Viết đàng hoàng đi...
Độc giả TV
Thu 2014

  Thơ Mỗi Ngày

Lisbon, 1989

April Bernard

November 6, 2014 Issue   

The new year lurched
 on a clamor of horns
 trash cans and firecrackers
 rising up from the harbor
 over the window sills
 into a hotel room where
 civility had just died.
 Next day we went for lunch
 to a pricey restaurant
 filled with leftover Nazis
 and I was sick in the ladies’ room
 where the walls were zebra skins
 and the vanity stools mothed-up
 leopard. So I left alone

 for a walk, drank a cold
 espresso in a cold café
 and reckoned my losses
 in the face of lowering rain.
 At a bookstore I opened a book
 of poems: a few tender lines
 about the emerald sea, memory
 bringing a smell of salt and roses—
before the words swam back into
 Portuguese, indecipherable.
Querido Pessoa, your voice
 was clear as music for those
 few moments I could read
 all the poems ever written.

Note: Bài thơ tuyệt vời. Nó làm Gấu nhớ đến Barbara, của Jacques Prévert, và bài này, thì được Mít cực ưa, ngay từ khi cuộc chiến, nhất là những ngày nó hứa hẹn những điều khủng khiếp. TTT mà cũng không thể bỏ qua, và bèn dịch như nó, như bạn quí NXH cũng đã từng, chỉ vì câu thơ:

Ôi cuộc chiến chó đẻ!

 *

LE JARDIN

Des milliers et des milliers d'années
Ne sauraient suffire
Pour dire
La petite seconde d'éternité
Où tu m'as embrassé
Où je t'ai embrassée
Un matin dans la lumière de l'hiver
Au parc Montsouris à Paris
A Paris
Sur la terre
La terre qui est un astre.
 

DIMANCHE

Entre les rangées d'arbres de l'avenue des Gobelins
Une statue de marbre me conduit par la main
Aujourd'hui c'est dimanche les cinémas sont pleins
Les oiseaux dans les branches regardent les humains
Et la statue m'embrasse mais personne ne nous voit
Sauf un enfant aveugle qui nous montre du doigt.

J'EN AI VU PLUSIEURS ...

J'en ai vu un qui s'était assis sur le chapeau d'un autre
il était pâle
il tremblait
il attendait quelque chose ... n'importe quoi ...
la guerre ... la fin du monde ...
il lui était absolument impossible de faire un geste ou
de parler
et l'autre
l'autre qui cherchait « son » chapeau était plus pâle
encore
et lui aussi tremblait
et se répétait sans cesse
mon chapeau ... mon chapeau ...
et il avait envie de pleurer.
J'en ai vu un qui lisait les journaux
j'en ai vu un qui saluait le drapeau
j'en ai vu un qui était habillé de noir
il avait une montre
une chaine de montre
un porte-monnaie
la légion d'honneur
et un pince-nez.
J'en ai vu un qui tirait son enfant par la main et qui
criait ...
j'en ai vu un avec un chien
j'en ai vu un avec une canne à épée
j'en ai vu un qui pleurait
j'en ai vu un qui entrait dans une église
j'en ai vu un autre qui en sortait ...

Note: Nhìn cái hình, thì bèn nghĩ đến cái nón của nhà thơ xứ Mít, đã từng du học Paris, và câu thơ trứ danh của ông:

Paris có gì lạ không... Prévert?

Hay, của TTT:

Cho anh tí Paris
Để anh làm thi sĩ!

GCC ghé Paris, lần tới Canada định cư. Em Đầm, lo đón rước, chuyển máy bay, thuộc UNHCR, nghe Gấu khoe tiếng Tẩy, và, thèm Paris, từ hồi còn bé tí, bật cười, phán:
Paris dơ lắm, toàn cứt chó không à!

Lần thứ nhì, thực sự viếng thăm, ở nhà Kiệt Tấn. Bà xã anh rất tiếu lâm, kể lần đón HPA, trước đó mấy ngày, tôi đã biểu ông nhà tôi, cứ nhìn tên Mít nào ốm đói, là đúng bạn của anh, khi hai đứa chúng tôi không nhận ra nhau!

*

L'AUTOMNE

Un cheval s'écroule au milieu d'une allée
Les feuilles tombent sur lui
Notre amour frissonne
Et le soleil aussi.

Mùa Thu

Ngựa quị giữa lối đi
Lá thu phủ lên ngựa
Tình đôi ta run run
Và mặt trời cũng rứa.

Paroles

BARBARA
Jacques Prévert
Nguồn

[Bài thơ này, TTT cũng đã từng dịch.
Bạn nào còn giữ được, thêm vô đây, làm thế chân vạc.
Thi sĩ còn viết tựa
Tựa cho tập thơ của Trần Lê Nguyễn,
cũng có tên như của Prévert. NQT] 

Wednesday, September 21, 2011 11:20 AM

Lâu mới quay lại, thấy Tin Văn hôm nay thật phong phú, đầy giọng ông Gấu, dễ ghét và rất có giá trị, bèn gửi mấy hàng thăm ông và ca ngợi. Người có đầy người ngưỡng mộ, (fan) uy tín và nổi tiếng, như ông Gấu thì chẳng cần xem thêm / nghe thêm mấy lời tẹp nhẹp của một anh già vô danh, duy, tôi muốn nhờ ông chút chuyện nên cứ mạnh bạo viết lấy lòng (nhưng thật tình) như thế … xin ông ...

Số là, tôi mê bản dịch bài thơ Barbara của Jacques Prevert của ông anh TTT của ông mà nay tôi để lạc mất đâu đó không tìm ra bản dịch tài hoa ấy, chợt nghĩ chắc ông Gấu có thể giúp, bèn, xin ông post lên trang nhà của ông cho tôi được một lần nữa nhớ những xúc động thời trẻ dại được đọc tuyệt phẩm ấy.

Cảm ơn ông và kính chúc ông bà và bảo quyến an hảo.

Ða tạ.

NQT

TV post lên đây, hy vọng có độc giả nào còn giữ được bản dịch Barbara của TTT.
Trong khi chờ đợi chúng ta đọc bản dịch của TTS



*

Mộ Mác: W[V]C thế giới, hãy đoàn kết lại!

Thông điệp gửi thế kỷ 21
Isaiah Berlin

Note: Berlin là 1 trong vị thầy của Vargas Llosa. Sau khi được Nobel, ông viết 1 cuốn sách nhỏ, Giếng Khôn, vinh danh những người & tác phẩm ảnh hưởng lên ông, trong có Berlin.

I speak with particular feeling, for I am a very old man, and I have lived through almost the entire century. My life has been peaceful and secure, and I feel almost ashamed of this in view of what has happened to so many other human beings. I am not a historian, and so I cannot speak with authority on the causes of these horrors. Yet perhaps I can try.

Viết đàng hoàng đi...
Độc giả TV

Tớ già rồi, sống trọn thế kỷ rồi, sóng gió cũng nhiều, nhưng vưỡn cảm thấy hổ thẹn, so với sóng gió của những người khác, nhưng tớ sẽ cố, viết về…  tớ, như là viết về...  họ!


Thơ Dã Viên
From Russia With Love

"Tenderly Yours"

IT IS HIS tenderness, in particular, that I recall. He verbalized it, without embarrassment, making frequent use of the word itself, which, to say the least (also a favorite Brodskyan expression), is not much employed in Anglo-Saxon male society. And it is tenderness I feel for him now. He ended his letters with a "kisses, kisses" or "tenderly yours", and even on the phone, instead of good-bye, there'd be a brisk yet, yes, tender: "kisses, kisses!" And then he'd wait, never in a hurry to break off. (This may sound sentimental, but maybe he was for ever saying goodbye for the last time.) Although by many whose paths he crossed he is remembered as abrasive, pugnacious, he displayed an unostentatious strength, a tender strength.
    Here was something I had not noted: his strength or courage. Reading recently about his time in the Arkhangelsk Region (he was sentenced to five years, in I964, but released after twenty months of exile), I at first found it hard to reconcile the modest, rumpled, even somewhat disreputable if cocky figure with the man of principle, of valour. But then I understood that it was this courage that informed his personality. It was so much a part of him that one took it for granted. At least, I had so taken it. As if I were too close to see what was evident to others, even if fate had been immeasurably kinder to me than to him. It was something of a mystery to me that I could not love the poems as I did the man. Indeed, the poetry almost got in the way, as if I was jealous of his art, as of a rival for his affection! The poetry, even if he identified fully with it, represented his mission rather than himself, having as much to do with the language or with history ...

    I suppose I should make a distinction between the two. His preoccupation with language - Russian, of course, but also English, which he was in the process of idiosyncratically making his own - I shared. It was the glare of the power-and-the-glory, from which I shielded myself.
     Yes, I have begun to realize, after his death, that courage was the catalyst ...

    Clichés are knocking at the door! It is rather that there was a sudden awareness of the whole man, whereas I'd seen only pieces before. The loss was overwhelming! I suppose that is why
I am writing now, trying to keep the awareness intact, not allowing it to fade prematurely. As if it would? Still, I want my quotidian self, which has no option but to negotiate with the world, to absorb it. It? Joseph. Our paths crossed at festivals and conferences. For instance, in 1979, at the University of Maryland, a "Symposium of Literary Translation and Ethnic Community" [sic!], we were on a panel. The panellists sat in a row; on the platform, at a long table. A "dialogue" between translators and translatees was supposed to take place ...
    Joseph and I meet by chance at breakfast. A vast self-service canteen. Joseph asks the woman behind the counter if she has any stronger coffee. She doesn't understand. He capitulates: "OK, make it regular." We go to a table, and he talks briefly about so-called "regular" American coffee. (I've come rather to like this innocuous beverage, which looks but doesn't really taste
like coffee.) He lights a cigarette - you could still smoke on campuses then - and presses his hand to his chest, grimacing. A few moments later he lights up again ...
    He underwent his first heart surgery in December 1978. I felt the closeness of his death, certainly. He lived with it every day. So, why didn't he stop smoking? When I was diagnosed with cancer of the mouth, in 1982, I at once quit smoking, far too frightened not to. For Joseph, not quitting was even more suicidal. Was it his courage, paradoxically, that allowed him to continue smoking? Or perhaps, he did not love himself enough, did not value his own life enough. More precisely, his individual life? Or perhaps he just enjoyed living dangerously? To live meant to live dangerously.

Bồ tèo, bồ tèo!

Đúng là từ của Joseph [Huỳnh Văn], như Gấu còn nhớ được!
Anh lèm bèm hoài, trong khi trong lũ bạn quí chẳng ai thèm dùng, nó có vẻ bình dân, mùi mẫn, đờn bà quá!
Nhưng chính là từ bồ tèo mà Gấu đang cảm nhận về bạn của mình, đấng bạn độc nhất...
Bồ tèo, mi viết bài về TTT đó, là vì ta mà viết, đâu phải vì TTT, đúng không, hà, hà!

[Dịch nhảm, trong khi nhớ bạn. Bài viết này, sẽ dịch liền, cũng thật là thú vị. Bạn, và còn là dịch giả, của Brodsky, Daniel Weissbort nhớ lại, bạn của mình, khi được dịch qua tiếng Anh, như cái tiểu tít cho thấy: Joseph Brodsky trong tiếng Anh, in English]

Joseph trải qua cuộc giải phẫu tim, lần thứ nhất Tháng Chạp, 1978. Rõ ràng là tôi cảm thấy bạn của mình cận kề cái chết. Anh sống với nó mọi ngày. Nếu thế, tại sao không bỏ hút thuốc? Khi tôi biết mình bị ung thư, là bèn bỏ hút thuốc lá lập tức. Trường hợp Joseph,  đúng là quá cả tự sát!
Liệu đây cũng là do can đảm, mà ông có thừa?
Hay có thể, do ông đếch “tự mình mình lại yêu mình sót sa”, đủ đô?
Đếch coi mình ra cái chó gì?
Hay là ông khoái sống theo kiểu đó: cực kỳ nguy hiểm.
Bởi vì sống, là sống 1 cách cực kỳ nguy hiểm!

Cái vụ Điếu Cày bị bắt cóc đi Mẽo, thẳng từ trại giam VC, làm GCC nhớ đến trường hợp Brodsky. Ông “có hẹn với nhà nước Liên Xô tại Đồn Công An”. Tới, chúng chìa ra cái đơn, bắt ký vô, ông biểu, tao đâu có muốn rời xa Gấu Mẹ Vĩ Đại; chúng hăm, sẽ nóng lắm đấy; nhưng tao đâu có bà con ở nước ngoài, chúng nói, có rồi, nhà nước lo hết rồi, mày phải gọi ông ta bằng…  chú!
Bạn phải đọc lời cám ơn nước Mẽo của bà vợ Điếu Cày thì mới thấy đắng! Đù má thằng Yankee mũi lõ & mũi tẹt, chúng mày âm mưu với nhau, tao không làm sao nói được 1 tiếng bye bye với chồng tao!
Hà, hà!


Trường hợp Võ Phiến


Borges Conversations

FERRARI. But we are told that we cannot make a faithful interpretation of our times without Kafka's help.
BORGES. Yes, but Kafka is more important than our times. It's lamentable that Kafka has to survive this period and its simplifications. Of course, we endure this century without much pride. With a little nostalgia for the nineteenth century, which also feels like nostalgia for the eighteenth century. Perhaps Oswald Spengler was right about the decline that we are nostalgic about-obviously, we can talk of mon vieux temps and perhaps we are right. There's a reference to this in Jorge Manrique's Coplas but it's ironic: 'As it seems to us, any time in the past / was better.' 'As it seems to us' followed by 'any time in the past was better'-yes, that's what Schopenhauer said. We see the past as better but we also see it as something that has stopped. We are no longer actors but spectators. In what is called the present we are actors, there's an idea of responsibility and, associated with it, an idea of danger. The past, even if it was terrible ... we can even think of Rosas' times nostalgically because, although it was terrible, it has passed. It has been fixed in time and so have its terrible images. On the other hand, the present can threaten us, just as life threatens us every second we're alive.
FERRARI. That's right and this was another point I wanted to mention with regard to Kafka. A writer you know wrote a very significant essay on Kafka, which I recently glanced at. I am referring to Carmen Gandara.
BORGES. I knew her and have fond memories of her. I read a story of hers, 'The Inhabited'. I'm not sure but isn't it similar to Julio Cortazar's 'House Taken Over'? Or is the theme different?
FERRARI. The scope is different. She refers to Kafka and says something that struck me-that throughout his life, Kafka sought a God 'absent' in our times.
BORGES. Yes, I have been asked that many times. I do not understand that question.
FERRARI. She means that, despite everything, Kafka might have had a religious spirit.
BORGES. Yes, but a religious spirit need not believe in a personal god. For example, the Buddhist mystics do not believe in a personal god but that doesn't matter. The idea of believing in a personal god is not a necessary factor in a religious spirit. The pantheists are an example or Spinoza-he was essentially mystical and he said 'Deus sive natura,' God or Nature. The two ideas were identical for him. That's not the case for a Christian because Christianity needs to believe in a personal god, in a god who judges your acts. In Emerson's Representative Men, the mystic is Swedenborg. He didn't believe in a personal god but he chooses between Heaven or Hell. After dying- he actually says this-Man finds himself in a strange region and is addressed by unfamiliar people; some attract him and some do not. He goes along with those who do. If he is an evil man, then those who attract him are devils. Because he will be more at ease with devils than with angels. And if he is a just man, he will be at ease with angels. He chooses his company accordingly. Once he's in Heaven or Hell, he doesn't want to be anywhere else because he will suffer too much. Swedenborg believed in a personal god, that's certain. But the pantheists, in general, didn't. What matters is that there's an ethical proposition in the universe. If there is an ethical proposition, and if you feel it, then you have a religious mind. And I believe that we should try to believe in an ethical proposition, although it doesn't exist. But in the end, it depends on us, doesn't it?

JORGE LUIS BORGES • OSVALDO FERRARI

Nhưng chúng ta được biết là chúng ta không thể có được cú diễn giải trung thực về thời của chúng ta nếu không có sự giúp đỡ của Kafka.

Đúng, nhưng K quan trọng hơn thời của chúng ta. Thật thê lương, K phải sống sót thời kỳ này, và những giản lược của nó. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta chịu đựng cái thế kỷ này mà chẳng có lấy 1 tí tự hào, Với tí hoài nhớ thế kỷ 19, mà nó thì lại có tí hoài nhớ thế kỷ 18. Có lẽ Oswald Spengler có lý về cái sự thoái trào mà chúng ta hoài nhớ - hiển nhiên là chúng ta có thể nói về cái thời cũ kỹ [trước 1975] của chúng ta, và chúng ta có lý, hơn lũ VC, tất nhiên. Bất cứ cái chó gì dính dáng tới trước 1975, thì đều bảnh tỏng cả!
Có em Carmen Gándara đi 1 đường tiểu luận thú vị về Kafka, tôi mới đọc gần đây. Em phán 1 phát cực lạ về Kafka: Xuyên suốt đời mình, Kafka tìm kiếm một Thượng Đế “vắng mặt” của thời của chúng ta.
Borges: Tôi bị hỏi hoài về vụ này, mà thực sự không hiểu.
Ý của tôi là, mặc dù mọi chuyện, Kafka có thể là 1 tín hữu, hay có 1 tinh thần tôn giáo.
Borges: Đúng như thế, nhưng tinh thần tôn giáo thì không cần phải tin vào một ông trời cá nhân. Thí dụ tín hữu Phật Giáo đâu có tin vào một ông Phật có hình hài giống… chúng ta, đúng không, và chuyện đó đâu cần. Cái ý tưởng tin vào 1 ông trời cá nhân thì không phải là 1 yếu tố cần thiết trong tinh thần tôn giáo. Những kẻ phiếm thần, hay Spinoza – ông này thì thực là bí ẩn và ông phán, “Deus sive natura”, Trời hay Thiên nhiên. Hai thứ đó là một đối với ông ta.