Vụ Án
Tình yêu
trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp
Thầy Cuốc đọc
không nổi NHT, hay, 'đạo' giọng ‘thiền’, nhìn cây không thấy rừng!
NHT đã từng
‘rút ruột’ ra mà phán, thì cũng chỉ vì lòng thương người mà viết. Vậy
mà không
hề có cái gọi là tình yêu trong thế giới NHT?
Ngay cả cái
thứ tình yêu, cho là 'nhếch nhác', thì vẫn là tình yêu!
Thứ tình yêu
trong NHT, là ‘muối của đất’, 'tâm' nhạt quá, nhếch nhác quá, đếch nếm
được thứ
muối này!
Đâu có phải
tự nhiên mà thế giới có người đặt ông kế bên Borges? Và ban cho ông đủ
thứ giải
thưởng?
Gấu này đã
tính viết về cái ác trong văn NHT, theo nghĩa, cái ác là cội nguồn của
con người,
nhân sinh tính bản ác!
Đây là đề
tài ruột của G. Bataille; ông đã từng chơi một cuốn về nó. Llosa mê
cuốn này lắm,
và viết một bài thật tuyệt vinh danh tác giả & tác phẩm. Còn nhiều
tay nữa.
G. đi chơi về,
lôi mấy cuốn, mấy bài viết liên quan, rồi ‘đọc lại’ NHT, chắc thú lắm
đấy.
Để góp tiếng
với Blog NL, và còn đưa ra được một cái nhìn khác về Cái Ác Bắc Kít! (1)
(1)
JUSTIFICATION
OF COMMUNIST HOSTILITY
In Kafka's
work we can distinguish a social aspect, a familial and sexual aspect,
and
finally a religious aspect. But such distinctions seem slightly
superfluous to
me: I have hitherto attempted to introduce a point of view in which all
these
aspects are combined. The social character of Kafka's stories can no
doubt only
be grasped in a general context. To see the 'epic of the unemployed' or
of 'the
persecuted Jew' in The Castle, the 'epic of the defendant in the
bureaucratic
era' in The Trial; to compare these obsessive tales with Rousset's
Univers
concentrationnaire, is not entirely justifiable. But this brings
Carrouges, who
does so, to an analysis of Communist hostility. It would have been
easy, he
tells us, 'to defend Kafka from every charge of being a
counter-revolutionary
if one had wanted to say of him, as of others, that he limited himself
to
depicting the capitalist hell. 'If
Kafka's attitude seems odious to so many revolutionaries,' he adds, 'it
is not
because it explicitly attacks bourgeois bureaucracy and justice - an
attack
with which they would have concurred - but because it attacks every
type of
bureaucracy and pseudoojustice.' Did Kafka want to criticise certain
institutions for which we should have substituted other, less inhuman
ones? Carrouges
writes again: 'Does he advise against revolt? No more than he
encourages it. He
merely affirms man's collapse: the reader can draw his own conclusions.
And how
can one not rebel against the odious power which prevents the
land-surveyor
from working?' I believe,on the other hand, that the very idea of
revolt is
deliberately withdrawn from The Castle. Carrouges knows this, and says
a little
further on: 'The only criciticism one can level at Kafka is the
scepticism with
which he regards every revolutionary undertaking, for he sets problems
which
are not political problems, but which are human and eternally
post-revolutionary problems.' But to talk of scepticism and to give
Kafka's
problems a significance with regard to the words and actions of
political humanity,
is not going far enough.
Far from
being incongruous, Communist hostility is essentially connected with an
understanding of Kafka. I shall go still further. Kafka's attitude
towards his
father's authority symbolises hostility towards the general authorrity
which
stems from effective activity. Effective activity, elevated to the
discipline
of as rational a system as that of Communists, is apparently presented
as the
solution to every problem. Yet it can neither totally condemn, nor
tolerate, in
practice, a truly sovereign attitude in which the present moment is
detached
from those that follow. This is a difficulty for a party which respects
reason
alone and which sees those irrational values where luxury, uselessness
and
childishness occur, as masks on the face of private interest. The only
sovereign attitude permitted by the Communists is that of the child,
but in its
minor form. It is granted to children who cannot attain adult
seriousness. If
the adult gives a major sense to childishness, if he writes with the
feeling
that he is touching a sovereign value, he has no place in Communist
society. In
a world from which bourgeois individualism is banished, the
inexplicable,
puerile humour of the adult Kafka cannot be defended. Communism is
basically the
complete negation, the radical opposite of what Kafka stands for.
Georges
Bataille: Literature and Evil
Nguồn
Fiction
does not reproduce life; it denies it, putting in its place a conjuring
trick
that pretends to replace it. But, in a way that is difficult to
establish,
fiction also completes life, adding to human experience something that
men do
not meet in their real lives, but only in those imaginary lives that
they live
vicariously, through fiction.
The
irrational depths that are also part of life are
beginning to reveal their secrets and, thanks to men like Freud, Jung
or Bataille,
we are beginning to know the way (which is very difficult to detect)
that they
influence human behaviour...
Giả
tưởng không tái sản xuất cuộc đời, nó chối từ cuộc đời,
và, đặt ở đó, một trò ảo thuật, [một trò mà con mắt, như Sartre đã từng
chê Sartoris
của Faulkner], giả như là cuộc đời. Nhưng, bằng một cách nào đó, thật
khó xác
định, giả tưởng cũng hoàn tất cuộc đời, bằng cách thêm vào kinh nghiệm
con
người, một điều gì con người chưa từng gặp, trong đời thực của họ, và
nhờ giả
tưởng, mà họ được nếm mùi vị của nó.
Những
vùng sâu phi lý, ngoại lý, cũng là một phần của cuộc
đời, nhờ những người như Freud, Jung, hay Bataille bắt đầu lộ ra, và
chúng ta
bắt đầu hiểu, cung cách, đường hướng [thật khó tách bạch hẳn ra được],
chúng
ảnh hưởng lên cách ứng xử của con người.
Câu
trên, của
Llosa, viết về Faulkner, áp dụng cho NHT, cũng thật là tuyệt
William
Faulkner: The Sanctuary of Evil
Mario Vargas Llosa
Solz đã từng
coi ông, và đúng như vậy, một anh giáo làng. NHT cũng thế, và cũng đã
từng là
giáo làng. Cái Ác Bắc Kít, nhìn qua cặp mắt thấm đậm lòng vị tha,
‘thương người
như thể thương thân’, của một thầy giáo làng, có lẽ đây là thứ tình yêu
'nhếch
nhác’, qua cách đọc của Thầy Cuốc?
Dùng ngôn ngữ
của Thầy Khổng, và, nếu để ý tới một số truyện ngắn của NHT được Thầy
Cuốc để mắt
tới, thì có vẻ như Thầy Cuốc chỉ với tới cõi 'hình nhi hạ' của NHT! Còn
khuya mới
tới được phần 'hình nhi thượng' của 'những ngọn gió Hua Tát'!
Thật tình cờ,
Gấu đọc bài viết của Thầy Cuốc, cùng lúc, đọc Yann Martel, tác giả
‘Life of Pi’,
và bài viết của ông về ‘Ngư Ông Và Biển Cả’, và bèn nhớ đến câu phán để
đời của
Bố Già Hemingway: Con người có thể bị hủy diệt, [như một Miền Nam đã
từng bị huỷ
diệt], nhưng không thể bị gục ngã [defeated, bị đánh bại, thất trận…],
và cũng
không thể bị… ô nhục, tất nhiên!
Vì ô nhục
còn khốn nạn hơn cả gục ngã!
Martel gọi
cái sự không thể bị gục ngã này, là ân sủng dưới sức ép, ‘grace under
pressure’,
và vì cái từ ân sủng này, có thể, mà ông viết, cách viết của Hemingway
đưa
chúng ta tới cội nguồn của nó, là.. Thánh Kinh!
Bài viết,
đúng ra là cái thư gửi Ngài Thủ Tướng Candada, đề nghị Ngài nên đọc một
số tác
phẩm, trong có Ngư Ông, ngắn, post ra đây, và nhân đó, lèm bèm tiếp,
lèm bèm
mãi...
BOOK 49:
THE OLD MAN
AND THE SEA
BY ERNEST
HEMINGWAY
February 16,
2009
To Stephen
Harper,
Prime
Minister of Canada,
From a
Canadian writer,
With best
wishes,
Yann Martel
Dear Mr. Harper,
The famous
Ernest Hemingway. The Old Man and the Sea
is one of those works of literature that most everyone has heard of,
even those
who haven't read it. Despite its brevity 127 pages in the well-spaced
edition I
am sending you it's had a lasting effect on English literature, as has
Hemingway's work in general. I'd say that his short stories, gathered
in the
collections In Our Time, Men without
Women and Winner Take Nothing,
among
others, are his greatest achievement and above all, the story "Big
Two-Hearted River" but his novels The
Sun Also Rises, A
Farewell to Arms and For Whom the Bell Tolls are more widely
read.
The
greatness of Hemingway lies not so much in what he said as how he said
it. He
took the English language and wrote it in a way that no one had written
it
before. If you compare Hemingway, who was born in 1899, and Henry
James, who
died in 1916, that overlap of seventeen years seems astonishing, so
contrasting
are their styles. With James, truth, verisimilitude, realism, whatever
you want
to call it, is achieved by a baroque abundance of language. Hemingway's
style
is the exact opposite. He stripped the language of ornamentation,
prescribing
adjectives and adverbs to his prose the way a careful doctor would
prescribe
pills to a hypochondriac. The result was prose of revolutionary
terseness, with
a cadence, vigor and elemental simplicity that bring to mind a much
older text:
the Bible.
That
combination is not fortuitous. Hemingway was well versed in biblical
language
and imagery and The Old Man and the
Sea can be read as a Christian allegory,
though I wouldn't call it a religious work, certainly not in the way
the book I
sent you two weeks ago, Gilead,
is. Rather, Hemingway uses
Christ's passage on
Earth in a secular way to explore the meaning of human suffering.
"Grace
under pressure" was the formulation Hemingway offered when he was asked
what
he meant by "guts" in describing the grit shown by many of his
characters. Another way of putting that would be the achieving
of victory
through defeat, which matches more deeply, I think, the Christ-like
odyssey of
Santiago, the old man of the title. For concerning Christ, that was the
Apostle
Paul's momentous insight (some would call it God's gift): the
possibility of
triumph, of salvation, in the very midst of ruination. It's a message,
a belief
that transforms the human experience entirely. Career failures, family
disasters, accidents, disease, old age-these human experiences that
might
otherwise be tragically final instead become threshold events.
As I was
thinking about Santiago and his epic encounter with the great marlin, I
wondered whether there was any political dimension to his story. I came
to the
conclusion that there isn't. In politics, victory comes through victory
and
defeat only brings defeat. The message of Hemingway's poor Cuban
fisherman is
purely personal, addressing the individual in each one of us and not
the
roles we might take on. Despite its vast exterior setting, The Old Man
and the
Sea is an intimate work of the soul. And so I wish upon you what I wish
upon
all of us: that our return from the high seas be as dignified as
Santiago's.
Yours truly,
Yann Martel
ERNEST
HEMINGWAY (I899-1961) was an American journalist, novelist and short
story
writer. He is internationally acclaimed for his works The Sun Also Rises, A
Farewell to Arms, For Whom the Bell Toll and his Pulitzer
Prize-winning
novella, The Old Man and the Sea.
Hemingway's
writing style is characteristically straightforward and understated,
featuring
tightly constructed prose. He drove an ambulance in World War I, and
was a key
figure in the circle of expatriate-artists and writers in Paris in the
1920s
known as the "Lost Generation.” Hemingway won the Nobel Prize in
Literature in 1954.
*
Cách đọc, và
hiểu NHT của Thầy Cuốc, xem ra còn thua cả Tây Mũi Lõ.
Thua 'em' Minh Huy Trần, tất nhiên, qua bài viết trên Le Magazine
Littéraire, dưới đây:
Bốn truyện
ngắn tập hợp trong 'Ông chú Hoạt của tôi' phải đọc ở bậc thứ nhì: sau
ẩn dụ, dưới
mặt véc ni của những câu chuyện không quan trọng, người ta khám phá ra
một sự
chỉ trích, phê phán xã hội, một cách khốc liệt, hung dữ, và thường
xuyên. Nó nhắm
vào một nước Việt Nam, nơi mà những giá trị cổ xưa của tinh thần Phật
giáo bị
nhạo báng bởi tầng lớp cán bộ con ông cháu cha, chúng cuỗm quyền lực,
một phía,
còn phía kia, là những con rồng của chủ nghĩa tư bản dã man, nó biến
những
thành phố thành những rừng rú tàn nhẫn, không xót thương. Ông trình ra
một người
thu nhặt cứt, một ông già bị gia đình xua đuổi vì yêu thơ, một cô gái
chuyên
nuôi chim chóc, đau đớn vì những con sơn ca bị nuôi dậy để đấu đá lẫn
nhau
trong rạp xiếc.
NHT vẽ ra một
xã hội đang trong tuyệt vọng - bạo lực tiềm ẩn, chế độ thối ruỗng, khốn
cùng
cùng cực. Trên thực tại đó, nhà văn tung ra những cánh hoa của một lối
viết
lung linh, tế nhị, và hóm hỉnh, mà ông ta tập luyện nó, như một một
phương thức
chữa bệnh. Với những từ sau đây, chỉ cách dùng: "Đừng cười, văn chương
thứ
thực có thể là chẳng hiểu, chẳng lĩnh hội, chẳng thấu đáo. Câu trả lời
thì ở đầu
gối những vị thần, nói như Homère."
[Câu này, do
NHT trích dẫn, qua bài viết dưới đây, cũng của Clavel, cho biết]
André Clavel
“Mon oncle
Hoat” [Ông chú Hoạt của tôi] par Nguyên Huy Thiêp, traduit du
vietnamien par
Sean James Rosé, Tuong Vi Rigal et Philippe Dumont, 110 p., L'Aube,
11,80 €
NKTV
*
Trong tiếng
Việt, có lẽ chỉ có chữ “lệch pha”, một loại tiếng lóng, là mang đủ hai
ý nghĩa ấy.
NHQ
Note: ‘lệch pha’ không phải là
‘tiếng lóng’, mà là một thuật ngữ
sử dụng nhiều trong ngành điện đổi chiều, thí dụ, nghịch pha, lệch pha,
đổi
pha, điện 2 pha, điện 3 pha [điện kỹ nghệ]...
Phase, động từ,
có nghĩa ‘làm đồng bộ’, synchronize.
Thầy Cuốc có vẻ 'mù tịt', về khoa học, kỹ thuật?
‘Lệch pha’, có thể sau đó, được sử dụng như tiếng lóng, để chỉ hiện
tượng không
ăn 'jeu' với nhau, kỳ kỳ, hoặc chỉ thích chơi ngược thiên hạ, thơ con
cóc là số
1, thí dụ!
*
Có thể
nói,
câu phán của Faulkner, (1) là 'bí kíp' trong cái
gọi là nghệ thuật viết.
Không phải 'tự nhiên' (2)
mà khi Chợ Cá vừa xuất hiện, G chào
mừng bằng bài viết Dịch là Cướp, và Sến Cô Nương cám ơn rối rít [thực
sự là vậy],
trong một cái mail, trong đó cô nương nhận xét, chưa bao giờ đọc ‘anh
cu Gấu’ ở đâu
mà có cái giọng văn tiếu lâm như thế, và cam kết, sẽ thực hiện được cái
thiên
chức cao cả, ăn cướp, đạo văn, và nếu không ăn cướp được, thì ăn cắp,
thì…. nhét
cái hột ngô vào bìu đem về xứ Mít!
Sở
dĩ cái anh cớm Mít, chỉ biết làm cớm, không thể nào làm nghề khác,
chính là do
không biết làm nghề ăn cắp, ăn cướp, đạo văn, đạo thơ!
Trong câu phán của Faulkner hàm chứa ý đó. Cũng ý đó, có tay khác phán,
những tác phẩm lớn chưa được biết tới,
không có. (Les
chefs-d'oeuvre inconnus n'existent pas). Borges, trong bài viết, Những
tiền
thân của Kafka, cũng nói ý đó, khi viết, lúc thoạt đầu đọc K, ông cứ
nghĩ K là
loài phượng hoàng độc nhất vô nhị trong cõi viết, trước chưa từng có,
và sau
cũng không, nhưng lần hồi, trong khi đọc, ông thấy K chôm búa xua, từ
không
biết bao nhiêu là nguồn!
(1)
Luôn
mơ và bắn cao hơn là mình nghĩ rằng mình có thể. Đừng ngu si so bì với
mấy gã
cùng thời, hay mấy tên đi trước. Hãy cố mà so bì, kèn cựa, với chính
mình. Nghệ
sĩ là loài bị quỉ truy, [ma dẫn lối quỷ chỉ đường thì cũng rứa]. Anh ta
không hiểu tại sao quỉ lại chọn anh ta,
và
thường quá bận rộn nên cũng chẳng có thì giờ để mà tìm hiểu. Anh ta
hoàn toàn
vô hạnh đến nỗi trấn lột, mượn đỡ, xin xỏ, hay trộm cắp, bất cứ ai, bất
cứ điều
gì, miễn sao xong việc.
Nghệ
sĩ chỉ có mỗi bổn phận, là nghệ thuật của mình. Anh ta sẽ khốn kiếp vô
cùng
[ruthless: nhẫn tâm, độc địa] nếu là một tay bảnh, có thớ. Anh ta có
một giấc
mộng. Nó hành anh ta, cho tới khi anh ta rứt ra khỏi nó. Chỉ tới lúc
đó, anh ta
mới có được cái gọi là hòa bường, bường an [peace]. Mọi chuyện coi như
pha:
danh dự, danh giá, hãnh diện, đoan trang, lịch sự, an toàn, bảo đảm,
hạnh phúc...
tất cả, bởi vì bằng mọi giá, miễn sao viết xong cuốn sách. Nếu nhà văn
phải
trấn lột [rob], bà cụ thân sinh ra mình, anh ta cũng sẽ chẳng có chút
ngần
ngại; chẳng bà già nào so được với "Ode on a Grecian Urn". [Tụng Thi
về một Bình Cổ Hy Lạp. Tên một bài thơ của John Keats]
William Faulkner [trả lời The Paris
Review]
(2)
Thấy Chợ
Cá
xuất hiện, Gấu quá mừng, vì vào thời gian đó, Gấu một mình làm nghề
'đạo', mệt
quá, mong có người tiếp sức!
Nghệ Thuật Giả Tưởng
Nước cờ Hư Trúc
Những
tiền thân của Kafka
Note: Mấy
bài trên, đều dậy phép đạo văn!
Trong Ipcress, anh chàng
điệp viên Hồng Mao, bị ‘VC’ Hồng Mao nằm vùng trong MI 5, bắt
được, thoát chết
sau khi bị tẩy não, khi liên lạc lại được với Sở, đã sử dụng đúng
câu thơ của
Milton, mà Koestler đã từng đạo, để làm cái tít cho cuốn Bóng đen giữa ban ngày, sau lại
được VHT 'đạo'.
Tếu thế.
Có thể nói, VHT, khi cầm
nhầm cái tít, trong 'tiềm thức', đã ngộ ra
chân lý, cuốn sách của ông, số phận những người như ông, 'được có, được
viết ra',
là vì có câu thơ của Milton:
"...O
dark, dark, dark, amid the blaze of noon,
Irrecoverably
dark, total eclipse
Without all
hope of day!"
Nói rõ hơn, chính câu thơ
'tiên đoán' những
tác phẩm như của Koestler, của VTH.
Theo nghĩa đó, mà có tay phê bình phán, giả
như không có thành phố St. Petersburg, thí dụ, thì Dos 'đành' phải phịa
ra!
Những ác mộng của thế kỷ 20, sở dĩ xẩy ra, là để tuân theo cái đầu của
Kafka, khi ông sống những ác mộng đó!
VTH vs Koestler
*
Tôi
dịch thuật ngữ “queer theory” là “thuyết lệch pha” mà không dịch là
“thuyết
đồng tính” như dự định ban đầu vì trong tiếng Anh, chữ “queer” có hai
nghĩa:
một, người đồng tính nam; và hai, kỳ quái.
Trong tiếng Việt, có lẽ chỉ có chữ “lệch pha”, một loại tiếng lóng, là
mang đủ
hai ý nghĩa ấy.
NHQ
Khó mà dịch
thuyết 'chơi ngược', bằng tiếng lóng 'lệch pha'! (1)
Đây là do Thầy Cuốc mù tịt về vật lý,
khoa học, kỹ thuật, vốn
lại thích chơi ngược thiên hạ, nên dịch nhảm!
Bữa trước, Thầy dịch, cái gì gì 'lịch
đại', 'đồng đại', mới lại
càng ghê!
(1)
Nếu coi định
nghĩa sau đây, thế nào là ‘queer’, thì, không thể dịch nó qua tiếng
Việt là
'đồng tính', hay 'lệch pha', mà phải dịch là ‘chơi ngược’:
"Queer is by definition
whatever is at odds with the
normal, the legitimate, the dominant. There is nothing in particular to
which
it necessarily refers. It is an identity without an essence. ‘Queer’
then,
demarcates not a positivity but a positionality vis-à-vis the normative"
Nguồn Wiki
Tạm dịch:
Queer, như định nghĩa, là bất cứ
quái gì kỳ kỳ, đếch giống ai, đếch giống lẽ thường, cái được coi là hợp
pháp,
cái thống trị. Chẳng có cái chó gì đặc biệt mà ‘queer’ phải qui về, và
coi là
chuẩn mức. Nó là cái căn cước đếch cần yếu tính. ‘Queer’ như thế, coi
nó, không
như một xác quyết, mà là một vị thế so với thói thường.
Những hiện tượng vật lý trong điện xoay chiều [AC], như lệch pha,
nghịch pha, đổi
pha… chúng không 'kỳ kỳ' so với pha, mà chúng là ‘pha’, ở những vị thế
đặc biệt.
Thành thử dịch là 'lệch pha' là nhảm.
Còn dịch là 'đồng tính', nếu theo định nghĩa trên, thì cũng nhảm.
Dịch là chơi ngược, chơi khác người, theo kiểu 6/9, hay 'vác cầy qua
núi', hay
'chơi ở cái chỗ không phải để chơi', vậy là queer đấy!
Brodsky coi hồi ức là cái thay thế cho cái đuôi của con người trên đà
tiến hóa,
để trở thành tốt hơn.
Nếu như thế,
chơi ngược chưa hẳn đã là nhằm xác định một vị thế so với bình thường,
là nói
không với cái hợp pháp, cái thống trị, mà chỉ là do, hồi ức của con
người chưa
quên được cái thời nó sử dụng chung cơ quan sinh dục với cơ quan bài
tiết.
Nếu như thế,
chúng ta gặp lại từ Anus Mundi của Milosz ở đây. (1)
(1)
Cái chết của Milosz làm Gấu nhớ tới từ Anus Mundi của ông.
Anus Mundi có nghĩa là hậu môn của thế giới. Theo
Milosz, một người Đức
đã viết ra định nghĩa này, để chỉ xứ Ba Lan, vào thời điểm 1942.
Nhưng Anus Mundi lại làm cho người đọc liên tưởng tới từ Anno Mundi,
tiếng La
Tinh, có nghĩa là "vào năm của thế giới" [in the year of the world],
tức khi thế giới bắt đầu.
Milosz định nghĩa Anus Mundi: The cloaca of the world.
Như chúng ta đã biết, chỉ có loài vật thượng đẳng mới có cơ quan sinh
dục
riêng, hậu môn, nơi để bài tiết, riêng. Với loài hạ đẳng, chỉ có
cloaca, tức
hậu môn, dùng cho cả hai việc, làm cơ quan sinh dục và làm nơi bài tiết.
Xứ sở Balan vào năm 1942, là anus mundi, là theo nghĩa đó.
Khi Gấu mượn từ này của Milosz, trong bài viết về Nếu Đi Hết Biển của
Trần Văn Thuỷ, là theo nghĩa của từ Anno Mundi, năm bắt đầu thế giới,
và còn
theo nghĩa năm Thượng Đế từ bỏ chúng ta, của triết gia người Do Thái,
Emmanuel
Levinas.
Và Gấu coi đó là năm 1975, đối với Việt Nam.
Hậu môn của thế giới.
Năm Thế Giới.
Năm "Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người". [TCS].
Năm chân lý "nước Việt Nam là một", bị lường gạt.
Bị làm nhục.
Nếu đi hết biển
1975: Năm Cái Ác Bắc Kít biến thế giới thành Bãi Đánh Hàng!
Thời của thánh thần
*
Thú thực,
G
chưa nghe nói đến thuyết chơi ngược, cho đến khi đọc bài viết của
Thầy Cuốc,
bèn lọ mọ gõ Google, tìm hiểu, được biết, nó ra đời vào thập niên 1990
và bị ảnh
hưởng nặng nề bởi Michel Foucault, cuộc xuống đường Mai 1968 ở Pháp,
phong trào
nữ quyền, đồng tính, đòi được chơi, được sướng, chúng tao làm tình
không làm
chiến tranh, nhưng ở nền tảng của nó, là cái triết lý ‘sướng quá hoá
rồ’ của những
năm tháng nhân loại thoát ra khỏi cuộc chiến tranh lạnh. Do Thầy Cuốc
ít đọc,
thiếu nội lực, bài viết của Thầy thua cả một bài viết trên net, thí dụ,
của
Wiki, nhưng trên tất cả, Thầy nghèo nàn trí tưởng tượng, thành thử
không làm
sao đẩy bài viết của mình tới những ‘chân trời viễn mộng’, thì cứ cải
lương như
vậy, bởi vì nhờ đọc bài viết của Thầy, và nhân đang đọc Yann Martel, G
bỗng nhớ
tới một ‘em’ và bèn post ở đây bài viết [thư gửi Thủ Tướng Canada], về
một biểu
tượng của thời kỳ này trong văn học: Francois Sagan và cuốn Buồn ơi
chào mi của
‘ẻn’:
‘Thủ trưởng’
thân mến,
Tớ đang ngao
du Luân Đôn, bèn gửi thủ trưởng bản tiếng Anh của một cuốn tiểu thuyết
Tây.
Trong cuốn tiểu thuyết, tụi nó hít, tụi nó chích choác, tụi nó bợp tai
nhau, tụi
nó uống như hũ chìm, và rồi say sưa bí tỉ lái xe về nhà… Ở trong đó,
tụi nó buổi
sáng chẳng có ăn uống chi ngoài ly cà phê đen đắng nghét, và tụi chúng
thì lúc
nào cũng chỉ nghĩ đến, chỉ quan tâm tới, tình yêu.
Very
French d’une certaine époque. (1)
Bonjour Tristesse ra lò tại Pháp năm 1954.
Tác giả của
nó, Francois Sagan, 19 tuổi. Liền tù tì, em trở thành Idol, và cuốn
sách, một bestseller.
Hơn thế nhiều:
Cả hai trở thành những biểu tượng.
(1) VC cũng
có một thời kỳ 'đó đó', une certaine époque,
với một Sagan của VC: Phan Thị Vàng Anh, qua bài viết của bạn quí của
Gấu.
Em đỏng đảnh,
vén cao váy bước qua bước lại trước đám đao phủ đang ngồi thiền, là
những bậc
cha chú của em, trong 'HNV vs HNT', đêm về nhà, viết ‘Khi em còn bé!"
(2)
(2)
Một trùng hợp
khá thú vị: Đọc Vàng Anh, tôi cũng liên tưởng tới Francoise Sagan,
nhưng không
hẳn như Huỳnh Phan Anh nhận xét: "Họ (những nhân vật trẻ tuổi của Phan
thị
Vàng Anh) đáng yêu hơn những nhân vật của Sagan mà người đọc có thể
liên tưởng
tới khi đọc Vàng Anh bởi sự buồn nản; sự nổi loạn không đẩy họ tới
những buông
thả, phá phách, suồng sã, mù quáng một cách vô duyên cớ, đặc trưng của
một tuổi
trẻ nào khác, ở một nơi nào khác."
Phan Thị
Vàng Anh, theo tôi, cũng nằm trong hiện tượng "không giờ" của văn
chương. Ở đây, còn có sự nuông chiều (một trong những hậu duệ, của "con
cưng" chế độ). Có sự õng ẹo, với văn chương chữ nghĩa. Với tuổi trẻ.
Với
cái nhìn xuống, khi bóng gió xa xôi, về nỗi cơ cực của những con người
quanh
"cô bé". Cô bé đôi lúc cũng đăm chiêu về phận người, theo kiểu
"Buồn Ơi, Chào mi!" của Sagan.
Khi "Buồn
ơi…" xuất hiện tại Pháp, người ta chào đón nó như một loài chim quí.
Với
Vàng Anh, một loài chim quí, để nuôi trong lồng, như một dấu hiệu đẹp
đẽ về một
chế độ không đẹp đẽ. Giới phê bình Tây Phương cũng đã nhận ra điều này
với bao
nhiêu tác phẩm của Sagan: trong bao nhiêu năm, người Pháp đã giữ riêng
cho họ,
một người tình.
Nhưng xã hội
Tây Phương (nước Pháp), khi Sagan mô tả, là những năm kinh tế khá ổn
định, và
giới tính đang được mùa.
Có còn hơn
không. Khi Sagan được đón nhận, "như một con chim hiếm", người ta biết,
cái khí hậu văn chương hiện sinh cần một thái độ đạo đức-phi đạo đức
như vậy.
Cũng cần phải phân biệt, phi đạo đức khác với vô đạo đức. Phi đạo đức,
một cách
nào đó, là treo lửng đạo đức bên trên ngòi bút. Với Vàng Anh, độc giả
trong nước
có một cô bé õng ẹo, giữa một đám đao phủ đang ngồi thiền là thế hệ cha
chú của
cô. Vậy cũng là dấu hiệu đáng mừng rồi! Huỳnh Phan Anh đã nhận ra điều
này,
nhưng ông nói, với một sự châm chước, của một người đã lớn tuổi: "Có lẽ
họ
nhẫn tâm với chính họ hơn là với cuộc sống".
[Vàng Anh là
con gái nhà thơ Chế Lan Viên. Nghe nói, những bản viết đầu tay của cô
là do bố
sửa sang, đánh bóng lại. Một anh bạn cho biết, trong một truyện ngắn
viết về
người bố, sau khi mất được hỏa thiêu, nhìn hũ tro cốt, "cái còn lại"
của một đời người cúc cung với chế độ, cô cay đắng hỏi chủ nghĩa, hỏi
chế độ, hỏi
đời, hỏi chính mình, "Chỉ có thế thôi à?"]

Tây đặc một thời.
BONJOUR
TRISTESSE BY FRANCOISE SAGAN
June 25,2007
To Stephen
Harper,
Prime
Minister of Canada,
From a
Canadian writer,
With best
wishes,
Yann Martel
Dear Mr.
Harper,
From London,
England, I'm sending you an English translation of a French novel. In
this
novel people smoke, people get slapped in the face, people drink
heavily and
then drive home, people have nothing but the blackest coffee for
breakfast, and
always people are concerned with love. Very French d’une
certaine epoque.
Bonjour Tristesse came out in France in
1954. Its
author, Francoise Sagan, was nineteen years old. Immediately she became
a
celebrity and her book a bestseller.
More than
that: they both became symbols.
Bonjour Tristesse is narrated in the first
person by seventeen
year-old Cecile. She describes her father, Raymond, as "a frivolous
man,
clever at business, always curious, quickly bored, and attractive to
women." The business cleverness is never mentioned again, but clearly
it
has allowed Raymond to enjoy freely his other attributes, his
frivolity,
curiosity, boredom and attraction, all of which revolve around
dalliances of
the heart and loins. He and his beloved daughter share the same
temperament and
they are in the south of France for the summer holidays with Elsa, his
latest
young mistress. This triangle suites Cecile perfectly and she is
assiduous at
pursuing her idle seaside pleasures, which come to include Cyril, a
handsome
young man who is keen on her.
But all is
ruined when her father invites Anne to stay with them. She's an old
friend of
the family, a handsome woman her father's age, made of sterner, more
sober
stuff. She starts to meddle in Cecile's life. Worse, a few weeks after
arriving, fun Elsa is dumped when Raymond starts a relationship with
Anne. And
finally, not long after, Anne announces that she and her father are
planning to
get married. Cecile is aghast. Her serial frolicker of a father and
Anne,
husband and wife? She, Cecile, a stepdaughter to Anne, who will work
hard to
transform her into a serious and studious young person? Quel
cauchemar! Cecile sets to work to thwart things, using Elsa
and Cyril as her pawns. The results are tragic.
After the
grim work of the Second World War and the hard work of the post-war
reconstruction, Bonjour Tristesse
burst onto the French literary scene like a carnival. It announced what
seemed
like a new species, youth, la jeunesse,
who had but one message: have fun with us or be gone; stay up all night
at a
jazz club or never come out with us again; don't talk to us about
marriage and
other boring conventions; let's smoke and be idle instead; forget the
future
who's the new lover? As for the tristesse
of the title, it was an excuse for a really good pout.
Such a
brash, proudly indolent attitude, coming with an open contempt for
conventional
values, landed like a bomb among the bourgeoisie. Francoise Sagan
earned
herself a papal denunciation, which she must have relished.
A book can
do that, capture a time and a spirit, be the expression
of a broad yearning running through society. Read the book and you will
understand Zeitgeist. Sometimes the book
will be one a group strongly identifies with - for example, On
the Road, by Jack Kerouac, among American
youth - or, conversely strongly identifies against - Salman Rushdie's The Satanic
Verses among some Muslims.
So that too
is what a book can be, a thermometer revealing a fever.
Yours truly,
Yann Martel
FRANCOISE
SAGAN (1935-2004),born Francoise Quoirez, was a novelist, playwright
and
screenwriter. Sagan's novels centre around disillusioned bourgeois
characters
(often teenagers) and primarily romantic themes; her work has been
compared to
that of J.D. Salinger. The writer Francois Mauriac described her as "a
charming little monster." Her oeuvre includes dozens of works for print
and performance. She suffered a car accident in 1957, an experience
that left
her addicted to painkillers and other drugs for much of her life.
*
Tình
yêu trong tác phẩm
Phạm Thị Hoài
Nhà văn Phạm Thị Hoài, giống như Nguyễn Huy Thiệp, cũng
nhìn vấn đề tình yêu với một cặp mắt đầy ngờ vực.
NHQ Blog VOA
Đọc Sến Cô Nương
như thế này, thì thật khó mà suy ra rằng, Thầy Cuốc 'rất chịu' bà chị
của ông!
Cách đọc NHT
và PTH của Thầy Cuốc, vẫn luẩn quẩn ở trong vòng ‘hiện tượng’, chưa
nhìn ra đâu
là bản chất của hiện tượng, nhìn cây thấy cây, chẳng thấy rừng, là vậy.
Cả hai ông/bà
này, khi mô tả tình yêu Bắc Kít nhếch nhác, thảm hại như thế, trước
hết, và trên
tất cả, là để chửi bố thứ tình yêu ‘ở hai đầu nỗi nhớ’, thứ tình cảm
lãng mạn cách
mạng ‘cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn’, ‘đường ra trận mùa này đẹp
lắm’:
Thay vì mô tả cái đẹp khốn kiếp của tình yêu cách mạng này, thì chọn
thứ tình yêu nhếch nhác
thảm hại kia, với cái mặt nổi của nó, là đốp
chát, là chua như kít mèo, là kết án, tất cả chỉ là sến!
Nếu tất cả chỉ là
sến, thì thứ tình yêu đích thực, theo kiểu ‘thánh nữ' của GNV, thứ tình
khùng, "Anh yêu em bởi vì anh yêu Hà Lội", thí
dụ, nó ở đâu, nó..
có không, ở cái xứ Bắc Kít?
*
“Ngờ vực”
cũng không đúng! (1)
Cái từ 'vấn đề' trước
'tình yêu', cũng có vấn đề!
Có vẻ như Thầy Cuốc không rành tiếng Mít!
Bạn thân của Thầy, thì lầm 'gục ngã' với 'vấp ngã'!
Bất giác Gấu lại nhớ tới
những ngày mới ra ngoài này, nghe một em Mít
xuớng ngôn viên tường thuật
một cuộc họp mặt, hay gặp gỡ trong cộng đồng Mít, tại một thành phố địa
phương,
‘có sự tham dự của rất nhiều nhân vật tai tiếng Mít’ [em nhầm 'tăm
tiếng' với
'tai tiếng'!]
Chán quá!
[Nhưng biết đâu đấy, em dùng đúng từ, chính Gấu mới 'bé cái lầm'?]
(1)
Đúng ra phải
viết, NHT và PTH nhìn tình yêu với cặp mắt ngờ vực.
Nhưng nếu viết
như vậy, tuy đúng văn phạm, thì lại sai về nhận định, vì cả hai không
ngờ vực tình
yêu, mà chỉ biết, chỉ mô tả thứ tình yêu nhếch nhác, tha hóa.
Theo
như mô tả của Thầy Cuốc, cả hai đâu biết gì, về một thứ tình yêu nào
khác, để
mà… ‘ngờ vực’?
Đọc loạt bài
của Thầy Cuốc nhắm vào nhà nước VC trên VOA, Gấu có ý nghĩ, Thầy mù tịt
về chủ
nghĩa toàn trị, và về một số tác giả nổi cộm, thí dụ như Arendt, viết
về nó.
Nhất
là câu này của bà:
Để chống lại
chủ nghĩa toàn trị, bạn chỉ cần nhớ, có mỗi một điều này: Chủ nghĩa
toàn trị nhất
quyết không thí cho bạn một tí tự
do nào.
Hannah Arendt:
Về bản chất của chủ nghĩa toàn trị
[In order to fight totalitarianism, one need understand
only one thing: Totalitarianism is the most radical denial of freedom.]
Đừng nghe những
gì họ nói
NHQ Blog VOA
Nhan đề bài
viết này nghe hao hao như một câu nói quen thuộc lắm ở miền Nam trước
1975 và cả
ở hải ngoại sau này nữa, phải không?
Có
vẻ như Thầy rất ư là lúng túng khi sử dụng tiếng Mít. Câu trên, và nội
dung bài
viết cho thấy, nó như vầy:
Cái tít của tôi, chôm từ câu phán trứ danh, ai cũng rành,
của ông Thiệu.
"Vâng, đúng vậy. Có điều, tôi không trích
nguyên văn
vì thấy sao nó sáo quá. Ai cũng nói thế. Năm này qua năm khác, suốt mấy
chục
năm trời. Nên sợ nhàm. Có điều, sợ nhàm, nhưng tôi lại không thể không
nhắc lại
vì không thể tìm ra cách nói nào chính xác hơn. Và mạnh hơn."!
Đã 'chôm'
mà còn mầu mè, 'hao hao','sao sáo quá'!
Sao 'hao hao, sao chán
quá'!
Nhân tiện, post lại một số
bài trên TV, mời Thầy Cuốc 'đọc chơi'!
Nhìn lại chủ nghĩa toàn trị
Mô phỏng câu
thơ nổi danh của thi sĩ Đức, Holderlin, "Tại sao thi sĩ trong thời khốn
khổ",
phần kết luận của cuốn sách mở ra bằng câu hỏi, "Tại sao bần cố nông
trong
thời đẫm thơ?" [What are the destitute (proletarians) for in a poetic
time?], tác giả "cẩn trọng" những độc giả của ông, rằng sau sự phá sản
của Chủ Nghĩa Xã Hội, bóng ma của sự "đe dọa mang tính toàn trị" đã
sống
sót, dưới ba dạng: a) những kẻ theo chủ nghĩa chính thống tông
giáo-chủng tộc,
thường được nhân cách hóa ở những nhà Độc Tài Ma Quỉ (Evil Dictators),
như
Slobodan Milosevic, Saddam Hussein, hay ‘những nhà độc tài khùng điên’
của Thế
Giới Thứ Ba, b) sự lớn mạnh của chủ nghĩa dân túy Tân Hữu Phái (the New
Right
populism) ở ngay tại Tây Phương, và sau cùng, c) Ông Anh Bự thuật số,
(the digital
Big Brother).
Ranh giới"tư"
và "công" trong thế giới xã hội chủ nghĩa.
Nhật Ký của tên tử tội thuộc vào
"giai cấp lớn" (la
grande classe) của những tác phẩm văn học, mà chỉ tự chúng là đủ để
biện minh,
cho chỉ một từ: văn học. Tác giả của nó, Kouznetsov, một kẻ chẳng ai
hay
(inconnu), một kẻ lạ, một người bị chôn sống, trong những vùng u tối mà
chúng
ta chẳng làm sao mò tới gần. Nhưng ông viết một cuốn sách, cuốn sách
độc nhất
mà chúng ta được biết tới qua bản dịch, và nhờ vậy, chúng ta có cơ hội
gần gụi
với ông, đến nỗi chúng ta có thể nhận ra ông, khi gặp ở ngoài đường
phố. Nhờ
những ghi chú vội vã, những ghi chú như của báu may mắn vớ được, trong
mỗi ngày
ở trại tù, như giành giật được, từ những tên quản giáo, với cái nhìn cú
vọ,
khốn kiếp (nguyên văn: sa-đích), nhờ vậy mà ông nối liền với chúng ta,
vượt lên
trên mọi ranh giới, từ thiên nhiên cho tới xã hội, cho tới thời gian...
Nhờ nó,
cuốn Nhật Ký, ông đã bẻ gẫy những cánh cửa nhà tù, nói theo tính cách
đạo đức,
ít ra là như vậy. Nói như thế không có nghĩa coi nhà tù giống như một
thứ tự do
còn hơn cả thứ tự do thiệt ở ngoài đời. Bởi vì ở trong địa ngục trại
cải tạo mà
con người này còn phải trải qua trong nhiều năm, chính là nhờ văn
chương mà anh
ta cố níu kéo cuộc sống, nó cho phép anh ta sống sót, và nó cho phép
anh ta trở
thành thật gần gũi, thật thân thương, thật sờ sờ trước mắt chúng ta.
Tất cả làm
chúng ta suy ra điều này: văn chương, chính nó, có thể có ngày gục ngã,
ròng rã
trong những ngày tháng triền miên ở nơi trại cải tạo. Và chính nó là
cái mà
chúng ta cần phải cứu vớt, còn hơn cả tác giả của nó.
Đừng nghe những
gì họ nói
Nhan đề bài
viết này nghe hao hao như một câu nói quen thuộc lắm ở miền Nam trước
1975 và cả
ở hải ngoại sau này nữa, phải không?
NHQ Blog VOA
Đọc lại, thấy
cái từ 'phải không' nghe 'hao hao' nực!
Thầy Cuốc
làm như độc giả là học trò của Thầy.
Vụ này, có một
tay đã nhắc khéo Thầy rồi, Gấu không tiện nêu tên ra ở đây, vì, có thể,
Thầy Cuốc
lại nghĩ Gấu cần 'đồng minh'!
Phải không?
*
Mấy lời! (1)
(1)
Trong thời
gian Nguyễn Thị Minh Ngọc có những truyện ngắn (khá hay) đăng trên tờ
Văn của
Trần Phong Giao/Nguyễn Đình Vượng, Hoàng Ngọc Tuấn đã là một nhà văn có
tên tuổi
trên văn đàn thời bấy giờ (nếu không muốn nói là “hot”) và đã có nhiều
tác phẩm
ấn hành dược sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhiều thành phần độc giả. Tôi
không
tin là NTMinh Ngọc có đủ khả năng “đỡ đầu” hay gà cho HNT viết Thư Về
Đường Sơn
Cúc. Chẳng qua, theo tôi TVDSC chỉ là kết quả của sự gặp gỡ giữa hai
tâm hồn
văn nghệ bay bổng : HNT đã lấy cảm hứng từ NTMN để viết nên thiên “tình
thi”
thơ mộng và trong sáng này .
Mấy lời
HXS
[Da Mau]
Mấy lời!
Bảnh thật!
Đâu có thua
gì nhà phê bình: Đã đành với giọng văn hờ hững như thế, tôi đâu có coi
mấy thằng
đó ra cái gì.
Láo (1) đến
như thế làm sao không 'nực' cho được!
Đâu có thua
gì hai chữ ‘phải không’ của Thầy Cuốc?
Đọc Thầy Cuốc,
và nhiều người viết Mít khác, Gấu ngộ ra một điều, cũng đã từng lèm
nhiều về
cái sự ngộ này rồi, đó là, quả là có hai loại người viết, một, viết để
bịp
thiên hạ, và có khi bịp cả chính mình, rằng ta sinh ra đời, là để làm
nhà văn,
nhà thơ. Một, viết, vì không thể làm được làm bất cứ một nghề nào khác.
Kafka là một
trong số người này.
Kafka làm
nhiều nghề, khác. Nhưng rõ ra là, ông là nhà văn, bởi vì rõ ra rằng là,
nếu
không có ông, thì bỏ mẹ tất cả nhân loại!
Hà, hà!
Trong những
cuốn Martel đề nghị thủ trưởng của ông, và cũng là của Gấu, thủ tướng
Canada,
có cuốn Hoá Thân.
TV post ở
đây, và sẽ lèm bèm bèm tiếp.
(1) Láo, từ
này không phải của Gấu, mà là của một đệ tử, hoặc bạn của Thầy Cuốc,
trong 1
cái mail, hoạnh hoẹ Gấu, tại sao láo thế.
Gấu tin là,
tay này không đọc ra được lời cám ơn của Gấu gửi tới một, [hai đúng
hơn], độc
giả TV, báo động có virus trên trang net. Vụ
này, kiếm chưa 'gốc', báo cáo tiếp, sau. NQT
V/v ‘đỡ đầu, gà’ này, là ý
kiến của Gấu,
khi đọc HNT. Nhà thơ nhớn này đếch thèm nhắc đến tên Gấu, ra cái điều
mi là thằng
nào tao đếch thèm biết, nhưng cái ý kiến của mi láo quá, nhảm quá, tao
đành phải
đi vài đường ‘mấy lời’, và để bảo vệ cái ý kiến trên, Gấu đã đành phải
đi một
đường dài, giải thích cách đọc HNT của Gấu.
HNT rất
giống Schulz, [đọc Tuổi thiên tài],
ở đời thường, khoan nói chuyện văn chương, nghệ thuật. Cả hai đều khốn
khổ khốn
nạn, sinh ra đời là đã chỉ muốn xin lỗi cuộc đời, xin lỗi, tớ tới nhầm
chỗ,
đúng ra tớ không nên bò ra cõi đời này.
Lũ khốn nạn làm sao mà đọc ra những điều như trên, thành ra xúm lại
chửi Gấu,
cũng là chuyện dễ hiểu.
Ngay cả cái đám bạn thân của HNT cũng không đọc ra nổi cái sự khác biệt
như
trên. Chúng cũng nghĩ là GNV làm xấu bạn của chúng!
Sự kiện HNT không thể là tác giả TPersuasions TVDSC, cho thấy, ông
không thể là
một TS, hay KP… hay bất cứ một thứ chuyên viết biếm văn bẩn thỉu của
Sài Gòn
ngày nào!
Bài viết của Grossman về Schulz
thật tuyệt. TV sẽ dịch, cũng là
một cách tưởng niệm cả hai, Schulz và Hoàng Ngọc Tuấn, và cũng là một
cách hoài
nhớ về Tuổi thiên tài, về huyền thoại của một con cá hồi:
Uyên đã thực
sự rời bỏ dòng sông để ra biển cả, không hề hiểu được
một điều: biển cả, bởi vì mênh mông, cho nên thật khó mà nhận ra con
đường ngày
ra đi, hay tìm thấy được, con đường trở về...
Nơi giòng sông chảy
về phía nam
Vụ Án
Lãnh đạo không biết thương dân
Nhan
đề bài viết này rõ ràng là được ăn cắp từ bài viết “Tôi không thấy lãnh
đạo Hà
Nội biết thương dân”
NHQ
Có
vẻ Thày Cuốc hơi bị bực, khi viết như trên, chắc là do Gấu lèm bèm Thầy
v/v
‘chôm' câu nói trứ danh của tông tông Thiệu mà còn mầu mè 'hao hao, sao
thấy
sáo, phải hông'?
Nhưng
cái tít này hơi bị nhảm. Lãnh đạo thương dân? Ai cho phép mi thương
nhân dân?
Mày là đầy tớ của nhân dân, đâu phải bố mẹ của nhân dân?
Vụ Án
“hành động
vô căn” (action gratuite)
Note: Đúng
ra, nên dùng, 'acte gratuit', hành động vô cớ; 'action' là một từ 'trừu
tượng hóa', 'sự hành động', không phải 'hành động', acte.
Từ này gốc gác liên quan
tới nhóm
Siêu thực, và Soupault có một câu phán thật hách về nó, Gấu nhớ đại
khái,
để gõ
Google, sau
Acte gratuit
Term used by Gide
to
designate utterly unmotivated behaviour that defies routine, custom,
and normal
explanations. The hero of Les
Caves du Vatican exemplifies it when for no reason he pushes an
old man
to his death from a moving train. The notion attracted controversy and
won
devotees, especially among the Surrealists.
Thuật ngữ được
Gide sử dụng để chỉ một thái độ, cách hành xử không duyên do, động cơ,
thách đố
thói quen, tập quán, những lời giải thích thông thường. Nhân vật trong Những hầm
Vatican minh họa nó, khi vô tư đẩy một ông già xuống đường tầu
khi xe
đang chạy tới.
Ý niệm này gây tranh luận và được nhiều tay hò theo, đặc biệt là trong
đám Siêu
thực.
*
Hành động của nhân vật
trong Kẻ Xa Lạ thực sự không
thể coi là vô
cớ, nhất
là những phát súng tiếp theo, sau cú thứ nhất, chính vì thế, mà khi
được hỏi, tạo
sao mi dã man như vậy, vô tư xả súng vào cái thây người, Meursault bèn
phịa ra lý
do, tại mặt trời làm chói mắt, hoặc, tiếng súng thứ nhất làm vỡ sự cân
bằng của
một buổi sáng chủ nhật, đầy ánh nắng mặt trời, nơi bãi biển Địa Trung
Hải...
Camus giải
thích ‘hành động vô cớ’ của Meursault, bằng sự phi lý của kiếp người.
Và khi phải
giải thích thái độ của nhân vật của ông, trước những tấn công của
Sartre, trong
bài viết nổi tiếng, ‘Giải thích Kẻ Xa Lạ’, Explication de l’Étranger, vào năm 1954, một người Đức đã gửi thư cho Camus,
đề nghị và
xin phép đưa Kẻ Xa Lạ lên sân
khấu, ông nhân đó, trả lời gián tiếp Sartre, có
thể nói như vậy.
Thư này lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc trưng bầy "Những
câu chuyện về một cuốn sách: ‘Kẻ Xa Lạ’ của Albert Camus". 1990.
Paris, ngày 8 tháng Chín, 1954
"Ông thân mến,
... Ông hẳn cũng đoán ra được, dự án của ông làm tôi phân vân. Đã hai
mươi năm
tôi quan tâm tới kịch nghệ, từ đủ thứ khía cạnh của nó (tôi đã từng là
diễn
viên, và là nhà đạo diễn), và tôi biết rằng, thứ ánh sáng còn sống, còn
tươi
(cru) là ánh đèn chói lòa ở sàn quay, thật khác xa cái thứ ánh sáng
được tính
toán thật chi ly mà người ta đưa vào trong một cuốn tiểu thuyết. Trước
ánh sáng
chói chang đó, một nhân vật, cho dù đứng thẳng ở trong một câu chuyện
kể, có thể
ngã lăn đùng ra. Nhưng lá thư của ông, và của M. Deblue làm cho tôi
thật muốn
lao vào cuộc phiêu lưu này. Và do kinh nghiệm, tôi biết rằng, chỉ sự
tương kính
giữa hai cá nhân mới là đảm bảo số một, khi quyết định cộng tác. Và tôi
đồng ý
để ông thực hiện dự án đưa tiểu thuyết Kẻ Xa Lạ thành kịch trình diễn...
Được đấy, ông bạn ạ, cái dự án của ông. Chỉ có hai điểm xuyết nho nhỏ:
1. [Khán giả mà] không được coi cái xen giết người thì thật là bực mình
lắm đấy.
Bởi vì đây là trái tim [centre: trung tâm] của câu chuyện. Đây là một
cú giết
người có mặt trời ở trong đó. Mặt trời ở đây là trung tâm mà thảm kịch
xoay
quanh. Và thảm kịch sáng chói lên nhờ ánh sáng mặt trời chiếu vào nó.
Theo tôi,
đây là điều làm cho nó khác với một câu chuyện u tối, và thoát tục
[désincarné:
mất xác phàm; có xác phàm thì mới có chuyện giết người], theo kiểu của
Kafka.
Ông sẽ nói, khó lắm đấy, nếu trình diễn được như thế. Tôi trả lời: Đúng
như vậy.
Khó lắm đấy. Hãy cố mà tìm tòi, và một khi vớ được, vở kịch của ông mới
nguyên
xi biết bao; ấy là tôi muốn nói, cái chất sáng tạo của kẻ đạo diễn.
2. Cái xen độc thoại kết thúc màn thứ sáu, theo tôi, là bất khả thực
hiện. Trên
sân khấu độc thoại chỉ đi được với những cử chỉ, động tác (ấy là với
những diễn
viên số một). Thực hiện theo cách của ông, như ở xen đó, sẽ trở thành
"lên
lớp, giảng mo-ran", nghĩa là rất kịch cợm, tôi muốn nói, giả tạo.
... Nói ngắn gọn, tôi muốn làm sao tránh xa khỏi kiểu đua đòi Kafka, và
chủ
nghĩa biểu hiện (expressionnisme). "Kẻ Xa Lạ" không hiện thực mà cũng
không kỳ quái (fantastique). Với tôi, đây là một thứ huyền thoại nhập
thể
(incarné: nhập xác phàm), không lơ mơ mà bám cứng lấy cõi người ta, tới
tận da,
tận xương, tận tủy. Và tới tận cùng của hơi nóng ngày ngày. Người ta
muốn coi đấy
là một kiểu cọ mới của vô đạo đức (immoraliste). Vậy là lầm to. Cái đập
vào mặt
chúng ta ở đây, không phải là đạo đức, mà là thế giới của vụ án, nó
trưởng giả,
nó quốc xã, nó cộng sản, nói tóm gọn, đây chính là vết lở lói đương
thời.
Riêng với anh chàng Meursault, có chút hướng thượng ở anh ta, và đó là
từ chối,
tới chết: nói dối.... Meursault không ở phía những ông tòa, lề luật xã
hội, những
tình cảm ước lệ, đóng hộp. Anh ta có đó, như hòn sỏi, như ngọn gió, như
biển cả,
dưới mặt trời. Và cũng như sỏi đá, chúng có thể biết đau, nhưng không
thể nói dối,
chẳng bao giờ nói dối.... Nếu ông đọc cuốn sách theo kiểu tôi vừa đề
nghị, ông
sẽ nhận ra một thứ đạo đức của sự chân thành, và một niềm vui, vừa tiếu
lâm vừa
bi thảm, về cõi đời. Chính những điều này làm nó thoát ra khỏi vẻ u
tối, biểu
hiện, hay là thứ ánh sáng của sự tuyệt vọng....
Thân ái...
Albert Camus.
Kẻ Xa Lạ
Nhưng rõ nhất,
là câu trả lời của cô con gái của Camus:
Viết là
phơi bày ngộ
nhận, chẳng
được ai nghe. Cha tôi biết rất rõ điều này. Khi đó, dù chỉ là một đứa
con nít,
nhưng tôi thấy chung quanh cha tôi là cả một sự hung hãn, gây gổ. Năm
1951, khi
viết « Con người nổi loạn”, là ông đụng vô ổ kiến lửa, lay đến tận gốc
điều cấm
kỵ. Vào thời buổi đó, cấm không được đụng tới Xô-Viết, trong khi ai
cũng quá
rành về sự hiện hữu của trại tù Goulag. Họ bảo, phải bảo vệ nghĩa
cả! Và
họ câm miệng. Còn ông, ông tung hê hết. Thế là cả đám sưng lên.
Một bữa
– sau
này tôi mới biết, do đụng độ với tờ « Thời Mới », qua đó, theo lệnh
Sartre,
Francis Jeanson đã ‘tàn sát’ cuốn sách của ông - tôi thấy cha tôi ở
trong phòng
khách, ngồi trên chiếc ghế bành thấp, đầu cúi xuống. Tôi nói: « Ba buồn
hả ba?
» Ông ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt tôi và nói: « Không, ba cô đơn.
» Tôi
không bao giờ quên câu này. Nó làm cho tôi phát bực! Tôi không biết làm
sao để
nói cho ba tôi hiểu, làm sao ông nói cô đơn, khi có tôi ở kế bên.
Cathérine
Camus: Camus, mon père.
Tribute to Camus
Vụ Án
Cách đây mấy
năm, một số sinh viên của tôi rủ rê: “Thầy vào facebook đi để bọn em dễ
nói
chuyện, thầy!”. Tôi ngần ngừ: “Tôi dốt về kỹ thuật lắm!” Họ động viên:
“Dễ ợt
mà thầy! Để bọn em chỉ cho.” Thế là chỉ mấy phút sau, trong danh sách
mấy trăm
triệu “Facebook users” trên thế giới, có thêm tên của tôi.
NHQ Blog VOA
Ui chao, GNV
đọc, bồi hồi nhớ ‘em’ của Gấu, cũng mới đây thôi, phán, ‘anh’ vô facebook đi, để
tán nhảm mí em! (1)
Nhờ vậy, có
được bài viết nhảm về thơ:
Đọc loạt bài
của Thầy về bằng giả, bằng thật, ở trong nước, Gấu lại nhớ tới tay thi
sĩ ‘Về
Nguồn’ ở trại tị nạn, khi đi thanh lọc, trình ra một mớ thơ ‘con cóc’,
phỏng vấn
viên, sau khi nghe thông dịch viên dịch qua tiếng Thái, sững sờ hỏi,
thơ ‘vô hại’
như thế này, làm sao mà lại bị ‘bách hại’, thi sĩ gật gù phán, VC sợ
nhất thứ
thơ về nguồn, vì chúng không có nguồn, do chúng thờ ông Mác, mũi lõ,
râu rậm.
Thanh lọc viên nghe có lý, bèn cho đậu, thế là đi đâu anh ta cũng vỗ
ngực xưng
tên là thi sĩ, hỏi, thì tớ đã được Cao Uỷ thị thực rồi!
Bằng chó nào
thì cũng đồ dởm hết, trừ một khi, nó được chứng tỏ giá trị thực, qua
thực tiễn.
Cái bằng của
Thầy Cuốc, nếu cứ đọc những bài viết của Thầy, thì cũng một thứ như của
Cao Uỷ
mà thôi: Tôi dốt về 'kỹ thuật' lắm!
Gấu nhớ đến mấy
ông thầy kỹ sư viễn thông của Gấu. Phải có cử nhân khoa học, mới được
học, rồi
học bù đầu mới trở thành ‘ingénieur télécòm’, vậy mà về mặt thực hành,
mấy ông thua
cả một anh thợ quèn.
Bởi vậy mới
có câu lý thuyết không thôi, là không tưởng, thực hành không thôi, là
thằng
ngu!
Thử hỏi những
ông tốt nghiệp cử nhân triết văn khoa Sài Gòn, có ông nào thành triết
gia,
thành nhà văn, thành nhà thơ đâu?
Với giới cầm
bút, chỉ có tác phẩm chứng tỏ tài năng thực của bạn. Đó là sự thực cay
đắng cho
mấy tên bất tài, bằng hay không bằng!
(1)
anh ơi, chúc mừng SN anh, và mong anh luôn khỏe.
August 16 at
12:19pm
TKS. TAKE CARE. NQT
PERSPECTIVE
They passed like strangers,
without a word or gesture,
her off to the store,
him heading for the car.
Perhaps startled
or distracted,
or forgetting
that for a short while
they'd been in love forever.
Still, there's no guarantee
that it was them.
Maybe yes from a distance,
but not close up.
I watched them from the
window,
and those who observe from above
are often mistaken.
She vanished beyond the
glass door.
He got in behind the wheel
and took off.
As if nothing had happened,
if it had.
And I, sure for just a
moment
that I'd seen it,
strive to convince you, O Readers,
with this accidental little poem
that it was sad.
-Wislawa Szymborska
(Translated, from the Polish, by Stanislaw Baranczak and Clare
Cavanagh.)
Viễn tượng
Họ
đi ngang nhau như hai kẻ xa lạ,
Chẳng một lời, một cử chỉ
Nàng tới tiệm
Chàng hướng xe
Có lẽ nhói một cái,
Hay lơ là một tí
Hoặc lãng quên một tẹo
Và thế là trong một thoáng,
Họ yêu nhau
Thiên thu bất tận
Tuy nhiên chẳng có chi
bảo đảm
Đó là Gấu và CM
Có lẽ đúng là hai đứa đó
Nếu nhìn từ xa
Đừng dí mắt thật gần
Tôi nhìn hai đứa từ trên
cửa sổ
Và nhìn từ xa, từ phía bên trên như thế
Thường hú họa
CM biến mất quá cánh cửa
kiếng
Gấu ngồi vô xe
Và tếch
Như chẳng có gì xẩy ra
Giả như có gì
Và tôi, chắc chắn vào
lúc đó
Nhìn thấy như vậy
Và cố gắng thuyết phục bạn,
Ôi nnhững độc giả của tôi
Bằng bài thơ nho nhỏ tình cờ này
Rằng, buồn, buồn thật đấy
[To CM. The Bear]
Danh hiệu
nhà văn hay nhà thơ không gắn liền với nghề cầm bút mà chủ yếu gắn liền
với sự
nghiệp văn học. Sự nghiệp văn học được làm nên bởi tác phẩm. Chỉ bởi
tác phẩm.
Do đó, tác phẩm còn thì sự nghiệp họ còn; sự nghiệp họ còn thì danh
hiệu nhà
văn hay nhà thơ của họ còn.
Nhưng lỡ tác
phẩm của họ không còn thì sao? Lỡ tác phẩm của họ, in xong, rơi tuột
ngay vào
quên lãng, không ai nhớ và cũng không thực sự có đóng góp đáng kể nào
vào kho
tàng văn học của dân tộc thì sao?
Thì họ không
còn là nhà thơ hay nhà văn nữa. Chứ sao?
Nói cho
đúng, những người ấy cũng chưa bao giờ thực sự là nhà thơ hay nhà văn.
Họ bị
gán oan cho cái danh hiệu nhà thơ và nhà văn. Họ tự nhận nhầm là nhà
thơ và nhà
văn.
Họ là những
kẻ xài hộ chiếu giả trong thế giới văn học.
Bạn nghĩ
xem, những kẻ xài hộ chiếu giả như thế có nhiều không?
NHQ Blog VOA
Note: Có,
nhiều lắm đấy, trong có chính Thầy Cuốc!
Đùa cho vui, nhưng, lập luận của Thầy thật đại nhảm. Và là do cái lòng
háo danh
mà ra.
Một tác phẩm
văn học, chỉ có thể chứng tỏ giả hay thật, qua thời gian. Mà thời gian
thì… vô cùng.
Thứ tác phẩm vừa ra đời được vồ vập,
là thứ rất đáng ngờ. Có khi chính tác giả của nó, khi viết nó, thì đã
biết là đồ
dởm, thí dụ, những best-sellers.
Tác phẩm của
Thầy Cuốc, được vồ vập là thế, bây giờ, chẳng chìm vào quên lãng, ư?
*
Sontag viết:
Làm sao giải thích sự chìm vào tối tăm quên lãng của một trong những vị
anh
hùng bảnh nhất, cả về đạo hạnh lẫn văn chương của thế kỷ 20: Victor
Serge? Làm
thế nào mà hiểu được cái sự lơ là không được biết đến của cuốn Trường hợp Đồng
chí Tulayev, một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời,
đã từng được
lại khám phá ra, rồi lại chìm vào quên lãng, ngay từ khi vừa được xuất
bản, một
năm sau khi ông mất, 1947?
Phải chăng, đó là do không
có xứ sở nào nhận [claim] ông ?
NKTV
Ui chao, không
lẽ đây cũng là trường hợp của Thầy Cuốc: VC chẳng chịu ‘claim’, ông?
Nếu đúng như
Thầy Cuốc viết, thì, 1 trong những kẻ xài hộ chiếu giả, là Walter
Benjamin. Khi
ông còn sống, có ai thèm đọc ông đâu. Đi thi lấy bằng tiến sĩ như Thầy
Cuốc, để
mà sống nhờ nó, "như Thầy Cuốc", thì cũng bị đánh rớt. Vậy mà...
Hannah
Arendt đã viết về Walter Benjamin, trong bài giới thiệu tác phẩm
"Illuminations" của ông (trích đoạn):
Fama, nữ thần được (người đời) say đắm nhất, có nhiều bộ mặt, và danh
vọng
(fame) tới với họ bằng đủ kiểu - từ tiếng tăm một-tuần cho tới
vượt-thời-gian!
Danh vọng "muộn" (posthume) - sau khi đã xuống lỗ - ít được người đời
ham chuộng, tuy đây là thứ vững vàng nhất. Thứ hàng (nhà văn) có lời
nhất, thì
đã chết, và do đó, không phải là đồ "lạc xoong" (for sale).
Trong vài món hiếm muộn, phi-thương, phi-lợi (uncommercial and
unprofitable),
có Walter Benjamin. Không nổi tiếng, tuy có được người đời biết đến,
như là một
"cộng tác viên" cho vài tạp chí, trang văn nghệ nhật báo trong thời
gian chừng 10 năm trước khi Hitler nắm quyền, và cuộc tống xuất "tự
nguyện"
của riêng ông.
Cái chết "tự nguyện" sau đó, vào những ngày sắp sửa đứt phim, thời kỳ
1940, đối với nhiều người cùng gốc gác và thế hệ ông, đã đánh dấu một
thời điểm
đen tối nhất của cuộc chiến - mất nước Pháp, Anh quốc bị hăm dọa, và
hiệp ước
Hitler-Stalin (lúc đó) còn nguyên vẹn, và hậu quả đáng sợ nhất, từ nó:
sự hợp
tác chặt chẽ giữa hai lực lượng công an quyền lực nhất tại Âu-châu.
Giả dụ đường đời bằng phẳng: chuyện đời sẽ khác hẳn, nếu những kẻ chiến
thắng
trong cái chết, là những kẻ thành công trong cuộc đời (How different
everything
would have been "if they had been victorious in life who have won
victory
in death"). Danh vọng muộn, một điều chi rất ư kỳ cục, cho nên không
thể
trách cứ, rằng không có mắt xanh (người đời mù hết), hay là chuyện
chiếu trên
chiếu dưới, xôi thịt, tham nhũng... trong "đám" nhà văn, "ô nhiễm"
trong "môi trường văn chương".
Bất tri tam bách: không thể coi, đây là phần thưởng cay đắng cho một kẻ
đi trước
thời của mình, như thể lịch sử là một chạy đua, người chạy nhanh nhất
đã mất
hút trước khi người đời kịp nhìn...
Ngược lại: Trước khi có danh vọng muộn, đã có tri âm, dù ít oi, giữa
những kẻ
ngang hàng. Khi Kafka mất vào năm 1924, sách của ông bán chừng vài trăm
cuốn,
nhưng với bạn văn và một ít độc giả, qua mớ tản mạn này (chưa có một
cuốn tiểu
thuyết nào của Kafka được xuất bản): không nghi ngờ chi, đây là một
trong những
bậc thầy của văn xuôi hiện đại. Walter Benjamin cũng được vinh dự này.
Bertolt
Brecht, khi được tin ông mất, đã tuyên bố: đây là tổn thất thực, thứ
nhất, mà
Lò Thiêu đã gây ra cho văn chương Đức.
*
Danh hiệu
nhà văn hay nhà thơ không gắn liền với nghề cầm bút mà chủ yếu gắn liền
với sự
nghiệp văn học.
NHQ
Đại ngôn dữ
a!
Lại nhớ đến ông
bạn tái ngộ (1) nơi xứ người những ngày đầu, trong khi giúi cuốn VHTQ
của
VP vô tay,
thì miệng thì thầm, hãnh diện giùm cho thằng bạn ‘bất đắc dĩ’ ngày
nào:
Ông được vô
văn học sử rồi!
(1)
Fri,
September 3, 2010 12:25:12 PM
… Anh N. sap
chet. Lim di roi chi con trai tim chua chet han.
Vụ Án
Lời giới thiệu
của Ng~: Chinh Ba tên thật là Phan Văn Nhựt, sanh quán làng Bảo An,
Điện Bàn,
Quảng Nam. Ông còn có tên khác là Phan Mai. Chinh Ba đã từng bị nhà cầm
quyền
Sài Gòn kết án tù 3 năm (không rõ lý do). Sau bỏ trốn qua Cambodge,
sang
Hongkong, rồi định cư tại Pháp. Bài viết của ông đăng trên tạp chí Bách
Khoa số
đầu tiên tháng 1.1957 và sau đó rải rác trên các tạp chí văn nghệ Sài
Gòn.
Truyện ngắn
“Bài thơ trên xương cụt” đăng trên tạp chí văn nghệ Giữ Thơm Quê Mẹ số
4 tháng
4. 1964 (do Lá Bối xuất bản, Hoài Khanh coi sóc).
Nội dung
truyện là phơi bày bộ mặt thật về cách hành xử của nhà cầm quyền đối
với văn
nghệ sĩ, của thứ quyền lực hắc ám đối với văn chương vô cùng bỉ ổi,
trâng tráo. Đó là thời của
kiểm duyệt, tịch thu, tù tội... vì không chịu nói theo điều nhà
cầm quyền nói và làm.
Những tạp
chí, nhật báo đối lập (Đối Diện, Tự Quyết, Tin Văn...) bị hốt sạch khi
vừa phát
hành, bị xóa nhiều đoạn, nhiều trang, đến các tạp chí văn chương như
Văn, Bách
Khoa, Trình Bày... và cả Giữ Thơm Quê Mẹ cũng luôn bị đục trắng, bôi
đen vì phạm
húy, nội dung có lợi cho cộng sản...
“Bài thơ
trên xương cụt” nếu xuất hiện tại các nước dân chủ, tự do thì không có
gì gọi
là đặc biệt. Tuy nhiên nó lại xuất hiện ở Việt Nam, một đất nước luôn
dồn ép
cái đẹp đến chân tường, đến tận cùng sự man rợ và nhục nhã, thì đến
nay, đọc lại
vẫn còn nguyên giá trị, khi mà những trang mạng luôn bị tấn công bởi
thế lực gớm
ghiếc và vô cùng hèn mạt.
Sài Gòn (cũ)
dám nhân danh tự do dân chủ thông qua Bộ Hốt Cắt Đục (Bộ Thông Tin) để
bịt mồm
văn nghệ sĩ, báo chí... Còn Hà Nội bây giờ thì lại núp dưới bóng Mafia
để bịt mồm
những ai nói lên sự thật do họ gây ra?
Mời các bạn
đọc truyện này để xót xa cho một đất nước không bao giờ có cái gọi là
Đệ Tứ Quyền!
*
Viết như thế
này, là cố tình nhập nhằng, lập lờ, ‘cào bằng’ hai chế độ. Khi cho đăng
những lời
như thế này, chứng tỏ, có sự ấu trĩ của người chủ trương diễn đàn.
Ở đây, không
có chuyện tranh chấp giữa hai chế độ, bởi vì chế độ Miền Bắc và sau
này, chế độ
cả nước, là chế độ toàn trị, 'nhất quyết không thí cho người dân một tí
tự do nào', như Arendt phán, không thể so sánh với bất cứ một chế độ
dân chủ
nào khác, cho dù khắc nghiệt tới đâu. Trong truyện ngắn giả tưởng của
Chinh Ba, tác
giả không hề có ý định coi nhân vật phản diện của ông tượng trưng cho
chế độ
VNCH đã chết từ đời nảo đời nào.
Những ai đã
từng sống cả hai chế độ, thì đều nhận ra sự khác biệt của chúng. Những
dòng do TV gạch đìt trên, là một sự bịa đặt trắng trợn. Kiểm duyệt, có,
vì cuộc chiến giữa hai miền, hai chế độ, nhưng làm gì tới mức như trong
lời giới thiệu.
Chứng cớ rõ
ràng nhất là trường hợp VH. Ông bị tố cáo là VC nằm vùng, mà đúng như
thế, PEN
Việt Nam ra lệnh cho VNCH, này, mi có chứng cớ gì không, nếu không có,
phải thả
liền.
VNCH phải thả!
Truyện ngắn
của Chinh Ba cao hơn cách nhìn của người giới thiệu. Ở đây, có sự khinh
miệt của
người nghệ sĩ trước con mắt trắng dã của kẻ phàm tục, đối với văn
chương nghệ
thuật.
Đâu có mắc mớ gì đến một chế độ, dù toàn trị, dù VNCH?
Nguyên
Sa Trần Bích Lan
Blog NL
NVK khó có
thể coi là nhà biên khảo, vì thiếu sự thận trọng, óc phân tích, tổng
hợp, sắp xếp
tài liệu…
Có tí háo
danh nữa, tuy nhiên không phải thứ đố kỵ, thù hằn, tiểu tâm khi viết.
Về mặt này,
NVK còn ‘oách’ hơn THT, và luôn cả VP.
THT bỏ luôn
cả những người thực sự có tí đóng góp vào VHMN, thí dụ như NQT!
Nhưng nếu cứ
theo như bài viết của NVK, thì cái ông NQT [cũng NQT, có mấy NQT nhỉ?]
nhảm quá!
Miền Đất Mới,
thì rõ ra là đi ăn cướp rồi còn gì nữa!
Miền Viễn
Tây
là đám Âu Châu ăn cướp đám Da Đỏ.
Còn Miền Đất
Mới là… gì nhỉ?
GNV
Bị hại lại
còn bị đánh đập dã man!
Thanh Niên
Online - Thứ Hai, 6/9
Một
câu chuyện đau thương, bất bình và vô lý xảy
ra thời gian qua tại xóm 13, xã Hương Thủy, H.Hương Khê (Hà Tĩnh) khiến
người
dân địa phương phẫn nộ.
Chuyện xảy
ra vào chiều 27.8 giữa con gái chị V.T.T (38 tuổi) là P.T.D (6 tuổi) và
cháu
N.V.A (16 tuổi), thôn 13, xã Hương Thủy, H.Hương Khê có dấu hiệu “giao
cấu” với
nhau. Vào 6 giờ tối cùng ngày, chị T. (38 tuổi) đi làm đồng về, thấy
con gái nằm
khóc, máu me dính đầy phía dưới quần và xin mẹ đừng đánh con. Chị thấy
lạ, bèn
quát hỏi, câu chuyện cứ thế được thuật lại trong tâm trạng lo sợ, khóc
lóc của
đứa nhỏ: “Lúc chiều anh cu A. sang nhà chơi rồi rủ con lên ngôi nhà
hoang ở động
Cục Xôi rồi anh ấy bắt con nằm ngả giữa đất và... Con thấy rất đau,
khóc xin
anh tha cho nhưng anh không tha!”, chị T. kể lại.
Tại khoa Ngoại
tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Hương Khê, hai mẹ con nằm trên giường bệnh.
Đứa bé
với khuôn mặt ngây thơ ngủ ngon lành. Còn chị đôi má sưng phù, tay chân
bầm dập,
nước mắt giàn giụa như dồn ứ mấy ngày qua giờ mới được giải tỏa. Câu
chuyện buồn
thương này, có lẽ bất kỳ một người mẹ nào cũng muốn giấu đi. Thế nhưng
sự việc
buộc chị phải đớn đau kể. “Nghe chuyện, tôi tá hỏa, đau đớn nhưng vẫn
bồng con
qua nhà gặp bố mẹ cu A. trình bày sự việc, một phần để gia đình họ biết
và có
cách răn đe, giáo dục con cái. Thế nhưng, gia đình anh Nguyễn Văn T.
(bố cu A.)
đã không thông cảm, chia sẻ còn gọi người nhà đến đánh đập hai mẹ con
tôi thậm
tệ”.
“Gia đình họ
có 4 người đàn ông, nhảy vào đánh đấm, tát tôi dã man. Bảo mẹ con tôi
đặt điều,
vu khống. Con gái tôi la hét, một người nhảy vào tát liên tiếp vào mặt
nó. Tôi
bất tỉnh, họ dội nước rác vào người, tỉnh rồi họ lại đánh tiếp và cứ
thế cuộc
tra tấn kéo dài đến 9 giờ đêm. Sau đó, họ kéo hai mẹ con nhốt vào phòng
và gọi
công an đến làm việc nhưng công an không đến”, chị T. kể lại.
Cũng theo lời
chị T., khi sự việc xảy ra với con gái chị chiều hôm đó trên động Cục
Xôi,
N.V.A đã đến nhà và xin tha thứ. Khi thấy bố mẹ mình đánh hai mẹ con
chị T,
chính A. khai thật là “con có làm chuyện đó”, nhưng họ bỏ ngoài tai và
hành xử
dã man mẹ con chị. Chỉ khi người dân địa phương lên tiếng, chính quyền
mới vào
cuộc nhưng theo kiểu “xử cho qua chuyện!”.
Có dấu hiệu
bưng bít thông tin
Hai mẹ con
chị T. điều trị tại BV Đa khoa Hương Khê hơn 1 tuần qua. Theo bệnh án,
chị bị bầm
dập toàn thân, mắt, chân, tay bầm tím và phần lưng không cử động mạnh
được. Bác
sĩ Lê Thanh Chương, Giám đốc BV cho biết: “Hiện sức khỏe bé D. đã bắt
đầu ổn định,
tuy nhiên cháu vẫn còn hoang mang, thỉnh thoảng khóc và hét sảng. Còn
chị T. bị
chấn thương phần mềm, phần sống lưng có triệu chứng tổn thương nặng
nhất nên phải
điều trị một thời gian dài”.
Một diễn biến
khác, đến ngày 1.9, chính quyền địa phương gồm ông Nguyễn Văn Dũng -
công an
viên, Trần Văn Hạnh, thôn trưởng, xóm 13, xã Hương Thủy mới lên giải
quyết (dù
đã biết thông tin trước đó vài ngày). Cả nhóm 15 người (gồm cả gia đình
ông Tuấn)
ép cung chị T., buộc khai vào lá đơn theo lời đọc của ông Dũng: “Không
có việc
con ông Nguyễn Văn T. là cháu N.V.A đã “giao cấu” với con gái chị V.T.T
là
P.T.D vào chiều ngày 27.8. Chuyện xảy ra chỉ là do em A. và D. nghịch
ngợm rồi
xảy ra thương tích. Mọi chuyện là do tôi, V.T.T (mẹ cháu) cố tình gây
gổ, đặt
điều, vu khống để gây mất trật tự thôn xóm. Nếu từ nay về sau, gia đình
tôi có
việc gì xảy ra thì bản thân phải hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Trong khi
đó, hồ
sơ bệnh án tại khoa Sản chẩn đoán vào ngày 3.9: “Tại vùng âm hộ màng
trinh cháu
D đã có vết rách cũ và ảnh hưởng sâu bên trong vùng âm đạo”.
Chiều 5.9,
trao đổi với Thanh Niên, ông Lê Trần Sáng, Phó chủ tịch UBND H.Hương
Khê và bà
Phan Thị Điều, Phó trưởng phòng LĐ-XH ngạc nhiên trước thông tin chúng
tôi đề cập.
Lúc này, bà Điều mới gọi điện cho ông Nguyễn Văn Phú, Chủ tịch UBND xã
Hương Thủy.
Theo ông Phú: “Vì chưa làm rõ sự việc lại chuyện trẻ con nên không muốn
thông
báo cho UBND huyện biết”.
Sáng 6.9,
trao đổi với Thanh Niên, ông Quốc Vượng - Trưởng công an H.Hương Khê
cho biết:
“Mãi đến ngày 3.9 gia đình mới phản ánh lên công an huyện. Hiện công an
đang tiến
hành lấy lời khai, thu thập thông tin để tiến hành điều tra, làm rõ sự
việc”.
“Gia đình chị
T. rất nghèo, lại kém hiểu biết nên chuyện xảy ra không biết kêu cứu ở
đâu.
Chúng tôi thấy chuyện bất bình không thể im lặng, giờ nhờ cả vào công
luận giúp
hai mẹ con lấy lại danh dự, nhân phẩm và tổn hại về sức khỏe”, anh
N.V.T, người
hàng xóm cho biết.
Trương Hoa
Note: TV
post lại tin trên, cho những tên VC như Thái Dúi, thí dụ, đọc, và cho
chúng tự
hào về chế độ của chúng.
Có thể chúng
vẫn còn nguỵ biện, trường hợp riêng lẻ như thế, ở xã hội nào mà chẳng
có!