*

Nguyễn Quốc Trụ
Sinh 16 tháng Tám, 1937
Kinh Môn, Hải Dương
[Bắc Việt]
Quê Sơn Tây [Bắc Việt]
Vào Nam 1954
Học Nguyễn Trãi [Hà-nội]
Chu Văn An, Văn Khoa
[Sài-gòn]
Trước 1975 công chức
Bưu Điện [Sài-gòn]
Tái định cư năm 1994
Canada


Đã xuất bản
Những ngày ở Sài-gòn
Tập Truyện
[1970, Sài Gòn,
nhà xb Đêm Trắng
 Huỳnh Phan Anh chủ trương]
Lần cuối, Sài-gòn
Thơ, Truyện, Tạp luận
[Văn Mới, Cali. 1998]
Nơi Người Chết Mỉm Cười
Tạp Ghi
[Văn Mới, 1999]
Nơi dòng sông
chảy về phiá Nam

[Sài Gòn Nhỏ, Cali, 2004]
Viết chung
với Thảo Trần
Chân Dung Văn Học
[Văn Mới, 2005]

Trang Tin Văn, front page, khi quá đầy, được chuyển qua Nhật Ký Tin Văn, và chuyển về những bài viết liên quan.
*
Một khi kiếm, không thấy trên Nhật Ký, index:
Kiếm theo trang có đánh số.
Theo bài viết.
Theo từng mục, ở đầu trang Tin Văn.

Email

Nhìn lại những trang
Tin Văn cũ
  5

Bản quyền Tin Văn
*
Tất cả bài vở trên Tin Văn, ngoại trừ những bài có tính giới thiệu, chỉ để sử dụng cho cá nhân [for personal use], xài thoải mái [free]


Chân Dung Nga











 


Chúc Mừng Năm Mới 2012

*

Đồn anh đóng bên rừng Mai. Nếu Mai không nở thì anh đâu biết Xuân về hay chưa...

Bản nhạc trên, thằng em trai của Gấu ưa lầu bầu những lần về phép, trước khi đi xa.
Khi còn đi học, hồi chưa vô lính, thì mê bản “Em đẹp nhất đêm nay” [La plus belle pour aller danser], chắc là cũng bày đặt mê nhạc Pháp, ca sĩ Pháp, Sylvie Vartan, thí dụ.

Có 1 dạo, thời gian sau khi thằng em mất ít lâu, Gấu không chịu nổi cả hai bản nhạc trên, khi ở Trại Tị Nạn Thái Lan, ghi lại trong Lần Cuối Sài Gòn:

"Sao không hát cho những người vừa nằm xuống..."
Đã có một thời, tôi không sao chịu nổi. Chúng rũ rượi, mệt lả. Đầy sũng nước mưa, nước mắt. Chúng gọi tên thảm kịch. Thảm kịch của những cái vô ích. Của cuộc chiến điêu đứng, rồ dại. Chúng gợi tâm trạng nhớ. Nhớ bùn. Nhớ đời sống thảm hại, nhàm chán. Nhớ những kỷ niệm chẳng đáng nhớ. Nhớ ngã tư đường Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng gần nhà cô bé, khi chưa có tượng Thích Quảng Đức. Cô bé hớt hải chạy ra, hớt hải lắc đầu, rồi lại hớt hải chạy về. Nhớ những ngày nhà cô bé dời lên đường Gia Long. Buổi sáng, cô đưa em đi học trường Kiến Thiết gần khu Chợ Đũi, đưa mắt nhìn người yêu đang chờ đợi trong quán cà phê Tầu ở ngay đầu đường. Khi về, cô tha thẩn giữa những hàng cây nơi vườn Tao Đàn. Mùa Thu theo chiếc lá nhẹ nhàng đậu trên vai cô bé đang mơ mộng, đang trở thành người lớn.
Nhớ, nhớ..."Nếu mai không nở, anh đâu biết Xuân về hay chưa...", em tôi vẫn thường nghêu ngao một mình trước khi bỏ đi.
Như những lời chúc dữ, chúng báo trước một Miền Nam mòn mỏi, suy sụp, trước một Miền Bắc lì lợm, dai dẳng.
Trong mỗi chúng ta đều có một Sài-gòn âm ỉ cháy. Tôi đốt lên cục than hồng của tôi, để cho Sài-gòn của bạn sáng ngời.


Saigon Tết Nhâm Thìn 2012


Thơ Mỗi Ngày

POETS  PHOTOGRAPHED

Poets photographed,
but never when
they truly see,
poets photographed
against a backdrop of books,
but never in darkness,
never in silence,
at night, in uncertainty,
when they hesitate,
when joy, like phosphorus,
clings to matches.
Poets smiling,
well- informed, serene.
Poets photographed
when they're not poets.
If only we knew
what music is.
If only we understood.

Adam Zagajewski: Unseen Hand 

Thi sĩ chụp hình
Thi sĩ chụp hình,
chẳng bao giờ khi
họ thực sự nhìn
thi sĩ chụp hình
bìa sau sách,
chẳng bao giờ trong bóng tối
chẳng bao giờ trong câm lặng
vào ban đêm, trong bất trắc,
khi họ ngại ngần,
khi niềm vui, thì như ánh lửa ma trơi
lập loè, cố trụ lại.
Thi sĩ mỉm cười,
rất được thông tri về thời của mình, rất tâm linh, thanh thản,
giá như ngồi bên tách cà phê nữa, thì lại càng số dách.
Thi sĩ chụp hình
khi họ đếch phải là thi sĩ.
Giả như Gấu biết,
Nhạc sến đã đời ở chỗ nào, khi nào, nhỉ?
Giả như Gấu hiểu.

SELF-PORTRAIT

MAY 2008, AFTER SEEING
ERIC FISCHL'S SELF-PORTRAIT 

Keeps growing older. Frayed costumes. Reads a lot,
                sometimes vanishes
in books like Indians in trackless jungles. Repeats himself,
everything repeats, yellow notebook in his pocket, music's
                great summons.
Evenings he moves to the window in a rumpled shirt and
               yawns.
Looks a little different in each picture-his father's face
invades his own, slightly melancholy face; the short white
               beard,
his enemies insist, must signify capitulation.
The eyes gaze at the lens with hope. Growing older. 

Likes water, flat sleepy rivers, and the green ocean:
swimming, his body disappears in the dark currents
as if temporarily testing another mode of being.
The wind takes his breath, night bestows absolute peace
(the only absolute we've got, a friend scoffs,
they've been arguing for a decade).
A citizen, he thinks of his injured country,
the garden of a childhood that never was.

Takes many trips-April in Belgrade, the pockmarks of a
            recent war,
the swollen Danube recalls its carefree early years in Germany;
Jerusalem in May, more scars of war, but holiness
drifts above the mythic city like the scent of magnolias.
A journalist's questions seem oddly familiar.
Strangeness grows. Always the same: early breakfast, after
             lunch
a long stroll. Slowly becoming a fixed object.
Dreams drag him underground, dawn deftly rescues him.

But it is I, still I, ever searching
and shapeless, always I, every morning opens
a shining new chapter and can't finish it, it is I,
on the street, at the station, I hearing a child's cry, students
            laughing,
a starling's shriek, the I of ignora.nce, uncertainty, desire,
expectation, and wild joy, the I who understands nothing,
answers insults, hesitates, starts afresh,
guards himself in conversations, in despair, in learned debates,
in a winter day's quiet, it is I, bored, resigned,
unhappy, haughty, it is I, daydreaming
like a teenager, dead tired like the aged,
I in the museum, at the seashore, on Krakow's main square,
yearning for a moment that won't show, that hides
like mountain peaks on cloudy afternoons, brightness
finally arrives, and I suddenly know all, know it is not I.

Adam Zagajewski: Unseen Hand




Thời Sự Hình

Sebald

IN MEMORIAM W. G. SEBALD

W.G. SEBALD'S MENTAL WEATHER

Cái tít làm Gấu nhớ bài viết về 1 bạn quí, những ngày mới vô làng.
“Khí hậu ẩm ướt trong thế giới tiểu thuyết NDT.”
Bài đăng trên Nghệ Thuật. VL đọc bản thảo, nghiêm giọng phán, mày viết sao là nó mang cái tên của mày, ký ở dưới bài viết đấy.
Ý anh muốn nói, mày thổi bạn quí vừa thôi.
TTT cũng đi 1 đường, tương tự.
Cái khí hậu của TV, thì cũng là cái khí hậu tâm thần của Sebald, theo GCC
Sau cuộc chiến [Mít], nếu bạn vẫn là con người, thì không thể lành lặn được.
Phải có 1 cái gì ở trong bạn bị hư, hỏng, hoặc trục trặc, lâu lâu dở chứng.

NQT

Text message helped Utah girl foil high school bomb plot

Note: Cái vụ này thật là tuyệt. Một em đọc cái text của bạn trai, đề nghị nghỉ học, đừng đến trường, và bèn nghi, và bèn báo phú lít, nhờ vậy phá hỏng 1 âm mưu cho nổ bom.

Ui chao, cái đầu bị hư hỏng trục trặc, GCC bèn nghĩ ngay đến cái text của "bạn của Gấu", là Cao Bồi, gửi cho Bắc Bộ Phủ:
Yankee mũi lõ bỏ chạy rồi. Yankee mũi tẹt vô thay thế liền lập tức, chậm là hỏng cẳng!
*

W.G. SEBALD'S MENTAL WEATHER

A new documentary explores his wanderings

W.G. SEBALD'S MENTAL WEATHER

Posted by Simon Willis, January 26th 2012

When I left the office the other afternoon for a screening of a new documentary, the sky was grey and overcast: good weather for watching any movie, perfect for one about W.G. Sebald. His book "The Rings of Saturn" (1995 in German, 1998 in English) records a walk he took around East Anglia in 1992, during which the author meditates on everything from herring fishing to the Holocaust. Darkness is always falling in Sebald's books, or clouds casting a shadow or "veils of mist" drifting in from the sea.
Grant Gee's excellent new film, "Patience (After Sebald)", which is released in Britain tomorrow, retraces the journey. The film combines grainy and blustery footage of Covehithe, Southwold, Dunwich and Somerleyton with voice-overs from writers and artists interpreting the book's web of associations. There are also audio recordings of Sebald himself. At one point he talks about fog and mist, and how much he admires the ability of Victorian novelists "to make of one phenomenon a thread which runs through a whole text."
That applies to Sebald's work too. Weather in "The Rings of Saturn" is more than mood. It's also a method of blurring what he sees, and a metaphor for the unbidden path the book takes. In the film, the author and academic Robert Macfarlane describes Sebald's work as "a vanishing of stabilities". It's not unlike a phrase Macfarlane used in a recent piece about mist for Intelligent Life. Mist, he wrote,  is “trickster weather…it turns familiar landscapes strange, dampens sounds, blurs vision".
In one passage in the book, which is explored in the film, Sebald takes a walk on Dunwich Heath in weather which is "uncommonly sultry and dark". After a while—during which he thinks about Britain's forests, charcoal and the relationship between combustion and creativity—he finds himself back where he began, lost among the crisscrossing tracks. "The low, leaden sky; the sickly violet hue of the heath clouding the eye...I cannot say how long I walked about in that state of mind, or how I found a way out."
"Patience (After Sebald)" is released in Britain on January 27th

Khi tôi rời văn phòng vào một buổi xế chiều, lo sàng lọc một tài tiệu mới, bầu trời khi đó thì xám xịt, đầy mây đen, đúng thứ tuyệt, để nằm dài coi phim, và, vớ đúng một phim về W.G. Sebald, thì quả là tuyệt cú mèo, như thằng cha Gấu vẫn thường xuýt xoa. Cuốn sách của ông, "The Rings of Saturn" (bản tiếng Đức, 1995, tiếng Anh, 1998) viết về cái lần ông tản bộ East Anglia, vào năm 1992, và trong khi tản bộ ông trầm tư về mọi điều mọi thứ, từ đi câu cá “herring” cho tới Lò Thiêu.
Bóng tối luôn phủ xuống những cuốn sách của Sebald, hay, mây làm thành 1 cái bóng, hay một bức “màn sương”, lừng khừng từ biển trôi dạt về.
Cuốn phim mới thần sầu của Grant Gee vẽ lại chuyến đi đó. “Nhẫn nại, (Theo Sebald)” ["Patience (After Sebald)”], sẽ trình làng ở Anh, ngày mai [27 Tháng Giêng, 2012].
Gồm những thước phim của Covehithe, Southwold, Dunwich and Somerleyton, lồng tiếng của những nhà văn, nghệ sĩ dẫn giải "lưới sách". Có những đoạn là tiếng nói, audio recordings, của chính tác giả. Có 1 khúc, ông lèm bèm về sương mù, sương muối, và thú nhận trước bàn thờ, ông mới mê làm sao, những nhà văn thời kỳ Victoria, ở điều này: cái khả năng thần kỳ của họ: “biến một hiện tượng thành 1 dải, chạy dài xuyên suốt trọn bản văn”

Đây là thủ pháp “rắn nằm trong cỏ”, "đếch biết đâu là đầu, đâu là đuôi", của Đông Phương ta. Rắn thì cũng 1 loại rồng, đúng không?

Trên blog của HHT có trích từ sách coi tướng của VTL, giai thoại “Song Long Nhiễu Nguyệt”, nói về hai sợi râu [râu với lông thì cũng rứa], dài ơi là dài:

Tướng của cô ta ẩn bên trong, không bong ra ngoài. Cô có hai sợi râu rồng, kéo thẳng ra thì dài tới đầu gối, để tự nhiên thì soăn lại từng vòng tròn nằm hai bên. Tướng ấy sách gọi là Song Long Nhiễu Nguyệt, Hai Rồng Nằm Ấp Mặt Trăng.

Độc giả TV tự kiếm đọc, Gấu không dám viết ra ở đây, sợ Gấu Cái chửi, mi già rồi, đừng tục tĩu quá.

Đương nói truyện Lò Thiêu, vậy mà mi cũng đem truyện dơ dáy chêm vô!

Hà, hà!

Nhưng điều Sebald phán, về tiểu thuyết thời Victoria ở Anh, thì cũng áp dụng ngay bong vô của ông. Thời tiết ở trong "The Rings of Saturn" thì còn quá cả cái gọi là “tâm trạng, tính khí”, mood. Đây cũng là một phương pháp viết: Làm mờ những gì ông nhìn thấy. Và còn là một ẩn dụ về một lối đi không mời mọc, tạ từ khách, theo đó, cuốn sách lầm lũi đi mình ên. Trong cuốn phim, tác giả, nhà khoa bảng Robert Macfarlane miêu tả tác phẩm của Sebald thì như là một sự “biến mất sự vững vàng, tại vị”. Như ông phán, trong 1 bài viết mới đây cho Intelligent Life, sương mù thì một thứ “khí hậu bịp bợm… nó biến những phong cảnh quen thuộc trở thành lạ lẫm, kỳ quặc, làm ẩm ướt âm thanh, tiếng động, làm mờ viễn ảnh, tầm nhìn”.

Bạn đọc, thấy lại từ "ẩm ướt", và có phải là nó liên quan tới cái cửa mở ra mọi siêu hình học và tôn giáo, và tất nhiên, tới hai sợi râu rồng dài ơi là dài?

Trong 1 đoạn của cuốn sách, được thăm dò, thám hiểm ở trong phim, Sebald làm 1 cú lang thang tại Dunwich, và thời tiết vào lúc đó thì “oi bức, âm u thật không giống ai, không giống bất cứ 1 lúc nào khác, nghĩa là rất ư là khác thường”. Sau một lúc – trong 1 lúc đó, thì ông nghĩ về những khu rừng của Ăng Lê, than củi, và sự liên hệ giữa đốt cháy và sáng tạo - ông thấy mình ngược trở lại, đúng ở nơi bắt đầu, thất lạc giữa những lối đi trùng lấp, “những con đường rừng chẳng dẫn tới đâu”. “Trời thì thấp, xám xịt một màu chì, cái màu tím bịnh hoạn của cái nóng làm mù mắt… Tôi không thể nói chừng bao lâu tôi lêu bêu trong trạng thái của cái đầu như thế, và bằng cái nào tôi lại mò ra lối ra”.


Vargas Llosa vs Vaclav Havel

Tưởng Niệm Christa Wolf:


Tận Cùng Đêm Đen

*

Toàn gia đao phủ thủ

La folie Khmers rouges

Cơn khùng điên Khờ Me Đỏ

17 avril 1975. Les Khmers rouges entrent dans Phnom Penh et instaurent le Kampuchéa démocratique. Ouverture du centre de torture S21. Près de 2 millions de Cambodgiens vont mourir, soit environ un quart de la population.
7 janvier 1979 Chassés par l'armée vietnamienne, les Khmers rouges reprennent le maquis.
17 janvier 1979 Le philosophe Alain Badiou publie dans Le Monde une tribune intitulée «Kampuchéa vaincra!».
22 juin 1982 : l'Onu reconnaît un gouverrnement de coalition en exil où figurent les Khmers rouges.
23 octobre 1991 Le Cambodge est placé sous tutelle de l'Onu.

Mai 1999 Arrestation de Duch, chef de S 21.
3 juillet 2006 Ouverrture d'un tribunal spécial pour les cadres Khmers rouges.
26 juillet 2010 Duch est condamné à trente ans de réclusion pour crimes contre l'humanité. Il fait appel. 

Le Point:

Cái đọc cuốn sách này có làm ông biết thêm điều gì về cơ chế diệt chủng?

Claude Lanzmann:

Tôi học được tất cả từ cuốn sách, chính xác nhất là điểm này: vấn đề kinh nghiệm riêng của nó [tức là của tác giả của nó]. Rõ ràng là, cho dù thế nào đi chăng nữa, ngay cả khi người ta tưởng đã biết tất cả, biết hết những gì cần biết, vẫn luôn có điều cần phải biết, phải học. Tôi thường có kinh nghiệm này khi làm phim "Lò Thiêu". Tôi đã làm việc ròng rã không biết bao nhiêu năm trời về vấn đề này, chắc chắn tôi đã đọc tất cả những gì đã được viết, gặp hàng trăm người sống sót và các diễn viên. Và tôi chưa bao giờ ngừng học. Người ta không bao giờ biết trọn, trước tiên vì lúc nào cũng có những sai lạc, những sự kiện vuột ra khỏi định mệnh toàn diện, nhưng nhất là vì các sự kiện thuộc bản chất này không có sẵn, không được tích lũy ở trong lương tâm. Ngay cả khi người ta biết hết trong một thời điểm, một giai đoạn của việc hủy diệt, chỉ cần có một nạn nhân khác kể câu chuyện của họ là bạn có cảm tưởng mình phải học lại từ đầu, như mới nguyên, như chưa từng học.

Ông dùng chữ «khùng điên» để xác định chính trị tội ác của Khmer Đỏ. Chính ông, sau ngàn ngàn những cuộc phỏng vấn, trò chuyện, ông hiểu được điều gì về «khùng điên» Nazi?

Tôi không bao giờ muốn hiểu những gì bọn Nazi làm. Nhưng, ngược với những gì đám ngu đần rêu rao, vấn đề không phải là do tôi «thánh hóa» nạn diệt chủng Do Thái, khi làm cho nó trở thành một sự kiện ở ngoài Lịch sử và thoát khỏi tầm trí khôn, tri thức của nhân loại. Thế đứng của tôi, trước tiên là về chính trị, về sự kinh ngạc căn cơ: tất cả mọi lý lẽ của cõi trần tục này không cho phép nảy sinh ra sự sát nhân một triệu rưởi đứa trẻ Do Thái trong cơn diệt chủng Do Thái, trong thời gian Lò Thiêu. Muốn làm việc này là một cách từ chối đối diện với bạo lực trong khi chính bạo lực là điều phải ra đi. Sự từ chối câu hỏi «tại sao», ở nơi tôi, trước hết là một cách thao tác. Tôi không bao giờ để những nhân vật chủ chốt Nazi mà tôi phỏng vấn kéo tôi vào lãnh vực tâm lý. Khi Franz Suchomel, một nhân viên Đức quốc xã SS ở Treblinka, muốn giải thích cho tôi biết ông không hiểu tại sao người ta gởi ông đến đó, ông nghĩ công việc của ông là trông coi một xưởng rộng mênh mông của người thợ Do Thái, tôi chận ông ta lại và nói với ông: «Chúng tôi không ở đây để nói về ông.» Ở chân tường phòng khách sạn ở Braunau am Inn (thành phố Adolf Hitler sinh ra) nơi ông hẹn gặp tôi, tôi treo một họa đồ trại thanh trừng ở Treblinka mà ông Alfred Spiess cho tôi, thẩm phán người Đức trong vụ xét xử Treblinka (Francfort, 1960). Khi Suchomel đến phòng thâu băng và khi ông thấy họa đồ này, ông dợm lui. Tôi nói với ông: «Ông yên tâm, tôi không phải là quan tòa, cũng không phải là thẩm phán, cũng không phải là người đi săn lùng người Nazi. Tôi là học trò của ông và ông là người dạy tôi.» Cùng lúc tôi đưa ra cho ông xem cái cây thước mà tôi tự làm bằng cái cần câu tôi mua ở phố, cái thước học trò: «Ông nói cho tôi biết sự việc xảy ra như thế nào.» Bỏ qua khía cạnh tâm lý, ông bắt đầu kể chính xác cho tôi nghe, một cách tự hào về mặt kỹ thuật và nghề nghiệp, tiến trình lên đoạn đầu đài ở Treblinka. Buổi học kéo dài suốt ngày và đó là điều duy nhất tôi muốn biết.

Khờ Me Đỏ

Trong một bài viết trên tạp chí Văn Học (Cali, số tháng Ba/1998), Ngô Thế Vinh nhắc tới André Malraux, sự quan tâm tới Đông Dương, và tác phẩm "Con Đường Vương Giả" của nhà văn người Pháp này. 'Cũng trên con đường vương giả đó, khi còn là phóng viên chiến tranh theo chân những đơn vị miền Nam, ông Khắc [nhân vật chính trong bài viết mang nhiều tính phóng sự, nhưng với sự thận trọng cố hữu, tác giả nhấn mạnh, khung cảnh nhân vật chỉ là hư cấu], đã từng làm quen khắp vùng cao nguyên, và đồng bằng Cửu Long. Lần trở về Pattivattna, đi giữa mênh mông "Những Cánh Đồng Chết", ông Khắc vẫn không sao hiểu được mối tương quan giữa nền văn minh Angkor rực rỡ, nền giáo dục Pháp... đầy tính khai phóng mà sản phẩm của nó lại là những trái đắng dẫn tới một chính sách tự diệt chủng..."

Theo ông Khắc, Pol Pot tuy được coi là biểu tượng của tội ác, nhưng tư tưởng chỉ đạo là từ Khieu Samphan, cùng du học Paris, xuất thân đại học Sorbonne. Trong luận án tiến sĩ 1959, ông ta đã đề ra cương lĩnh của Khờ Me Đỏ: Muốn bảo vệ độc lập thực sự về chính trị và kinh tế cho Cam-bốt thì cần phải cô lập quốc gia này và trở về một nền kinh tế nông nghiệp tự túc. Để thực hiện cương lĩnh, chế độ Pol Pot đã trở thành lá cờ đầu, và là tiền thân, precursor, từ hai mươi năm trước, của những cơn khủng hoảng ở cuối thế kỷ, thí dụ như ở Rwanda, theo như nhận xét của Ben Kiernan. Trong cuốn Chế độ Pol Pot: Sắc tộc, Quyền lực, và Diệt chủng tại Căm-bốt dưới thời Khờ Me Đỏ, 1975-79 (nhà xb Yale, tháng Tư/ 96), ông đã làm một nghiên cứu về nguồn gốc Pol Pot, liên hệ "Những Cánh Đồng Chết" với những cuộc chiến diệt chủng ở khắp nơi trên thế giới.