Lý thuyết phê bình | Tác giả Việt | Tác giả ngoại | Tác giả & Tác phẩm | Tạp ghi | Text  Scan | Tin văn vắn | Thời sự văn học |
Thư tín | Phỏng vấn | Phỏng vấn dởm | Phỏng vấn ngắn
Giai thoại | Potin | Linh tinh | Thống kê | Viết ngắn | Tiểu thuyết | Lướt Tin Văn Cũ |  Kỷ niệm | Thời Sự Hình | Gọi Người Đã Chết
  Ghi chú trong ngày | Thơ Mỗi Ngày | Nhật Ký | Chân Dung | Jennifer Video 




Sept 17 2013

SN 16.8.2013

Có phải em là mùa Thu Hà Nội
Nghìn năm sau, ta níu áo em, về!
  (1)



Remembering Seamus Heaney

SH interview

What is your own apology for poetry? What is poetry good for?

To quote my friend Derek Ma­hon, they keep the colors new. They rinse things
[Mi làm phiền ta quá. Kiếp trước mi đúng là con đỉa. Mi có lời xin lỗi như thế nào, đối với ta? Ta đẹp ở chỗ nào?
Tôi xin trích dẫn bạn tôi: Thơ làm sắc màu luôn tươi rói. Thơ kỳ cọ đời... ]
.

SEAMUS HEANEY'S SEVEN WONDERS

CITY St Petersburg 

I’ve only been to St Petersburg once, about ten years ago. I was interested in it because I’d been reading the poets Mandelstam and Akhmatova, both of whom lived there. It’s a city of beautiful perspectives, with a great sense of the survival of the siege [of Leningrad, 1941-44], and of course there are literary associations at every turn. There’s the so-called "Dostoyevsky area", and the Nevsky Prospect. Mandelstam wrote a poem about the Admiralty Building, and Pushkin wrote one about the bronze statue of St Peter the Great. We visited Joseph Brodsky’s apartment. We’d known him in America, and he’d written about this Soviet "room-and-a-half" where he grew up. We met a friend of his there who’d photographed him on the day of his exile. He’d made a cake, and there was vodka, and we had a little ceremony in memory of Joseph.

Tôi thăm St Peterbug một lần, cách đây 10 năm. Tôi quan tâm tới nó, bởi là vì tôi đọc những nhà thơ Mandelstam và Akhmatova, cả hai sống ở đó. Đó là 1 thành phố với những viễn tượng đẹp, với một cảm quan/ý nghĩa lớn, về sống sót cuộc vây hãm, khi còn với cái tên là Leningrad, 1941-44, và, lẽ dĩ nhiên, với những hội hè, hội ngộ, kết giao văn chương, ở mọi ngõ ngách, bước ngoặt, ở đó. Có cái gọi là “góc Dos” [chắc giống “góc Sài Gòn”, “góc Hà Nội”, “góc Thảo Trường”…  của TV], và “Toàn Cảnh Nevsky”. Mandelstam đã từng đi 1 bài thơ về tòa nhà Admiralty Building, và Pushkin, một bài, về pho tượng đồng St Peter Đại Đế.
Chúng tôi thăm căn phòng của Brodsky. Chúng tôi quen biết ông ở Mẽo, và ông đã từng viết về “căn phòng rưỡi” Xô Viết này, nơi ông lớn lên. Chúng tôi gặp 1 ông bạn của ông ở đó, người đã từng đi 1 pô hình, chụp ông, ngày bị nhà nước VC Liên Xô tống đi lưu vong.
Ông bạn này nướng 1 cái bánh, và, kèm thêm 1 chai vốc ka, chúng tôi làm một cái tiệc nho nhỏ, tưởng nhớ nhà thơ Joseph của chúng tôi.

Trong căn phòng rưỡi
Joseph Brodsky
*

K vừa đưa bài Trong Căn Phòng Rưỡi, và bài thơ Gởi Con Gái Tôi do anh dịch của Brodsky lên a2a . Đồng thời K link vào bài phim Room and A Half, nói tiếng Nga, xem cho vui .
Như một món quà SN .

THE ESSAYS OF JOSEPH BRODSKY

In 1986 Joseph Brodsky published Less Than One, a book of essays. Some of the essays were translated from the Russian, others he wrote directly in English. In two cases the English matrix had a symbolic importance to him: in a heartfelt homage to W H. Auden, who did much to smooth his path for him when he quit Russia in 1972, and whom he regarded as the greatest poet in English of the century; and in his memoir of his parents, whom he had to leave behind in Leningrad, and who, despite repeated petitions to the Soviet-era authorities, were never granted permission to visit him. He chose English, he explained, to honor them in a language of freedom.
Coetzee

Năm 1986, Brodsky cho xb một tuyển tập tiểu luận Less Than One. Một số, dịch từ tiếng Nga, số khác, ông viết thẳng bằng tiếng Anh. Trong hai trường hợp, “ma trận Anh” có 1 sự quan trọng mang tính biểu tượng đối với ông: Bài tôn vinh cảm động, dành cho nhà thơ Anh W.H. Auden, người đã làm cho cuộc bỏ nước ra đi và sống lưu vong nơi xứ người trở nên bớt nặng nề, và, với ông, là nhà thơ vĩ đại nhất của dòng thơ tiếng Anh của thế kỷ; bài viết về bố mẹ và thời gian sống cùng hai bậc sinh thành trong căn phòng rưỡi ở Moscow, thời kỳ Xô Viết, là để vinh danh bố mẹ bằng 1 thứ ngôn ngữ của tự do.



Ghi chú trong ngày

*

Lê Quốc Quân vs VC


Les dissidents contre-attaquent

Lực Lượng Ly Khai Phản Công

LÊ QUÔC QUÂN (VIETNAM, 42 ANS) L’AVOCAT DES DROITS DE L'HOMME

Depuis décembre 2012, l'avocat et blogueur croupit avec une douzaine de détenus dans une cellule de la prison numéro1 de Hanoi, officiellement accusé d'«évasion fiscale ». Il a été arrêté neuf jours après la publication par la BBC d'un article dans lequel il proposait d'amender la Constitution - notamment l'article 4, qui fait du Parti communiste le centre de la vie nationale. Ce qui livre la véritable raison de son arrestation et de son maintien en détention au-delà des quatre mois théoriquement requis pour l'instruction. Fondateur d'un cabinet d'avocats spécialisé dans la défense des droits de l'homme, Lê Quôc Quân, qui n'a plus le droit d'exercer son métier depuis six ans, a déjà été arrêté en 2007, au retour d'un séjour aux Etats-Unis. Libéré trois mois plus tard, en raison des protestations au Vietnam et à l'étranger, il a repris son activite de blogueur, réclamant le pluralisme politique, le respect des droits de l'homme et de la liberté religieuse. Sans cesser d'être surveillé. Avec un rappel à l'ordre sous forme de passage à tabac. Dans un pays qui vient de renforcer son arsenal répressif contre l'usage politique des réseaux sociaux, Lê Quôc Quân est l'un des 35 blogueurs emprisonnés et des 7 avocats interdits de plaidoirie. Originellement fixé au 9 juillet, son procès a été reporté à une date indeterminée. Désormais connu dans le monde entier, Lê Quôc Quân est menacé d'une peine de trois à sept ans de prison. R. B.

Từ Tháng Chạp 2012, luật sư kiêm "bốc g[x]ơ", cùng hơn chục người khác, bị nhét vô 1 xà lim ở nhà tù số 1 ở  Hà Nội. Cái mũ chính thức VC nhét vô đầu ông, "trốn thuế". Ông bị bắt, 9 ngày sau khi cho công bố trên BBC một bài viết trong đó ông đề nghị VC huỷ bỏ hiến pháp, nếu chưa được, thì ngay lập tức, thiến mẹ điều số 4, trong đó ban cho Đảng VC cái quyền là rốn của vũ trụ Mít. Đó là lý do thực sự của vụ bắt giữ ông, và ông bị giam giữ quá 4 tháng, thời gian tối đa bị giam giữ để điều tra!
Là luật sư, chủ văn phòng một cửa tiệm chuyên cãi cho quyền con người, ông mất mẹ quyền này, đã sáu năm, và bị bắt vào năm 2007, sau khi đi giang hồ vặt ở Mẽo về. Được thả, ba tháng sau đó, do áp lực từ những phản đối ở trong nước cũng như ở hải ngoại, ông gia nhập hàng ngũ blốc-gơ, đòi đa nguyên chính trị, tôn trọng quyền con người, từng cá nhân con người, tự do tôn giáo. Thường trực được Đảng theo dõi, lấy lý do bảo đảm an ninh trật tự cho đất nước, tránh hỗn loạn, diễn biến hòa bình. Trong 1 đất nước vừa mới tăng cường thêm bộ máy kìm kẹp bằng sắc luật cấm sử dụng mạng lưới thông tin vào mục đích chính trị, Lê Quốc Quân  là 1 trong số 35 blốc-gơ bị bắt giữ, và 7 luật sư bị cấm hành nghề thầy cãi. Vụ án của ông, được ấn định ngay ra tòa ngày 9 Tháng Chín, nay bị hoãn, không biết đến ngày nào. Được biết đến trên toàn thế giới, Lê Quốc Quân đang đối mặt với 1 bản án VC, từ 3 đến 7 năm tù.


Xâm Lăng Prague

Si tu lis les premières pages du Manifeste communiste, c'est le plus fameux éloge du capitalisme qu'on ait jamais vu.
Nếu bạn đọc những trang đầu tiên của Tuyên ngôn CS, thì đó là những trang vinh danh hiển hách nhất chủ nghĩa tư bản mà người ta đã từng đọc.
Hannah Arendt

Cái cú 30 Tháng Tư 1975, ngay VC thổi nào là những đỉnh cao thời đại, bước ngoặt lịch sử…. gì gì đi nữa, cũng chưa xứng với nó!

Dân Mít, Bắc Kít, đúng hơn, được ông Trời cho phép có mặt ở trên cõi đời này, là để có giấc mơ này, và làm sao thực hiện nó.
Chỉ đến khi thực hiện được nó, thì mới hỡi ơi, vì đúng lúc đó, mất nó!

“Nó” liên quan đến cái cực tốt, và cái cực xấu của cái gọi là Bắc Kít.
Cái cực tốt của Bắc Kít tạo ra hình ảnh Thiên Sứ của Sến Cô Nương. Nhờ nó có giống dân Bắc Kít, ở kế ngay tên Đại Hán[g] Gian Ác mà vẫn trường tồn!
Cái cực xấu, là Cái Ác Bắc Kít, tạo ra Lò Cải Tạo!
Tạo ra…  Anus Mundi, mang cái thúi Bắc Kít đi reo rắc cùng khắp thế giới, biến cả thế giới thành bãi đánh hàng, khiến cả thế giới khiếp sợ gọi là họa Hoàng Quỉ.
Và sau cùng hủy diệt giống Mít!

Giống dân nào, được nhân loại nằm mơ, sáng ngủ dậy, biến thành nó: Bắc Kít.
Giống dân nào, ngủ dậy thấy mình biến thành bọ: Bắc Kít!

Làm gì có cách mạng Ả Rập

*

Nhà thơ Syrie, Adonis, chụp tại tư gia ở Paris, 2004



*

Làm đếch gì có thứ chiến tranh “đỉnh cao chói lọi, bước ngoặt lịch sử” nữa!

*

Obs: Ông viết nhiều “tạp ghi văn học” [chroniques littéraires], tựa [préfaces], đặc biệt cho những ấn bản về Daniel Defoe, Graham Greene, Saul Below, Robert Musil và Samuel Beckett. Những tác giả này có 1 ảnh hưởng đặc biệt lên ông?
Coetzee: Chỉ khi còn trẻ người ta mới ảnh hưởng bởi những nhà văn khác. Về già, người ta không bắt chước họ nữa, mà giản dị, đọc, biết [apprendre] về họ. Hồi nhỏ, tôi mê Beckett. Những tác giả khác mà ông nêu tên, trễ hơn.
Ông có sợ già không?
Tôi sống quá lâu trên trái đất này rồi, chẳng còn sợ cái đếch gì nữa [quoi que ce soit].
Ba cuốn ông mang theo, nếu đi tới "đảo xa" [ile déserte]?
Hai thôi, “Iliade” và “Don Quichotte”.



Khe Sanh,1968

MICHAEL HERR IN A BLOODSWARM

(The only Vietnamese many of us knew was the words "Bao Chi! Bao Chi!" - Journalist! Journalist!- or even "Bao Chi Fap!"- French journalist!- which was the same as crying, Don't shoot! Don't shoot!)

From Dispatches. The conflict in Vietnam between the communist North and anticommunist South began after the North defeated the French colonial administration in 1954. By 1965 President Johnson had committed over 180,000 US. troops to the country. Herr served six months of active duty in the Army Reserve in 1963 and 1964 and was in Vietnam in the late 1960s as a correspondent for Esquire. In 1977 he published his memoir, Dispatches, which John le Carré called ''the best book I have ever read on men and war in our time. "

Mấy từ tiếng Mít độc nhất mà đa số chúng tôi biết, là "Báo chí! Báo chí!", hay, "Báo Chí Pháp", và nó có nghĩa, “Đừng bắn! Đừng bắn!” “Tha mạng cho tôi!”

John le Carré phán, số dách! Tớ chưa từng đọc cái nào bảnh hơn nó, viết về đờn ông và chiến tranh, trong cái thời của chúng ta!

Ui chao, giá mà xừ luý đọc “Tứ Tấu Khúc”, hay “Cõi Khác”, của Gấu Cà Chớn, nhỉ!

Đau khổ nhất là những ngày cô bạn đi lấy chồng. Vẫn những ngày tháng ngây ngô bên mớ máy móc, nghe tiếng người nói xôn xao từ những thành phố xa lạ phía bên ngoài địa ngục, qua đường dây điện thoại viễn liên, mơ màng tưởng tượng chiến tranh rồi sẽ qua đi, cô bạn rồi sẽ hạnh phúc, hạnh phúc... Hết còn nỗi ngây thơ tưởng mình ở trên cao, trên tận đỉnh cồn, thấy hết, hiểu hết. Vẫn những đêm dài điên cuồng đuổi theo bóng mình sợ hãi trốn sâu dưới đáy địa ngục, trong những hang cùng ngõ hẻm thành phố, chạy hoài, chạy hoài, không còn nơi để ghé, không còn chỗ để ngừng... Chỉ mong gặp lại những hồn ma quen, những gã phóng viên người Nhật, người Mỹ, hai gã chuyên viên Phi Luật Tân, để hỏi coi họ có còn luyến tiếc đất nước này hay không, chỉ muốn la lớn, tôi yêu em, tôi yêu em, cho cả thế giới, cả loài người đều nghe...
Cho người chết gật đầu thông cảm.


Tiểu thuyết là gì?

Cái gì, chỉ tiểu thuyết có thể nói, trong khi không thể nói, bằng/trong, bất cứ một cách nào khác?
Đây là câu hỏi, cực cơ bản, được Hermann Broch  đưa ra.
Và nó đã được trả lời, một cách đặc thù, bởi hằng hà những vì sao, trên một bầu trời đầy sao, là những tiểu thuyết gia, và họ cùng nhau đưa một quan niệm, mới hơn, rộng hơn, ngay cả theo nghĩa đen, của cái từ Weltliteratur, văn chương th
ế giới, giấc mơ mà Goethe đã từng thoáng nhìn ra viễn ảnh.
Nếu, như một phê bình gia Tây, và cũng là 1 tiểu thuyết gia, Roger Callois, phán, nửa đầu thế kỷ 20 thuộc về Bắc Mỹ, trong khi nửa sau thuộc về Mỹ La Tinh, thì, ở vào lúc rạng đông của thế kỷ 21, chúng ta có thể nói tới một cuốn tiểu thuyết phổ cập, bao gồm Gunter Grass, Juan Goytisolo, và Jose Saramago ở Âu Châu; Susan Sontag, William Styron, and Philip Roth ở Bắc Mỹ; Gabriel Garcia Marquez, Nelida Pinion, và Mario Vargas Llosa ở Mỹ Châu La Tinh; Kenzaburo Oe ở Nhật Bản; Anita Desai ở Ấn Độ; Naguib Mahfouz và Tahar Ben-Jeleum ở Bắc Phi, và Nadine Gordinier, J. M.  Coetzee,  và Athol Fugard ở Nam Phi. Nigeria, chỉ nó, từ “trái tim của bóng đen” của những quan điểm thiển cận của đám người Âu Châu coi họ là cái rốn của vũ trụ, thì cũng có tới ba nhà kể chuyện lớn lao: Wole Soyinka, Chinua Achebe, và Ben Okri.


Tuyệt tác thế giới

*

James Mason trong vai Oedipus, và Eleanor Stuart/Jocasta, trong bi kịch Oedipus, được dàn dựng năm 1954

Oedipus

Origin: Greek myths and the 429 B.C.

play Oedipus the King, by Sophocles

The story of Oedipus is one of the most memorable of Greek myths, and it was a frequent subject for playwrights. Aeschylus' trilogy on the subject has been lost, but Sophocles' play is one of the great works of Western literature, a lofty meditation on human nature and the inflexible laws of destiny- as well as a rousing detective story that leads audiences to a thrilling catharsis, the outpouring of pity and terror that tragedy is designed to inspire.
    The tale is riveting: at his birth, it is prophesied that Oedipus will kill his father and marry his mother. To avoid this destiny, his father, King Laius, abandons him on a mountainside, but Oedipus is found by a shepherd and is raised by King Polybus and Queen Merope of Corinth. Learning from the oracle at Delphi of his prophesied fate, the young Oedipus heads to Thebes, so he will not kill Polybus. On the way, he meets Laius at a crossroads; they argue, and Oedipus kills him, fulfilling the first part of his destiny. Reaching Thebes, he marries his birth mother, Queen Jocasta, fulfilling the prediction.
    When a plague strikes the land, due to the incest of its rulers, Oedipus vows to find the cause of the gods' wrath. Theater holds few more thrilling moments than the scenes in which a series of messengers reveal the truth to Oedipus: in seeking to escape his destiny, he has only fulfilled it. As Sophocles has him say, "Was I not born evil? / Am I not utterly unclean?"
    He is unclean, for all of us are unclean, deeply flawed creatures, powerless to reverse the stem fates that shape our lives-or so the Greeks believed. And so did Sigmund Freud, who claimed that, like Oedipus, each of us is fated to want to murder one parent and marry the other.

And so did Sigmund Freud, who claimed that, like Oedipus, each of us is fated to want to murder one parent and marry the other.

Như Freud phán, mỗi chúng ta đều bị số phận nguyền rủa, mi phải làm thịt ông bố/hay bà mẹ, và lấy người kia, làm chồng/hay vợ!

Bài viết trên Time, về Oedipus, ngắn, gọn, nên vờ đi giai thoại thực là thú vị, về nhân vật huyền hoặc này.
Do trả lời được câu đố của con nhân sư mà ông bị lời nguyền của con vật này: Con vật nào buổi sáng đi bốn chân, buổi trưa hai, và buổi chiều, ba.
Con người!

Chính là vì quá thông minh, mà Oedipus vướng lời nguyền. Thành ra Sophocles mới đặt vào miệng của nhân vật của mình, "liệu ta sinh ra quỉ ma như thế ư? “Bửn”, unclean, đến như thế ư?"


**

Note: Cuốn của Fitz, là về ghiền rượu. Trong có cái truyện The Crack-Up. Bìa sau là câu trứ danh của Fitz mà TV đã từng chôm: Đầu tiên, bạn chơi 1 ly, sau đó 1 ly uống 1 ly ,và sau cùng ly uống bạn: First you take a drink, then the drink takes a drink, then the drink takes you.

Geoff Dyer, Gấu biết đến tên ông, khi đọc lời giới thiệu, bìa sau bản tiếng Anh Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh.
Nhưng mua cuốn này là vì quá cần. Bạn coi cái hình bìa, và đọc cái tít, là đã đoán ra được.
Vả chăng, đọc loáng thoáng, đúng cái đoạn ông ca Camus thấu trời. G. Dyer đã từng hành hương, đến thánh địa Tipasa - vì đọc Camus viết về “tình yêu lớn dành cho thiên nhiên và biển cả” ở Tipasa - để đọc những từ sau đây, mà bạn bè của Camus khắc lên một phiến đá nâu, để tưởng niệm Camus, sau khi ông mất:

JE COMPRENDS ICI CE QU’ON APPELLE GLOIRE LE DROIT D'AIMER SANS MESURE ALBERT CAMUS

GEOFF DYER

Out of Sheer Rage

In the shadow of D.H. Lawrence

Introduction by
Maggie O'Farrell

CANONGATE
Edinburgh• London• New York• Melbourne

'Looking back it seems, on the one hand, hard to believe that I could have wasted so much time, could have exhausted myself so utterly, wondering when I was going to begin my study of D.H. Lawrence; on the other, it seems equally hard to believe that I ever started it, for the prospect of embarking on this study of Lawrence accelerated and intensified the psychological disarray it was meant to delay and alleviate. '

In his own eccentric style, Dyer expresses the fears, hopes and obstructions we all experience when settling down to work. Out of Sheer Rage is a comic masterpiece and one of Dyer's best-loved books.

In the shadow of D.H. Lawrence

Trong cái bóng của [sư phụ] D.H. Lawrence.

Đếch có nhà văn Mít dám viết như thế, ở ngay trang đầu cuốn sách của mình!
Do đó, đếch có nhà văn Mít!
Hà, hà!

Ăn cắp thì nhiều!
Tu luyện đến thành “Á Thánh” mà vưỡn ăn cắp!


In Memory of Borges

A BOOK

Scarcely a thing among things
But also a weapon. It was forged
In England, in 1604,
And they weighted it with a dream. It holds
Sound and fury and night and scarlet.
My palm feels its heaviness. Who could say
It contains hell: the bearded
Witches who are fates, the daggers
Which carry out laws of shadow,
The delicate castle air
That will see you die, the delicate
Hand capable of bloodying the seas,
The sword and shouting of the battle.
That silent uproar sleeps
In the circle of one of the books
On the quiet shelf. It sleeps and waits.

[Trans. Willis Barnstone]

Cuốn sách

Thì cũng một vật giữa những vật
Nhưng còn là một vũ khí.
Nó được rèn, đúc ở Ăng Lê vào năm 1604.
Và họ cân nó với 1 giấc mộng.
Nó cưu mang trong nó
Âm thanh và cuồng nộ
Đêm, và màu đỏ tươi.
Lòng bàn tay của tôi cảm thấy sức nặng của nó.
Ai có thể nói,
Nó chứa địa ngục:
Những tên phù thuỷ râu rậm, chúng là số mệnh
Những dao găm thực hiện những luật lệ của bóng tối
Cái không khí lâu đài thanh nhã
Sẽ nhìn thấy bạn chết
Cái bàn tay thanh nhã có thể vấy máu những biển cả,
Cây gươm và tiếng la hét của trận địa.
Cái im lặng làm huyên náo những giấc ngủ
Trong vòng tròn của một của những cuốn sách
Trên giá sách yên lặng,
Nó ngủ và đợi.



Cali 2012 With H/A

Hồi ức có cái chung với nghệ thuật, đó là, tính tuyển chọn, thích xoáy vào chi tiết. Khen đấy, mà chửi cũng đấy, ấy là bởi vì, hồi ức vốn chỉ chứa chi tiết, chứ không trọn gói, trọn hình; hãy gạch đít, gạch chân, highlights, nếu bạn muốn, nhưng đừng trọn cả “sô”! Theo tôi tin tưởng, thì đây là do con người, một khi phải nhớ trọn một em, thì thường là theo kiểu “mài mại”, và cái rất ư niềm tin để cho muôn thú muôn loài cứ thế mà tiếp tục cuộc đời của chúng, đó là “không nền”, groundless, đó là “mài mại”.

Hơn bất cứ cái gì khác, hồi ức của con người, nó giống một thư viện mất trật tự, hổ lốn, không theo một bảng xếp loại abc nào, với không tuyển tập, của bất cứ một ai.

Trong căn phòng rưỡi
Joseph Brodsky

*

Thấy Gấu được Em giúi cho tí tiền, đúng ngày Thứ Bảy thường lệ, đám bạn trên Los xuống, lại thêm Võ Chân Cửu từ trong nước qua chơi, chúng bèn bắt Gấu chi chầu nhậu.
OK.

NDB mãi gần cuối tiệc mới tới, để nhậu, tất nhiên, nhưng còn để đưa Gấu về nhà mới, nhường phòng cho bạn khác.

Và cái bữa tiệc sau đó, ở nhà NBD, giữa GCC và chủ nhà, mới tuyệt cú mèo: chỉ hai thằng chơi gần hết 1 chai cordon bleu, đây mới là chai rượu mà “Em của Gấu” hậu đãi, để mừng tình bạn vong niên, và để trách sự biết nhau muộn quá giữa hai tên già, trong có 1 tên, đi bất cứ lúc nào!

Bạn để ý ngày ghi trên hình, là biết ra liền, trọn 1 ngày “Đại Cát”, 9.11.2012, Em dành cho GCC.