Album | Thơ | Tưởng Niệm | Nội cỏ của thiên đường | Passage Eden | Sáng tác | Sách mới xuất bản | Chuyện văn
Dịch thuật | Dịch ngắn | Đọc sách | Độc giả sáng tác | Giới thiệu | Góc Sài gòn | Góc Hà nội | Góc Thảo Trường
 Lý thuyết phê bình | Tác giả Việt | Tác giả ngoại | Tác giả & Tác phẩm | Text  Scan | Tin văn vắn | Thời sự | Thư tín | Phỏng vấn | Phỏng vấn dởm | Phỏng vấn ngắn
Giai thoại | Potin | Linh tinh | Thống kê | Viết ngắn | Tiểu thuyết | Lướt Tin Văn Cũ |  Kỷ niệm | Thời Sự Hình | Gọi Người Đã Chết
  Ghi chú trong ngày | Thơ Mỗi Ngày | Chân Dung | Jennifer Video
Nhật Ký Tin Văn / Viết
Nhật Ký Tin Văn [TV last page] 

Nguyễn Quốc Trụ

Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê: Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
Trước 1975, công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định 1994, Canada

Đã xuất bản
Những ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
 Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi dòng sông
chảy về phiá Nam

[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]

Trang Tin Văn, front page, khi quá đầy, được chuyển qua Nhật Ký Tin Văn, và chuyển về những bài viết liên quan.
Một khi kiếm, không thấy trên Nhật Ký, index:
Kiếm theo trang có đánh số.
Theo bài viết.
Theo từng mục, ở đầu trang Tin Văn.


Nhìn lại những trang
Tin Văn cũ

Bản quyền Tin Văn
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, chỉ để sử dụng cho cá nhân [for personal use], xài thoải mái [free]



Sinh Nhật GNV, 16/8/2009


Huntington Beach, Cali


Thơ Mỗi Ngày

The Lunatic


Little brook, running past my house,
I like the tune you hum to yourself
When night comes,
And only the two of us are awake.
You keep me company
So I don't fear
The darkness round my bed
And the thoughts in my head
Flying crookedly like bats
Between the old church and the graveyard.

Nhạc đêm

Con suối nhỏ chạy qua nhà tớ
Tớ mê cái điệu ầm ừ của mi, cho mi nghe
Khi đêm tới
Và chỉ có hai đứa mình là thức
Mi có tớ là bạn
Như vậy tớ đếch sợ
Bóng tối vây quanh giường
Và những ý nghĩ trong đầu tớ
Bay ngoằn ngoèo như lũ dơi
Giữa ngôi nhà thờ cổ và nghĩa địa.


Once again the short, gray days,
The low sky, the steady rain
Over these derelict neighborhoods
One catches sight of a train.

Old people hold their heads
In windows of unlit rooms.
Or withdraw quietly
To lie with their faces to the wall.

Sweet summer beyond recall,
The children are in school
Doing their wretched lessons
While their fathers play pool.

Girl in trouble and the boy to blame,
Soaked through and shivering,
Holding a wet match to her cigarette,
Here comes your bus!

Quẹt ướt

Lại nó, những ngày cụt, xám, lùn tịt
Mưa hăm he, này, tao đái lên đầu tụi mi liền giờ nè!
Lối xóm không ai thèm dòm ngó
Một kẻ kêu lên, ơ kìa, con tầu!

Lũ già ôm đầu
Bên trong cửa sổ những căn phòng tối thui
Hay lừ khừ lặng lẽ thối lui
Leo lên giường nằm, quay mặt vô tường

Mùa hè ngọt ngào quá xa vời, làm sao nhớ!
Trẻ con ở trường với những bài học tệ hại
Trong lúc mấy ông bố chơi bi da

Gái “in trouble”, trai, “to blame”
Ướt mèm, run lẩy bẩy
Cầm cây quẹt ướt châm điếu thuốc em
May quá, xe buýt tới rồi kìa!


Let them peck in the yard
As they please,
Or walk over to stand
At the edge of the road.

The rooster strutting about
will keep an eye on them,
Till it's time
To withdraw under a tree,

And wait for the heat
To pass and the children
To return to the toys
They left lying in the dust.

For, come Sunday,
One of the chickens may lose its head
And hang by its feet
From a peg in the barn.


A Strangely Funny Russian Genius

Nói tóm lại, một gã vui nhộn, quá vui nhộn đối với chủ nghĩa Cộng Sản. Đối với bất cứ một ấn bản nào của Stalin, về chủ nghĩa Cộng Sản.
Một thiên tài Nga tức cuời một cách lạ thường.

Ian Frazier

The portraits that follow are from a large number of photographs recently recovered from sealed archives in Moscow, some-rumor has it-from a cache in the bottom of an elevator shaft. Five of those that follow, Akhmatova, Chekhov (with dog), Nabokov, Pasternak (with book), and Tolstoy (on horseback) are from a volume entitled The Russian Century, published early last year by Random House. Seven photographs from that research, which were not incorporated in The Russian Century, are published here for the first time: Bulgakov, Bunin, Eisenstein (in a group with Pasternak and Mayakovski), Gorki, Mayakovski, Nabokov (with mother and sister), Tolstoy (with Chekhov), and Yesenin. The photographs of Andreyev, Babel, and Kharms were supplied by the writers who did the texts on them. The photograph of Dostoyevsky is from the Bettmann archives. Writers who were thought to have an especial affinity with particular Russian authors were asked to provide the accompanying texts. We are immensely in their debt for their cooperation.

The Paris Review
1995 Winter


Daniil Kharms

Among the millions killed by Stalin was one of the funniest and most original writers of the century, Daniil Kharms. After his death in prison in 1942 at the age of thirty-seven, his name and his work almost disappeared, kept alive in typescript texts circulated among small groups of people in the then Soviet Union. Practically no English-speaking readers knew of him. I didn't, until I went to Russia and came back and read books about it and tried to learn the language. My teacher, a young woman who had been in the U.S. only a few months, asked me to translate a short piece by Daniil Kharms as a homework assignment. The piece, "Anecdotes from the Life of Pushkin," appears in CTAPYXA (Old Woman), a short collection of Kharms's work published in Moscow in 1991. Due to my newness to the language and the two dictionaries and grammar text I had to use, my first reading of Kharms proceeded in extreme slow motion. As I wondered over the meaning of each word, each sentence; as the meaning gradually emerged, my delight grew. Every sentence was, funnier than I could have guessed. A paragraph began: "Pushkin loved to throw rocks." Openings like that made me breathless to find out what would come next. The well-known difficulty of taking humor from one language into another has a lesser-known correlate: when, as sometimes happens, the translation succeeds, the joke can seem even funnier than it was to begin with. As I translated, I thought Kharms the funniest writer I had ever read.
His photograph facing the title page only confirmed this. At first glance he appeared crazy or fierce, but on closer inspection I could see the weirdness of a deeply funny guy. I wanted to know all I could about him. My teacher told me that he was a founding member of an artistic movement called OBERIU that the name came from the first letters of the Russian words for Association for Real Art, that he and other members of the group fell into disfavor and were killed, that when she was little she knew him as the author of poems and stories for children. We read some of his writing for children, work as blithe and whimsical and heedless as the stories in GTAPYXA were dark. In Russia's Lost Literature of the Absurd, a selection edited and translated by George Gibian (1971), I learned that Kharms was born Daniil Ivanovich Yuvachev in Petersburg in 1905; that his father, an intellectual and revolutionary, had been imprisoned and exiled to Siberia; that with his father he shared an interest in stories of fantasy; that he suffered from melancholy; that he admired Gogol, Knut Hamsun and Bach. A colleague said of him, "Kharms is art." Much of his work consisted of public readings, pranks, performances and daring gestures. With the Bolsheviks in power and the nobility vanished or in prison, Kharms assumed the guise of an aristocrat, complete with false mustache and a briefcase containing his own personal silver drinking cups. To attract people to a reading performance of the OBERIU group, Kharms strolled on a fifth-floor ledge in Saint Petersburg smoking a pipe and loudly announcing the event to passersby.
In short, he was a cool guy, too funny for communism, or at any rate for Stalin's version of it. After the successful production of his play, Elizabeth Bam, a comedy about a woman who is waiting to be arrested and killed, the press attacked the OBERIU, later accusing them of "reactionary jugglerism" and "nonsense poetry . . . against the dictatorship of the proletariat." Police arrest d him on the street in 1941; when his wife went to take him a package at the prison hospital in February, 1942, she was told that he had died two days before. Fourteen years after his death he was officially "rehabilitated." Bibliographies listed him only as an author of children's books. More recently, the larger outline of his work has begun to emerge; perhaps soon there will be a complete collection by which we can get to know him better. So far I have only scratched the surface on Kharms. 

-Ian Frazier

Trong số hàng triệu con người bị Stalin sát hại, có một nhà văn tức cười nhất, uyên nguyên nhất, của thế kỷ: Daniil Kharms. Sau khi ông chết ở trong tù, vào năm 1942, khi 37 tuổi, tên và tác phẩm của ông hầu như biến mất, và chỉ còn sống dưới dạng chép tay, lưu truyền giữa những nhóm nhỏ, ở một nơi có tên là Liên Bang Xô Viết.
Thực tình là, không có một độc giả Anh ngữ nào biết về ông. Tôi (Ian Frazier) cũng vậy, cho tới khi đi Nga, trở về, đọc những cuốn sách về nó, và cố gắng học tiếng Nga. Cô giáo của tôi, một người đàn bà trẻ chỉ ở Mỹ được vài tháng, đã ra bài làm ở nhà cho tôi như sau: hãy dịch một đoản văn của Daniil Kharms ra tiếng Anh. Đoản văn "Những mẩu chuyện từ Cuộc Đời Puskhin", (Anecdotes from the Life of Puskhin) là ở trong CTAPYXA (Bà Già), một tuyển tập nhỏ tác phẩm của Kharms, đã được xuất bản ở Moscow vào năm 1991. Tiếng Nga, hai cuốn từ điển, và một cuốn sách văn phạm, tất cả đều quá mới, lần đọc Kharms đầu tiên của tôi thật là chậm như sên. Cùng với sự mầy mò từng từ, từng câu, niềm hân hoan của tôi gia tăng, khi ý nghĩa của chúng lộ dần ra. Mỗi câu là một tức cười, hơn cả dự đoán của tôi về nó. Một đoạn văn bắt đầu như thế này: "Puskhin mê ném đá". Những mở đầu như vậy làm cho tôi nghẹt thở: làm sao đoán ra nổi cái gì sẽ tới liền sau đó.
Giữ được chất tiếu lâm, khi chuyển dịch ngôn ngữ, là một điều khó khăn vô cùng, ai nấy đều biết. Nhưng có một hệ quả, ít được biết: đôi khi, trong tiến trình dịch thuật, câu chuyện có vẻ tếu hơn là lúc thoạt đầu chúng ta nghĩ về nó. Trong khi dịch, tôi nghĩ Kharms là một nhà văn tức cười nhất mà tôi đã từng đọc.
Ian Frazier, qua cuốn Văn Chương Phi Lý Đã Mất của Nga (Russia’s Lost Literature of the Absurd), được biết, Kharms ra đời với tên Daniil Ivanovich Yuvachev, tại Petersburg vào năm 1905. Cha ông, một nhà trí thức cách mạng bị cầm tù và đầy đi Siberia. Ông thừa hưởng từ người cha, đam mê chuyện kỳ quái. Ông đau khổ vì "buồn" (that he suffered from melancholy). Mê Gogol, Knut Hamsun và Bach. Một bạn đồng học nói về ông: "Kharms là nghệ thuật" (Kharms is art). Cùng với sự lên ngôi của "nhà vô sản", và sự vào tù của "nhà quí tộc", Kharms cảm thấy thích thú trong bộ dạng một nhà quí phái, cộng thêm hàng ria mép giả thỉnh thoảng lại nhinh nhích, hinh hỉnh, cộng thêm chiếc cặp da kè kè bên mình, trong là những… chiếc ly uống rượu bằng bạc! Để lôi kéo khán thính giả cho một buổi trình diễn kịch của nhóm OBERIU, ông di dạo ở chót vót phía bên trên thành phố Saint Petersburg, miệng ngậm ống vố, và la lớn, thông báo cho những bộ hành qua lại phía bên dưới, về "biến cố quan trọng" kể trên!
Nói tóm lại, một gã vui nhộn, quá vui nhộn đối với chủ nghĩa Cộng Sản. Đối với bất cứ một ấn bản nào của Stalin, về chủ nghĩa Cộng Sản. Sau thành công của vở kịch "Elizabeth Bam", một hài kịch về một người đàn bà chờ… "được bắt và được giết", báo chí nhà nước kết án nhóm kịch của ông là… "trò múa may phản động, thơ ca vô nghĩa… chống lại nền chuyên chính vô sản". Ông bị bắt ở ngay trên đường phố, vào năm 1941. Khi vợ ông đi thăm nuôi, vào năm 1942, bà được thông báo, ông chết hai ngày trước đó. Mười bốn năm sau khi mất, tên tuổi của ông được phục hồi. Những nhà chuyên viết tiểu sử xếp ông vào danh sách: viết chuyện cho nhi đồng.

Ian Frazier

Nguyễn Quang Lập

Tháng 4 năm 1976 tôi tròn 20 tuổi, lần đầu tiên nghe ca khúc "Mùa xuân đầu tiên" của Văn Cao tôi đã khóc. Tôi khóc không phải chỉ vì đây là điệu valse hay nhất mọi thời đại của ca khúc Việt, chính là vì con người phải sống trong đau khổ bức bối vì một cuộc sống bị kiềm thúc là tác giả của điệu valse hào sảng và thơ mộng, ngọt ngào ấm áp tình người trong niềm vui thống nhất đất nước, không hề thấy một gram khổ đau nào trong từng nốt nhạc của ông.

Lần đầu tiên tôi biết thế nào là tâm hồn một nghệ sĩ lớn.
Chỉ tiếc ước mơ của ông sau ngày thống nhất:"Từ đây người biết quê người/ Từ đây người biết thương người /Từ đây người biết yêu người" ... đã không thành sự thật.

Note: Bài hát này, nếu lời đúng như trên, thì cùng 1 air bánh vẽ với “Như có Bác Hồ”, hay,Thắng trận này sẽ xây dựng cái nhà to đùng....
Bánh vẽ làm sao thành sự thực?

Rõ ràng là, nếu lời đúng như trên, thì tại sao bản nhạc bị cấm, mà phải Đài Moscow mới dám hát, lần đầu tiên?
Lời nhạc thực sự, theo GCC, là, “từ nay người biết quên Người”, tức là quên Vua Bịp.
Đó là thông điệp của Văn Cao ngày 30 Tháng Tư
Văn Cao, giết người, đau quá, bặt tiếng, đến 30 Tháng Tư mới lên tiếng, nhắn nhủ Mít, phải quên Người [viết hoa] đi, thì mới biết thương người [không viết hoa].
Trên TV hình như đã lèm bèm về vụ này.
Nhưng, hỏi Bọ Lập, có lần nào "tôi đã khóc" cho 1 tên...  Ngụy chưa?
Hình như chưa có tên VC nào thỏ thẻ, tớ có lần thương lũ Ngụy bị nhà nước cải tạo lâu quá, bật khóc?
Phải 1 Bọ Lập đã khóc vì đã từng dúng tay vào máu Ngụy, thì mới đáng nói, chứ bánh vẽ khóc hoài, chán lắm!
Phải có 1 tên VC có dũng khí nói ra lời thực, như DTH, thí dụ, thì may ra mới có thay đổi.
Nên nhớ, và phải nên nhớ, cả hai cuộc chiến dân Mít đều bị VC bịp. Cả hai đều bị VC cố tình làm cho nó xẩy ra để thủ lợi.
Khốn nạn nhất, chúng lạy thằng Tẫu, kẻ thù truyền kiếp của Mit, để chiến thắng, và đẩy dân Mít vào cái thế như hiện nay.
Làm đéo gì có sự thực mà "không thành sự thực", đúng như câu của Wat sau đây:

Sacrifice the children-an old story, pre-Homeric-so that the nation will endure, to create a legend.

Mistaken ideas always end in bloodshed, but in every case it is someone else's blood. This is why our thinkers feel free to say just about everything.

Charles Simic trích dẫn, trong bài viết Bi khúc trong mạng nhện, ELEGY IN A SPIDER'S WEB, The Life of Images
Tư tưởng lầm lạc tận cùng trong biển máu, nhưng trong mọi trường hợp, máu người khác, đếch phải máu Bọ Lập, hay NN!


Chú thích của Tin Văn:
Bài Mùa Xuân Đầu Tiên, do những câu như: "Từ đây người biết quên Người. Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu Đời...",  ngay sau khi sáng tác xong, đã bị cấm. Nơi trình diễn đầu tiên, mùa xuân đầu tiên của bài hát, là đài phát thanh Moscow, nơi cất lên những âm thanh, và những lời ca đầu tiên của nó.

Câu hỏi của người con Văn Cao, "Vậy là bố lại sáng tác ca khúc?", là muốn nhắc tới lời của ông bố, trong cuộc nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường, sau đăng trên Hợp Lưu, trích đoạn:

Hồi nhận viết Tiến Quân Ca tôi không hề chuẩn bị trước để làm một bài hát mà một đặc nhiệm nguy hiểm của đội biệt động. Tôi là đội viên biệt động vũ trang. Nhiệm vụ của tôi là trong một đêm, cầm một khẩu súng vào một thành phố để giết một người. Tôi đã làm xong việc ấy. Đó là chiến tranh và căm thù, đơn giản thôi. Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi đã trở lại căn nhà ấy. Thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công hay phải nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng và chỉ viết nhạc không lời.

Domain Base info : (1)

Domain Ip Address:
Domain IP Server Addr
CH / Geneva / Plan-les-Ouates
Domain Value: 7,350,646$

            Trị giá trang TV, như net cho thấy, bảy triệu rưởi!
Hà, hà!

Thơ Dã Viên



Quốc hội Canada thông qua Luật '30/4'

Đọc tin này thì GCC lại nhớ đến vị trưởng phái đoàn Canada của UNHCR, lần được chấp nhận cho tái định cư tại Xứ Lạnh, 1994.
Gấu đã viết đôi ba lần rồi.
Chính trong tinh thần này, Canada chấp nhận Luật 30/4.



Nhân đây cũng xin được nói lời cảm tạ đất nước đã cưu mang Gấu tui trên mười năm trời, kể từ ngày lên máy bay, rời trại chuyển tiếp Panat Nikhom ở Thái Lan, với tờ giấy mầu vàng "landed immigrant" [di dân thường trú], vượt hai đại dương, tới thành phố Toronto, vào đúng một ngày bão tuyết, trận bão tuyết khủng khiếp nhất kể từ 40 năm, theo như báo chí địa phương lúc đó, 44 độ âm. Đó là ngày 23 tháng 11 năm 1994.
Trên mười năm trời, mới thỏ thẻ một lời cám ơn, liệu như vậy là quá trễ chăng?
Trong một câu chuyện mà Gấu tôi đọc từ hồi còn nhỏ, [hình như trong tập "Những Tâm Hồn Cao Thượng" do Hà Mai Anh dịch từ một tác giá Ý, De Amicis (?)], có một cô bé bị câm, được một bác sĩ chữa trị. Một đêm nọ, cô bé trong lúc cố tập nói, bất thình lình âm thanh phát ra. Thế là cô bé cứ âm thầm ngậm những âm thanh đầu tiên đó, đợi tới sáng, khi vị bác sĩ tới giường cô, bấy giờ cô mới thốt lên mấy âm thanh mà cô tập nói suốt trong đêm: Con cám ơn bác sĩ.

Trường hợp của Gấu tôi cũng tương tự như vậy, nhưng không phải những âm thanh đầu tiên, mà có thể, cuối cùng, của một người già cảm thấy sắp sửa đi hết cuộc đời của mình. (1)

Canada thường được 1 số Mít coi như nơi tạm trú, thay vì quê hương thứ nhì, theo nghĩa, tạm qua đây, chờ dịp chuồn qua thiên đường Mẽo.
Và không phải nhà nước Canada không biết trò mù tịt này. Họ biết và rất ư là bực. Họ có nói với Gấu, là, chúng tao bực lắm.
Đừng có nghĩ là Gấu phịa ra. Trên TV Gấu đã từng kể ra rồi, nhưng cám ơn thêm Canada nhiều lần cũng không có dư, bèn kể thêm 1 lần nữa, giai thoại “thần sầu”, về cái sự hào sảng của Xứ Lạnh!

Huế Mậu Thân


Tắm trong cái ánh sáng làm nhớ tới tuyệt tác của danh họa Vermeer, TQLC Mẽo chiến đấu từ nhà này qua nhà khác với VC ở Huế, Tết Mậu Thân 1968.

Kafka Poet


How German was he?

Hắn [?] bao nhiêu phần trăm Bắc Kít [German], bao nhiêu phần trăm Nam Kít [Do Thái]?

Hà, hà!

Một trong những nhân vật nổi cộm của trường phái Frankfurt, bạn quí của Walter Benjamin, Adorno. Tin Văn đi bài này, song song với những bài viết về Kafka, vì đấng này, cũng 1 chuyên viên về Kafka, về Do Thái.

How German was he?



Gerold Necker, Elke Morlok
and Matthias Morgenstern,


Zwischen Seelenverwandtschaft und
302pp. Tubingen: Mohr Siebeck. €30.
9783 16 1532627

Gershom Scholem was one of those extraordinary German-Jewish intellectuals who changed the course of twentieth-century European thought. Along with Hannah Arendt, Martin Buber and Walter Benjamin, with all of whom he had complicated relationships, Scholem's thinking was both recognizably Jewish and deeply German. Nobody since Maimonides has explained the complexities of Jewish thought with such lofty clarity, and no German scholar since the Grimms has owed more to early German Romanticism. Yet with typical vehemence, he famously denied that "the German Jewish dialogue" had ever existed - a statement often wrongly taken to mean that there had been no German-Jewish symbiosis. Gershom Scholem in Deutschland aims to refute his refutation. If the reader nonetheless remains puzzled as to exactly how the creator of an obscure academic discipline, the study of the Kabbalah, could exert such great influence over scholars such as Peter Szondi and George Steiner, as well as poets like Franz Baermann Steiner and Paul Celan, this is part of the mystery.

    Scholem was a self-confessed rebel. His passion for the truth and exegetical candor frequently involved him in scandal. It is hard to avoid the impression that this most private of men thrived on the oxygen generated by scholarly dogfights. In his very public falling out with Hannah Arendt over her book Eichmann in Jerusalem (1963), here analyzed in detail by Noam Zadoff, Scholem adopted the position of Israel's leading public intellectual to explain the most sensitive issue in German-Jewish relations, the Shoah. Zadoff adds many new facets to this absorbing story, including a hitherto unreported conversation between Scholem and Isaiah Berlin, who refused to read Arendt's book because, as he said, it was "an obvious...  case of Jewish self-hatred" - an interpretation that Scholem rejected.

    Even so worthy a cause as the publication of Walter Benjamin's papers, which led to what his publisher, Siegfried Unseld, called the greatest posthumous success of any modem intellectual, was mired in scandal. The story, here recounted by Elke MorIok and Frederek Musall, involved a bitter struggle for Benjamin's heritage between Arendt, Scholem and Theodor W. Adorno. For Scholem, it was critical to accept that Benjamin was not a German but a Jew. Notwithstanding this unhelpful dichotomy, there can be no doubt about the nobility of their friendship. Scholem gave his own version in Walter Benjamin: Die Geschichte einer Freundschaft (1975; Walter Benjamin: The story of a friendship), and this was complemented by the publication of their very substantial correspondence soon afterwards. A high point in these letters, which gives a flavor of their debates, concerns the interpretation of Kafka. Scholem's poem on The Trial, which he sent to Benjamin, has been accorded classic status in the literature, as has his letter to Benjamin of July 17 1934: "Kafka's world is the world of revelation .... I cannot possibly accept your denial of this aspect". Benjamin responded by asserting the "theological" side of his own standpoint.

The apodictic certainty with which Scholem treats every issue he addresses disguises an underlying unease, not to say ambiguity, about his own personality. Indeed, despite the dichotomy he envisages regarding Benjamin, on occasion Scholem accepted his own German identity, as Gerold Necker shows in a contribuation to the present volume. On being awarded the Reuchlin Prize (in 1969), Scholem went so far as to claim that he was himself a re-embodiment of the great German humanist: "If believed in the transmigration of souls, I would sometimes think that I was a sort of reincarnation of Reuchlin under the conditions of modem scholarship, of the first student of Judaism, its language and its world, especially of the Kabbalah ... ". Nowhere, perhaps, is this acceptance of ' his German identity more apparent than in Scholem's attitude to Holderlin, whom he considers a Jewish author. Exactly how Holderlin - could be regarded as a Jewish poet other than by virtue of Scholem's categorical assertion is not really clear, though it seems likely that Walter Benjamin's reading of Holderlin as a mythical poet had something to do with it. Exactly how Holderlin could be regarded as a Jewish poet other than by virtue of Scholem's categorical assertion is not really clear, though it seems likely that Walter Benjamin's reading of Holderlin as a mythical poet had something to do with it. As the following passage illustrates, Scholem was given to somewhat scandalous hyperbole when interpreting Holderlin:

Holderlin lived the Zionist life. Holderlin's existence is the canon of every historical life.... The Bible is the canon of the Scriptures; Holderlin is also a canon, which is to say: existence. Holderlin and the Bible are the only things in the world which cannot suffer self-contradiction.

    As Necker explains, for Scholem the secular poet Holderlin is a messianic figure whose life is to be identified with holy writ. The penchant for blasphemy evident in this judgement reaches its climax in one of Scholem's great monographs, Sabbatai Sevi: The mystica Messiah (1973), in which his religious sympathies clearly lie with the apostate.
    Everything about Scholem was legendary - his intellect, his learning, his passion, his uncompromising attitude, his ferocity in debate. Yet the veneration he once so widely enjoyed for being somehow larger than life has lately come under attack. In his contribution, Klaus Hermann quotes George Mosse to the effect that Scholem was none other than that very paradoxical creature, a German Jew whose "interest in mysticism could only have grown on German soil". The German-Jewish Scholem so lucidly revealed to us by the essays collected in Gershom Scholem in Deutschland may be less heroic than he once was, but he is more complex, more subtle, and more interesting.

Cảnh đẹp VN

Giới Thiệu Sách, CD

Việt Nam Xưa
Intel Life
Huế Mậu Thân
Cali Tháng Tám 2011

30. 4. 2013



Trang đặc biệt

Tưởng nhớ Thảo Trường

Tưởng nhớ Nguyễn Tôn Nhan

TTT 2011
TTT 2012
7 năm TTT mất

Tribute to PCL & VHNT

Hình ảnh chiến tranh
Việt Nam của tờ Life

Vĩnh Biệt BHD

6 năm BHD ra đi
Blog TV

Trang NQT


Lô cốt trên đê làng
Thanh Trì, Sơn Tây

Tribute to NCT:
Vietnam's Solzhenitsyn