Thu 2014

giới thiệu:

Đi tìm nhành hoa thạch thảo ( Lê Duy Đoàn)



Autumn Day

Robert Hass

SEPTEMBER 19

Rainer Maria Rilke: Herbsttag

Rainer Maria Rilke is one of the great poets of the twentieth century. He's also one of the most popular. He's been translated again and again, as if some ideal English version of his German poems haunted so many minds that writers have had to keep trying to find it. Here, for the time of year, are some translations of a poem about the fall. He wrote it in Paris on September 21, 1902.

Rilke là 1 trong những nhà thơ lớn của thế kỷ 20. Ông cũng là 1 nhà thơ phổ thông. Ông được dịch đi dịch lại, như thể, những bài thơ tiếng Đức của ông ám ảnh rất nhiều cái đầu, và những nhà văn phải cố tìm cho thấy nó. Đây là bài thơ cho mùa thu năm nay, với cả 1 lố bản dịch.

Ngày Thu

Chúa ơi: Đúng là lúc này rồi. Hè mới bao la làm sao
Hãy trải cái bóng của mi xuống sundials
Và cho gió tung tăng trên cánh đồng.

Hãy biểu những trái cây sau cùng, hãy chín mọng, cho kịp những chầu rượu;
Cho chúng thêm hai ngày hè
Để có được cái tuyệt hảo - như da thịt ngọt ngào của em - trộn hơi rượu nồng

Kẻ nào đếch có nhà lúc này, thì đếch cần dựng nhà nữa
Kẻ nào sống mình ên, thì xin cứ tiếp tục sống một mình
Vươn vai đứng dậy, đọc, viết những lá thư dài, cho Hải Âu, thí dụ vậy
Lang thang, lên xuống, những con phố
Đếch thèm nghỉ ngơi cái con mẹ gì, giữa lá bay đầy trời, trong gió loạn.

THE FIRST ELEGY

Who, if I cried out, would hear me among the Angels?
Orders? and even if one of them pressed me
suddenly to his heart: I'd be consumed
in his more potent being. For beauty is nothing
but the beginning of terror, which we can still barely endure,
and while we stand in wonder it coolly disdains
to destroy us. Every Angel is terrifying.

Ai, nếu tôi kêu lớn, sẽ nghe, giữa những Thiên Thần?
Những Thiên Sứ? và ngay cả nếu một vị trong họ ôm chặt tôi vào tận tim:
Tôi sẽ bị đốt cháy trong hiện hữu dữ dằn của Người.
Bởi là vì, cái đẹp chẳng là gì, mà chỉ là khởi đầu của ghê rợn,
chúng ta vẫn có thể chịu đựng, và trong khi chúng ta đứng ngẩn ngơ,
thì nó bèn khinh khi hủy diệt chúng ta.
Mọi Thiên Thần thì đều đáng sợ.

Với tôi người sở hữu hạnh phúc, cuốn sách thanh nhã, mỏng manh, mua từ lâu, “Bi Khúc” tượng trưng cho một khởi đầu của con đường dài đưa tới một quen biết tốt đẹp hơn, với toàn bộ tác phẩm của Rilke. “Bi Khúc thứ nhất” - một lần nữa ở đây: “Ai, nếu tôi la lớn - trở thành một chứng cớ hiển nhiên, sống động, thơ ca chẳng hề mất quyền uy khủng khiếp của nó. Vào lúc đó, tôi chưa biết thơ của Czeslaw Milosz, bị “VC Ba Lan”, thành công trong việc tuyệt cấm, ở trường học, nhà sách, thư viện, - và tất nhiên, tuyệt cấm với tôi. Một trong những nhà thơ cùng thời đầu tiên mà tôi đọc và cố hiểu, là Tadeusz Rozewicz, cùng sống trong thành phố mà tôi sinh trưởng, (Gliwice), và, có thể chứng kiến, thì cứ giả dụ như vậy, cái giây phút thần tiên liền theo sau, khi tôi mua được Duino Elegies, bản dịch của Jastrun - chứng kiến hình ảnh một đứa bé đứng chết sững trên hè đường, nơi con phố trung tâm thành phố, vào giờ cư dân của nó thường đi dạo chơi, khi mặt trời xuống thấp, và cái thành phố kỹ nghệ xám trở thành 1 bông hồng rực đỏ trong chừng 15 phút, cỡ đó – ui chao cũng chẳng khác gì giây phút thần tiên Gấu đọc cọp cuốn “Bếp Lửa”, khi nó được nhà xb đem ra bán xon trên lề đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn – Thơ của Rozewicz như sinh ra từ tro than của một cuộc chiến khác, Đệ Nhị Chiến, và chính chúng, những bài thơ, thì như là một thành phố của tro than. Rozewicz tránh sử dụng ẩn dụ trong thơ của mình, coi bất cứ thặng dư của tưởng tượng là 1 sỉ nhục hồi ức những nạn nhân của cuộc chiến sau chót, một đe dọa tính xác thực về mặt đạo đức của thơ ông: Chúng được coi như là những bản báo cáo, kéo, dứt, giựt ra từ cơn kinh hoàng, tai họa lớn. Những bài thơ đầu của ông, viết trước khi Adorno phang ra đòn chí tử, “thật là ghê tởm, man rợ khi còn làm thơ sau Lò Thiêu”, thì đã hàm ngụ trong chúng, câu của Adorno rồi.
Adam Zagajewski


Note: Có 1 sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng thật ly kỳ thú vị, không chỉ về cái cảnh Gấu chết sững trong nắng Sài Gòn, khi đọc cọp – khám phá ra - Bếp Lửa, khi cuốn sách được nhà xb Nguyễn Đình Vượng cho đem bán xon trên hè đường Phạm Ngũ Lão, nhưng còn ở điều này: Cuốn sách Bếp Lửa đã sống lại, từ tro than, bụi đường Xề Gòn.

Gấu đã viết như thế, về Bếp Lửa, từ năm 1972
Giả như nó không được đem bán xon, liệu có tái sinh?
Quá tí nữa, giả như không có cuộc phần thư 1975, liệu văn học Miền Nam vưỡn còn, và được cả nước nâng niu, trân trọng như bây giờ?

Một nền văn học bảnh tỏng như thế, mà có thằng ngu gọi nó là... bất hạnh!

Robert Melancon

French, born 1947

AUGUST

I wander beneath the serenity
of the moon as it withdraws
 its stars from the night. A shadow
goes with me in which I do not
know myself. Only these trees
nearest to me, the grass, the washed darkness
exist. A cry
of a night jar, the murmur of leaves.
Summer consents absently to the night.

Tháng Tám

Tớ lang thang dưới vừng trăng thanh thản
Nó rút những vì sao của nó ra khỏi đêm.
Một cái bóng cùng đi với tớ, và tớ không làm sao phân biệt, tớ là bóng, hay bóng là tớ.
Chỉ cây cối cận sát tớ, cỏ, và bóng tối được rửa sạch, hiện hữu
Đêm, như cái bình, kêu 1 phát,
Lá thì thầm
Mùa hè, bèn bằng lòng, tự vắng mình trong đêm.

BLIND PAINTER [XI] 

January can give this grove
the appearance of a colonnade.
The fall of the leaves creates
a felicitous labyrinth, an architecture
to which only the light comes.
But you should not linger
in this metaphorical palace
old as language. Here are trees
all waiting to be named.
None looks like any other.
They will not consent to be reduced
To the mere concept of a forest

 

Họa sĩ mù

Tháng giêng có thể cho cái bụi, bề ngoài của một hàng cây
Lá rụng, thành mê lộ thần tình,
một cấu trúc mà chỉ có ánh sáng tới được.
Nhưng bạn không nên nấn ná
Trong cái cung điện ẩn dụ,
Già như ngôn ngữ này
Ở đây, cây, tất cả bọn chúng, thì đều đợi để được đặt tên.
Chẳng cây nào giống cây nào
Chúng đếch hài lòng bị giản lược
Về cái ý niệm nghèo nàn, nhảm nhí, chúng tớ là một khu rừng.  

The Necessity of Loneliness


Son of Man and Son of God

Tuesday, July 29, 2014 4:11 PM

Thưa ông Gấu,
Xin góp ý với ông Gấu về một đoạn thơ đã post trên trang Tinvan.

Nguyên tác:

Christ speaks to her in turn:
“Whether dead or alive
woman, it’s all the same –
son or God, I am thine 

Theo tôi, nên dịch như sau:

Christ bèn trả lời:
Chết hay là sống,
Thưa bà, thì đều như nhau –
Con, hay Chúa, ta là của bà 

Best regards,

DHQ
 

Phúc đáp:
Đa tạ. Đúng là Gấu dịch trật, mà đúng là 1 câu quá quan trọng.
Tks again.
Best Regards

NQT


Nature Morte

Joseph Brodsky


Tưởng niệm Quỳnh Giao

Thơ Mỗi Ngày


Tựa hồn những năm xưa

Bông Hồng của Coleridge

Khoảng 1938, Paul Valery viết, lịch sử văn học đúng ra không nên là lịch sử của những tác giả và những tai nạn nghề nghiệp của họ, hay của tác phẩm của họ, nhưng nên là lịch sử Cái Tinh Anh, the history of the Spirit, như là kẻ sản xuất hay tiêu thụ văn chương. Ông viết thêm, một lịch sử như thế có thể được viết ra mà không cần nhắc tới một nhà văn đơn độc, a single writer. Không phải đây là lần đầu tiên mà Cái Tinh Anh phán như thế. Vào năm 1944, một trong những viên thư ký của nó trong Concord ghi nhận: Ta thì thật là khoái cái ý này, về văn học, đó là [chỉ] một người viết tất cả những cuốn sách… cái phẩm chất như thế, cái căn cước như thế, cả về phán đoán và quan điểm, trong tự sự, cho thấy, đây là tác phẩm của một cái nhìn-tất cả, nghe-tất cả, the work of all-seeing, all-hearing, của một vì phong nhã (Emerson, Essays: Second Series, “Nominalists and Realist,” 1844).
Hai chục năm sau Shelley diễn tả quan điểm, rằng tất cả những bài thơ của quá khứ, hiện tại, và tương lai thì là những chương, hồi (episode), hay những mẩu đoạn, của một bài thơ độc nhất, vô cùng, a single infinite poem, được viết bởi tất cả những nhà thơ trên thế gian.
Những nhận xét (consideration) như thế thì làm dấy lên biết bao là lèm bèm, không thể nào dứt được. Tôi lôi chúng ra, như là 1 cái cớ, để trình bày 1 dự án khiêm tốn của mình: vẽ lại cái cuộc tiến hóa của 1 ý nghĩ, qua những bản văn hỗn tạp của ba tác giả.
Tác giả đầu tiên, là Coleridge. Tôi không chắc chắn, ông ta viết khi nào, vào cuối thế kỷ 18, hay đầu thế kỷ 19:

“Nếu một người đàn ông có thể ghé Thiên Đàng, trong giấc mơ, và, thay vì hai trái đào tiên mà bướm thiên đàng dâng cho anh ta, thì là 1 bông hồng, như bằng chứng linh hồn của thằng chả quả thực đã ghé nhà thổ ở đó, và nếu, khi tỉnh giấc, thằng chả thấy trong tay mình cầm bông hồng, thì… sao nhỉ”

[Borges giải thích], đằng sau ý tưởng của Coleridge, là một ý tưởng phổ thông, xa xưa, của hàng hàng thế hệ những kẻ yêu nhau, cầu một…  BHD, như là bằng chứng đời đời, muôn đời….  của tình yêu của họ.

Hà, hà!

Lolita vs BHD

We never grow up - only older, then old-
Chúng ta chẳng bao giờ trưởng thành, nhưng cứ thêm tuổi mãi ra, già mãi ra, rồi già.

In one of Nabokov's works - this is another of my lost trouvailles - a character tells of someone losing something, a ring, I think it was, in a rock pool somewhere on the Riviera and returning a year later to the day and finding it again in exactly the spot where it was lost, but that kind of thing only happens in the Russian enchanter's magical version of our sullenly acquisitive world.

Trong 1 trong những tác phẩm của Nabokov - thì cũng lại là 1 trong những mất đi tìm lại được của tớ - một nhân vật kể về 1 tay nào đó, đánh mất một cái gì đó - một cái nhẫn. Hình như tại một cái ao, bên dưới 1 hòn đá, ở một nơi nào đó, ở Riviera, và một năm sau trở lại, vào ngày đó, và kiếm lại được cái nhẫn đúng tại nơi đã mất, nhưng cái thứ này chỉ xẩy ra trong 1 ấn bản thần tiên của một tay phù thuỷ Nga.... 

Ui chao, đúng là cái tình cảnh của GCC:

Như người xưa đánh rớt cây gươm xuống lòng sông, bèn ghi dấu nơi mạn thuyền, chàng trở lại chốn xưa, tìm vết giầy trên lớp bụi thời gian, và tiếng cười của nàng vẫn còn văng vẳng đâu đây!
Ôi chao, giờ đọc lại vưỡn còn bùi ngùi!

Nhưng tại làm sao mà em ngộ ra rằng thì là, GCC chẳng bao giờ trưởng thành, cứ yêu mãi 1 đứa con nít... là nàng, từ đời thuở nào?


Zweig

* 

Tôi vội lục lại tạp chí Văn số đặc biệt về Võ Phiến. May, tôi còn giữ....

Gấu đã từng, sau khi xin lỗi ông nhóc con trên talawas, viết mail riêng, đề nghị ông nhóc chuyển cho coi lại bài viết cũ.

Ông đếch thèm trả lời.

Sở dĩ ông ta “đi 1 đường hờ hững”, là vì yên chí lớn, chẳng thằng nào con nào còn tờ Văn, số về VP.
Ông nhóc không ngờ là trong nước bi giờ săn kho tàng nọc độc văn hóa Mỹ Ngụy ghê quá, còn hơn cơn sốt vàng của Mẽo, La Ruée vers l’or!

Nhờ “Cơn Sốt Vàng”, Gấu có lại được những bài viết không bao giờ nghĩ lại được nhìn lại chúng.
Cám Ơn Các Bạn Nhà Văn VC thân mến của GCC!
Nhìn thấy mấy trang TSVC, như nhìn thấy bạn Joseph Huỳnh Văn ngày nào!

Tks. Many Tks. NQT


1914-2014


VĨNH BIỆT NHÀ VĂN TÔ HOÀI    

Milosz & Kap & To Hoai

Ainsi, pour Paul Valéry, « le complément nécessaire d'un monstre c'est un cerveau d'enfant »: Bộ óc con nít, là không thể thiếu, một bổ túc cần thiết để hoàn tất một con quỉ. (1)

Câu này áp dụng cho Tô Hoài thật là tuyệt: Ông đẻ ra Dế Mèn, Cu Lặc, Quê Người.... nhưng cũng “đồng thời là một, trong cả ba”, “Ba Người Khác”.
Thương Sinh & Duyên Anh, là 1 người, Lê Tất Điều của "Những Giọt Mực" cũng là Kiều Phong của những bài tạp ghi cực thâm độc.

Tuy nhiên, phải nhờ đến Todorov, thì chúng ta mới hiểu được trạng thái nhị phân này.
Trong hồi ức như liều thuốc trừ Ma Quỉ Cái Ác, ông phán, cái từ “human” không thể thay thế bằng những mỹ từ như “generous”, hay “merciful”.
Trong con người có con quỉ. Chính vì thế mà con người tự nó, không trục được quỉ.
Phải là Thượng Đế.
Không phải tự nhiên mà những Milosz, Brodsky - sống sót Quỉ Đỏ - là những tín hữu Ky Tô.

*

 Memory as a Remedy for Evil

Todorov mở ra cuốn sách nhỏ xíu, mỏng dính của ông, Hồi nhớ như thuốc trị Cái Ác Bắc Kít, Memory as a Remedy for Evil, bằng nhận xét, câu cầu nguyện hay được cầu nguyện nhất, của dân Ky Tô, bắt đầu, là "Lạy Cha, Cha ở trên Trời", và chấm dứt bằng, Hãy đuổi Quỉ ra khỏi chúng con, "Deliver us from evil". Câu này ngụ ý, trong chúng ta có...  quỉ, và chỉ có Thượng Đế, Chúa mới khu trục Quỉ ra khỏi chúng con. Nhưng chúng con, tức loài người thì lúc nào cũng hăm hở với giấc mơ tự mình trục Quỉ, và chính tham vọng này đưa đến những chủ nghĩa toàn trị.

Cái giấc mơ thống nhất nước Mít sợ còn đẹp hơn tất cả những giấc mơ toàn trị!

Thế mới chết! (1)