Sebald
Ðặt chữ
Qua Ðất Ðai
Qua Sông Nước
Tuyển tập Thơ
1964-2001
Tác giả W.G.
Sebald
Kể
từ khi mất bất thình lình do tai nạn xe hơi vào năm 2001, sự sùng bái
W.G.
Sebald ngày một tăng.
Ông gốc Ðức nhưng chọn Anh là nơi sinh sống. Ðược biết nhiều qua những
tác phẩm
văn xuôi tinh tế, kết hợp cái thực với giả tưởng, đẩy tới mức giới hạn,
điều tiểu
thuyết có thể làm được, ông được coi như là một trong những nhà văn lỗi
lạc nhất
của thế hệ của ông. Ông còn là 1 nhà thơ.
Qua
đất qua nước, một tuyển tập những bài thơ chưa từng in trước đó,
nếu có thể nói
như vậy. Ðược dịch bởi Iain Galbraith, Qua đất qua nước,
như cái tên cho thấy, phác ra một cuộc đời di động.
Trải dài 37 năm, tuyển tập bao gồm những bài thơ mà Mr Galbraith kiếm
thấy tác
giả của nó viết vội, ở trong những hồ sơ, trên những mẩu giấy, trên tờ
thực đơn
nhà hàng, chương trình của một buổi ca nhạc, kịch nghệ, hay những tờ
giấy có những
tiêu đề của 1 nhà hàng, khách sạn. Chúng bật ra khi trên xe lửa, hay ở
một
“ga không tên/ ở Wolfennbuttel”, Sebald kín đáo quan sát những bạn đồng
hành đi
xe lửa bằng vé tháng, vé năm khi ông gợi ra những quang cảnh lùi
về phía sau ngược với con tàu.
Khác
văn xuôi của ông, có tính sử thi, gây chóng mặt, những bài thơ này thì
cô đọng, lơ thơ. Tuy nhiên
chúng chứa đựng rất nhiều đề tài thường ám ảnh Sebald suốt cuộc viết
của ông.
Nhà thơ trải qua những năm cuối đời ở Anh, làm việc tại Ðại học
Manchester và Ðông
Anglia. Bận bịu với hồi nhớ, ao ước, và tính ma quái của những sự vật,
Sebald có
thể gợi ra trong 1 bài thơ vẻ đẹp huyền bí nhạt nhòa, 1 thứ Diễm Xưa,
[thì cứ
phán đại như vậy] của “thời quên lãng/của núi non và đèn treo”, hay
bước ngoặt
của thế kỷ/ áo-thày tu và cây cung-vải mỏng, trong khi ở 1 bài thơ
khác, ông nói
tới một “khu tháp/xấu xí”, hay những “siêu thị hấp hối”. Sự chuyển đổi
những thời
khác nhau thì có vẻ ép buộc, hay giả tạo, nhưng Sebald kiềm chế một
chuyển động
như thế bằng 1 cú lướt nhẹ, bằng chờn vờn va chạm. Sự thực, cái sức
mạnh dẫn
dắt ở đằng sau tác phẩm của ông, là 1 sự tìm kiếm, xục xạo quá khứ, tìm
cái bị
bỏ quên, hay vờ đi, hoặc coi nhẹ: “Tôi muốn tìm hiểu/ những người đã
chết thì ở
đâu đó, hay ở đó đâu”.
Như trong
Austerlitz, giả tưởng văn xuôi, 2001, cuộc tìm kiếm người chết, xoay
quanh sự cố,
ám ảnh cái viết của Sebald, và thường khiến ông viết, ở [in] nơi chốn
thứ nhất
– Lò Thiêu. Trong một bài thơ ngắn, Ðâu đó, “Somewhere”, thí dụ, dòng
thơ mở đầu
"behind, đằng sau, Turkenfeld", trở thành, với sự giúp đỡ của Mr
Galbraith, trong lời giới thiệu, đặc dị hơn nhiều, về 1 nơi chốn khủng
khiếp
hơn rất nhiều, quá xa cái tít đơn giản mà nhà thơ đề nghị, và, lẽ tất
nhiên, vượt
hẳn ra khỏi trí tưởng tượng của chúng ta:
Ngoài cái việc
nó đã từng là 1 thành phố, khi chú bé Sebald, 8 tuổi, trên đường đi tới
Munich,
vào năm 1952, Turkenfeld còn là 1 trong 94 tiểu Lò Thiêu, của Ðại Lò
Thiêu,
Dachau, và còn là một ga xe lửa trên tuyến đường nổi tiếng "Blutbahn"
(Vệt Máu).
Giản dị, với
6 dòng thơ, vậy mà cái sức nặng lịch sử đè lên nó mới ghê rợn làm sao!
[Mấy nhà thơ
Mít, có ông đã từng đi tù VC, nhớ đọc bài thơ, và bài điểm, trên tờ Người Kinh
Tế, nhá!]
Tập thơ rộng
rãi này cũng cho chúng ta thấy một Sebald khác, bớt buồn bã đi một
chút. Ông có
thể nói tới “nỗi đau/mà hồi ức hạnh phúc của tôi/ mang tới” nhưng cũng
viết 1 cách vui vẻ,
trong
hai bài thơ, nguyên tác viết bằng tiếng Anh, về một người đàn trẻ ở New
York mô
tả, bà mới yêu thích làm sao, văn phòng của bà, có máy điều hòa không
khí, chống
lại cái nóng mùa hè: “Ở đó/bà nói, tôi thì hạnh phúc /như con hến mở
ra/trên một
cái giường nước đá lạnh”. Thơ của ông có thể làm nhớ tới thứ thơ nặng
[như đá]
của Goethe, hay của Freud, nhưng nó cũng lấy hứng khởi từ Anh em nhà
Grimm, hay
là từ những phim của Alain Renais.
Mr
Galbraith làm được
1 việc thật là tốt, khi chuyển dịch những chuyển đổi giọng thơ, và
nguồn ảnh hưởng.
Tuy nhiên, đúng là 1 nhục nhã, khi tuyển tập thơ này vờ nguyên tác
tiếng
Đức. Làm
sao mà chúng ta không hiểu, thơ của Sebald đâu có dễ dịch,
nhưng chẳng
lẽ bắt chước… Thầy Cuốc của xứ Mít giấu biệt nguyên tác? Hơn thế nữa,
làm sao mà
chúng ta không quan tâm đến tính tha thướt, hồn ma [the
transitory
and the ghostly], thật dễ dàng khi nghi ngờ, chẳng có dịch giả nào mà
tóm được
thơ Sebald. Sebald, chính ông, cũng ngửi ra điều này: “Nếu bạn biết
rành mọi xó
xỉnh/ của trái tim của tôi/ thì bạn hơi 'vô tri’ đấy nhé”. Tuy
nhiên, như những
bài thơ cho thấy, tài năng của ông, đó là làm cho kinh nghiệm về 1 thứ
vô tri
như thế, trở thành tuyệt vời.
“Ở đó / tôi thì hạnh phúc
/ như con hến mở
ra / trên một
cái giường nước đá lạnh”.
Thèm, nhỉ!
W.G.
Sebald's poems
Placing words
Across the
Land and the Water: Selected Poems 1964-2001. By W.G. Sebald,
translated by
lain Galbraith. Hamish Hamilton; 240 pages; £14.99. To be published in
America
in April by Random House; $25
SINCE W.G.
Sebald's sudden death in 2001, the cult of the Britain-based German
writer has
spread fast. Known for his exquisite prose works that, in their
combination of
the real with the fictional, push at the limits of what novels can be,
he is considered
one of the foremost German writers of his generation. He was also a
poet.
"Across
the Land and the Water" brings together a selection of the poems he
never
published in book form, if at all. Translated by lain Galbraith, the
volume
sketches out a life on the move. Stretching over 37 years, the volume
includes
poems that Mr Galbraith found jotted down in Sebald's archives on
scraps of
paper, others written on menus, theatre programmes or headed paper from
hotels.
They emerge on trains or at the "unmanned/station in Wolfennbuttel",
Sebald covertly observing fellow commuters as he evokes the differing
landscapes
shuttling past.
Unlike his
epic, vertiginous prose, these poems are often condensed and sparse.
And yet
they contain many of the themes that would obsess Sebald throughout his
writing
life. The poet spent his later years in Britain, working at the
Universities of
Manchester and East Anglia. Preoccupied with memory, desire and the
ghostliness
of objects, Sebald can evoke in one poem the faded glamour of "a
forgotten
era/of fountains and chandeliers" or a "turn-of-the-century/frock-coat
and taffeta bow" while in another he will speak of an "ugly/ tower
block" or "moribund supermarkets". This shift between differing
eras could seem forced or artificial. And yet Sebald manages such
movement with
a lightness of touch. Indeed, the driving force behind his work is a
search for
the past, for the forgotten or overlooked: "I wish to inquire/Into the
whereabouts of the dead."
As in
"Austerlitz", his 2001 work of prose fiction, this search for the
dead circles around the occurrence that haunts Sebald's writing, and
which
often prompts him to write in the first place-the Holocaust. In one
short poem,
"Somewhere", for example, the opening line "behind Turkenfeld"
becomes, with the help of Mr Galbraith's introduction, a far more
specific and
terrifying location than Sebald's title suggests. Along with being a
town the
then eight-year-old Sebald would frequently pass on his way to Munich
in 1952,
Turkennfeld was one of the 94 sub-camps of Dachau, and a train station
on the notorious
"Blutbahn" (blood track). Even in a seemingly simple six-line poem,
the sudden weight of historical events can be felt.
This broad
collection also shows Sebald's writing in a less melancholy light. He
may speak
of "the pain my happy/ memories bring" but can also, in one of the
two poems originally written in English, write playfully of a young
woman in
New York describing how much she loves the air-conditioning in her
office as
opposed to the summer heat: "There,/she said, I am/ happy like
an/opened
up oyster/on a bed of ice." His poetry can refer to such heavyweights
as
Goethe or Freud, but it also takes inspiration from the Brothers Grimm
or the
films of Alain Resnais.
Mr Galbraith
does a good job translating these shifting tones and influences.
However, it is
a shame that this volume does not include Sebald's original poems in
the
German. Concerned with the transitory or the ghostly, it is easy to
suspect
that no one translation could pin Sebald down. Sebald himself seemed
aware of
this: "If you knew every cranny/of my heart/you would yet be
ignorant." And yet as these poems show, his talent lay in making the
experience of such ignorance delightful. +
The
Economist, Nov 19-25 2011
Ðặt chữ
Qua Ðất Ðai
Qua Sông Nước
Tuyển tập Thơ
1964-2001
Tác giả W.G.
Sebald
Kể từ khi
mất
bất thình lình do tai nạn xe hơi vào năm 2001, sự sùng bái W.G. Sebald
ngày một tăng.
Ông gốc
Ðức nhưng chọn Anh là nơi sinh sống. Ðược biết nhiều qua những tác
phẩm văn xuôi tinh tế, kết hợp cái thực với giả tưởng, đẩy tới mức
giới hạn,
điều tiểu thuyết có thể làm được, ông được coi như là một trong
những nhà văn
lỗi lạc nhất của thế hệ của ông. Ông còn là 1 nhà thơ.
Sebald
… Weiss to
attend the Auschwitz trial in Frankfurt. He may also have been
motivated before
the event by the hope, never quite extinguished, "that every injury has
its equivalent somewhere and
can be truly compensated for, even if it be through
the pain of whoever inflicted the injury." This idea, which Nietzsche
thought was the basis of our sense of justice and which, he said,
"rests
on a contractual relationship between creditor and debtor as old as the
concept
of law itself”…
W.G.
Sebald: The Remorse of the Heart.
On Memory
and Cruelty in the Work of Peter Weiss
Weiss
tham dự tòa án xử vụ Lò Thiêu ở Frankfurt. Có thể là do ông vẫn còn hy
vọng, một
niềm hy vọng chẳng hề tàn lụi, rằng, “mọi tổn thương thì có cái phần tương đương của nó, ở đâu đó, và có
thể thực sự được đền bù, bù trừ, bồi hoàn, ngay cả, sự bồi hoàn này
thông qua nỗi
đau của bất cứ kẻ nào gây ra sự tổn thương”. Tư tưởng này Nietzsche
nghĩ, nó là
cơ sở của cảm quan của chúng ta về công lý, và nó, như ông nói, “nằm
trong liên
hệ có tính khế ước, giữa chủ nợ và con nợ, và nó cũng cổ xưa, lâu đời
như là
quan niệm về luật pháp, chính nó”
W.G.
Sebald: Sự hối hận của con tim.
…
even if it be through the pain
of whoever
inflicted the injury.
Moi, je traine le fardeau de
la faute collective, dis-je,
pas eux.
Jean Améry
viết, trong Vượt quá tội ác và hình phạt, Par-delà
le crime et le châtiment.
Gấu cũng có
thể nói như thế:
Ta mang cái gánh nặng của Cái Ác Bắc Kít, đâu phải lũ
Bắc
Kít?

Carole
Angier [The Jewish Quarterly, Winter
1996-7]:
… Và chúng
ta nói về cuốn Di Dân, The Emigrants
đi. Cuốn sách thì đầy cây cối. Thiên nhiên
là nạn nhân thứ nhì mà nó ca ngợi, celebrate, sau người Do Thái.
W.G. Sebald:
Di dân khởi từ 1
cú điện thoại của bà cụ thân sinh của tôi. Bà gọi để báo cho
tôi biết về 1 ông thày cũ của tôi, ở Sonthofen, tự tử. Cũng không lâu
sau cái chết của
Jean Améry, cũng tự tử, và lúc đó tôi đang viết về ông ta. Có vẻ như là
có 1 sự
xuất hiện của một chòm sao liên quan tới vấn đề sống sót và vấn đề
“chậm pha”, [không
phải “lệch pha”], tức sự quá trễ nải giữa tai ương bất công và khi mà
nó, sau cùng,
nhận chìm bạn [A sort of constellation emerged about this business of
surviving
and about the great time lag between the infliction of injustice
and when it finally overwhelms you]. Tôi
bắt đầu mơ hồ hiểu ra tất cả câu chuyện này, trong trường hợp vị thày
dạy cũ. Và
cú phôn làm bật tung ra những hồi ức khác mà tôi có.
CA:
Như vậy vị
thày ở trong câu chuyện thứ nhì, là có thực, Paul Bereyter, và những
người khác
nữa, đều có thực?
Và nếu như thế, toàn chuyện có thực?
WGS:
Cơ bản
mà nói, thì đúng như vậy, với những thay đổi nho nhỏ…
Ghost Hunter
Eleanor
Wachtel [CBC Radio’s Writers & Company on April 18, 1998]:
Sebald viết
một kinh cầu cho một thế hệ, trong Di dân, The Emigrants, một cuốn sách
khác thường
về hồi nhớ, lưu vong, và chết chóc. Cách viết thì trữ tình, lyrical,
giọng bi
khúc, the mood elegiac. Ðây là những câu chuyện về vắng mặt, dời đổi,
bật rễ, mất
mát, và tự tử, người Ðức, người Do Thái, được viết bằng 1 cái giọng hết
sức khơi
động, evocative, ám ảnh, haunting, và theo cách giảm bớt, understated
way. Di dân
có thể gọi bằng nhiều cái tên, một cuốn tiểu thuyết, một tứ khúc kể, a
narrative quartet [Chắc giống Tứ
Khúc BHD của GCC!], hay, giản dị,
không thể gọi
tên, sắp hạng. Ông diễn tả như thế nào?
WG Sebald: Nó
là một hình thức của giả tưởng văn xuôi, a form of prose fiction. Theo
tôi nghĩ,
nó hiện hữu thường xuyên ở Ðại lục Âu châu hơn là ở thế giới
Anglo-Saxon, đối
thoại rất khó chui vào cái thứ giả tưởng văn xuôi này….
EW: Một nhà
phê bình gọi ông là kẻ săn hồn ma, a ghost hunter, ông có nghĩ về mình
như thế?
WGS: Ðúng như
thế. Yes, I do. I think it’s pretty precise…

The
destruction of someone's native land is as one with that person's
destruction.
Séparation becomes déchirure [a rendingl, and there can be no new
homeland.
"Home is the land of one's childhood and youth. Whoever has lost it
remains lost himself, even if he has learned not to stumble about in
the
foreign country as if he were drunk." The ‘mal du pays’ to which Améry
confesses, although he wants no more to do with that particular pays—in
this
connection he quotes a dialect maxim, "In a Wirthaus, aus dem ma
aussigschmissn worn is, geht ma nimmer eini" ("When you've been
thrown out of an inn you never go back")—is, as Cioran commented, one
of
the most persistent symptoms of our yearning for security. "Toute
nostalgie," he writes, "est un dépassement du présent. Même sous la
forme du regret, elle prend un caractère dynamique: on veut forcer le
passé,
agir rétroactivement, protester contre l'irréversible." To that extent,
Améry's homesickness was of course in line with a wish to revise
history.
Sebald viết
về Jean Améry: Chống Bất Phản Hồi: Against
The Irreversible.
[Sự huỷ diệt
quê nhà của ai đó thì là một với sự huỷ diệt chính ai đó. Chia lìa là
tan
hoang, là rách nát, và chẳng thể nào có quê mới, nhà mới. 'Nhà là mảnh
đất thời
thơ ấu và trai trẻ của một con người. Bất cứ ai mất nó, là tiêu táng
thòng, là
ô hô ai tai, chính bất cứ ai đó.... ' Cái gọi là 'sầu nhớ xứ', Améry
thú nhận,
ông chẳng muốn sầu với cái xứ sở đặc biệt này - ông dùng một phương ngữ
nói
giùm: 'Khi bạn bị người ta đá đít ra khỏi quán, thì đừng có bao giờ vác
cái mặt
mo trở lại' - thì, như Cioran phán, là một trong những triệu chứng dai
dẳng nhất
của chúng ta, chỉ để mong có được sự yên tâm, không còn sợ nửa đêm có
thằng cha
công an gõ cửa lôi đi biệt tích. 'Tất cả mọi hoài nhớ', ông viết, 'là
một sự vượt
thoát cái hiện tại. Ngay cả dưới hình dạng của sự luyến tiếc, nó vẫn có
cái gì
hung hăng ở trong đó: người ta muốn thọi thật mạnh quá khứ, muốn hành
động theo
kiểu phản hồi, muốn chống cự lại sự bất phản hồi'. Tới mức độ đó, tâm
trạng nhớ
nhà của Améry, hiển nhiên, cùng một dòng với ước muốn xem xét lại lịch
sử].
L'homme a
des endroits de son pauvre coeur qui n'existent pas encore et où la
douleur
entre afin qu'ils soient.
Trái tim
đáng thương của con người có những vùng chưa hề có, cho đến khi đau
thương tiến
vào. Và tạo ra chúng. Léon Bloy.
W.G. Sebald
trích dẫn, làm đề từ cho bài viết "Sự Hối Hận Của Con Tim: Về Hồi Ức và
Sự
Độc Ác trong Tác Phẩm của Peter Weiss", The Remorse of the Heart: On
Memory and Cruelty in the Works of Peter Weis, trong
"Lịch sử tự nhiên về huỷ diệt, On the natural
history of
destruction", nhà xb Vintage Canada, Anthea Bell dịch, từ tiếng Đức.
… Weiss to
attend the Auschwitz trial in Frankfurt. He may also have been
motivated before
the event by the hope, never quite extinguished, "that every injury has
its equivalent somewhere and
can be truly compensated for, even if it be through
the pain of whoever inflicted the injury." This idea, which Nietzsche
thought was the basis of our sense of justice and which, he said,
"rests
on a contractual relationship between creditor and debtor as old as the
concept
of law itself”…
W.G.
Sebald: The Remorse of the Heart.
On Memory
and Cruelty in the Work of Peter Weiss
Note: Ðây có
lẽ là tác phẩm tuyệt vời nhất của W.G. Sebald.
Mấy lần đi giang hồ vặt, GCC đều
mang theo nó.
Thấy an tâm.
Thư tín:
Wednesday,
November 23, 2011 6:39 AM
Thấy bác
giới
thiệu (hâm mộ) về W.G. Sebald trên Tinvăn mà...thèm. Tiếc là sách của
ông toàn
tiếng Anh mà ở Việt Nam cũng khó mà lùng cho ra. Hơn nữa, ông còn là
một nhà
thơ, làm sao để tiếp cận được tác phẩm của ông, dù chỉ chút ít?
Vẫn luôn chờ
đợi các bài dịch thơ Adam Zagajewski, Simic... của bác!
Chúc bác khỏe
và vui luôn!
Kính mến
Phúc đáp:
Ða tạ.
“Hâm mộ” là
từ của 1 vị độc giả, rất mê W.G. Sebald. Trước giờ TV giới thiệu ông,
nhưng vẫn
đinh ninh chẳng ai thèm đọc! Một vị độc giả, 1 bạn văn VC rất thân của
Gấu,
quen nhân lần về HN, chẳng đã viết mail, rất ư bực bội, làm sao mà cứ
nhắc hoài
đến… Lò Thiêu, nó có liên can gì đến giống Mít?
Chính là nhờ
vị độc giả hâm mộ Sebald mà GCC mừng quá, nghĩ thầm vậy là không uổng
công mình
lèm bèm hoài về ông, và bèn lèm bèm tiếp!
V/v W.G
Sebald, thi sĩ.
Trên TV đã từng giới thiệu
Sebald, thi sĩ.
Bài trên Người
Kinh Tế giới thiệu cuốn sắp ra lò, mới tinh về ông.
Trong
khi chờ
đợi, chúng ta đọc đỡ ở đây:
Người ghi
chú cô đơn: The Solitary Notetaker.

Khi W.G.
Sebald mất vì tai nạn xe hơi vào Tháng Chạp 2001, ông được tưởng niệm,
như là một
trong những nhà văn lớn lao của thời chúng ta. Tuy nhiên, khi cuốn đầu
của ông,
Di Dân, được dịch ra tiếng Anh vào năm 1996, rất ít người bên ngoài
nước Đức biết
đến ông. Nhưng liền sau đó, ông được đón đọc, tác phẩm liên tiếp được
dịch, lẹ
làng, đến mức kinh ngạc.
Susan
Sontag đã từng tự hỏi, trên tờ TLS, liệu
"văn chương lớn" có còn không, và bà tự trả lời, còn chứ, Sebald đó.
Tuy nhiên, kể
từ khi ông mất, có nhiều cái nhìn khác nhau về ông. Lớn lao, số một,
giọng
không giống ai, vẫn đúng đấy, nhưng đọc kỹ hơn, gần hơn, nghe ra có
nhiều vay
mượn. Tác phẩm của ông, có thể nói, một nửa là do uyên bác, nửa còn
lại, là tưởng
tượng và kinh nghiệm của riêng ông.
Nếu có một
nhà văn vay mượn rất nhiều từ những nhà văn khác, nhưng vẫn là một thứ
đồ zin,
đồ xịn, thì đúng là Sebald.
Charles
Simic, trên NYRB điểm hai cuốn mới nhất của ông, Campo Santo, một thứ
tiểu luận,
và Unrecounted, gồm 33 bài
thơ nho nhỏ, của ông, và 33 bức họa, của Jan
Peter
Tripp.
Họa: Mỗi bức
là một đôi mắt, với sự chính xác, của hình chụp: Proust, Rembrandt,
Beckett,
Borges... Chủ đề của họa: Miệng thì tốt, để nói dối, trong khi mắt, khó
nói dối.
Bất cứ mắt đang mơ mộng, hay suy tư, chúng đều vọng một tí ti sự thực,
nào đó.
Dưới mỗi đôi mắt, là một bài thơ mini. Thí dụ, dưới cặp mắt của
Maurice, chú
chó của Sebald, là:
Please send
me
the brown
overcoat
from the
Rhine valley
in which at
one time
I used to
ramble the night.
[Hãy gửi cho
tôi
cái áo
choàng mầu nâu
từ thung
lũng sông Rhine
mà có lần
tôi mặc dạo đêm].
Thơ của ông
thực sự cũng khó mà gọi là thơ. Như nhà phê bình Andrea Kohler chỉ ra,
đó không
phải là ngụ ngôn, mà cũng chẳng phải thơ. Chỉ là những cú xổng chuồng,
thoáng
chốc, của tư tưởng, của hồi nhớ, những khoảnh khắc loé sáng, ở mép bờ
của cảm
nhận.
Và đây là một
bài thơ mini thật thú vị:
Người ta
nói,
Nã Phá Luân
mù mầu [color-blind]
Máu đối với
ông ta,
thì xanh như
lá cây.
W.G. Sebald
Trước giờ,
tuy giới thiệu Sebald, nhưng thú thực, GCC chẳng hề nghĩ, sẽ có ngày
nhận được 1
cái mail của độc giả liên quan tới ông người Ðức tốt này. Thế rồi nhận
được của
1 vị, rất hâm mộ Sebald.
Thú thực, lại
thú thực, GCC mê đọc những bài tản văn ngắn của ông, những tiểu luận,
nhất là tập
tiểu luận “Về lịch sử tự nhiên về huỷ diệt”, On the natural history of destruction.
Tác phẩm Campo
Santo, gồm tản văn và tiểu luận
cũng thú lắm.
“Ðất
dụng võ của tôi là tản văn, không phải tiểu thuyết”, “My medium is
prose,
not the novel”, ông cho biết. Trong bài giới thiệu tác phẩm Campo Santo, Sven Meyer, người
dịch, phán, vào cuối đời, nhà tiểu luận hết còn phân biệt được với nhà
văn.
Câu của
Sunday Times, thổi Sebald, đúng chỉ 1 nửa. Sebald vs Borges, OK,
nếu
chỉ nói về
mặt văn chương. Nhưng thời của Sebald là của Lò Thiêu. Borges, vô thời.
Publisher's
Note
Campo Santo
brings together pieces written over a period of some twenty years
touching, in
typical Sebaldian fashion, on a variety of subjects. None has been
previously
published in book form, but the ideas expressed in
'Between History and
Natural
History' will be familiar to some readers - the essay is the
predecessor of the
Zurich lectures which later became the backbone of On
the
Natural History of Destruction.
Sân Trường
Cũ
WG Sebald's last book,
Campo Santo, offers further proof of his rare
gift for
tackling Germany's pain, says Jason Cowley
Sunday February 27, 2005
The Observer
Sampo Santo,
cuốn sách sau chót của Sebald, đưa ra thêm chứng liệu cho thấy tài năng
quí hiếm
của ông, trong cái việc sờ vô nỗi đau của Ðức.
Bài điểm này
trên tờ Observer, tuyệt quá.
TV tính dịch, đăng bài giới thiệu cuốn trên, của Sven Meyer, nhưng
thôi,
"tùy tiện" mình chơi bài này trước.
Trong những kỳ tới GCC sẽ giới thiệu mấy bài viết trong Về lịch sử
tự nhiên của
huỷ diệt.
Ðể đáp lại thịnh tình của vị độc giả hâm mộ Sebald!
“And so they are ever
returning to us, the dead.”
NOTES ON A
VOICE: W.G. SEBALD
Sent
East
James Wood
writes about W.G. Sebald's 'Austerlitz'
The
destruction of someone's native land is as one with that person's
destruction.
Séparation becomes déchirure [a rendingl, and there can be no new
homeland.
"Home is the land of one's childhood and youth. Whoever has lost it
remains lost himself, even if he has learned not to stumble about in
the
foreign country as if he were drunk." The ‘mal du pays’ to which Améry
confesses, although he wants no more to do with that particular pays—in
this
connection he quotes a dialect maxim, "In a Wirthaus, aus dem ma
aussigschmissn worn is, geht ma nimmer eini" ("When you've been
thrown out of an inn you never go back")—is, as Cioran commented, one
of
the most persistent symptoms of our yearning for security. "Toute
nostalgie," he writes, "est un dépassement du présent. Même sous la
forme du regret, elle prend un caractère dynamique: on veut forcer le
passé,
agir rétroactivement, protester contre l'irréversible." To that extent,
Améry's homesickness was of course in line with a wish to revise
history.
Sebald viết
về Jean Améry: Chống Bất Phản Hồi: Against
The Irreversible.
[Sự huỷ diệt
quê nhà của ai đó thì là một với sự huỷ diệt chính ai đó. Chia lìa là
tan
hoang, là rách nát, và chẳng thể nào có quê mới, nhà mới. 'Nhà là mảnh
đất thời
thơ ấu và trai trẻ của một con người. Bất cứ ai mất nó, là tiêu táng
thòng, là
ô hô ai tai, chính bất cứ ai đó.... ' Cái gọi là 'sầu nhớ xứ', Améry
thú nhận,
ông chẳng muốn sầu với cái xứ sở đặc biệt này - ông dùng một phương ngữ
nói
giùm: 'Khi bạn bị người ta đá đít ra khỏi quán, thì đừng có bao giờ vác
cái mặt
mo trở lại' - thì, như Cioran phán, là một trong những triệu chứng dai
dẳng nhất
của chúng ta, chỉ để mong có được sự yên tâm, không còn sợ nửa đêm có
thằng cha
công an gõ cửa lôi đi biệt tích. 'Tất cả mọi hoài nhớ', ông viết, 'là
một sự vượt
thoát cái hiện tại. Ngay cả dưới hình dạng của sự luyến tiếc, nó vẫn có
cái gì
hung hăng ở trong đó: người ta muốn thọi thật mạnh quá khứ, muốn hành
động theo
kiểu phản hồi, muốn chống cự lại sự bất phản hồi'. Tới mức độ đó, tâm
trạng nhớ
nhà của Améry, hiển nhiên, cùng một dòng với ước muốn xem xét lại lịch
sử].
L'homme a
des endroits de son pauvre coeur qui n'existent pas encore et où la
douleur
entre afin qu'ils soient.
Trái tim
đáng thương của con người có những vùng chưa hề có, cho đến khi đau
thương tiến
vào. Và tạo ra chúng. Léon Bloy.
W.G. Sebald
trích dẫn, làm đề từ cho bài viết "Sự Hối Hận Của Con Tim: Về Hồi Ức và
Sự
Độc Ác trong Tác Phẩm của Peter Weiss", The Remorse of the Heart: On
Memory and Cruelty in the Works of Peter Weis, trong
"Lịch sử tự nhiên về huỷ diệt, On the natural history of
destruction", nhà xb Vintage Canada, Anthea Bell dịch, từ tiếng Đức.


I Remember
W.G. Sebald
The day in
the year
after
the fall of
the
Soviet Empire
I shared a
cabin
on the ferry
to the Hoek
of Holland
with
a lorry
driver
from
Wolverhampton.
He& twenty
others were
taking
super-
annuated trucks
to Russia but
other than that
he had no
idea where
they were heading. The gaffer
was in control &
anyway it
was
an adventure
good money & all
the driver said
smoking a
Golden
Holborn in the upper
bunk before
going to sleep.
I can still
hear
him softly
snoring
through the night,
see him at dawn
climb down
the
ladder: big gut
black underpants,
put on his sweat-
shirt,
baseball
hat, get into
jeans & trainers,
zip up his
plastic
holdall,
rub his stubbled
face with both his
hands ready
for the
journey.
I'll have a
wash in Russia
he said. I
wished
him
the
best of British. He
replied been good
to meet you Max.
Note: Trên tờ Ðiểm
Sách London 16 Oct 2011, có bài viết về cuốn Austerlitz
của
Sebald, của James Wood, thật tuyệt.
Cuốn này thì
cũng “Xưa rồi Diễm ơi”, Sebald thì có thể đầu thai kiếp khác rồi, nhưng
bài viết
thì thật là mới, và có gì liên quan tới câu hỏi, làm thế nào viết sau
Lò Thiêu,
chỉ nội về... văn phong mà thôi?
Dòng ý thức,
độc thoại nội tâm, hậu hậu hậu?
TV sẽ giới thiệu. Gấu cũng mới vớ được 1 cuốn của James Wood, How
Fiction Works trong có bài về ‘dòng ý thức’, thú lắm.
Tính giới thiệu nhân thiên hạ đang lèm bèm về nó.
Có hai Wood, một James, một Michael Wood, đều viết phê bình, và đều nổi
tiếng.
Sebald 2
Tưởng
Niệm 1
Phát
biểu
khi là ông Hàn
Sân
Trường Cũ
IN
MEMORIAM W. G. SEBALD
Sebald, [mi
lại tự thổi rùi], là do TV khám phá ra, với độc giả Mít. Còn nhớ, khi
đó, Gấu bị
một đấng bạn văn VC rất thân, rất quí, và rất đội ơn, mail mắng vốn, Lò
Thiêu thì
mắc mớ gì đến xứ Mít, tại sao anh cứ lải nhải hoài về nó?
Sau này, thì Gấu hiểu
ra, anh bạn mình bị nhột. Và khi giới thiệu S, người Gấu đề tặng là anh
bạn này.
Sebald quả đúng
là 1 típ Ðức tốt, The good
German. Chẳng mắc
mớ gì tới tội ác Lò Thiêu, nhưng không làm sao cư ngụ ở Ðức được, và
đành kiếm
1 xó ở Anh cho qua ngày đoạn tháng. Viết văn bằng tiếng Ðức, nhưng, như
những nhà
phê bình chỉ ra, tiếng Ðức của ông cũng bị lệch pha so với dòng chính,
nước mẹ có coi ông là đứa con thì coi bộ cũng hơi bị kẹt.
Ông viết
về mình, khi được nhà nước đưa vô Văn Miếu:
Một
lần tôi nằm mơ, và cũng như Hebel, tôi có giấc mơ của mình ở trong
thành phố
Paris, ở đó, tôi bị lột mặt nạ, và trơ ra, là một tên phản bội quê nhà,
và một
tên lừa đảo. Nhưng, chính vì những nghi hoặc như thế đó, mà việc nhận
tôi vô
Hàn Lâm Viện thật rất là đáng mừng, nó có vẻ như một nghi thức sửa sai,
phục hồi
mà tôi chưa từng hy vọng.
Chúng
ta chưa có 1 nhà văn nào ở
vào được vị trí của Sebald để mà nhìn vô cuộc chiến, mà chỉ có những...
thiên
tài khùng điên ba trợn, trốn lính, bợ đít VC.
Thê
thảm chẳng kém, chẳng có 1 tên Bắc Kít "tốt" nào như Sebald.
Ðề
tài chủ yếu của những cuốn sách của W.G Sebald
là hồi tưởng: đau đớn làm sao, sống có nó;
nguy nàn làm sao, sống
không có nó, với quốc gia cũng như với cá thể.
You
do not have to be an exile to be perceived as a Nestbeschmutzer (one
who
dirties his own nest) in the German-speaking world - but it helps.
Ðâu
cần phải lưu vong để cảm nhận tâm thức của kẻ ỉa đái vô nhà của mình,
nhưng, quả
là nó có giúp ích!
Vừa mới
đây, Gấu nhận được 1 mail cùa 1 độc giả, nhân đọc TV thấy làm PR cho 1
bài
viết về Sebald trên tờ Ðiểm Sách
London, Gấu thật mừng.
Hóa ra Sbald cũng đã được
độc giả Mít để ý tới:
Chào bác,
Em hâm mộ Sebald nhưng không vào được bài bác nói trên LRB. Bác có thể
vui lòng
đăng bài James Wood viết về Austerlitz
lên Tin Văn được không ạ? Cảm ơn bác.
Một độc giả Tin văn,
Tks. NQT
OUR WORLD
IN MEMORIAM
W. G. SEBALD
I never met
him, I only knew
his books
and the odd photos, as if
picked up in
a secondhand shop, and human
fates found
in a secondhand shop,
and a voice
quietly narrating,
a gaze that
took in so much,
a gaze
turned back,
avoiding
neither fear
nor rapture;
and our
world in his prose, our world, so calm - but
full of
crimes perfectly forgotten,
even in lovely towns
on the coast
of some sea or ocean,
our world
full of empty churches,
rutted with
railroad tracks, scars
of ancient trenches, highways,
cleft by
uncertainty, our blind world
smaller now
by you.
- Adam
Zagajewski (Translated from the Polish by Clare Cavanagh)
NYRB April
29, 2004
Thế giới của
chúng ta
Tưởng niệm
W.G. Sebald
Tôi chưa hề
gặp ông, tôi chỉ biết
những cuốn
sách, và những tấm hình kỳ kỳ của ông, như
nhặt ra
trong một bán sách cũ, và
số phận con
người nhặt ra từ một tiệm đồ cũ
và một giọng
âm thầm kể,
một cái nhìn
nhìn nhìn quá lâu,
một cái nhìn
nhìn lại,
lẩn tránh cả
sợ hãi lẫn sung sướng;
và thế giới
của chúng ta, trong dòng tản văn của ông,
thế giới của
chúng ta, lặng lẽ biết bao, nhưng
đầy những tội
ác đã được hoàn toàn quên lãng,
ngay cả
trong những thành phố đáng yêu
trên bờ biển
hay đại dương nào đó,
thế giới của
chúng ta đầy những nhà thờ trống rỗng
hằn vết đường
xe lửa, vết sẹo
của những
giao thông hào cũ, những đại lộ
rạn nứt bởi
sự hồ nghi, thế giới mù lòa của chúng ta,
bây giờ nhỏ
hẳn đi, do mất ông
Tình cờ Gấu
đọc bản in trong tập thơ Etenal Enemies,
thấy có khác với bản in trên báo
OUR WORD
IN MEMORIAM
W. G. SEBALD
I never
met
him, I only knew
his books
and the odd photos, as if
purchased in
a secondhand shop, and human
fates
discovered secondhand,
and a voice
quietly narrating,
a gaze that
caught so much,
a gaze
turned back,
avoiding
neither fear
nor rapture;
and our
world in his prose,
our world,
so calm- but
full of
crimes perfectly forgotten,
even in
lovely towns
on the coast
of one sea or another,
our world
full of empty churches,
rutted with
railroad tracks, scars
of ancient
trenches, highways,
cleft by
uncertainty, our blind world
smaller now
by you.
IN
MEMORIAM W. G. SEBALD
NOTES
ON A
VOICE: W.G. SEBALD
Gấu biết đến
và tìm đọc Sebald, là do đọc bài viết của Susan Sontag, khen nức nở,
thấu “Giời”
[Trời, tiếng Bắc Kít]. Bà phán, tưởng thứ khủng long này [nhà văn lớn]
tuyệt giống
rồi.
Nhưng Gấu
khám
phá ra 1 Sebald, khác. Với Sontag, là 1 “nhà văn của nhà văn”. Với Gấu,
một “tưởng
niệm gia” của Lò Thiêu, mà ông không hề mắc mớ, thù hận, hay cảm thấy
ân hận,
hay phải sám hối.
The good
German
Absent Jews
and invisible executioners: W. G. Sebald and the Holocaust
WILL SELF
[TLS 22.1.2010]
Note: This
is an edited text of the 2010 Sebald Lecture, which was delivered in
London
earlier this month [Jan, 22, 2010]
Ðây là 1 bài
viết quan trọng về W.G. Sebald. TV sẽ cố gắng
chuyển qua tiếng Việt.
Chúng ta chưa có 1 nhà văn nào ở vào được vị trí
của
Sebald để mà nhìn vô cuộc chiến, mà chỉ có những... thiên tài khùng
điên ba trợn,
trốn lính, bợ đít VC...
Ðề
tài chủ yếu của những cuốn sách của W.G Sebald
là hồi tưởng: đau đớn làm sao, sống có nó;
nguy nàn làm sao, sống
không có nó, với quốc gia cũng như với cá thể.
You
do not have to be an exile to be perceived as a Nestbeschmutzer
(one who
dirties his own nest) in the German-speaking world - but it helps.
Ðâu
cần phải lưu vong để cảm nhận tâm thức của kẻ ỉa đái vô nhà của mình,
nhưng, quả
là nó có giúp ích!
Dans l'herbier de Sebald, les « nervures » du
passé
Discret
maître allemand,
l'écrivain a brutalement disparu en 2001 dans sa retraite anglaise,
laissant
des esquisses d'un projet sur la Corse, récemment éditées.
Par Aliette Armel
L'
image que le peintre Jan
Peter Tripp garde de Max - prénom sous lequel ses amis connaissaient
Winfried
Georg Maximilian Sebald - est celle
d'un «voyageur fatigué sous les ors de la cinquantaine ». La discrétion
était
sa caractéristique première et la mélancolie se lisait sur son visage.
Il se
préservait derrière une moustache drue et de grandes lunettes rondes,
derrière
deux initiales - W. G. - cachant le caractère trop allemand de ses
prénoms. La
célébrité venue, il n'aspirait, disait-il, qu'à« tout abandonner [ ...
] jusqu'à
ce qu'on m'ait oublié et alors peut-être pourrai-je retrouver cette
position où
je serai en mesure de travailler dans mon abri de jardin, sans être
dérangé ».
La banalité de sa mort, le 14 décembre 2001, dans un accident de
voiture, à
proximité de son domicile de Norwich, en Angleterre, semble s'inscrire
dans ce
processus de désagrégation de l'individu dans les accidents de
l'histoire dont
ses livres demeurent les témoins, tout autant que de “l'énigmatique
survivance
de l'écrit”.
Né le 18 mai 1944 à Wertach-im-Allgaü,
village des Alpes bavaroises, Sebald n'accède à la notoriété
internationale
qu'en 1996, lors de la traduction des Émigrants en anglais. Susan
Sontag y voit
le premier signe de « grandeur littéraire» apparu depuis longtemps, et
« le
récit définitif et métaphorique de notre condition» à travers
l'exploration des
traces laissées par le passé et un travail de deuil sur une réalité -
le
nazisme, l'exil juif, l'Holocauste, la destruction des villes - se
dérobant au
langage. Sebald est né dans un monde fuyant sa mémoire. Il ne connaît
son père,
officier de l'armée allemande, qu'en 1947. Lorsqu'il va pour la
première fois à Munich,
il
découvre « quelques bâtiments intacts, et entre ces bâtiments, une
avalanche de
gravats ». Cette vision est pour lui comme une scène originelle. Les
questions
qu'elle lui pose restent sans réponse, même à l'université de Fribourg,
en
Suisse, où il étudie la littérature allemande: “Les images de ce
chapitre
effroyable de notre histoire n'ont jamais véritablement franchi le
seuil de la
conscience nationale”, écrira-t-il. L'Holocauste reste, plus encore,
enfoui
dans le non-dit.
Sebald met à distance la
petite ville de Sonthofen, où ses parents se sont installés en 1952,
son pays
et même sa langue. Il affirme devoir au hasard son installation en
Angleterre, Manchester
d'abord dans
les années 1960, puis, après une tentative de retour en Suisse
alémanique et à Munich, l'université
d'East Anglia
en 1976, et une maison choisie avec sa femme dans un illage. De ce
point
d'observation à l'écart, il se plonge dans l'étude: la littérature
allemande,
romantique tout autant que du XXe siècle (Kafka, Walser, Peter Handke
ou
Wittgenstein), mais aussi l'œuvre de Nabokov ou de Conrad. La
quarantaine
venue, le cadre des monographies universitaires lui semble trop étroit.
Frappé,
au cours d'une recherche, par les croisements infimes mais multiples
entre
l'existence d'un botaniste allemand du XVIIIe siècle - Georg Wilhelm
Steller -
et l'histoire de sa famille, il se lance dans l'écriture poétique à
partir de
ce « rien ». Son premier triptyque de poèmes en prose, D'après
nature, paraît en Allemagne en 1989.
Dès lors, il utilise les
sources et son érudition d'une autre manière. Il prend comme matériau
de
l'écrit tout autant la peinture ancienne que contemporaine, les œuvres
publiées
que les archives, mémoires, lettres et journaux intimes, les
photographies que
les cartes postales. Il arpente l'Europe de l'Est et du Nord en quête
de « ces
nervures de la vie passée» où se croisent les destinées et où se
tissent les
affinités audelà de l'espace et du temps. Cette exploration n'a rien de
systématique: Sebald se décrit comme un “glaneur”, guidé par le hasard,
par
l'émotion que suscitent telle peinture ou telle bribe de texte
résonnant du
passé. « Il développait pas à pas une sorte de métaphysique de
l'histoire,
écrit-il à propos de l'un de ses personnages, et redonnait vie à la
matière du
souuvenir.» Cette quête trouve son expression littéraire dans une forme
libre,
évoquant par certains aspects celle
de Thomas Bernhard, son modèle. Ses phrases épousent les méandres du
récit. Elles semblent
venir d'une autre époque, s'appuyant sur une pratique tombée en
désuétude:
l'hypotaxe, caractérisée par l'abondance des liens de subordination.
Dès Vertiges, paru en Allemagne en 1990, Sebald
architecture
le livre
autour de plusieurs récits, menés sur le mode biographique (Stendhal,
Casanova)
ou de l'autofiction, le personnage du narrateur se confondant avec
celui de
l'auteur. Des photographies en noir et blanc sont intégrées dans le
texte:
elles ont le statut de documents, accréditant la véracité du récit,
même si, de
l'aveu de Sebald, elles ne sont pas toutes authentiques. Ces images
insistent
sur les détails dont fourmille le texte. Elles permettent d'arrêter le
temps de
la lecture de la fiction, portée par la temporalité de la narration,
mais aussi
par le mouvement des digressions et l'exploration des coïncidences.
Les quatre chapitres des Émigrants (1993)
correspondent à la
trajectoire tragique de quatre personnages, Juifs exilés de leur pays
natal,
rencontrant Nabokov à un moment de leur histoire. Une structure plus
complexe
se déploie dans Les Anneaux de Saturne
(1995), illustration du chaos postmoderne: elle suit les étapes d'un
voyage à
pied entrepris par le narrateur sur la côte est de l'Angleterre et le
flux de
ses rêveries. Les caractéristiques d'Austerlitz
(2001) sont plus romanesques: quête des origines jusqu'au camp de
Terezin,
passant par la gare de
Liverpool Street, le quartier de la
Bibliothèque nationale
de France
ou la forteresse de Breendonk. Ces lieux sont sources d'épiphanies,
seules
approches possibles de la vérité selon Sebald.
Des prix consacrent son
œuvre, et il est élu à l'Académie allemande. Mais, en 1997, une série
de conférences
prononcées à Zurich
suscite des commentaires très violents. Il y revient sur l'élément
fondateur de
son écriture, les villes allemandes rasées par les bombardements et le
silence
obstiné des écrivains sur cet événement. Il provoque le soupçon d'«
amalgame
moral» par l'absence de mise en contexte de cet anéantissement. Il fait
face à
la polémique en publiant ces conférences sous le titre De
la destruction, comme un élément de l'histoire naturelle: son
indignation contre « la conspiration du silence» demeure intacte.
Les derniers textes laissés
par Sebald révèlent un projet situé, cette fois, en Méditerranée. Campo Santo évoque les paysages de
Corse, en insistant sur la présence des morts qui y cohabitent avec les
vivants: l'homme discret et mélancolique, l'auteur de la destruction et
de la
mémoire s'est senti lié par une nouvelle coïncidence à cette terre où «
le
royaume des ombres» s'étend jusqu'en plein jour, sans avoir pu mener à
bien
l'entreprise littéraire qu'elle lui aurait inspirée.
VIENNENT DE PARAÎTRE
Campo
Santo,
W. G. SEBALD, traduit de l'allemand
par Patrick Charbonneau et
Sibylle Muller, éd. Actes Sud, 268 p., 21 €.
L’Archéologue
de la mémoire. Conversations
avec W.G. Sebald, édité et préfacé par
Lynne Sharon Swartz, traduit de l'anglais par Delphine Chartier et
Patrick
Charbonneau, éd. Actes Sud, 190 p., 20 €.
W.G.
Sebald. Le Retour de l'auteur,
MARTINE CARRÉ, Presses universitaires de Lyon,
Regards sur l'Allemagne, 2008,320 p., 20 €.
LE
MAGAZINE TÉRAIRE AVRIL
2009 N# 485
*
Lời cảm
tạ khi được vô Hàn
Lâm Viện Đức
W.G. Sebald [1944-2001]
Tôi ra
đời vào năm 1944, tại
Allgau, thành thử có lúc tôi đã không cảm nhận, hoặc hiểu được thế nào
là huỷ
diệt, vào lúc bắt đầu cuộc đời của mình. Lúc này, lúc nọ, khi còn là
một đứa
trẻ, tôi nghe người lớn nói tới một cú, a coup, tôi chẳng có bất cứ một
ý nghĩ,
cú là cái gì. Lần đầu tiên, như ánh lửa ma trơi, cái quá khứ của chúng
tôi đó
bất chợt tóm lấy tôi, theo tôi nghĩ, đó là vào một đêm, vào cuối thập
niên
1960, khi nhà máy cưa ở Platt cháy rụi, mọi người ở ven thành phố đều
túa ra
khỏi nhà để nhìn bó lửa cuồn cuộn tuá lên nền trời đêm. Sau đó, khi đi
học,
phần lớn huỷ diệt mà chúng tôi được biết, là từ những cuộc viễn chinh
của
Alexander Đại Đế và Nã Phá Luân, chứ chẳng phải từ, vỏn vẹn chỉ, muời
lăm năm
quá khứ của chúng tôi đó. Ngay cả ở đại học, tôi hầu như chẳng học được
gì, về
lịch sử vừa mới qua của Đức. Những nghiên cứu Đức vào những năm đó, là
một
ngành học - mù lòa như dã được dự tính, chỉ đạo từ trước, và, như Hebel
sẽ nói
- cưỡi một con ngựa nhợt nhạt (1). Trọn một khoá học mùa đông, chúng
tôi trải
qua bằng cách mân mê Cái Bô Vàng [The Golden Pot] (1), mà chẳng hề một
lần băn
khoăn, về sự liên hệ ở trong đó, rằng, tại làm sao mà một câu chuyện lạ
thường
như vậy lại có thể được viết ra, với tất cả những cấu trúc dàn dựng của
nó như
thế, liền ngay sau một thời kỳ mà xác chết còn ngập những cánh đồng bên
ngoài
Dresden, và trong tnành phố ở bên con sông Elbe đó thì đang xẩy ra nạn
đói, và
bệnh dịch. Chỉ tới khi tới Thụy Sĩ, vào năm 1965, và một năm sau, tới
Anh,
những ý nghĩa của tôi về quê nhà mới bắt đầu được nhen nhúm, từ một
khoảng cách
xa, ở trong đầu của tôi, và những ý nghĩ này, trong vòng 30 năm hơn,
ngày một
lớn rộng, nẩy nở mãi ra. Với tôi trọn một thể chế Cộng Hoà có một điều
không
thực kỳ cục chi chi về nó, như thể một cái gì biết rồi chẳng hề chấm
dứt, a
never-ending déjà vu. Chỉ là một người khách ở đất nước Anh Cát Lợi, và
ở đó
thì cũng vậy, tôi như luôn luôn cảm thấy mình lơ lửng, giữa những ý
nghĩ, những
tình cảm của sự quen thuộc và của dời đổi, bật rễ, không bám trụ được
vào đâu.
Một lần tôi nằm mơ, và cũng như Hebel, tôi có giấc mơ của mình ở trong
thành
phố Paris, ở đó, tôi bị lột mặt nạ, và trơ ra, là một tên phản bội quê
nhà, và
một tên lừa đảo. Nhưng, chính vì những nghi hoặc như thế đó, mà việc
nhận tôi
vô Hàn Lâm Viện thật rất là đáng mừng, nó có vẻ như một nghi thức sửa
sai, phục
hồi mà tôi chưa từng hy vọng.
W.G.
Sebald
Nguyễn
Quốc Trụ dịch [từ bản
tiếng Anh, của Anthea Bell, trong Campo Santo, do Sven Meyer biên tập,
nhà xb
Hamish Hamilton, Penguin Books, 2005]
(1)
Pale Rider: Ám chỉ Thần
Chết
(2) Tác
phẩm của E.T.A
Hoffmann (1814)
*
Viết tệ
như thế, ai đọc?
Tháng
Chạp năm rồi, một người
bạn gửi cho tôi tấm hình trên, kèm một câu, thử viết một cái gì đường
được cho
nó, nếu có thể. Bức hình nằm trên bàn cả mấy tuần, cứ mỗi lần nhìn nó,
là mỗi
lần có cảm giác, hình như nó muốn tránh né tôi, cho tới lúc, lời yêu
cầu của
người bạn, thực sự mà nói, cũng chẳng quá quan trọng, khẩn thiết, trở
thành
nhức nhối. Thế rồi, một ngày đẹp trời Tháng Giêng, ơ kìa, nhìn kìa,
không còn
bức hình nữa!
Thời
gian trôi đi, tôi chẳng
còn nhớ gì về bức hình, cho đến một bữa, chẳng chờ mong, và thật là bất
ngờ, nó
trở lại, lần này cũng kèm theo một lá thư, từ Bonifacio, của Bà
Séraphine
Aquavia, một người mà tôi có trao đổi, liên lạc từ mùa hè trước. Trong
thư, bà
biểu, bà muốn biết tại làm sao lại gửi tấm hình cho bà mà chẳng viết
một tí gì
về nó, trong thư đề ngày 27 Tháng Giêng của tôi.
Bà cho
biết, đó là tấm hình
chụp sân trường cũ ở Porto Vecchio bà đã từng theo học vào thập niên
1930. Vào
thời kỳ đó, bà viết tiếp, Porto Vecchio gần như là một thành phố chết,
ngày này
qua tháng nọ bị dịch sốt rét hành hạ, và bao quanh bởi những đầm lầy
nước mặn,
những bụi còi xanh rậm đến nỗi không thể nào lách qua. Nhiều nhất là
một tháng
một lần, một cái tầu rỉ sét từ Leghorn
tới, chất gỗ sồi lên boong tầu, ngoài bến đò. Ngoài ra, chẳng còn gì,
trừ chuyện
này: mọi thứ, mọi điều, mọi chuyện cứ thế mà ruỗng nát, hư thối, rỉ sét
mãi ra,
như đã từng, từ bao đời bao kiếp.
Luôn
luôn có một sự im lặng
lạ kỳ dọc theo các con phố, kể từ nửa dân cư ở đây chui rúc trong nhà,
ban ngày
ban mặt, run rẩy vì sốt rét, hay ngồi ở bậu cửa, hay ở hành lang, người
vàng
ủng, má hóp lại. Chúng tôi, bà Aquavia viết, những học sinh, cũng chẳng
có gì
để làm, và, lẽ dĩ nhiên, chẳng có một ý nghĩ nào, về sự vô tích sự của
những
cuộc sống của chúng tôi, ở trong một thành phố gần như bị bệnh sốt rét
làm cho
không còn có thể ở được nữa.
Như
những đứa trẻ của những
thành phố khác may mắn hơn, chúng tôi cũng được dậy toán, dậy viết, và
được
nghe kể giai thoại về sự lên ngôi và xuống ngôi của Hoàng Đế Nã Phá
Luân. Thỉnh
thoảng, chúng tôi đưa mắt nhìn qua những cửa sổ, vượt qua bức tường bao
sân
trường, qua màn mầu trắng ở ven đầm nước mặn, quá nữa, tới vùng sáng
run rẩy,
lấp lánh ở bên trên vùng trời biển Tyrrenian Sea.
Ngoài
ra, bà Aquavia kết luận
lá thư, chẳng còn kỷ niệm gì về những ngày đi học ở đó, ngoại trừ, điều
này, về
ông thầy dậy học của chúng tôi, tên là Toussaint Benedetti. Mỗi lần cúi
xuống
nhìn bài viết của tôi, là, y như rằng, ông nói:
"Ce que
tu écris mal,
Séraphine! Comment veux-tu qu’on puisse te lire?"
[How
badly you write,
Séraphine! How do you expect anyone to read it?] (1)
W.G.
Sebald: La cour de
l'ancienne école [Sân trường cũ].
(1)
Phỏng dịch: Hai Lúa viết
sao tệ thế! Làm sao độc giả Tin Văn đọc được?
*
Bạn đọc
thân mến,
Thêm
vào lời chúc mừng Giáng
Sinh, và Năm Mới, là bản dịch bài viết của Sebald.
"Hãy
viết cho đường
được", có thể đó là lời nhắn nhủ lại của ông, qua bài viết thật ngắn
này.
*
Tưởng niệm Sebald
IN
MEMORIAM W. G. SEBALD
Will Self’s
Sebald Lecture
January 28, 2010
As several readers of
Vertigo have mentioned, an “edited” version of Will Self’s January 11,
2010
lecture on W.G. Sebald has been published in the Times Online. Self touches
on
several of Sebald’s books and a cast of characters that includes Woody
Allen,
Albert Speer, Alexander Kluge,Bernhard Schlink, Hannah Arendt, and many
others. It’s a complex, dense, thoughtful, broad ranging and
controversial speech that is definitely worth reading. Here are a
few
quotes:
Sebald is rightly seen as
the non-Jewish German writer who through his works did most to mourn
the murder
of the Jews.
To read Sebald is to be
confronted with European history not as an ideologically determined
diachronic
phenomenon – as proposed by Hegelians and Spenglerians alike – nor as a
synchronic one to be subjected to Baudrillard’s postmodern analysis.
Rather,
for Sebald, history is a palimpsest, the meaning of which can only be
divined
by rubbing away a little bit here, adding on some over there, and then
– most
importantly – stepping back to allow for a synoptic view that remains
inherently suspect.
In England,
Sebald’s one-time presence among us
– even if we would never be so crass as to think this, let alone
articulate it
– is registered as further confirmation that we won, and won because of
our
righteousness, our liberality, our inclusiveness and our tolerance.
Where else
could the Good German have sprouted so readily?