Album | Thơ | Tưởng Niệm | Nội cỏ của thiên đường | Passage Eden | Sáng tác | Sách mới xuất bản | Chuyện văn
Dịch thuật | Dịch ngắn | Đọc sách | Độc giả sáng tác | Giới thiệu | Góc Sài gòn | Góc Hà nội | Góc Thảo Trường
 Lý thuyết phê bình | Tác giả Việt | Tác giả ngoại | Tác giả & Tác phẩm | Text  Scan | Tin văn vắn | Thời sự | Thư tín | Phỏng vấn | Phỏng vấn dởm | Phỏng vấn ngắn
Giai thoại | Potin | Linh tinh | Thống kê | Viết ngắn | Tiểu thuyết | Lướt Tin Văn Cũ |  Kỷ niệm | Thời Sự Hình | Gọi Người Đã Chết
  Ghi chú trong ngày | Thơ Mỗi Ngày | Chân Dung | Jennifer Video
Nhật Ký Tin Văn / Viết
Nhật Ký Tin Văn [TV last page] 
*

Nguyễn Quốc Trụ

Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê: Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975, công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định 1994, Canada


Đã xuất bản
Những ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
 Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi dòng sông
chảy về phiá Nam

[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]

Email

Bản quyền Tin Văn
*
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, chỉ để sử dụng cho cá nhân [for personal use], xài thoải mái [free]


Thơ Mỗi Ngày 

The Terms

The child crying in the night
Across the street
In one of the many dark windows
That, too, to get used to,
Make part of your life.
Like this book of astronomy
Which you open with equal apprehension
By the light of table lamp,
And your birdlike shadow on the wall.
A sleepless witness at the base
Of this expanding immensity,
Simultaneous in this moment
With all of its empty spaces,
Listening to the child crying in the night
With a hope,
It will go on crying a little longer

Charles Simic: New and Selected Poems

Điều khoản

Đứa trẻ khóc trong đêm
Dọc theo con phố
Trong một trong rất nhiều cửa sổ tối,
Điều đó, thì cũng mi phải chấp nhận và làm quen thôi
Vì nó làm thành một phần đời của mi đấy
Như cuốn sách thiên văn,
Mà mi đang mở ra coi,
Bên ngọn đèn ngủ
Với, cũng cùng 1 sự trân trọng như vậy.
Cái bóng của mi
Giống như 1 con chim
Trên tường.
Một nhân chứng mất ngủ
Ở nền
Của cái vô cùng cứ phình mãi ra
Cùng lúc
Trong khoảnh khắc này,
Với tất cả những không gian trống trơn của nó,
Lắng nghe đứa trẻ khóc
Với niềm hy vọng
Nó sẽ khóc lâu hơn,
Thêm lên
Một tị.

A Wall

That's the only image
That turns up.

A wall all by itself,
Poorly lit, beckoning,
But no sense of the room,
Not even a hint
Of why it is I remember
So little and so clearly:

The fly I was watching,
The details of its wings
Glowing like turquoise.
Its feet, to my amusement
Following a minute crack-
An eternity
Around that simple event.
And nothing else; and nowhere
To go back to;
And no one else
As far as I know to verify.

Charles Simic: New and Selected Poems

Bức Tường

Chỉ mỗi nó, mò ra

Một bức tường, chính nó
Tối lù mù, gật gà gật gù
Không thấy “phòng” đâu cả
Không làm sao cảm thấy, “phòng”, dù chỉ 1 tí
Ui chao tớ chỉ nhớ có thế
Một tí như thế, thật là rõ ràng
Con ruồi mà tớ đang ngắm nghía:

Những chi tiết về hai chiếc cánh của nó
Rực sáng, như ngọc lam
Mấy cái chân của nó nữa, mới thích thú làm sao
Rồi “crắc” một phát,
Là thiên thu
Quanh sự kiện đơn giản đó.
Rồi chẳng gì nữa, chẳng đâu nữa
Để mà trở lại,
Và chẳng một ai khác, khác
Như là tớ biết
Để kiểm chứng

Ui chao, quái quỉ làm sao, bài thơ ngớ nga ngớ ngẩn một cách tuyệt vời này, và những cụm từ, no one else, to go back to… làm GCC nhớ tới 1 hình ảnh, trong bài viết của GCC, nhờ gặp lại cô bạn ở nơi xứ người mà viết ra được.

Một hình ảnh làm Gấu Cái rất ư là bực bội, “anh đâu còn nơi nào để mà trở về”!

Một blogger, tìm tài liệu về Camus, trên net, mò ra trang Tin Van, rồi mò ra bài viết. (1)
GCC làm quen, cô Bắc Kít này hỏi, viết hồi nào vậy.
-Mậu Thân

Cầm Dương Xanh

Anh yêu em, như một người thân thương ruột thịt, mỗi lần anh trở về; bởi vì, ngoài em ra, đâu còn nơi nào để mà trở về?

Hà, hà!

Viết như 1 viên gạch, để viết tiếp, ấy là bởi vì còn mấy kỷ niệm thần sầu khác nữa, về cô bạn, và về cái vụ, nhờ gặp lại nơi quê người, mà nhớ ra được!

Sách Báo


Viết

*

*

Người Đức Trầm Lặng.
The New Yorker, Dec 1 2014

Note: Bà này, cũng 1 thứ “Bắc Kít”, nói theo ngôn ngữ cà chớn của GCC, nhưng sao quá tuyệt vời, khiến Gấu cứ băn khoăn hoài, làm sao những xứ CS khốn nạn của họ, như Liên Xô, như Ba Lan, như Đông Đức, lại sản xuất ra, nào là Brodsky, nào là Milosz, nào là 1 “em” như em này, trong khi xứ Bắc Kít, toàn thứ xái xảm gì đâu!
Có 1 câu thật tuyệt, trong bài biết, có thể giải thích phần nào thắc mắc của Gấu:
"Cái tính tự phê và tởm lợm chính mình của người Đức”, “The German self-criticism and self-loathing”, là 1 phần của sự thành công của câu chuyện.
Cả hai cái tính quí báu này, Bắc Kít đéo có!
NQT

Cái tít ở bià số báo mới thú: Những tính toán lạnh lùng - y chang gái Bắc, y chang BHD, phải viết thế mới đúng -  của người đàn bà quyền lực nhất thế giới, “The cool calculations of the world’s most powerful woman”: Bằng cách nào Angela Merkel handles - “xoa đầu, cho ăn bánh, ăn kẹo, ru ngủ hai anh đực" - Putin và Obama, và giữ cho Âu Châu “in line”.
Trong hai anh đực, Bà cưng Obama hơn.
Bà có gì giống…  GCC, không coi Đông Âu/Bắc Kít là nhà, mê nắng Miền Nam, “I never felt that GDR was my home country... I have a relatively sunny spirit.”
“Tôi luôn có cảm tưởng đời tôi là 1 quãng nắng, I always have the expectation that my path throught life would be relatively sunny, no matter what happened”.
Bài khá dài, không biết cho có cho đọc free không.


New James Bond novel Trigger Mortis resurrects Pussy Galore

Pussy asks 007 “not in a gangster’s voice, or a Lesbian’s, but in a girl’s voice, ‘Will you write to me in Sing Sing?’” Bond looks into her “deep blue-violet eyes that were no longer hard, imperious”, and says: “They told me you only liked women.” Pussy replies: “I never met a man before,” and Bond’s mouth “came ruthlessly down on hers”.

*

Đài Liên Lạc VTD/thoại  Quốc Tế, 5 Phan Đình Phùng Saigon. GCC đứng chống nạnh

GCC đợp hai trái mìn Claymore của VC ở nhà hàng ni Mỹ Cảnh, đúng thời gian đang mê…  007.

Sau khi rời nhà thương Grall, với cái tay bó bột, bác sĩ hẹn 2 tháng sau trở lại cắt băng khánh thành cái tay mới,  thay vì trở về nhà, nằm dưỡng thương, thì trở lại Đài VTD, số 5 Phan Đình Phùng, vì công việc làm thêm “part time” cho UPI, làm sao bỏ, thế là, 1 tay băng bột, 1 tay gửi Radiophoto, và cả cái body thì vẫn hoàn thành trách nhiệm của 1 tên chuyên viên kỹ thuật của Đài.

Đúng thời gian đó, hai chuyên viên Mẽo, qua Việt Nam, giúp Bưu Điện làm tốt mạch viễn liên, phục vụ lính Mẽo trong dịp Noel. Một, tên Pool, từ Đài nhận tin, Reception Center, ở Oakland California, GCC còn nhớ, quá nhớ, vì tay này đúng dân kỹ thuật. Một, chuyên về business. Chuyến đi của anh này, là tìm cách làm ăn với xứ Mít, vì vào lúc đó, Mẽo vừa đ quân vô Miền Nam [GCC ăn mìn là do VC chào mừng Mẽo đổ bộ]


Tự Do Viết

Văn chương và im lặng

Văn chương Việt Nam 25 năm vừa qua là phiên bản nhiệt đới gió mùa của câu văn khét tiếng của Adorno: "Còn làm thơ sau Auschwitz thì thật man rợ".

Không phải ngay sau 1975, mà dường như có khoảng chờ đợi mười lăm năm, quãng mười lăm năm để mọi thứ chất độc có sẵn bắt đầu phát tác, để biến dòng máu trở thành dòng máu độc tím ngắt bệnh hoạn. Phong cảnh văn chương Việt Nam 25 năm vừa rồi đến lúc đòi hỏi phải được thấu hiểu, hiểu một cách đau đớn và tàn nhẫn: câu hỏi chính yếu không phải Văn chương để làm gì? mang hương vị của Saint-Germain-des-Prés, mà là Thế quái nào mà vẫn có văn chương được?

Phải cảm nhận được từ trong sâu thẳm (vì là chuyện dòng máu), khi những ảo tưởng lúc đầu đã tan biến như bọt biển, như bình minh dịu dàng ngay sau đó bị mặt trời hung bạo gần xích đạo đốt sạch, phải ý thức được rằng sa mạc của miền nhiệt đới nghĩa là thiêu đốt, hoang vu và độc địa.

Phải cảm nhận được rằng mọi thứ đều lệch lạc, và mọi hành động của ta chỉ có thể tiếp tay cho tình trạng lệch lạc kia. Sự khô cằn ấy không có cứu rỗi, còn không có đến một ảo ảnh ốc đảo. Không có văn chương và nhà văn đích thực khi không có sự thấu hiểu phong cảnh chung: hãy nhìn lại thời của các nhà thơ viết ra Kiều, Cung oán, Chinh phụ, họ cũng phải có cảm nhận đau đớn tột cùng, cũng đã phải làm một công việc mênh mông như biển, là gột rửa sự bẩn thỉu của dòng máu.

Chỉ có nhà văn lớn khi nhà văn ấy biết im lặng.

Ở ranh giới của sự thoái hóa dòng máu chung, thật ra đã có sẵn một phương thuốc, nhưng phương thuốc ấy đã không được hiểu, bị lờ đi, trong đà cuốn của dòng máu bệnh: bệnh hoạn thì mới mạnh mẽ, điều ấy không thể khác. Phương thuốc đã nằm ngay trong Nỗi buồn chiến tranh: trong cuốn tiểu thuyết ấy, nỗi buồn mới là quan trọng, nó chính là phương thuốc trị bệnh cho máu, nhưng người ta lại tưởng quan trọng là phần chiến tranh. Một cơ hội đã bị bỏ qua, một cách còn thảm khốc hơn cả cuộc chiến tranh. Không biết buồn, con người đã không biết dùng sa mạc của nỗi buồn để chống lại sa mạc của phong cảnh chung.

25 năm ấy, chỉ vài người tạo ra được một thứ văn chương không nhiễm bẩn, đấy là khi họ ý thức được rằng phải tạo ra một thế giới riêng hẳn, không có gì chung với tất cả, chỉ tiếp giáp tối thiểu, để có thể ngăn chặn ngay từ đầu dòng máu bẩn. Những người ấy lạc loài tự nguyện: Nguyễn Ngọc Tư của một cõi đồng bằng miền Tây, Nguyễn Bình Phương với một miền đồi núi phía Bắc, và Bùi Ngọc Tấn trong thế giới tù tội.

Và một số, rất ít, rất khác nhau, nhưng chung nhau ở một đặc điểm mà tôi tin là rất ít người nhận ra: những nhà văn rất mỏng, có sự tồn tại thoáng qua. Sự thoáng qua này, rồi sau đó là biến mất và im lặng, không tố cáo, mà là một sự nhận ra đầy buồn nản, sự hiểu ra rằng thế quái nào mà lại có văn chương. Xuất hiện với mầm mống đầy đủ cho những sự nghiệp văn chương đồ sộ, nhưng họ nhanh chóng biến mất, quay hẳn lưng lại với văn chương, bỏ đi - để giũ cho sạch thứ máu bẩn đã ám vào mình. Mỗi người là vài tập truyện ngắn: đó là trường hợp của Phan Triều Hải, Đỗ Phước Tiến, Ngô Phan Lưu và Nguyễn Nguyên Phước. Ở chiều ngược lại là những văn chương phun trào, những vòi nước thế quái nào lại đặt vào giữa vùng sa mạc, thi nhau tưới nước lên cát. Những sự tồn tại như thế cũng hợp lý, vì sự tồn tại nào cũng hợp lý hết: văn chương Nguyễn Đình Tú tồn tại là để sau này người ta thấy một thời văn chương Việt Nam có thể ngớ ngẩn như thế nào.

Nhưng rồi cũng đến hạn, máu độc cũng sẽ dần loãng, mấy năm sắp tới chắc chắn sẽ rất nhiều bất ngờ.

Blog NL

Thế quái nào mà vẫn có văn chương!

Tks

NQT