|
Nguyễn
Quốc Trụ
Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu
Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975 công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định cư năm 1994
Canada
Đã
xuất bản
Những
ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần
cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi
Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi
dòng sông
chảy về phiá Nam
[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân
Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]
Trang
Tin Văn, front page, khi quá đầy, được chuyển qua Nhật Ký Tin Văn, và
chuyển
về những
bài viết liên quan.
*
Một khi kiếm, không thấy
trên Nhật Ký, index:
Kiếm theo trang
có đánh
số.
Theo bài viết.
Theo từng mục, ở đầu
trang Tin Văn.
Email
Nhìn
lại những trang
Tin
Văn cũ
1
2
3
4 5
Bản quyền Tin Văn
*
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, chỉ
để
sử dụng cho cá nhân [for personal use], xài thoải mái
[free]
Chân Dung Nga
|
Chúc
Mừng
Năm Mới 2012

Đồn anh đóng
bên rừng Mai. Nếu Mai không nở thì anh đâu biết Xuân về hay chưa...
Bản nhạc
trên, thằng em trai của Gấu ưa lầu bầu những lần về phép, trước khi đi
xa.
Khi còn đi học,
hồi chưa vô lính, thì mê bản “Em đẹp nhất đêm nay” [La plus belle pour
aller
danser], chắc là cũng bày đặt mê nhạc Pháp, ca sĩ Pháp, Sylvie Vartan,
thí dụ.
Có 1 dạo, thời
gian sau khi thằng em mất ít lâu, Gấu không chịu nổi cả hai bản nhạc
trên, khi ở
Trại Tị Nạn Thái Lan, ghi lại trong Lần
Cuối Sài Gòn:
"Sao
không hát cho những người vừa nằm xuống..."
Đã có một thời,
tôi không sao chịu nổi. Chúng rũ rượi, mệt lả. Đầy sũng nước mưa, nước
mắt.
Chúng gọi tên thảm kịch. Thảm kịch của những cái vô ích. Của cuộc chiến
điêu đứng,
rồ dại. Chúng gợi tâm trạng nhớ. Nhớ bùn. Nhớ đời sống thảm hại, nhàm
chán. Nhớ
những kỷ niệm chẳng đáng nhớ. Nhớ ngã tư đường Lê Văn Duyệt-Phan Đình
Phùng gần
nhà cô bé, khi chưa có tượng Thích Quảng Đức. Cô bé hớt hải chạy ra,
hớt hải lắc
đầu, rồi lại hớt hải chạy về. Nhớ những ngày nhà cô bé dời lên đường
Gia Long.
Buổi sáng, cô đưa em đi học trường Kiến Thiết gần khu Chợ Đũi, đưa mắt
nhìn người
yêu đang chờ đợi trong quán cà phê Tầu ở ngay đầu đường. Khi về, cô tha
thẩn giữa
những hàng cây nơi vườn Tao Đàn. Mùa Thu theo chiếc lá nhẹ nhàng đậu
trên vai
cô bé đang mơ mộng, đang trở thành người lớn.
Nhớ, nhớ..."Nếu
mai không nở, anh đâu biết Xuân về hay chưa...", em tôi vẫn thường
nghêu
ngao một mình trước khi bỏ đi.
Như những lời
chúc dữ, chúng báo trước một Miền Nam mòn mỏi, suy sụp, trước một Miền
Bắc lì lợm,
dai dẳng.
Trong mỗi
chúng ta đều có một Sài-gòn âm ỉ cháy. Tôi đốt lên cục than hồng của
tôi, để
cho Sài-gòn của bạn sáng ngời.
Saigon Tết Nhâm Thìn 2012
Thơ Mỗi Ngày
POETS PHOTOGRAPHED
Poets
photographed,
but never
when
they truly
see,
poets
photographed
against a
backdrop of books,
but never in
darkness,
never in
silence,
at night, in
uncertainty,
when they
hesitate,
when joy,
like phosphorus,
clings to
matches.
Poets smiling,
well-
informed, serene.
Poets
photographed
when they're
not poets.
If only we
knew
what music
is.
If only we
understood.
Adam
Zagajewski: Unseen Hand
Thi sĩ
chụp
hình
Thi
sĩ chụp
hình,
chẳng
bao giờ
khi
họ
thực sự
nhìn
thi
sĩ chụp
hình
bìa
sau sách,
chẳng
bao giờ
trong bóng tối
chẳng
bao giờ
trong câm lặng
vào
ban đêm,
trong bất trắc,
khi
họ ngại
ngần,
khi
niềm
vui, thì như ánh lửa ma trơi
lập
loè, cố
trụ lại.
Thi
sĩ mỉm
cười,
rất
được thông
tri về thời của mình, rất tâm linh, thanh thản,
giá
như ngồi
bên tách cà phê nữa, thì lại càng số dách.
Thi
sĩ chụp
hình
khi
họ đếch
phải là thi sĩ.
Giả
như Gấu
biết,
Nhạc
sến đã
đời ở chỗ nào, khi nào, nhỉ?
Giả
như Gấu
hiểu.
SELF-PORTRAIT
MAY 2008,
AFTER SEEING
ERIC
FISCHL'S SELF-PORTRAIT
Keeps
growing older. Frayed costumes. Reads a lot,
sometimes vanishes
in books
like Indians in trackless jungles. Repeats himself,
everything repeats, yellow
notebook in his pocket, music's
great summons.
Evenings he
moves to the window in a rumpled shirt and
yawns.
Looks a
little different in each picture-his father's face
invades his own, slightly
melancholy face; the short white
beard,
his enemies
insist, must signify capitulation.
The eyes
gaze at the lens with hope. Growing older.
Likes water,
flat sleepy rivers, and the green ocean:
swimming, his body disappears in the
dark currents
as if temporarily testing another mode of being.
The wind
takes his breath, night bestows absolute peace
(the only absolute we've got, a
friend scoffs,
they've been
arguing for a decade).
A citizen,
he thinks of his injured country,
the garden of a childhood that never was.
Takes many
trips-April in Belgrade, the pockmarks of a
recent war,
the swollen
Danube recalls its carefree early years in Germany;
Jerusalem in May, more
scars of war, but holiness
drifts above
the mythic city like the scent of magnolias.
A journalist's questions seem
oddly familiar.
Strangeness
grows. Always the same: early breakfast, after
lunch
a long
stroll. Slowly becoming a fixed object.
Dreams drag
him underground, dawn deftly rescues him.
But it is I,
still I, ever searching
and
shapeless, always I, every morning opens
a shining
new chapter and can't finish it, it is I,
on the
street, at the station, I hearing a child's cry, students
laughing,
a starling's
shriek, the I of ignora.nce, uncertainty, desire,
expectation, and wild joy,
the I who understands nothing,
answers insults, hesitates, starts afresh,
guards
himself in conversations, in despair, in learned debates,
in a winter
day's quiet, it is I, bored, resigned,
unhappy, haughty, it is I, daydreaming
like a
teenager, dead tired like the aged,
I in the
museum, at the seashore, on Krakow's main square,
yearning for a moment that
won't show, that hides
like
mountain peaks on cloudy afternoons, brightness
finally arrives, and I suddenly
know all, know it is not I.
Adam
Zagajewski: Unseen Hand
Thời Sự Hình
Sebald
IN
MEMORIAM W. G. SEBALD
W.G. SEBALD'S
MENTAL WEATHER
Cái tít làm
Gấu nhớ bài viết về 1 bạn quí, những ngày mới vô làng.
“Khí hậu ẩm ướt trong thế
giới tiểu thuyết NDT.”
Bài đăng trên
Nghệ Thuật. VL đọc bản thảo, nghiêm giọng phán, mày viết sao là nó mang
cái tên
của mày, ký ở dưới bài viết đấy.
Ý anh muốn nói,
mày thổi bạn quí vừa thôi.
TTT cũng đi
1 đường, tương tự.
Cái khí hậu
của TV, thì cũng là cái khí hậu tâm thần của Sebald, theo GCC
Sau cuộc chiến
[Mít], nếu bạn vẫn là con người, thì không thể lành lặn được.
Phải có 1 cái gì ở
trong bạn bị hư, hỏng, hoặc trục trặc, lâu lâu dở chứng.
NQT
Text message
helped Utah girl foil high school bomb plot
Note: Cái vụ
này thật là tuyệt. Một em đọc cái text của bạn trai, đề nghị nghỉ học,
đừng đến
trường, và bèn nghi, và bèn báo phú lít, nhờ vậy phá hỏng 1 âm mưu cho
nổ bom.
Ui chao, cái
đầu bị hư hỏng trục trặc, GCC bèn nghĩ ngay đến cái text của "bạn của
Gấu", là Cao
Bồi, gửi cho Bắc Bộ Phủ:
Yankee mũi lõ bỏ chạy rồi. Yankee mũi tẹt vô thay thế liền lập tức,
chậm là hỏng cẳng!
*
W.G. SEBALD'S
MENTAL WEATHER
A new documentary explores his wanderings
W.G.
SEBALD'S MENTAL WEATHER
Posted by
Simon Willis, January 26th 2012
When I left
the office the other afternoon for a screening of a new documentary,
the sky
was grey and overcast: good weather for watching any movie, perfect for
one
about W.G. Sebald. His book "The Rings of Saturn" (1995 in German,
1998 in English) records a walk he took around East Anglia in 1992,
during
which the author meditates on everything from herring fishing to the
Holocaust.
Darkness is always falling in Sebald's books, or clouds casting a
shadow or
"veils of mist" drifting in from the sea.
Grant Gee's
excellent new film, "Patience (After Sebald)", which is released in
Britain tomorrow, retraces the journey. The film combines grainy and
blustery
footage of Covehithe, Southwold, Dunwich and Somerleyton with
voice-overs from
writers and artists interpreting the book's web of associations. There
are also
audio recordings of Sebald himself. At one point he talks about fog and
mist,
and how much he admires the ability of Victorian novelists "to make of
one
phenomenon a thread which runs through a whole text."
That applies
to Sebald's work too. Weather in "The Rings of Saturn" is more than
mood. It's also a method of blurring what he sees, and a metaphor for
the
unbidden path the book takes. In the film, the author and academic
Robert
Macfarlane describes Sebald's work as "a vanishing of stabilities".
It's not unlike a phrase Macfarlane used in a recent piece about mist
for
Intelligent Life. Mist, he wrote, is
“trickster weather…it turns familiar landscapes strange, dampens
sounds, blurs
vision".
In one
passage in the book, which is explored in the film, Sebald takes a walk
on
Dunwich Heath in weather which is "uncommonly sultry and dark". After
a while—during which he thinks about Britain's forests, charcoal and
the
relationship between combustion and creativity—he finds himself back
where he
began, lost among the crisscrossing tracks. "The low, leaden sky; the
sickly violet hue of the heath clouding the eye...I cannot say how long
I
walked about in that state of mind, or how I found a way out."
"Patience
(After Sebald)" is released in Britain on January 27th
Khi
tôi rời văn phòng vào một buổi xế chiều, lo sàng lọc một tài tiệu mới,
bầu trời
khi đó thì xám xịt, đầy mây đen, đúng thứ tuyệt, để nằm dài coi phim,
và, vớ đúng
một phim về W.G. Sebald, thì quả là tuyệt cú mèo, như thằng cha Gấu vẫn
thường
xuýt xoa. Cuốn sách của ông, "The Rings of Saturn" (bản tiếng Đức,
1995,
tiếng Anh, 1998) viết về cái lần ông tản bộ East Anglia, vào năm 1992,
và
trong khi tản bộ ông trầm tư về mọi điều mọi thứ, từ đi câu cá
“herring” cho tới
Lò Thiêu.
Bóng tối luôn phủ xuống
những cuốn sách của Sebald, hay, mây làm
thành
1 cái bóng, hay một bức “màn sương”, lừng khừng từ biển trôi dạt về.
Cuốn
phim mới thần sầu của Grant Gee vẽ lại chuyến đi đó. “Nhẫn nại, (Theo
Sebald)”
["Patience (After Sebald)”], sẽ trình làng ở Anh, ngày mai [27 Tháng
Giêng,
2012].
Gồm những thước phim của
Covehithe, Southwold, Dunwich and Somerleyton,
lồng tiếng của những nhà văn, nghệ sĩ dẫn giải "lưới sách".
Có những đoạn là tiếng nói, audio recordings, của chính tác giả. Có 1
khúc, ông lèm
bèm về sương mù, sương muối, và thú nhận trước bàn thờ, ông mới mê làm
sao, những
nhà văn thời kỳ Victoria, ở điều này: cái khả năng thần kỳ của họ:
“biến một hiện
tượng thành 1 dải, chạy dài xuyên suốt trọn bản văn”
Đây là thủ
pháp “rắn nằm
trong cỏ”, "đếch biết đâu là đầu, đâu là đuôi", của Đông Phương ta. Rắn
thì cũng
1 loại rồng, đúng không?
Trên blog
của HHT có trích từ sách coi tướng
của VTL, giai
thoại “Song Long Nhiễu Nguyệt”, nói về hai
sợi râu [râu với lông thì cũng rứa],
dài ơi là dài:
Tướng
của cô
ta ẩn bên trong, không bong ra ngoài. Cô có hai sợi râu rồng, kéo thẳng
ra thì
dài tới đầu gối, để tự nhiên thì soăn lại từng vòng tròn nằm hai bên.
Tướng ấy
sách gọi là Song Long Nhiễu Nguyệt, Hai Rồng Nằm Ấp Mặt Trăng.
Độc giả TV tự
kiếm đọc, Gấu không dám viết ra ở đây, sợ Gấu Cái chửi, mi già rồi,
đừng tục
tĩu quá.
Đương nói
truyện Lò Thiêu, vậy mà mi cũng đem truyện dơ dáy chêm vô!
Hà, hà!
Nhưng điều
Sebald phán, về tiểu thuyết thời Victoria ở Anh, thì cũng áp dụng ngay
bong vô
của ông. Thời tiết ở trong "The Rings of Saturn" thì còn quá cả cái gọi
là “tâm trạng, tính khí”, mood. Đây cũng là một phương pháp viết: Làm
mờ những
gì ông nhìn thấy. Và còn là một ẩn dụ về một lối đi không mời mọc, tạ
từ khách, theo đó, cuốn sách lầm lũi đi mình ên. Trong cuốn phim, tác
giả, nhà
khoa bảng Robert
Macfarlane miêu tả tác phẩm của Sebald thì như là một sự “biến mất sự
vững vàng, tại
vị”. Như ông phán, trong 1 bài viết mới đây cho Intelligent Life, sương
mù thì
một thứ “khí hậu bịp bợm… nó biến những phong cảnh quen thuộc trở thành
lạ lẫm,
kỳ quặc, làm ẩm ướt âm thanh, tiếng động, làm mờ viễn ảnh, tầm nhìn”.
Bạn đọc, thấy
lại từ "ẩm ướt", và có phải là nó liên quan tới cái cửa mở ra mọi
siêu hình
học và tôn giáo, và tất nhiên, tới hai sợi râu rồng dài ơi là dài?
Trong 1 đoạn
của cuốn sách, được thăm dò, thám hiểm ở trong phim, Sebald làm 1 cú
lang thang
tại Dunwich, và thời tiết vào lúc đó thì “oi bức, âm u thật không giống
ai, không
giống bất cứ 1 lúc nào khác, nghĩa là rất ư là khác thường”. Sau một
lúc –
trong 1 lúc đó, thì ông nghĩ về những khu rừng của Ăng Lê, than củi, và
sự liên
hệ giữa đốt cháy và sáng tạo - ông thấy mình ngược trở lại, đúng ở nơi
bắt đầu,
thất lạc giữa những lối đi trùng lấp, “những con đường rừng chẳng dẫn
tới đâu”.
“Trời thì thấp, xám xịt một màu chì, cái màu tím bịnh hoạn của cái nóng
làm mù
mắt… Tôi không thể nói chừng bao lâu tôi lêu bêu trong trạng thái của
cái đầu như thế, và bằng cái nào tôi lại mò ra lối ra”.
Vargas Llosa vs Vaclav Havel
Tưởng
Niệm Christa
Wolf:
Tận Cùng Đêm Đen
Toàn gia đao
phủ thủ
La folie
Khmers rouges
Cơn khùng
điên Khờ Me Đỏ
17 avril 1975. Les Khmers
rouges entrent dans Phnom Penh et instaurent le Kampuchéa démocratique.
Ouverture
du centre de torture S21. Près de 2 millions de Cambodgiens vont
mourir, soit
environ un quart de la population.
7 janvier 1979 Chassés par
l'armée vietnamienne, les Khmers rouges reprennent le maquis.
17 janvier 1979
Le
philosophe Alain Badiou publie dans Le Monde une tribune intitulée
«Kampuchéa
vaincra!».
22 juin 1982 : l'Onu
reconnaît un gouverrnement
de coalition en exil où figurent les Khmers rouges.
23 octobre 1991 Le Cambodge est placé sous tutelle de
l'Onu.
Mai 1999 Arrestation
de Duch, chef de S 21.
3 juillet 2006 Ouverrture
d'un tribunal spécial pour les cadres Khmers rouges.
26 juillet 2010 Duch est
condamné à trente ans de réclusion pour crimes contre l'humanité. Il
fait
appel.
Le Point:
Cái đọc cuốn
sách này có làm ông biết thêm điều gì về cơ chế diệt chủng?
Claude
Lanzmann:
Tôi học được
tất cả từ cuốn sách, chính xác nhất là điểm này: vấn đề kinh nghiệm
riêng của
nó [tức là của tác giả của nó]. Rõ ràng là, cho dù thế nào đi chăng
nữa, ngay cả
khi người ta tưởng đã biết tất cả, biết hết những gì cần biết, vẫn luôn
có điều
cần phải biết, phải học. Tôi thường có kinh nghiệm này khi làm phim "Lò
Thiêu". Tôi đã làm việc ròng rã không biết bao nhiêu năm trời về vấn đề
này, chắc chắn tôi đã đọc tất cả những gì đã được viết, gặp hàng trăm
người sống
sót và các diễn viên. Và tôi chưa bao giờ ngừng học. Người ta không bao
giờ biết
trọn, trước tiên vì lúc nào cũng có những sai lạc, những sự kiện vuột
ra khỏi định
mệnh toàn diện, nhưng nhất là vì các sự kiện thuộc bản chất này không
có sẵn,
không được tích lũy ở trong lương tâm. Ngay cả khi người ta biết hết
trong một
thời điểm, một giai đoạn của việc hủy diệt, chỉ cần có một nạn nhân
khác kể câu
chuyện của họ là bạn có cảm tưởng mình phải học lại từ đầu, như mới
nguyên, như
chưa từng học.
Ông dùng
chữ «khùng điên»
để xác định chính trị tội ác của Khmer Đỏ. Chính ông, sau ngàn ngàn
những cuộc
phỏng vấn, trò chuyện, ông hiểu được điều gì về «khùng điên» Nazi?
Tôi không bao giờ muốn
hiểu những gì bọn Nazi làm. Nhưng,
ngược với những gì đám ngu đần rêu rao, vấn đề không phải là do tôi
«thánh hóa»
nạn diệt chủng Do Thái, khi làm cho nó trở thành một sự kiện ở ngoài
Lịch sử và
thoát khỏi tầm trí khôn, tri thức của nhân loại. Thế đứng của tôi,
trước tiên là
về chính trị, về sự kinh ngạc căn cơ: tất cả mọi lý lẽ của cõi trần tục
này không
cho phép nảy sinh ra sự sát nhân một triệu rưởi đứa trẻ Do Thái trong
cơn diệt
chủng Do Thái, trong thời gian Lò Thiêu. Muốn làm việc này là một cách
từ chối
đối diện với bạo lực trong khi chính bạo lực là điều phải ra đi. Sự từ
chối câu
hỏi «tại sao», ở nơi tôi, trước hết là một cách thao tác. Tôi không bao
giờ để
những nhân vật chủ chốt Nazi mà tôi phỏng vấn kéo tôi vào lãnh vực tâm
lý. Khi
Franz Suchomel, một nhân viên Đức quốc xã SS ở Treblinka, muốn giải
thích cho
tôi biết ông không hiểu tại sao người ta gởi ông đến đó, ông nghĩ công
việc của
ông là trông coi một xưởng rộng mênh mông của người thợ Do Thái, tôi
chận
ông ta lại và nói với ông: «Chúng tôi không ở đây để nói về ông.» Ở
chân tường
phòng khách sạn ở Braunau am Inn (thành phố Adolf Hitler sinh ra) nơi
ông hẹn gặp
tôi, tôi treo một họa đồ trại thanh trừng ở Treblinka mà ông Alfred
Spiess cho
tôi, thẩm phán người Đức trong vụ xét xử Treblinka (Francfort, 1960).
Khi
Suchomel đến phòng thâu băng và khi ông thấy họa đồ này, ông dợm lui.
Tôi nói với
ông: «Ông yên tâm, tôi không phải là quan tòa, cũng không phải là thẩm
phán,
cũng không phải là người đi săn lùng người Nazi. Tôi là học trò của ông
và ông
là người dạy tôi.» Cùng lúc tôi đưa ra cho ông xem cái cây thước mà tôi
tự làm
bằng cái cần câu tôi mua ở phố, cái thước học trò: «Ông nói cho tôi
biết sự việc
xảy ra như thế nào.» Bỏ qua khía cạnh tâm lý, ông bắt đầu kể chính xác
cho tôi
nghe, một cách tự hào về mặt kỹ thuật và nghề nghiệp, tiến trình lên
đoạn đầu
đài ở Treblinka. Buổi học kéo dài suốt ngày và đó là điều duy nhất tôi
muốn biết.
Khờ Me Đỏ
Trong một bài viết trên tạp chí
Văn Học (Cali, số
tháng Ba/1998),
Ngô Thế Vinh nhắc tới André Malraux, sự quan tâm tới Đông Dương, và tác
phẩm
"Con Đường Vương Giả" của nhà văn người Pháp này. 'Cũng trên con đường
vương giả
đó, khi còn là phóng viên chiến tranh theo chân những đơn vị miền Nam,
ông Khắc
[nhân vật chính trong bài viết mang nhiều tính phóng sự, nhưng với sự
thận
trọng cố hữu, tác giả nhấn mạnh, khung cảnh nhân vật chỉ là hư cấu], đã
từng
làm quen khắp vùng cao nguyên, và đồng bằng Cửu Long. Lần trở về
Pattivattna,
đi giữa mênh mông "Những Cánh Đồng Chết", ông Khắc vẫn không sao hiểu
được mối
tương quan giữa nền văn minh Angkor rực rỡ, nền giáo dục Pháp... đầy
tính khai
phóng mà sản phẩm của nó lại là những trái đắng dẫn tới một chính sách
tự diệt
chủng..."
Theo ông Khắc, Pol Pot tuy được
coi là biểu tượng của tội ác,
nhưng tư tưởng chỉ đạo là từ Khieu Samphan, cùng du học Paris, xuất
thân đại
học Sorbonne. Trong luận án tiến sĩ 1959, ông ta đã đề ra cương lĩnh
của Khờ Me
Đỏ: Muốn bảo vệ độc lập thực sự về chính trị và kinh tế cho Cam-bốt thì
cần
phải cô lập quốc gia này và trở về một nền kinh tế nông nghiệp tự túc.
Để thực
hiện cương lĩnh, chế độ Pol Pot đã trở thành lá cờ đầu, và là tiền
thân,
precursor, từ hai mươi năm trước, của những cơn khủng hoảng ở cuối thế
kỷ, thí
dụ như ở Rwanda, theo như nhận xét của Ben Kiernan. Trong cuốn Chế độ Pol Pot:
Sắc tộc, Quyền lực, và Diệt chủng tại Căm-bốt dưới thời Khờ Me Đỏ,
1975-79 (nhà
xb Yale, tháng Tư/ 96), ông đã làm một nghiên cứu về nguồn gốc Pol Pot,
liên hệ
"Những Cánh Đồng Chết" với những cuộc chiến diệt chủng ở khắp nơi trên
thế giới.
|
|