Thu 2014

*

@ Indigo, 30 Oct 2014

*

*

*

Thu dưới phố

Thơ Mỗi Ngày

https://fbcdn-profile-a.akamaihd.net/hprofile-ak-xap1/v/t1.0-1/e2/c2.0.50.50/p50x50/1899927_10203170460252688_1683907067_n.jpg?oh=a0d36061f5a3f4b44e303d14ff4fd6a6&oe=54EA5378&__gda__=1423835052_d5c513dc6a67ca8a02a2f5f3aca21c26

Trương Văn shared his photo.

13 hrs ·

Hồi 2006, hình như lúc đó đang buồn hay thất tình gì gì đó thì được 1 bạn ở Phan Thiết nói buồn thì ra biển Phan Thiết chơi với bản. Chắc là bạn í mời lơi thôi nhưng mình làm thiệt, bắt xe ra PT ngay chiều hôm đó.
úc gặp mình, bạn đó đạp xe đạp, bận đồ học sinh ra đón (lúc đó bạn 15t và học lớp 10). Mình bảo để kiếm khách sạn nghỉ thì bạn bảo khỏi, có quen 1 trường học, có nhiều phòng trống có thể ngủ, đỡ tốn tiền. Thế là mình được dắt vào 1 phòng làm việc ở trường cấp 2, ngủ trên 1 cái ghế bố đặt giữa phòng. Lúc ngủ cứ nghe tiếng cọc, cọc, nhưng mình cho là tiếng thằn lằn tặc lưỡi, phần thì mệt quá nên ngủ ngon tới sáng.
Sáng ra khi qua dắt mình ra biển chơi, bạn ấy thì thầm vào tai mình: Giờ em nói cái này anh đừng sợ nha, phòng hôm qua anh ngủ là phòng làm việc của ba em hồi còn sống (ba của bạn là hiệu trưởng của trường đó và mới mất không lâu).
Lúc đó mình mới nhớ lại và xanh mặt, tiếng cọc cọc tối qua nếu hình dung lại thì giống tiếng gõ bàn phím làm việc.
Gần đây nghe tin bạn đã xuống tóc để làm ni sư khất sĩ, thoát khỏi bụi trần. Chúc bạn bình an
Ông ngoại của bạn chính là thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn, 1 trong những người mình thích nhất vì sự ngang tàn, ngạo nghễ trong thơ và ngoài đời:

Có khi nghĩ trời sinh một mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi
(NBS)

Nguyễn Thùy Song Thanh

Cánh Cửa: giữa Đi và Về

 đọc sách

 ■  Người đời sử dụng ngôn ngữ như dụng cụ để thông giao trong khi thi sĩ buộc lời nói còn ở dạng thô sơ (parole brute) này phải im tiếng để cho lời nói thiết yếu (parole essentielle) tức ngôn ngữ thi ca cất tiếng. Thi sĩ áp đặt niềm im lặng lên ngôn ngữ thông thường thô sơ để lắng nghe lời nói thiết yếu cất tiếng trong niềm im lặng.

Làm gì có sự phân biệt quái đản, như trên. Khi Prévert, đặt tên cho tập thơ của ông là "Paroles” thí dụ, thì nó là ngôn ngữ gì, brute, hay essentielle?
Những câu thơ của ông, là ngôn ngữ hàng ngày, đâu thấy “essentielle” ở chỗ nào?
Phán khủng quá, thì phải đưa ra 1 thí dụ, 1 hình ảnh... để cho người đọc mở mắt ra chiêm ngưỡng ch
ứ!
Đọc lời phán về thơ của Thầy Đạo, thì Gấu lại nhớ ra lần đầu được ngồi với thiên tài âm nhạc Trịnh Công Sơn, ở Quán Chùa. Giữa cả đám Bắc Kít, ông nói giọng Bắc Kít, tức thứ ngôn ngữ “brute”, nhưng bất ngờ có 1 tay Trung Kít, ghé ngang bàn, chỉ để hỏi thăm, hay bắt tay thiên tài, là ông bèn trở ngay qua ngôn ngữ "tinh anh, thiết yếu…..", tức tiếng Huệ!
Cái từ “đọc sách” ở đây, nghe đúng là thứ tiếng “brute”, có lẽ nên thay bằng cụm từ "giới thiệu", hay "đọc" thơ - không phải sách - thơ của nữ thi sĩ NTST.
Đọc sách khác đọc thơ!

Thơ Nguyễn Thuỳ Song Thanh, cộng cả cuộc đời của bà, và cộng luôn cả thơ và cuộc đời của ông chồng của bà, tức Khoa Hữu, làm Gấu nhớ tới câu của Borges: Mỗi bài thơ, tới thì của nó, thì bèn biến thành 1 bi khúc, in time, every poem becomes an elegy. Và đây là cuộc thoại bắt đầu ngàn ngàn năm trước, và chẳng bao giờ chấm dứt, theo nghĩa, sách [thơ, ở đây] tái tạo quá khứ, books restored the past. Phải ngàn ngàn năm sau, tiếng thơ này mới lại được cất lên, và trở thành 1 bi khúc, tái tạo quá khứ 1 thời đại.

Câu chuyện thơ của NTST và ông chồng Khoa Hữu, còn làm Gấu nhớ đến trường hợp nhà thơ Osip Mandelstam, và bài ai điếu của Brodsky:

Bà đâu có muốn lớn lao, cao cả như vậy, ngay cả chuyện giản dị, là muốn ngang hàng với chế độ, cũng không. (1)

Đúng như thế, NTST cũng không muốn mấy chuyện nhơ bửn đó.
Như ông chồng của bà.

Nhân nhắc tới bà vợ góa của nhà thơ Osip Mandelstam, và bài ai điếu của Brodsky: Nhà thơ rất tởm chế độ, và đám Hội Nhà Thổ ở.... Hà Lội - Mút Ku, đúng hơn.
Ông viết về chúng bằng 1 giọng còn dữ dằn hơn Gấu nhiều:

Tuy nhiên, vẫn còn chút ngạc nhiên nho nhỏ, rằng sự thắp sáng ý thức quốc gia dân tộc này, nó là hậu quả của việc tố cáo hệ thống, chế độ. Hai cuốn sách của Bà Mandelstam thực sự là đã nhắm tới Ngày Phán Xét trên thế gian, về thời của bà và văn chương của nó - một sự phán xét rất ư là chính đáng, bởi vì kể từ thời của bà, sự nghiệp vĩ đại có tên là xây dựng thiên đàng trên trái đất này được khởi công thực hiện. Chút ngạc nhiên nhỏ nhoi hơn, là, hai cuốn hồi ức này, đặc biệt là cuốn thứ nhì, đã không được ưa thích bởi phía bên kia Bức Tường Điện Cẩm Linh. Giới cầm quyền, tôi phải nói, họ tỏ ra thành thực [honest] hơn, so với đám trí thức, ấy là nói về mặt phản ứng do mấy cuốn sách gây ra. Họ chỉ nói, việc sở hữu những cuốn sách đó là phạm luật. Nhưng về phía đám trí thức, nhất là đám ở Moscow, họ nhao nhao lên, như là một cái chợ, trước những lời cáo buộc nhắm vào rất nhiều thành viên nổi tiếng, hoặc cũng nổi tiếng, nhưng in ít hơn, của nó, về chuyện thậm thụt với chế độ, và đám người vẫn xun xoe nơi xó bếp nhà bà nhờ vậy mà giảm đi rất nhiều.
Có những lá thư hở, hoặc nửa kín nửa hở, có những quyết định rất ư là tởm lợm, là sẽ không thèm bắt tay, có những tình bạn, những hôn nhân đổ vỡ, do chuyện, không hiểu bà đúng hay là sai, khi chỉ tay vào kẻ đó, và nói, đây là một tên chỉ điểm. Một tay ly khai nổi tiếng vừa tuyên bố vừa lắc lắc chòm râu: "Bà đã ỉa lên cả một thế hệ chúng ta". 

Bà đã ỉa lên cả 1 thế hệ chúng ta.

Thầy Đạo học Triết, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, có được cái bằng Cử Nhân Triết, đã từng lên tiếng tố cáo GCC, không phải dân khoa bảng, với Sến, trên diễn đàn talawas, không đáng nói, nhưng Thầy còn tố cả Thầy của Thầy là Nguyễn Văn Trung, khi đó là Khoa Trưởng Văn Khoa, là đã thuổng bài của Tẩy.
Mít kêu là mách bu, mà không phải 1 bu Nam Kít!
Cái bằng cử nhân của Thầy, thực sự là để trốn lính, nhưng đây là do chính sách của Ngụy, đi học, mỗi năm mỗi đậu là được hoãn dịch vì lý do học vấn.
Gấu, đậu Tú Tài Toán, 1958, thi vô Bưu Điện, ra trường, đi làm dài dài, khi đó mới xuất hiện chính sách hoãn dịch vì lý do học vấn. Gấu, khi đó, cũng hoãn dịch, nhưng mà là do chuyên viên tối cần thiết!
Chỉ đến khi VC chơi cú Mậu Thân, Ngụy phải Tổng Động Viên, thì mới hết hoãn dịch vì học vấn, hình như thế.
Đến lúc đó, thì Gấu lại nhờ ăn hai trái mìn VC, nên được hoãn dịch vì lý do sức khoẻ!

Hà, hà!

Ai thì cũng biết bằng cấp không đẻ ra nhà văn, nhà phê bình, nhà thơ. Cái chuyện Thầy tố cáo GCC vô lý quá, vì Thầy, bằng cấp là như thế, mà viết không nổi 1 bài giới thiệu 1 tập thơ, cho thấy, viết, bất cứ cái gì, là phải có cái gì của riêng mình, một phát hiện của riêng mình, về 1 tác phẩm văn học, thí dụ.
Bao nhiêu Thầy Mít, ở hải ngoại, hiện đang sống đó, thực sự theo Gấu, không ông nào viết ra hồn cả. Vì thiếu óc sáng tạo, dù trong 1 bài giới thiệu rất ư là tầm thường, bình thường.
Đây là 1 thảm họa. Thầy Phúc, mỗi lần viết về 1 ông Mít, là xách cổ 1 ông mũi lõ, cho đứng kế bên. Thầy Thục, thì tra kíu hộc máu mồm, toàn những tác giả vô danh tiểu tốt, rồi… thôi.
Bà Thụy Khuê, cực nổ, nhưng như.. pháo.
Sến thì thật đanh đá. Và cũng thuộc loại nổ, ít đọc.
Cái chuyện Sến phán, về trường hợp VP, khiến lũ Nam Kít phát điên lên, theo Gấu, nhảm. Bà này vẫn thường phán như thế, với ngay cả Trần Dần, tiền chiến… Có rũ bụi thì bà cũng đếch thèm vén váy ngồi chung chiếu.
Quen “…” dzậy  rồi, để ý làm gì mà cũng góp ý góp iếc!
Bảnh như Sến, đâu bao giờ thèm đọc cỡ…  Trừ Tà!

Phê bình, theo Gấu, bắt buộc phải có sáng tạo, nhưng muốn viết phê bình, thì phải có năng khiếu về phê bình, rồi lại phải phát huy cái năng khiếu đó, bằng cách đọc, đọc thật nhiều, không thể có 1 tên phê bình mà 1 chữ tiếng Tây không biết, 1 câu tiếng Anh không dịch được.

The critic is a writer, but a writer postponed; like the writer, he wants to be believed less because of what he writes than because of his decision to write it; but unlike the writer, he cannot sign that desire; he remains condemned to error-to truth.

 R. Barthes

 Nhà phê bình là nhà văn, nhưng nhà văn bị hoãn [hoãn, không phải hoạn]; như nhà văn, anh ta muốn được tin tưởng về quyết tâm viết, hơn là về điều anh ta viết ra. Nhưng khác nhà văn, anh ta không kể ‘ký tên’ ước muốn này. Anh ta bị kết án [như là] một lỗi lầm – so với sự thật

 Nhiệm vụ của văn chương, Barthes viết trong lời tựa cho tập Tiểu luận Phê bình, Essais Critiques, thì không như mọi người thường nghĩ, "diễn tả cái không thể diễn tả" [to express the unexpressible] - cái này là văn chương của tâm hồn - nhưng mà là, "không diễn tả cái có thể diễn tả" [inexprimer l'exprimable].

Khi Barthes mất vào năm 1980 ông là một khuôn mặt dữ dằn trên sàn diễn văn hóa và phê bình: một hiện diện mãnh liệt, một nhà "còm" về đủ thứ dưới ánh mặt trời, một vị chủ soái trong vai trò tiên phong, đã biến đổi một cách triệt để những môn học nhân văn, nói chung, và những nghiên cứu văn học, nói riêng.
Hai muơi năm sau, thế giá của ông trở nên bí ẩn, huyền ảo hơn.
Roland Barthes là cái gì đối với chúng ta bi giờ?
Một tác giả, nhưng thứ loại nào, hay là một sức mạnh trí thức?
Nhưng có lẽ nên đặt câu hỏi như thế này:
Một Roland Barthes như thế nào, là cái gì, chúng ta nên đọc, và tại sao nên đọc?



*

*

Louise Glück
b. 1943

Louise Glück is considered by many to be one of America’s most talented contemporary poets. The poet Robert Hass has called her “one of the purest and most accomplished lyric poets now writing,” and her poetry is noted for its technical precision, sensitivity, and insight into loneliness, family relationships, divorce, and death. Frequently described as “spare,” James K. Robinson in Contemporary Women Poets also noted that “Glück’s poetry is intimate, familial, and what Edwin Muir has called the fable, the archetypal.” Rosanna Warren has described Glück’s “classicizing gestures”—her frequent reworking of Greek and Roman myths such as Persephone and Demeter, for example—as necessary to her lyric project. According to Warren, Glück’s “power [is] to distance the lyric ‘I’ as subject and object of attention” and to “impose a discipline of detachment upon urgently subjective material.” Glück’s early books feature personae grappling with the aftermaths of failed love affairs, disastrous family encounters, and existential despair, and her later work continues to explore the agony of the self. In the New York Times, critic William Logan described her work as “the logical outcome of a certain strain of confessional verse—starved of adjectives, thinned to a nervous set of verbs, intense almost past bearing, her poems have been dark, damaged and difficult to avert your gaze from.”  (b)


Louise Glück được nhiều người coi là 1 trong những nhà thơ đương đại tài năng nhất của Mẽo. Thi sĩ Hass gọi bà, một trong những nhà thơ trữ tình trong trắng và thành tựu nhất hiện đang còn viết vào lúc này”, và thơ của bà thì được nhận ra [noted] bởi cái sự chính xác, cảm tính và đốn ngộ đưa tới sự cô đơn, những liên hệ gia đình, ly hôn, và cái chết.  

Người đời sử dụng ngôn ngữ như dụng cụ để thông giao trong khi thi sĩ buộc lời nói còn ở dạng thô sơ (parole brute) này phải im tiếng để cho lời nói thiết yếu (parole essentielle) tức ngôn ngữ thi ca cất tiếng. Thi sĩ áp đặt niềm im lặng lên ngôn ngữ thông thường thô sơ để lắng nghe lời nói thiết yếu cất tiếng trong niềm im lặng.
TTD

Gấu sợ rằng, "parole essentielle" - mà Thầy Đạo muốn tới tới, là cái mà Hass gọi là “purest”!
Người thường, trong xã hội dùng lời nói để trao đổi với nhau, khác lời thơ, tất nhiên, nhưng, nhà thơ không hề bắt cái "lời thô", parole brute, kia phải im tiếng, để lời trinh nguyên, trong trắng xuất hiện, trong niềm im lặng!

Viết 1 bài giới thiệu 1 tập thơ mà cũng không nên thân! NQT


AUGUST 15

Louise Gluck

For the lucky, born into a geography not visited by war or political terror, the events in life that leave the soul scoured and disoriented are death and divorce. Divorce is a kind of death. Even for people glad to get out of relationships, the props of a life have to be remade, families, habits, houses, even towns. And it can leave a life stripped bare.
    Not surprising that it is a subject for poetry, but it is surprising how little serious and sustained examination of the subject there has been in our poetry, given how common and how devastating the experience can be.
    For the last ten years Gluck, one of the purest and most accomplished lyric poets now writing, has turned from the form of her early books, traditional collection of poems written over a period of time, to a series of book-length sequences. They are written in her characteristically spare and elegant style. They are books of individual poems, but they make a narrative sequence, and so they are able to explore a subject in many moods and from many points of view in a way that is reminiscent of the old sonnet sequences that explored all the phases of a love affair. The first one, Ararat, dealt with a family of three women in the aftermath of the death of a husband and father. The second one, the Pulitzer Prize-winning The Wild Iris, was a meditation on the turning of the year in a northern New England garden. The third, Meadowlands, based on the story of Ulysses and Penelope and Telemachus, was about a marriage coming apart. The newest one, published this year, is Vita Nova (Ecco Press). Its subject is that life after divorce. It begins from something like the place Emily Dickinson described so accurately:

After great pain, a formal feeling comes-
The Nerves sit ceremonious, like Tombs-

Here are a couple of the poems:

The Garment

My soul dried up.
Like a soul cast into a fire, but not completely,
not to annihilation. Parched,
it continued. Brittle,
not from solitude but from mistrust,
the aftermath of violence. 

Spirit, invited to leave the body,
to stand exposed a moment,
trembling, as before
your presentation to the divine-
spirit lured out of solitude
by the promise of grace,
how will you ever again believe
the love of another being?
My soul withered and shrank.
The body became for it too large a garment.
And when hope was returned to me
it was another hope entirely.

Earthly Love

Conventions of the time
held them together.
It was a period
(very long) in which
the heart once given freely
was required, a formal gesture,
to forfeit liberty: a consecration
at once moving and hopelessly doomed.

As to ourselves:
fortunately we diverged
from these requirements,
as I reminded myself
when my life shattered.
So that what we had for so long
was, more or less,
voluntary, alive.
And only long afterward
did I begin to think otherwise.

We are all human-
we protect ourselves
as well as we can
even to the point of denying
clarity, the point
of self-deception. As in
the consecration to which I alluded.

And yet, within this deception
True happiness occurred.
So that I believe I would
repeat these errors exactly.
N or does it seem to me
crucial to know
whether or not such happiness
is built on illusion:
it has its own reality.
And in either case, it will end. 

Robert Hass: 1999/ Now & Then


*

Làm sao viết một câu văn

In the late summer of that year we lived in a house in a village that looked across the river and the plain to the mountains. In the bed of the river there were pebbles and boulders, dry and white in the sun, and the water was clear and swiftly moving and blue in the channels. Troops went by the house and down the road and the dust they raised powdered the leaves of the trees. The trunks of the trees too were dusty and the leaves fell early that year and we saw the troops marching along the road and the dust rising and leaves, stirred by the breeze, falling and the soldiers marching and afterward the road bare and white except for the leaves.

So goes the famous first paragraph of Ernest Hemingway's ''A Farewell to Arms," which I was moved to reread by the recent announcement that what was said to be Hemingway's last novel would be published posthumously next year. That paragraph, which was published in 1929, bears examination: four deceptively simple sentences, one hundred and twenty-six words, the arrangement of which remains as mysterious and thrilling to me now as it did when I first read them, at twelve or thirteen, and imagined that if I studied them closely enough and practiced hard enough I might one day arrange one hundred and twenty-six such words myself.
Joan Didion

Vào cuối mùa hè năm đó, chúng tôi sống trong một căn nhà trong một cái làng nhìn ra sông ra đồng tới tận vùng núi. Ở lòng con sông là đá cuội và đá mòn, khô và trắng trong ánh nắng, và nước sông, trong và chảy nhẹ nhàng, xanh ở trong những dòng rẽ. Những toán quân đi kế bên nhà xuống con lộ và bụi dấy lên phủ lên lá. Thân cây cũng bụi bặm, lá rụng sớm năm đó và chúng tôi nhìn thấy những toán quân đi bộ dọc theo con lộ, bụi dấy lên, và những lá cây, theo làn gió thổi rớt xuống, và những người lính đi bộ, và sau đó con lộ trần trụi, vắng hoe, và trắng toát, ngoại trừ những chiếc lá cây.

Đó là đọan văn trứ danh, hách xì xằng, mở ra Giã từ vũ khí, mà tôi, thật xúc động, khi đọc lại, nhân có tin cuốn tiểu thuyết chót của Hemingway sẽ được xb, sau khi ông mất, vào năm tới.
Đoạn văn trên, ấn bản 1929, nếu nhìn thật gần, thì nó như thế này: bốn câu đơn, 126 từ, sự sắp xếp thì là một niềm bí ẩn mà ngay cả bây giờ, đọc lại tôi vẫn cảm thấy như lần đầu đọc nó, vào lúc 12, 13 tuổi, và tưởng tượng, nếu nhìn thật gần, gẩn nữa, gần nữa, thì tôi có thể, nếu trần lực ra mà đánh vật với chúng, thì có một ngày, tôi sẽ sắp xếp được những từ đó, chính tôi! (1)

Mourir pour une virgule.

A la vérité pourtant, il y a bien chez Cioran une voie de surmonter cette contradiction entre la nécessité du scepticisme et celle, parallèle, de la foi; mais peut-être cette « solution" n'est-elle que nostalgique: en revenir à une espèce de monde cynique, et surrtout qui aurait fait du cynisme sa grandeur, comme le XVIIIe siècle français, a pu en donner l'image. Bref, c'est à une sorte de décadence somptueuse qu'en appelle Cioran, et c'est très exactement ce qu'il exprime dans le chapitre central d'Ecartèlement, « L'Amateur de mémoires, : l'homme qui, dans les Syllogismes de l'amertume, « rêve d'un monde où l'on mourrait pour une virgule ", voit dans le style une façon de concilier le doute avec la grandeur. « Restent cependant les apparences, écrivait-il déjà en 1949 dans le Précis de décomposition: pourquoi ne pas les hausser au niveau d'un style? C'est là définir toute époque intelligente. " La futilité serait ici la vraie profondeur. Le nihilisme se convertit en fin de compte en un rêve d'esthétisme. Du romantisme adolescent de la négation à une sorte de politique détachée et désabusée de l'Artifice, en passant par la lucidité et le cynisme: tel est l'itinéraire que nous convie à emprunter Cioran, et lui confère son extraordinaire actualité. Quand le « désert» croît, comme le disait Nietzsche, peut-être peut-on en arrêter l'expansion par les fêtes ininterrompues d'une Futilité vraie, érigée en mode de vie de philosophie. Ce nihilisme raisonné, doux, subtil, intelligent, porte de fait le beau nom de « Libertinage »•
*
Cái đám ngu đần, bằng cấp bằng kiếc, cái đám viết ào ào, hết tác phẩm này tới tác phẩm khác bằng giọng huênh hoang khoác lác, chúng có bao giờ viết nổi, chỉ một câu văn?

Như câu trên.

Hay như câu này:

Que serais-je, si je pouvais être. Que dirais-je, si j’avais une voix, qui parle ainsi, se disant moi?
Tôi là gì nếu tôi có thể là gì. Tôi nói gì nếu tôi có một tiếng nói. Ai nói thế, nhận là tôi?

Beckett: Textes pour rien.

Thằng chả trong "Những tam đoạn luận của sự cay đắng", mơ một thế giới mà ở đó người ta có thể chết vì 1 cái dấy phẩy, nhìn thấy trong văn phong một phương cách để hòa giải sự hồ nghi và…  đỉnh cao chói lọi.
Cuốn trên, mới tậu, tính lèm bèm về "làm thế nào để viết 1 câu văn", nhân đọc 1 câu của nữ thi sĩ, thấy “làm dáng” quá!

Hà, hà!


Thơ Dã Viên

From Russia With Love           

Brodsky Remembered

YESTERDAY I received a card with details of the memorial service for Joseph, to take place in New York City, in the Cathedral of St. John the Divine, on 8th March. I try to let myself feel what I am feeling. But I am cautious too. After a month, I still do not think of him as dead. That is, I do, but only when I oblige myself to imagine him among the other dead. Family members, a friend or two.
    Yesterday, walking to the office, I overheard myself actually asking Joseph what he thought of all this, that is, my writing about him, us, his poetry, the translation thereof. I particularly wanted to discuss the latter with him, and it seemed to me - in my folly, arrogance or optimism - that I ought to be able to construct an ersatz Joseph. Not so! Besides, this ersatz Joseph would have been at a loss anyway, although he, the real Joseph, rarely was? At the same time, he is apologizing - that's to say I am, on his behalf, in this impersonation or entertainment. Apologizing for the public nature of his role, for setting himself up as the defender of culture, tradition, including (not least) that of formal verse. As for myself, whatever culture I somehow embody (by default, it often seems to me) is inaccessible. The Classical legacy leaves me cold, even if (because?) my father was a Classicist ...

The Cathedral of St. John the Divine, 112th and Amsterdam, New York City, \
Friday, March 8, 1996, 5.00 p.m.

    Lucas Myers, one of my oldest friends, from Cambridge days, lived at ro6th and Amsterdam. It was with him that I used to stay.
    Fall 1972 was the first of my early visits to the city. I had flown from London, via Chicago, directly to Cedar Rapids, Iowa, bypassing New York. So, I now approached New York from the West, rather than from the East, as I'd always expected I would. And not just expected. Despite my British background, I had written "nostalgic" poems about New York, had even cornily dreamt I was an immigrant from Eastern Europe sailing past the Statue of Liberty.
    Anyway, Lucas threw a party for me. Did Joseph come? Luke thinks not, and yet I picture him (Luke) straight-backed, hands by his side, chin well tucked in, peering at Joseph: the Tennessee aristocrat and the gingery Russian Jew. Well, Joseph certainly came to Luke's cosy apartment, and probably more than once, because he remembered the cat Perdita. He would murmur her name tenderly. Perdita was a large cat, also ginger, with a sagging undercarriage and a pretty face. I can see Joseph scratching her head ... and murmuring: "Purr ... Purr ... Deetah".

Joseph didn't want people to fuss over him and he'd no use for self-pity. But am I fussing? You can't actually fuss over the dead. Although there is, perhaps, an element of retrospective fussing, insofar as they then seem not quite so dead. As for self-pity, or rather the absence of it, this made a clean break possible. There was nothing death could hold over his head. He was not intimidated by it. His life, more than most lives, was a preparation for it. He was familiar with it, which is not to say he was a thanatologist. There was nothing actually morbid about his dialogue with death. Sometimes it was almost breezy.

Note: Buổi tưởng niệm Brodsky, được nhắc tới ở đây, Tin Văn có nhắc tới, khi trích dẫn bài tưởng niệm ông, trên tờ Người Nữu Ước:
Thứ Sáu, ngày 8 tháng 3 năm 1996, vào lúc 5 giờ chiều, buổi tưởng niệm thi sĩ Joseph Brodsky (tháng Năm 24, 1940 - tháng Giêng 28, 1996), Nobel văn chương 1987, tại nhà thờ St. John the Divine, New York, có lẽ đã đúng như ý nguyện của ông. Thay vì cuộc sống vị kỷ, những người bạn của ông đã nhắc nhở nhau về những chu toàn, the achievements, ngôn ngữ - the language - của người quá cố:

Death will come and will find a body
whose silent peace will reflect death's approach
like any woman's face
[Tĩnh vật, trong Phần Lời, Part of Speech]

 (Chết sẽ tới và sẽ thấy một xác thân
mà sự bình an lặng lẽ sẽ phản chiếu cái chết tới gần
như gương mặt của bất cứ một người đàn bà nào).

Tuy sống lưu vong gần như suốt đời, ông được coi là nhà thơ vĩ đại của cả nửa thế kỷ, và chỉ cầu mong ông sống thêm 4 năm nữa là "thế kỷ của chúng ta" có được sự tận cùng vẹn toàn. Ông rời Nga-xô đã hai chục năm, cái chết của ông khiến cho căn nhà Nga bây giờ mới thực sự trống rỗng.

Ông sang Mỹ, nhập tịch Mỹ, yêu nước Mỹ, làm thơ, viết khảo luận bằng tiếng Anh. Nhưng nước Nga là một xứ đáo để (Chắc đáo để cũng chẳng thua gì quê hương của mi...): Anh càng rẫy ra, nó càng bám chặt lấy anh cho tới hơi thở chót.

Ai cho phép mi là thi sĩ?

Nhớ Joseph [không có ly cà phê kế bên]

Hôm qua, tớ nhận được 1 tấm cạc, về buổi tưởng niệm Jospeph… tớ cố “mình lại bảo mình” đang cảm thấy như thế nào. Nhưng tớ “cũng” cẩn trọng. Sau cả tháng, tớ vưỡn chưa làm sao nghĩ, Joseph đã chết!
Lẽ tất nhiên, tớ cũng biết là bạn mình đã chết, nhưng chỉ khi tự bắt mình tưởng tượng ra bạn mình, ở giữa những người đã chết, mà những người này thì phải là những thân nhân trong gia đình, một, hay hai, người bạn.

Họ vẫn còn và Em vẫn còn
và viết cho những ai nữa…

MT
có những đầy vơi trên cốc rượu
có trắng một màu tuyết với đông
có dáng ai ngồi chân chữ ngũ
đậy chặt nút chai rượu với người

CT
có lá rơi đầy không thứ tự
có vàng ươm đẫy những mùa thu
có đôi chân cũ xào xạc cũ
nhốt tiếng dương cầm trong ngón tay

TTT
có hoa có cỏ và lệ đá
có tiếng xuân về gọi vang vang
có ai về gióng hồi chuông mới
khép lại một lần với lưu vong

DT
có đen có trắng không hơn kém
có bóng hạ mềm rũ trên môi
có bàn chân sỏi đều trên cát
ngày tắt trên nền khung vải đen

Và Em
có tháng năm già hơn tất cả
có em độ lượng với thời gian
có bờ ngực dậy cho tôi thở
những biến thiên thầm cõi ba sinh

Đài Sử

Note: Tuyệt cú. Thần cú!
Bài thơ nào ứng với ông nấy. Nhưng tuyệt nhất, là khúc sau cùng:
Có tháng năm già hơn tất cả.
Câu này làm nhớ Brodsky:
Bao thơ tôi, ít nhiều chi, là về cùng một điều - về Thời Gian. Về thời gian làm gì con người.
"All my poems are more or less about the same thing – about Time. About what time does to Man."
Joseph Brodsky.


Nobel 2014