate us are clear signs that something important has taken place. Cultural and political forces can sweep clean all but the "safe," all but state-approved art.
    I have been told that there are two human responses to the perception of chaos: naming and violence. When the chaos is simply the unknown, the naming can be accomplished effortlessly-a new species, star, formula, equation, prognosis. There is also mapping, charting, or devising proper nouns for unnamed or stripped-of-names geography, landscape, or population. When chaos resists, either by reforming itself or by rebelling against imposed order, violence is understood to be the most frequent response and the most rational when confronting the unknown, the catastrophic, the wild, wanton, or incorrigible. Rational responses may be censure, incarceration in holding camps, prisons, or death, singly or in war. There is however a third response to chaos, which I have not heard about, which is stillness. Such stillness can be passivity and dumbfoundedness; it can be paralytic fear. But it can also be art. Those writers plying their craft near to or far from the throne of raw power, of military power, of empire building and counting-houses, writers who construct meaning in the face of chaos must be nurtured, protected. And it is right that such protection be initiated by other writers. And it is imperative not only to save the besieged writers but to save ourselves. The thought that leads me to contemplate with dread the erasure of other voices, of unwritten novels, poems whispered or swallowed for fear of being overheard by the wrong people, outlawed languages flourishing underground, essayists' questions challenging authority never being posed, un-staged plays, canceled films-that thought is a nightmare. As though a whole universe is being described in invisible ink.
    Certain kinds of trauma visited on peoples are so deep, so cruel, that unlike money, unlike vengeance, even unlike justice, or rights, or the goodwill of others, only writers can translate such trauma and turn sorrow into meaning, sharpening the moral imagination.
    A writer's life and work are not a gift to mankind; they are its necessity.

TM
Cuộc đời và tác phẩm của một nhà văn đếch phải là một món quà cho nhân loại. Chúng là sự cần thiết của nó. 


Thơ Dã Viên

Gửi TV thêm 3 bài, trong cùng tổ khúc "Vạn đò".
Best Regards
DV

Tks
NQT

XII

Cần phải có một ngày tới đó. Để
gom nhặt. Một, hay nhiều vụn giấy, từ ngữ,
một, hay nhiều phần đời phế thải
Một dáng áo trong sương, màu sáng của
rạng đông.Không khí tươi trong hoang sơ của thôn xóm
Nhà dựng bên mép nước. Món ốc
cay xè, rượu gạo nồng. Cần có một ngày, tới đó,
trong dáng dấp một người hành hương
để một lần, mở lại những giác quan đã tắt.

III

Quay đầu lần nữa, cho một dòng ứa ra
chảy xuôi về Thuận An, Phú Diên, Mai Vĩnh,
chảy về những cửa biển, theo những nhánh rẽ,
trôi dạt, như những dáng thuyền rải rác, giờ
chỉ là những ký hiệu chỉ dấu thời thơ trẻ, có lẽ,
có lẽ sẽ dần mất giọng, lớp lớp âm lạ chồng lấp
khúc xương sinh ta và khúc xương ta sinh
thì đã tới bến, một bến cũng đầy gió đồng lạnh buốt.
Một ngày nào người quen sẽ gặp
ta ngồi trước đô thị xưa sâu dưới độn cát,
trồi lên giữa biển và sông, uống chung cốc
rượu quê, nói đặc giọng quê, trò chuyện
với người đã khuất..

XV

Đây là đoạn độc thoại dòng sông
Tôi là đứa trẻ thẩm âm. Những âm dội về
từ năm nọ. Đây, đoạn nhạc không lời, hay
nhạc đệm cho nhịp gánh kẽo kẹt. Cánh đồng vắng,
bến đò khuya, tiếng chân hoà với tiếng côn
trùng, tiếng gió và âm vọng tiếng ma. Đây
nhịp hãi hùng của nước dâng và bão cuồng
Những cánh tay chới với, chìm nghỉm dưới
dòng sông đêm…chẳng cánh tay nào đưa ra cứu vớt
Người đàn bà duy nhất sống sót, trở về
thân thể bầm tím, giữa đám trẻ nhom nhách…
Đây dòng sông độc thoại, và đứa trẻ nọ,
chết sững trong ánh chớp hồi ức, như một
âm bản, bất động, bên bờ xưa, không tiếng cười,
không ngôn ngữ, không cả âm nhạc.


From Russia With Love
Nghĩa địa Do Thái ở Leningrad

Gấu Cà Chớn nhớ là, đọc đâu đó, hình như trên net, khi Nguyễn Đình Thi sắp sửa đi xa, ông con ghé tai ông bố hỏi, bi giờ, bố tính sao, tính vô Văn Điển [hay Mai Dịch gì đó, nơi dành riêng cho đám VC chóp bu nằm, sau khi chết], cho có bạn, hay là kiếm chỗ khác… NDT quắc mắt, phán, KHÔNG, ông con mừng quá, tính đứng lên, thì ông bố níu lại, thôi, con ạ, làm như thế là mày mất phần thịt đấy, cứ chôn tao ở chỗ nhơ bửn, cứt đái đó, cũng xứng với tao vậy!

Mất "phần thịt", là Gấu phịa ra, khi nhớ tới bà nội của Gấu, suốt đời, mong nhìn thấy thằng cháu được 15 tuổi, được coi là 1 suất đinh, và "được" có phần thịt chia, vào những dịp lễ lạc lớn trong họ!

Reading in Iowa City, Iowa

SOME YEARS ago, Joseph came to Iowa City, the University of Iowa where I directed the Translation Workshop, to give a reading; I was to read the English translation. At the end, he was asked a number of (mostly loaded) questions, including one (alluded to earlier) about Solzhenitsyn. "And the legend which had been built around him?" His answer managed to be both artfully diplomatic and truthful: "Well, let's put it this way. I'm awfully proud that I'm writing in the same language as he does." (Note, again, how he expresses this sentiment in terms of language.) He continued, in his eccentrically pedagogical manner, forceful, even acerbic, but at the same time disarming, without any personal animus: "As for legend ... you shouldn't worry or care about legend, you should read the work. And what kind of legend? He has his biography ... and he has his words." For Joseph a writer's words were his biography, literally!
    On another visit to Iowa, in 1987, Joseph flew in at around noon and at once asked me what I was doing that day. I told him that I was scheduled to talk to an obligatory comparative literature class about translation. "Let's do it together", he said. Consequently I entered the classroom, with its small contingent of graduate students, accompanied by that year's Nobel Laureate.
    Joseph indicated that he would just listen, but soon he was engaging me in a dialogue, except it was more monologue than dialogue. Finally, he was directly answering questions put to him by the energized students. I wish I could remember what was said, but, alas, even the gist of it escapes me now. I did not debate with him, even though our views on the translation of verse form differed radically. Instead, I believe that I nudged him a little, trying - not very sincerely or hopefully, though perhaps in a spirit of hospitality and camaraderie - to find common ground. After the class, I walked back with him to his hotel, as he said he wanted to rest before the reading. On the way, the conversation, at my instigation, turned to Zbigniew Herbert, the Polish poet so greatly admired by Milosz and, I presumed, by Brodsky, and indeed translated by the former into English and by the latter into Russian. Arguably, Herbert was the preeminent European poet of his remarkable generation. He was living in Paris and apparently was not in good health. "Why hasn't Zbigniew been awarded the Nobel Prize? Can't something be done about it", I blurted out - recklessly, tactlessly, presumptuously. The subtext was: Surely you, Joseph Brodsky, could use your influence, etc. Joseph came to a standstill: "Of course, he should have it. But nobody knows how that happens. It's a kind of accident." He locked eyes with me. "You're looking at an accident right now!" This was not false modesty on his part, but doubtless he was being more than a little disingenuous. Nevertheless, I believe that, at a certain level, he did think of his laureateship as a kind of accident. Paradoxically, while he aimed as high as may be, he was not in the business of rivalling or challenging the great. They remained, in a sense, beyond him, this perception of destiny and of a hierarchy surely being among his saving graces.
    In a far deeper sense, though, they were not in the least beyond him, nor was he uncompetitive, but it did not (nor could it) suit his public or even private persona to display this.

Brodsky certainly considered himself to be - and it is increasingly clear that he was - in the grand line that included Anna Akhmatova, Boris Pasternak, Osip Mandelstam and Marina Tsvetayeva. Even I sensed this, despite my ambivalence about his poetry. Indeed, the continuity embodied in his work accounts, in part, for my uncertainty: I have tended to rebel against grand traditions. But perhaps this is to exaggerate. At times I hear the music, at other times the man, even if, as a rule, I do not hear them both together ...
    But take, for instance, this (the last three stanzas of "Nature Morte" in George Kline's splendid version in the Penguin Selected Poems):    

Mary now speaks to Christ:
"Are you my son? - or God?
You are nailed to the cross.
Where lies my homeward road?

How can I close my eyes,
uncertain and afraid?
Are you dead? - or alive?
Are you my son? - or God?

Christ speaks to her in turn:
"Whether dead or alive,
Woman, it's all the same-
son or God, I am thine."

It is true that, as I listen to or read the English, I hear the Russian too, in Joseph's rendition. I even see Joseph, his hands straining the pockets of his jacket, his jaw jutting, as though his eye had just been caught by something and he were staring at it, scrutinizing it, while continuing to mouth the poem, almost absent-mindedly, that is, while the poem continues to be mouthed by him. His voice rises symphonically: Syn ili Bog (Son or God), "God" already (oddly?) on the turn towards an abrupt descent; and then the pause and a resonant drop, a full octave: Ya tvoi (I am thine). And the poet, with an almost embarrassed or reluctant nod, and a quick, pained smile, departs his poem.

Note: Gấu post bài này, quá thú, tất nhiên, còn là để cám ơn một vì độc giả, đã sửa giùm đoạn thơ trong bài, liên quan tới Chúa Hài Đồng, vì cũng sắp đến Giáng Sinh rồi!

For Joseph a writer's words were his biography, literally!

Với Joseph, những từ của nhà văn viết ra, là tiểu sử của người đó rồi

Rõ ràng là Joseph coi mình thuộc dòng cực sang, của những nhà cực bảnh, của truyền thống "nhớn", trong có Anna Akhmatova, Boris Pasternak, Osip Mandelstam and Marina Tsvetayeva…. Tôi, [Daniel Weissbort] nhiều lúc muốn nổi loạn chống lại những truyền thống lớn, nhưng có lẽ, chỉ là cường điệu…
Đôi khi tôi nghe âm nhạc [của thơ], đôi khi tôi nghe giọng nói của 1 con người… , và, như 1 định luật, đôi khi, tôi đếch nghe cả hai!


Son of Man and Son of God

Tuesday, July 29, 2014 4:11 PM

Thưa ông Gấu,
Xin góp ý với ông Gấu về một đoạn thơ đã post trên trang Tinvan.

Nguyên tác:

Christ speaks to her in turn:
“Whether dead or alive
woman, it’s all the same –
son or God, I am thine 

Theo tôi, nên dịch như sau:

Christ bèn trả lời:
Chết hay là sống,
Thưa bà, thì đều như nhau –
Con, hay Chúa, ta là của bà 

Best regards,

DHQ 

Phúc đáp:
Đa tạ. Đúng là Gấu dịch trật, mà đúng là 1 câu quá quan trọng.
Tks again.
Best Regards

NQT

Nature Morte

Verrà la morte e avrà i tuoi occhi.- Cesare Pavese


Going Home 

Nghệ sĩ Kenny G hôm qua dừng chân tại một địa điểm biểu tình ở Hong Kong, lãnh thổ bán tự trị thuộc Trung Quốc, chụp ảnh lưu niệm và đưa hai ngón tay dấu hiệu chữ V tượng trưng cho hòa bình khi đứng kế các bảng hiệu cổ xúy dân chủ. Hành động này được nhiều người kể cả Bộ Ngoại giao Trung Quốc diễn giải như một sự bày tỏ ủng hộ đối với người biểu tình Hong Kong. Bắc Kinh phản ứng bằng cách cảnh cáo người nước ngoài chớ nên dính líu tới các cuộc biểu tình này. Trong một phát biểu, nghệ sĩ Kenny G đã giữ khoảng cách với phong trào biểu tình, nói rằng ông thật sự không biết gì về tình hình ở Hong Kong và nhấn mạnh rằng ông ghé thăm địa điểm biểu tình là ngẫu hứng trong lúc vô tình đi dạo vòng quanh Hong Kong.
Trên trang Facebook cá nhân, người nhạc sĩ có suất trình diễn ở tỉnh Hải Nam miền Nam Trung Quốc trong tuần này nói rằng ông chỉ có ý chia sẻ lời chúc hòa bình tới  Hong Kong và toàn bộ Trung Quốc mà thôi.

Gấu có 1 kỷ niệm thần sầu về Kenny G, những ngày đầu mới tới Canada, đúng 1 năm lạnh nhất của cái xứ lạnh nhất này. Mỗi lần tính viết, thì lại khựng lại, như có kẻ nào nhắc nhở, nó là cục thịt, cục mỡ cuối cùng của đời mi đấy.
Mi viết xong, là thể nào cũng thở hắt ra, và phán, đi được rồi!
Chẳng là, hồi nhỏ, nhà nghèo, mỗi lần có miếng thịt, là không dám ăn cứ giấu tít ở đáy bát [Nam Kít gọi là chén].
Một khi không thể không ăn, thì mới dám đụng tới.
Ui chao, cú này thành ám ảnh suốt đời, khiến 1 độc giả, nhà văn nổi tiếng, sĩ quan Nguỵ, đã tử trận, Doãn Dân, khi đọc tập truyện ngắn “Những Ngày Ở Sài Gòn” của Gấu, phải than giùm, thằng cha này rất sợ hạnh phúc, vì quá sợ: Mất nó!

Hà, hà!


Trường hợp Võ Phiến

Việt Nam nhìn từ bên trong

Mãi đến khi tôi thực hiện chuyến du khảo Anh Quốc và Scotland tháng 6-2014, tôi mới được Trần Lê Quỳnh ở BBC London cung cấp cho bài báo nói trên in trên tờ Rolling Stone  của Anh ngày 29-05-1980 dưới tựa đề: The Vietnam Wars. Bản tiếng Anh dịch từ tiếng Spanish của Gregory Rabassa. Về nước, tôi đã cho dịch ngay bài báo này. Dù chỉ là một phóng sự viết sau một tháng ở Việt Nam, G.Marquéz đã chứng tỏ ông là một nhà văn lớn, tầm cỡ thế giới khi nhận ra bản chất của tình hình Việt Nam sau chiến tranh, đặc biệt là sau cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc tháng 2-1979. Đây là toàn văn phóng sự: Việt Nam nhìn từ bên trong của G.Márquez. Bản dịch của Phạm Mạnh Hào.
Chân thành cám ơn nhà báo, nhạc sỹ Trần Lê Quỳnh đã giúp tôi tìm được thiên phóng sự Việt Nam nhìn từ bên trong của nhà tiểu thuyết lừng danh mà tôi rất yêu thích!
Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, giới thiệu

Bài viết của GG, thiên VC thấy rõ, vì ông này vốn mê XHCN. Cuộc bỏ chạy ra biển khủng khiếp như thế mà ông không nhìn ra sự thực, tức bản chất của chế độ. Khi viết về anh Tẫu cũng không nhìn ra phần đóng góp lớn lao của “Đại Háng” cho cuộc chiến VC. Thua xa Graham Greene, khi ông phán, một khi cái nón tai bèo rớt xuống là phải chạy ngay về phía nước mắt, tức lũ Ngụy!
Theo GCC, Garcia Marquez, hay, ngay cả Graham Greene, nhìn cuộc chiến Mít, cũng chưa…  đạt.
Hiểu tới nơi, thì chỉ có, vưỡn theo Gấu, một, hai người.
Thí dụ Solzhenitsyn, khi, ngay từ những năm 1975, trên Đài truyền hình Tẩy, đã tuyên bố chắc nịch, Miền Bắc sẽ thôn tính Miền Nam, và đây là tranh chấp quyền lực giữa những đế quốc, không phải chiến tranh giải phóng dân tộc.
Hay Tolstaya, đây là Cái Ác Á Châu –Cái Ác Bắc Kít, với Mít - lên ngôi…
Cuộc chiến Mít, theo Gấu là 1 tội đại ác của Bắc Kít, vì những gì xẩy ra sau đó, khẳng định điều này.

Nhân bài viết, mời đọc thêm bài ai điếu trên Người Kinh Tế, Fred Branfman, exposer of America’s secret war in Laos, died on September 24th, aged 72: Người tung hê cuộc chiến bí mật ở Lào: Một sự thực bất tiện.
Cuộc chiến Mít cũng có nhiều sự thực bất tiện.
Thí dụ, không 1 tên Bắc Kít nào biết ơn anh Tẫu, khi họ giúp chúng làm thịt thằng em Nam Bộ.
Không 1 tên Bắc Kít nào nhỏ 1 giọt nước mắt cho Miền Nam....
The problem with the human race, he concluded, was that it blocked out pain. Uncomfortable facts, inconvenient truths, other people’s suffering, were all denied as long as possible: Chúng khóa cứng, chối bỏ, những đau khổ của họ, của lũ Ngụy....

Obituary: Fred Branfman

*

An inconvenient truth

Fred Branfman, exposer of America’s secret war in Laos, died on September 24th, aged 72

Singing against death

The problem with the human race, he concluded, was that it blocked out pain. Uncomfortable facts, inconvenient truths, other people’s suffering, were all denied as long as possible. And nothing was denied as vigorously as death, though he knew—from a brush with it when he was 48—that to face it squarely was also to draw from it life-affirming strength. This was the blown-open secret of his last years, spent in Budapest beside the Danube. But he had heard it first, like so much else, in Laos. A 14-year-old boy told him how he had sung in the ricefields, even as the planes passed over. “I felt that although I might have to die, it did not matter; that I just had to be happy in the midst of all the sadness of war, of the airplanes dropping bombs.”

Note: Tò mò, GCC gõ Google, lòi ra bài viết của GM, đếch cần phải qua tận Ăng Lê!

*

Con nít Xề Gòn.

Tác giả bức hình này, là Sếp UPI ngày nào của Gấu: Dirck Halstead

The Vietnam Wars

Fighting to reclaim its devastated country, Vietnam faces a hostile China and the threat of a defeated enemy within its borders

 

Tôi đã đăng trên website chuyên về Văn Chương Nghệ thuật www.trieuxuan.info bài: Đi tìm dấu vết chuyến thăm Việt Nam tháng 7-1979 của G[arcia] Marquez; đồng thời, tôi gửi email cho bạn bè đang sống, làm việc ở các nước như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Tâybannha, Hàlan, Bỉ, Đức, Italia… ra sức tìm bài Vietnam por dentro: "Việt Nam nhìn từ bên trong", phóng sự của G. Marquez viết sau khi đi Việt Nam về. Nhưng… vô vọng! Tôi chỉ tìm được đoạn giới thiệu trên báo bằng tiếng Spanish: Vietnam por dentro. La Redacción. 1979-12-22 01:00:00· COMENTARIOS DESACTIVADOS. Edicion Mexico…

Nhảm. Gấu có thấy bức hình đám Hội Nhà Thổ Mít ở Hà Nội, ngồi với GG, đâu đó. NQT

Thú thực, Gấu chưa có thì giờ đọc bài của GG. Cái tít, “những cuộc chiến Việt Nam”, thì có thể hiểu được, nhưng, “s đe dọa của một kẻ thù đã bị đánh bại ở bên trong”, là ai?
Không lẽ là lũ Ngụy bị nhốt ở trong Trại Cải Tạo?

Naipaul gọi GG là tên bất lương, không phải là không có lý. Luôn bợ đít những tên độc tài, trong có Castro. Một tên vô đạo đức nữa. Bà vợ Vargas Llosa, khi chồng có bồ, bèn tìm đến bạn chồng than thở. Không biết GG an ủi cỡ nào, mà ông chồng phát điên lên, thoi cho đến bất tỉnh nhân sự!
Tư cách của GG không làm sao so được với Vargas Llosa. Viết, cũng thua. Cái viết/biết của Vargas Llosa rộng hơn nhiều.

Note:

Bài viết cực nhảm. Cái nhìn của GG đúng là của 1 tên mê VC!

GG không đủ tài năng để nhìn ra sự thực: Kẻ nội thù của VC chính là... VC!

Dirck Halstead là người Gấu gặp, khi tính nhờ anh đưa cả gia đình đi Mẽo, thời gian 30 Tháng Tư 1975. Anh khi đó, làm cho Time, qua Việt Nam trở lại làm 1 phóng sự về di tản, ở 1 khách sạn ở đường Nguyễn Huệ. Đến, gặp 1 tay hippy, khác hẳn 1 Dirck cực kỳ bảnh bao ngày nào. Hỏi thăm bà xã, anh nói ly dị rồi. Anh quả có biểu Gấu, mi vác cái camera đi theo tao ra trực thăng, vì cơ quan DAO của Mẽo đóng cửa rồi, không còn máy bay C.130 nữa. Anh cũng đã có lần đề nghị, nếu Gấu muốn, thì tìm cách đưa ra khỏi Việt Nam, làm cho UPI tại Tokyo, vì anh rất quí cái tài chuyên viên kỹ thuật của GCC.


Borges Conversations


GCC's Novel

*

Báo nhà: Mua số này, là vì nhớ đến Xề Gòn Project của VC: Đập hết thành phố cũ, cây cũ! Trên TV đã có giới thiệu về 1 phương án của Berlin: Khắc tên người chết lên mặt đường phố, để tưởng niệm họ.

Roland Barthes, theo Gấu, đưa ra được 1 số điều cực quan trọng, trong phê bình. Tạm ghi ra đây.
Phê bình là siêu ngôn ngữ, ngôn ngữ bậc nhì.

Criticism is discourse upon a discourse; it is a second language, or a metalanguage (as the logicians would say), which operates on a first language (or language object).
Không có cái đúng hay là sai trong phê bình, mà có cái có lý.
Và bởi vì phê bình, như thế, chỉ là một siêu ngôn ngữ, cho nên, nhiệm vụ của nó, chẳng hề là khám phá ra, "những sự thực", nhưng mà là "những cái có giá trị" ["the validities"]. Tự thân, ngôn ngữ không thực, mà cũng chẳng giả; nó có giá trị, hoặc không: giá trị, valid, có nghĩa, tạo một hệ thống hài hòa những ký hiệu.
Từ đó, suy ra 1 hệ quả, thực quan trọng, phê bình không có nghĩa là khen chê, nhưng mà đưa ra được những cái có giá trị, có lý.
Và, đến lượt chúng, khi đụng thực tế, sẽ thay đổi, hoặc còn có lý, hoặc không. Không hề có thứ phê bình vũ như cẩn. Thời của Gấu, hai môn phê bình ăn khách nhất, là hiện sinh và cơ cấu luận. Bây giờ có ai thèm biết đến nữa?
Tên K, tối ngày tự đắc với cái ý, phê bình là nói ngược lại thiên hạ, và tự hào, vì đã lôi ra bài thơ con cóc, là bài thơ hay. Ngoài hắn ra, có ai nói, bài thơ con cóc hay đâu.
Nhưng nói như thế thì cũng không được. Bài thơ “con cóc”, với 1 tên ngu ngốc, thì rất dễ lầm, với 1 bài “hai cu”.
Tuy nhiên điều “có giá trị”, của 1 bài "hai cu", theo Gấu, là, bất cứ 1 bài “hai cu” nào đều làm chúng ta vọng tưởng tới tiếng vỗ, của một bàn tay.
Barthes đi cả 1 cuốn sách về đề tài “hai cu”, khi qua Nhật, và ngộ ra nó: Vương Quốc của Ký Hiệu.

Bẫy Nhớ
Memory Traps

Charles Simic

Note: Bài viết thú vị quá. Bẫy nhớ. Bạn về Xề Gòn bi giờ, thể nào cũng rớt vô bẫy nhớ. Những tòa biu đinh mới mọc lên là 1 trong những bẫy nhớ: Chúng đánh lừa bạn!
Hà, hà!

Henry James called them “traps to memory” in The American Scene, the book he wrote about his visit to the United States in 1904 after a twenty-year absence. Walking on West Fourteenth Street and Lower Fifth Avenue in Manhattan, he shuddered at how much the neighborhood had changed. His parental home, the massive stone church that stood nearby, the old building that housed the original Metropolitan Museum of Art, and much else in the city had now “vanished as utterly as the Assyrian Empire.” What remained were these “traps” which “baited themselves with the cheese of association,” and into which anyone who had once known the city might fall.

I believe it was Aristotle who said that memory—which he regarded as a collection of mental pictures with a time element added to each of them—belongs to the same part of the soul as the imagination. That may explain why we can never be sure how much of what we remember is true and how much of it is made up. Nevertheless, the kind of experiences Henry James describes concern a sudden eruption of long buried memories on which there is no time to do any retouching. Just this fall, riding in a cab down Park Avenue toward Grand Central Station, I caught sight of a building where, I now happened to remember, an early model Xerox machine with slow-turning rollers tore up my baptismal certificate into many small pieces when I tried to make a copy. I was working the graveyard shift in a bank; it was summer and almost daylight and while my co-workers lay sprawled over their desk snoozing, I swept into the trash the minced remains of the hand-written document issued in May of 1938 and signed by a priest in St. Mark’s Church in Belgrade, which my mother carried sewn with other important papers into the lining of her overcoat as we crossed several borders, some of them legally and some not. I don’t know if, after its destruction, she ever asked if she could look at it and what lies I might have told her. As for me, had I not seen that building this fall, I would never have thought of it again.