ELEGY FOR A PARK
The
labyrinth has vanished. Vanished also
those orderly avenues of eucalyptus,
the summer awnings, and the watchful eye
of the ever-seeing mirror, duplicating
every expression on every human face,
everything brief and fleeting. The stopped clock,
the ingrown tangle of the honeysuckle,
the garden arbor with its whimsical statues,
the other side of evening, the trill of birds,
the mirador, the lazy swish of a fountain,
are all things of the past. Things of what past?
If there were no beginning, nor imminent ending,
if lying in store for us is an infinity
of white days alternating with black nights,
we are living now the past we will become.
We are time itself, the indivisible river.
We are Uxmal and Carthage, we are the perished
walls of the Romans and the vanished park,
the vanished park these lines commemorate.
-A.R.
J.L. Borges: Poems of the Night
If
Tristes Tropiques is, therefore, among the first
classics of the current ecological anguish, it is also much more, being,
in the final analysis, a moral-metaphysical allegory of human failure.
It looks forward with haughty melancholy to the image of the globe–cooling,
emptied of man, cleansed of his garbage-that appears in the coda of Mythologiques.
There is melodrama in this anticipation and a touch of pomp (it is
beautifully right that the chair Levi-Strauss will in a few weeks occupy
at the French Academy should be that of Montherlant). But there is also
a profound, authentic sorrow. "Anthropology," says Levi-Strauss in concluding
Tristes Tropiques, can now be seen as "entropology": the study of man
has become the study of disintegration and certain extinction. There
is no darker pun in modern literature.
June 3,
1974
Steiner:
The Lost Garden (on Levi-Strauss)
Những
dòng Steiner vinh danh Levi-Strauss, Khu Vườn Đã Mất,
cùng bài thơ của Borges, Bi Khúc dành
cho công viên, được lôi ra ở đây, là
để vinh danh Quán Chùa: Nghiên cứu con người trở thành
nghiên cứu 1 sự phân hủy, và tiệt giống: Quán
Chùa
Cuốn trên,
sách gối đầu của GCC, Cô Út đem làm từ thiện,
đành phải order cuốn mới, mới về.
Đã
giới thiệu vài bài rồi.
Tuyệt nhất, là bài về Simone Weil, được vị bằng
hữu O. dịch.
Tks
Trang Simone Weil
Co ai "noi nang" chi may bai cua Weil khg vay?
Khg biet co ai kien nhan doc?
Phúc đáp:
Cần gì ai đọc!
Tks. Take care. NQT
*
Date: Tuesday, March 31,
2009, 5:05 PM
Bac viet phach loi nhu the nay - ky qua...
*
Thi phai phach loi nhu vay, gia roi.
*
Gia roi phai hien ma chet!
Đa tạ.
Nhưng, phách lối, còn thua xa thầy
S: Ta là bọ chét!
Phỏng Vấn Steiner
Tuy cũng thuộc băng đảng thực
dân [mới, so với cũ, là Tẩy], nhưng
quả là Sontag không đọc ra, chỉ ý
này, của Steiner, trong Bad Friday:
For Weil, the
"crimes" of colonialism related immediately, in both religious and political
symmetry, to the degradation of the homeland.
Với Weil, những “tội ác”
của chủ nghĩa thực dân có hồi đáp liền tù
tì theo kiểu đối xứng, cả về tôn giáo và
chính trị, với sự thoái hóa ở nơi quê nhà,
tức “mẫu quốc”.
Nhưng Bắc Kít, giả như
có đọc Weil, thì cũng thua thôi, ngay cả ở những
đấng cực tinh anh, là vì nửa bộ óc của chúng
bị liệt, đây là sự thực hiển nhiên, đừng nghĩ là
Gấu cường điệu. Chúng làm sao nghĩ chúng cũng chỉ
1 thứ thực dân, khi ăn cướp Miền Nam, vì chúng biểu
là nhà của chúng, vì cũng vẫn nước Mít,
tại làm sao mà nói là chúng ông
ăn cướp được.
Chúng còn nhơ bẩn
hơn cả tụi Tẩy mũi lõ, tụi Yankee mũi lõ.
Một
năm nhìn lại!
Thế mới thấy, suốt
40 năm gian dối, xuyên tạc, dựng việc, dựng nhân vât...
bóp méo lịch sử chỉ để ca ngợi một nhóm người, một
tổ chức... đề rồi hôm nay ta nhận được quả đại bác bắn thẳng vào.
Chỉ là mới bộ Giáo dục nhận trước phát đầu thôi,
còn nhiều phát nữa. Vậy mới thấy "vải thưa che mắt thánh",
sự thật muôn đời vẫn là sự thật!
Bộ Giáo dục và Đào tạo
cho biết sẽ tích hợp môn…
Steiner còn bài
“Thánh Simone-Simone Weil”, trên TV cũng đã giới
thiệu.
For Weil, the "crimes" of colonialism
related immediately, in both religious and political symmetry, to the
degradation of the homeland. Time and again, a Weil aphorism, a marginalium
to a classical or scriptural passage, cuts to the heart of a dilemma
too often masked by cant or taboo. She did not flinch from contradiction,
from the insoluble. She believed that contradiction "experienced right
to the depths of one's being means spiritual laceration, it means the
Cross." Without which "cruciality" theological debates and philosophic
postulates are academic gossip. To take seriously, existentially, the question
of the significance of human life and death on a bestialized, wasted planet,
to inquire into the worth or futility of political action and social design
is not merely to risk personal health or the solace of common love: it
is to endanger reason itself. The two individuals who have in our time
not only taught or written or generated conceptually philosophic summonses
of the very first rank but lived them, in pain, in self-punishment, in rejection
of their Judaism, are Ludwig Wittgenstein and Simone Weil. At how very many
points they walked in the same lit shadows.
Đối với Simone Weil, những “tội ác”
của chủ nghĩa thực dân thì liền lập tức mắc míu
tới băng hoại, thoái hóa, cả về mặt tôn giáo
lẫn chính trị ở nơi quê nhà. Nhiều lần, một Weil lập
ngôn – những lập ngôn này dù được trích ra từ văn chương
cổ điển hay kinh thánh, thì đều như mũi dao - cắt tới
tim vấn nạn, thứ thường xuyên che đậy bằng đạo đức giả, cấm kỵ.
Bà không chùn bước trước mâu thuẫn, điều không
sao giải quyết. Bà tin rằng, mâu thuẫn là ‘kinh nghiệm
những khoảng sâu thăm thẳm của kiếp người, và, kiếp người
là một cõi xé lòng, và, đây là
Thập Giá”. Nếu không ‘rốt ráo’ đến như thế, thì,
những cuộc thảo luận thần học, những định đề triết học chỉ là ba
trò tầm phào giữa đám khoa bảng. Nghiêm túc
mà nói, sống chết mà bàn, câu hỏi về ý
nghĩa đời người và cái chết trên hành tinh thú
vật hóa, huỷ hoại hoá, đòi hỏi về đáng hay
không đáng, một hành động chính trị hay một
phác thảo xã hội, những tra vấn đòi hỏi như vậy không
chỉ gây rủi ro cho sức khoẻ cá nhân, cho sự khuây
khoả của một tình yêu chung, mà nó còn
gây họa cho chính cái gọi là lý lẽ.
Chỉ
có hai người trong thời đại chúng ta, hai người này
không chỉ nói, viết, hay đề ra những thảo luận triết học
mang tính khái niệm ở đẳng cấp số 1, nhưng đều sống chúng, trong đau đớn,
tự trừng phạt chính họ, trong sự từ bỏ niềm tin Do Thái
giáo của họ, đó là Ludwig Wittgenstein và Simone
Weil. Đó là vì sao, ở rất nhiều điểm, họ cùng
bước trong những khoảng tối tù mù như nhau.
Le poète intraitable
Il ne peut toutefois adhérer
au marxisme: la lecture de Simone Weil (qu'il traduit en polonais)
a joué à cet égard un rôle capital dans son
évolution intellectuelle. Elle aura été la première
à dévoiler la contradiction dans les termes que représente
le « matérialisme dialectique ». Pour une pensée
intégralement matérialiste (comme celle d'Engels), l'histoire
est le produit de forces entièrement étrangères à
l'individu, et l'avènement de la société communiste,
une conséquence logique de l'histoire; la liberté n'y a aucune
place. En y introduisant la « dialectique ", Marx réaffirme
que l'action des individus est malgré tout nécessaire pour
qu'advienne la société idéale: mais cette notion amène
avec elle l'idéalisme hégélien et contredit à
elle seule le matélialisme. C'est cette contradiction qui va conduire
les sociétés « socialistes" à tenir l'individu
pour quantité négligeable tout en exigeant de lui qu'il adhère
au sens supposé inéluctable de l'histoire. Mais la philosophie
de Simone Weil apporte plus encore à Milosz que cette critique:
elle lui livre les clés d'une anthropologie chrétienne qui,
prolongeant Pascal, décrit l'homme comme écartelé
entre la « pesanteur" et la « grâce ".
Nhà thơ không làm
sao “xử lý” được.
Tuy nhiên, ông không
thể vô Mác Xít: Việc ông đọc Simone Weil
[mà ông dịch qua tiếng Ba Lan] đã đóng 1
vai trò chủ yếu trong sự tiến hóa trí thức của
ông. Bà là người đầu tiên vén màn
cho thấy sự mâu thuẫn trong những thuật ngữ mà chủ nghĩa
duy vật biện chứng đề ra. Ðối với một tư tưởng toàn-duy vật
[như của Engels], lịch sử là sản phẩm của những sức mạnh hoàn
toàn xa lạ với 1 cá nhân con người, và cùng
với sự lên ngôi của xã hội Cộng Sản, một hậu quả hữu
lý của lịch sử; tự do chẳng hề có chỗ ở trong đó.
Khi đưa ra cái từ “biện chứng”, Marx tái khẳng định hành
động của những cá nhân dù bất cứ thế nào thì
đều cần thiết để đi đến xã hội lý tưởng: nhưng quan niệm
này kéo theo cùng với nó, chủ nghĩa lý
tưởng của Hegel, và chỉ nội nó đã chửi bố chủ nghĩa
duy vật. Chính mâu thuẫn này dẫn tới sự kiện, những
xã hội “xã hội chủ nghĩa” coi cá nhân như là
thành phần chẳng đáng kể, bọt bèo của lịch sử, [như
thực tế cho thấy], trong khi đòi hỏi ở cá nhân, phải
tất yếu bọt bèo như thế. Nhưng triết học của Simone Weil đem đến
cho Milosz quá cả nền phê bình đó: Bà
đem đến cho ông những chiếc chìa khoá của một nhân
bản học Ky Tô, mà, kéo dài Pascal, diễn tả con
người như bị chia xé giữa “trọng lực” và “ân sủng”.
Chúng ta phải coi cái
đẹp như là trung gian giữa cái cần và cái
tốt (mediation between necessity and the good), giữa trầm trọng và
ân sủng (gravity and grace). Milosz cố triển khai tư tưởng này
[của Weil], trong tác phẩm “Sự Nắm
Bắt Quyền Lực”, tiếp theo “Cầm Tưởng”. Đây là một cuốn tiểu
thuyết viết hối hả, với ý định cho tham dự một cuộc thi văn chương,
nghĩa là vì tiền, và cuối cùng đã
đoạt giải! Viết hối hả, vậy mà chiếm giải, nhưng thật khó
mà coi đây là một tuyệt phẩm. Ngay chính tác
giả cũng vờ nó đi, khi viết Lịch Sử Văn Học Ba Lan. Tuy nhiên,
đây là câu chuyện của thế kỷ. Nhân vật chính
của cuốn tiểu thuyết tìm cách vượt biên giới Nga,
để sống dưới chế độ Nazi, như Milosz đã từng làm như vậy.