Thảo Trường
Thanh Tâm Tuyền,
Thanh Tâm
Tuyền,
Thanh Tâm
Tuyền.
[Ghi
chép 4]
Vào những
năm
1958-1961 tôi sống ở Huế. Từ thành phố tới chỗ tôi ở phải “qua một
chiếc cầu
lên một cái dốc”, căn nhà khoảng giữa Chùa Từ Đàm và Đàn Nam Giao, nơi
đó, đêm
đêm tôi viết những truyện ngắn, gửi cho ông Mai Thảo đăng trên tạp chí
Sáng
Tạo. Cũng vì có liên hệ như thế nên mỗi khi vào Sàigòn, tôi thường lui
tới tòa
soạn Sáng Tạo số 29 đường Ký Con, Quận 1, ở
đó tôi có dịp gặp các vị trong bộ biên tập do ông
Mai Thảo giới thiệu
như: Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp,
Nguyễn Sĩ
Tế, Quách Thoại, Tô Thùy Yên và… Thanh Tâm Tuyền.
Trong
bản tuyên ngôn “Văn nghệ là vận động biện chứng của
hủy diệt và sáng tạo” của nhóm Sáng Tạo đưa ra chủ trương “Phủ nhận văn
nghệ
tiền chiến”, thì tôi nghĩ là không thể phủ nhận được, vì “văn nghệ tiền
chiến”
có vai trò và sứ mệnh đã hoàn thành của thời kỳ đó. Giá trị của “văn
nghệ tiền
chiến” đã ghi lại trong văn học sử Việt Nam. Chính thể cộng sản ở
miền Bắc
cũng đã từng có chủ trương xóa bỏ những giá trị “văn nghệ tiền chiến”
nhưng họ
đã không làm nổi, thì há gì nhóm Sáng Tạo là những người đã từ bỏ cái
chính thể
lầm lẫn đó di cư vào Miền Nam
lại chủ trương “phủ nhận”?
Nhưng
đối với tôi, các vị ấy đều đã để lại trong tôi những
dấu ấn đặc biệt, bằng họa phẩm, thơ, truyện ngắn, tùy bút, hay biên
khảo…
Thí
dụ như: “Quán Cháo Lú” của Vũ Khắc Khoan, “Hạt Ba Dăng
Của Niêm” của Mai Trung Tĩnh, “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống” của
Dương Nghiễm
Mậu, “Cánh Đồng, Con Ngựa, Chuyến Tầu” của Tô Thùy Yên, “Dòng Sông Định
Mệnh”
của Doãn Quốc Sĩ, “Trắng Chiều” của Nguyễn Sĩ Tế, kịch bản “Bão Thời
Đại” của
Trần Lê Nguyễn… v…v… nhiều lắm.
Những
thơ văn của các vị ấy đã kích thích tôi trong công
việc sáng tác. Đọc những tác phẩm của họ tôi bèn muốn viết một cái gì
đó của
tôi.
Riêng
với Thanh Tâm Tuyền, bài thơ Budapest
mà tôi đọc được, đã trụ lại trong
tôi suốt từ bấy đến nay. Biến cố bi thảm ở Budapest năm 1956 mà truyền thông
khắp thế
giới đã nói đến rất nhiều bằng những từ ngữ rất mạnh mẽ, thì nhà thơ
của chúng
ta đã chỉ dùng hình ảnh của đôi trẻ để mô tả cuộc đàn áp dã man tàn
nhẫn đó.
Mấy câu thơ giản dị đã gây xúc động và còn lại mãi trong lòng người
thưởng
ngoạn. Xin đừng hỏi tôi bài thơ ấy hay ở chỗ nào. Chịu. Xin chịu. Tôi
không có
may mắn được đào tạo về những lý sự thế nào là hay thế nào là không hay
và điều
đó cũng đã thành thói quen trong tôi. Cho nên tôi chỉ cần thấy được cái
nào hay
là đủ. Rồi về sau, nhiều lúc, nhiều nơi (kể cả ở nhà tù) tôi đã gặp
nhiều người
cũng rất thích bài thơ đó. Có ai đó đọc lên một câu liền có người khác
phụ họa
theo, chứng tỏ bài thơ rất phổ biến.
“Hãy
cho tôi khóc bằng mắt em,
Những
cuộc tình duyên Budapest
Hãy
cho tôi chết bằng da em,
Dưới dây xích chiến
xa tội nghiệp…”
Tôi
chợt nhớ tới bài khóc Xít ta lin. Người nghệ sĩ tự do
chân chính khóc cho tình yêu bị thảm tử vì bạo lực đàn áp. Kẻ mưu đồ
chính trị
vật vã khóc tên đồ tể. Một bên “Hãy cho tôi khóc bằng mắt em, những
cuộc tình
duyên Budapest…”.
Một đằng “Hỡi ôi! ông mất có trời đất không, thương cha thương mẹ
thương chồng,
thương mình thương một thương ông thương mười! Ông Xít ta lin ơi!...”
Sau
này tôi có dịp gặp Thanh Tâm Tuyền thường xuyên ở nhật
báo Tiền Tuyến. Hồi đó tôi đã chuyển về Saigon,
có viết truyện dài “Bà Phi” và thỉnh thoảng “đi” một bài tạp ghi cho Ký
giả Lô
Răng. Thanh Tâm Tuyền cũng từ một đơn vị bộ binh chuyển về làm trong
ban biên
tập. Có một lúc Phan Lạc Phúc phải đi học tham mưu gì đó, Thanh Tâm
Tuyền phải
lãnh thêm cái mục tạp ghi và mỗi ngày ông phải “cầy” thêm một bài báo
nữa, và
tôi cũng lai rai mỗi tuần “đi” đỡ cho ông một quả. Ký giả Ba Tê [TTT]
thay cho
Ký giả Lô Răng. Dưới bài tôi viết, ông Ba Tê nói đùa, sao không ghi là
“Hai Tê”
[TT]. Nhưng tôi vẫn giữ cái bút hiệu Cơ Hảo đã dùng quen bên tuần báo
Diều Hâu
mục “Một Tuần Sấp Ngửa”.
Chữ “sấp ngửa” cũng
do Thanh Tâm Tuyền gợi ý cho tôi đặt tên mục phiếm luận này.
Chúng
tôi gặp lại nhau trong trại tù rừng núi Âu Lâu, Yên Bái.
Tôi từ trong Nam chuyển ra bằng tầu thủy, bằng xe lửa và xe vận tải mất
gần
mười ngày, đến trại ban đêm, sáng ra có họa sĩ Nguyễn Thuyên đến dẫn
tôi sang
lán kế bên gặp Thanh Tâm Tuyền. Chúng tôi cười xòa tập hút thuốc lào và
tán gẫu
chuyện đời. Thanh Tâm Tuyền cho tôi một
ít thuốc ký ninh chống sốt rét và căn dặn tôi phải hết sức phòng bệnh:
muỗi
rừng và nước độc! Trong khi ấy họa sĩ Nguyễn Thuyên lấy giấy và bút chì
vẽ luôn
cho tôi mấy bức chân dung ngay khi tôi ngồi trên sạp nứa chỗ ngủ của
Thanh Tâm
Tuyền.
Những
bức vẽ này tôi đã cất giấu và sau đó tôi đã chuyền cho
chị ruột tôi lên thăm đem về chuyển cho gia đình tôi ở Mỹ (đã in trong
tập
truyện TTTTBTG).
Mấy
năm sau ở Vĩnh Phú, nhưng mỗi người mỗi trại giam khác
nhau, chỉ thỉnh thoảng có tin tức nhau qua những bạn tù. Tôi nhận được
mấy câu
thơ của Thanh Tâm Tuyền vịnh củ sắn sống. Thời gian này tù binh bị bỏ
đói, sức
tàn lực kiệt, nhiều anh em đã bị chết, chôn kín cả sườn đồi gần trại,
cho nên
có khi kiếm được củ sắn sống tù binh cũng dấu đi ăn cho dạ dày bớt thèm
thuồng.
Lạ
lắm, củ sắn bóc lớp vỏ ngoài để lộ ra một thân hình tròn
lẳn, trắng tinh, trắng muốt, trắng như không có gì trắng thế, mịn như
không có
gì mịn thế, xinh đẹp như không có gì xinh đẹp thế, gợi cảm như không có
gì gợi
cảm thế, hấp dẫn như không có gì từng hấp dẫn đến thế… Nhưng sắn sống
có nhiều
độc tố, bập vào là say. Trắng trẻo, xinh đẹp, nõn nà… dễ làm cho anh
hùng gục
ngã! Loại sắn vỏ màu hồng nhạt (gọi là sắn tầu) thì còn có thể nhưng
phải ngâm
nước rồi luộc kỹ thải chất độc ra mới có thể ăn được, nhưng loại sắn kỹ
nghệ vỏ
trắng (chắc là sắn…mỹ) thì tuyệt đối không ăn được.
Say
sắn cũng lắm chuyện kinh hoàng. Ăn vào chỉ ít phút sau là
ói mửa ra “mật xanh mật vàng”, tiêu chảy, người sẽ gầy rộc đi, mắt sâu
hoắm.
Cũng không đến nỗi chết ngay, nhưng từ đó mất sức dễ bị các chứng bệnh
hiểm
nghèo. Tôi đã thấy một ông trung tá liên đoàn trưởng biệt động quân,
cùng khóa
6 sĩ quan trừ bị với tôi đã bỏ mình vì say sắn ở K1 Vĩnh Phú.
Núi
rừng Việt Bắc còn có nấm độc, trái vải guốc, cũng gây
ngộ độc chết người. Ăn nhầm mấy thứ này người ta thường vặt một nắm lá
nhớt như
lá khoai lang bỏ miệng nhai nuốt tí nước cho buồn nôn tống ra hết những
thứ trong
dạ dày để giảm thiểu chất độc trong người.
Củ
sắn ghê gớm. Nó bao vây trùng trùng điệp điệp các trại
tù. Nó chất chứa trong các kho nhà bếp dưới dạng sắn sống, sắn khô (còn
gọi là
sắn nút chai), sắn “dui” (không rõ ý nghĩa cái tên này). Nó bám trụ
trong bao
tử, trong cơ thể tù binh. Không ăn nó thì đói, nuốt nó vào thực quản
nóng ran
và dưới hai màng tang mỗi tù binh nổi lên hai cục trông như hai cái bứu
nhỏ,
hai cái bứu này chỉ mất đi sau cả tháng không ăn sắn nữa. Hàng triệu tù
binh
miền nam, kẻ nào lỡ sống sót sau tù đày, ít ra cũng phải hội nhập chung
vào với
cả một thế hệ còi cọc miền bắc, để công cuộc thống nhất đất nước mang
trọn vẹn
ý nghĩa của nó! Trước cái đói ngơ ngác chết người đang đe dọa và hình
tượng củ
sắn chiến lược xã hội chủ nghĩa “vĩ mô” như thế, nhưng thi sĩ của chúng
ta vẫn
bình thản mô tả nó một cách lạnh lùng, có pha chút lãng mạn bỡn cợt:
“Thoát
xiêm y, trắng nõn nà,
Lửa
lòng bốc cháy ai mà chẳng say”…
*
Năm
1993 tôi tới Mỹ, Thanh Tâm Tuyền từ Minnesota gửi tặng
tôi tập thơ “Thơ Ở Đâu Xa”, chúng tôi có vài lần nói chuyện với nhau
qua điện
thoại, và mỗi khi in được một tập truyện tôi cũng đều gửi tặng Thanh
Tâm Tuyền,
nhưng suốt mười mấy năm nay chúng tôi chưa được gặp lại nhau lần nào.
Nay nghe
tin nhà thơ đã ra đi, cũng chẳng phải bất ngờ vì đó là điều tất nhiên
cho tất
cả mọi người, vả lại chúng tôi cũng đã thất thập, Thanh Tâm Tuyền còn
lớn hơn
tôi 1 tuổi, nhưng tin nhà thơ mà mình quí trọng đã vĩnh viễn từ giã cõi
đời
cũng làm cho tôi ngậm ngùi khôn tả.
Thanh
Tâm Tuyền là người điềm đạm, trầm ngâm, ít nói, khi
nói thì nói chậm rãi. Tôi và ông chưa hề bao giờ “mày tao”, chỉ đôi lần
vui
chuyện ông dùng chữ “cậu cậu tớ tớ” là đã thân thiết lắm rồi. Khi nói
chuyện
cũng như khi viết, Thanh Tâm Tuyền dùng
chữ rất chuẩn xác. Tôi chưa thấy bao giờ ông hô hoán hay dùng những chữ
kích
động, nhưng cách nói bình thản của ông lại đem đến những hình ảnh gợi
cảm.
Thơ
văn của Thanh Tâm Tuyền đã xuất bản phổ biến, nhưng hình
như câu thơ vịnh củ sắn thì tôi chưa thấy in trong tác phẩm nào của ông.
Tôi
nghĩ chế độ cộng sản chỉ giam giữ và bỏ đói được ông đại
úy Dzư văn Tâm, họ không, và không bao giờ, bỏ tù được thi sĩ Thanh Tâm
Tuyền.
Thi sĩ đã nhìn củ sắn độc trồng lền khên khắp núi đồi xung quanh trại
giam bằng
cái nhìn của ca dao, bằng cái nhìn của thi ca, bằng cái nhìn riêng của
thi sĩ,
mà không anh cai tù cộng sản nào nhìn thấy được. Cộng sản ở Liên Xô,
cộng sản ở Budapest,
cộng
sản ở Âu lâu - Vĩnh phú, hay cộng sản ở bộ chính trị…
chẳng thể làm gì được thi sĩ .
Họ
cũng không được phép xách dép cho nhà thơ tự do.
Vậy.
Hôm nay. Chúng ta họp mặt ở đây để tỏ lòng quí
trọng thi sĩ của chúng ta.
Thảo Trường
[Bài
tưởng niệm này sẽ đọc trong ngày nhớ nhà thơ tại Tiểu Sài
Gòn, sắp tới, trong tháng này].