Coi
Romain Gary như một kẻ giả đò đóng vai Chúa thì hơi bị nhảm: ông thực
sự tin rằng,
mình sinh ra đời để chịu tội thay cho nhân loại, nhất là cái tội Lò
Thiêu, y
chang GNV nghĩ mình được Thượng Đế trao cho cái ân sủng, 'vác thánh
giá',
chịu cái
tội Lò Cải Tạo thay cho đám Bắc Kít!
Ông phê bình
gia, thì cũng tự ban cho mình 'thiên chức' xoa đầu thiên hạ, ông chẳng
thường vỗ ngực
xưng tên ta là nhà phê bình, thí dụ như trong vụ đụng độ giữa ông, DMT
và DT.
Tuy nhiên, muốn là nhà phê bình, thì phải đọc, thực sự đọc, không thể
giả đò đọc
được
Nancy
Huston, trong bài viết Romain Gary, một cơ thể lạ trong văn học Pháp, a
foreign
body in French literature, in trong Lưu vong và Sáng tạo, Duke
University
Press, [đây là bài rút ngắn tác phẩm Ngôi mộ, Le tombeau de Romain
Gary, 1995, của tác giả], là
người đưa ra giả thuyết Gary/Christ. Tuy nhiên, ngày càng cho thấy,
Gary thực sự
quan tâm đến Lò Thiêu, như một số nhà văn, Kertesz, thí dụ.
*
Mi có biết chúng ông là ai
không?
Tzvetan
Todorov, trong bài viết "The Labor of Love" (tạp chí Partisan
Review, số 3, 97), khi nhận định về một trong những cuốn tiểu thuyết
đẹp nhất
của thế kỷ 20, cuốn của Lagerlof kể trên, đã nhắc tới Alexandre Kojève,
một
triết gia trẻ, di dân Nga sống ở Paris, vào những năm 30. Trong một
buổi nói
chuyện, ông giải thích ý nghĩa "biện chứng chủ tớ" nổi tiếng của
Hegel (dialectic of master and servant), trong Hiện tượng luận về Tinh
thần.
Sau chiến tranh, một thính giả của buổi nói chuyện, nhà văn Pháp
Raymond
Queneau, đã cho xuất bản tác phẩm "Đọc Hegel: Một Dẫn Nhập". Cuốn này
có một ảnh hưởng lớn lao ở nhiều tác giả đương thời.
Trái
ngược hẳn với
"biện chứng vui buồn" của Lagerlof, Kojève tin rằng sự khác biệt giữa
con người và loài vật: Loài vật hành động theo bản năng sinh tồn; con
người cũng
hành động như vậy, nhưng không ngưng ở đó. Nó còn đòi "kẻ khác" thừa
nhận giá trị của mình. Đòi hỏi mang tính sinh lý, do sinh tồn đưa đến
đòi hỏi
mang tính người: Mi có biết ta là ai không?
Kojève kết luận, "hiện hữu
con
người, đóng rễ vào lịch sử, tự ý thức về chính nó, chỉ có thể khả hữu
khi có
những cuộc chiến đổ máu, chết người, những cuộc chiến vì uy thế" (wars
of
prestige). (Trịnh Nguyễn phân tranh, một cuộc chiến vì uy thế "gia
trưởng". Lúc đó chưa có chiêu bài "nước Việt Nam là một", vì
phần đất miền Nam mới "xí phần" từ Chiêm Thành, từ biển cả). Chiến
tranh, chứ không phải tình yêu, đã làm cho con người "đặc biệt" là
người. Marx đã giản lược ý niệm trên, như là cuộc đấu tranh giai cấp.
Merleau-Ponty, trong di cảo mới xb, Notes de cours, Gallimard, 1997,
cho rằng
Marx thực
chất vẫn là một "hégélien"; con đường từ những bản viết khi còn trẻ
cho tới Capital "y hệt" con đường từ Hiện tượng luận tới Luận lý, và
Marx thất bại khi toan tính nối kết triết học và phi-triết học. Điều
này, giáo
sư Trần Văn Toàn cũng đã chỉ ra, trong cuốn sách tuy mỏng, nhưng là một
tài
liệu quí giá vô cùng, Hành trình vào triết học Các Mác : Cái bóng của
Hegel
không những phủ kín Marx, và còn kéo dài ra mãi.
Sẽ chẳng có con người, nếu không có sự thừa nhận tha nhân, xã hội...
nhưng,
"Thưa ông Hamil, người ta có thể sống không tình yêu được không?",
đứa nhỏ Momo, trong "La vie devant soi" (Cuộc đời trước mặt) của nhà
văn Pháp Romain Gary, hỏi. "Được chứ", ông ta trả lời, và "cúi gục
đầu, như tủi nhục."
Thế là đứa nhỏ bật lên khóc. Không cần tình yêu,
con
người vẫn sống, nhưng thiếu sự thừa nhận, nó hết còn là người.
NKTV
Of the
hundreds of characters
invented by Romain Gary - clowns and ambassadors, hippies and
dictators,
ecology activists and British aristocrats - none is as utterly
believable as
Madame Rosa, the heroine of La Vie devant soi [The life before us]
(1975). This
obese Jewish lady, a survivor of Auschwitz,
looks after the children of prostitutes for a living and takes refuge,
when she
is frightened, in the basement hideout she calls her "Jewish hole."
Throughout the novel, we see Madame Rosa only through the eyes of Momo,
an
illiterate Arab boy she has raised virtually since birth; and one of
the joys
of reading the book comes from the fact that the narrator is too young
to grasp
all the implications of what he sees and hears. Madame Rosa, at once
admirable and
pitiable, is the best symbol for humanity Gary
ever created- "Madame Rosa, c'est moi," he could have declared,
mimicking Flaubert. Like him, she is filled with tenderness and fear,
ravaged
by the hardships of her present life and the memories of her past -
and,
especially, aghast at her prospects for the future: living too long,
watching
helplessly as Time proceeds to skin her alive. The popular wisdom
alluded to in
the title ("you've got your whole life ahead of you") is in fact a
curse.
Nancy Huston
Trong hàng trăm những nhân
vật Gary phịa ra - những tên hề và những viên đại sứ, những kẻ híp pi
và những
tên độc tài, những nhà hoạt động sinh thái và những nhà quí phái Anh -
không
một ai vươn tới cõi ‘thực ơi thực, đáng tin tưởng ơi là đáng tưởng
tin’, như là
Bà Rosa, nữ nhân vật trong Cuộc sống trước chúng ta, 1975. Vị phu nhân
Do Thái
mập thù lù, một kẻ sống sót Lò Thiêu, sống nhờ trông nom đám trẻ con
của những
cô gái điếm, và mỗi khi sợ hãi thì trốn vào một một cái xó ở dưới hầm
nhà mà bà
gọi la 'lỗ Do Thái".... "Bà Rosa, là tôi”, Gary có thể nói, như Flaubert đã từng
nói.
*
Gấu đọc Gary, Nền giáo
dục Âu Châu, tại Sài Gòn, trước 1975, và dính liền.
Ra ngoài này, đọc Cội Rễ Nhà
Trời... và giới thiệu ông, nhân đọc bài viết Những Cái Tôi Giả Danh, đúng vào
lúc Mai Thảo đi xa, biết, ông đã từng sử dụng cái nick Nhị, và như
thế, cũng một cách nhớ về Xứ Bắc Kít mà cả hai đã bỏ chạy, và ông chẳng
còn có thể trở về, hay, đã trở về trước Gấu rồi!
Nhị
"Đó là một cuộc sinh mới. Tôi tự làm mới chính tôi. Tôi được mọi
chuyện,
thêm một lần nữa."
Romain Gary viết, trong di cảo, Cuộc
sống và cái chết của Émile Ajar . Ông tự huỷ mình, ngày 2 tháng
Chạp, năm
1980. Chỉ vài tháng sau khi ông mất, Cuộc Sống và cái Chết xuất
hiện,
gây một cú sốc tại thủ đô nước Pháp; trong đó, tác giả thú nhận, ông là
tác giả
của bốn cuốn tiểu thuyết được nhiều người biết dưới bút hiệu Émile
Ajar. Cuốn
tiểu thuyết "Ajar" thứ nhất, Đại Ma Đầu, Gros Câlin, là một
best-seller 1974. Cuốn thứ nhì Cuộc Đời Trước Ta, La vie devant soi,
trúng
Goncourt 1975, nhưng Romain Gary đã được giải này rồi, vào năm 1956,
với cuốn Cội
Rễ Nhà Trời, Les Racines du Ciel. Theo điều lệ, mỗi nhà văn chỉ
được một
lần, cho nên ông phải từ chối.
Gary gốc Do-thái, sinh tại Vilna,
hay Wilno,
thủ phủ Lithuania,
(cùng quê hương với Czeslaw Milosz). Theo mẹ chạy qua Pháp năm 1928,
lúc mười
bốn tuổi, khi đất nước bị Bôn-sê-vích tấn công, chiến tranh với Ba-lan,
hận thù
Do-thái, và họa độc tài. (Cùng với sự sống sót của một cậu bé, là một
nghệ
thuật: kể chuyện). Gary học trung học
tại Nice,
và luật tại Paris.
Tháng Sáu 1940 gia nhập Không Lực Hoàng Gia Anh, và Nước Pháp Tự Do.
Đại uý phi
đoàn Lorraine,
tham dự chiến trận Anh, Phi, Abyssinie, Libye, Normandie từ 1940 tới
1944. Huy
chương Bắc Đẩu Bội Tinh và Người Bạn Giải Phóng. Gia nhập ngành ngoại
giao, cố
vấn tòa đại sứ ở Sofia, Berne...
Phát ngôn viên của Liên Hiệp Quốc từ 1952 đến 1956. Tham vụ ngoại giao
ở
Bolivie, lãnh sự trưởng tại Los
Angeles.
Kết hôn và sống với nghệ sĩ Jean Seberg, từ 1962 tới 1970. Bà vợ tự tử,
vì bị
FBI khủng bố bằng cách loan tin thất thiệt, do bà giúp đỡ nhóm Báo Đen.
Cuốn Bài
Học Âu-châu, Éducation Européenne, viết trong thời gian chiến
tranh, được
dịch ra 27 thứ tiếng, Giải thưởng của những Phê bình gia, Prix des
Critiques
năm 1945. (Đoạn những núi rừng Âu-châu kể chuyện, làm độc giả người
Việt liên
tưởng tới những nốt nhạc bi tráng của Lê Thương, trong Hòn Vọng Phu).
Nếu Cội Rễ Nhà Trời là một cuộc chiến cô đơn, tuyệt vọng của
một con
người giữa rừng già Phi châu, nhằm bảo vệ loài voi, Cuộc Sống Trước
Ta, La
Vie Devant Soi, câu chuyện tình của một cậu bé Ả-rập, dành cho một
bà già Do-thái.
Cậu bé Momo phải chống lại sáu tầng thang lầu Madame Rosa không muốn
trèo lên
nữa, chống lại cuộc đời, bởi vì "điều đó không thể tha thứ được"; bởi
vì "không cần thiết có lý do để mà sợ hãi". Cậu giấu bà già vào cái
lỗ Do-thái (trou juif), như vậy bà sẽ không chết tại nhà thương; làm
bạn với bà
cho tới cái chết, và có thể vượt quá cả giới hạn đó.
Chiến lược in ấn những cuốn
sách dưới bút
hiệu Ajar cũng rất ly kỳ: bản thảo được gửi tới Paris
từ Rio de Janeiro, và một "thế thân"
của Ajar, vốn là một người bà con của Gary,
đã tự cho phép mình gặp gỡ phóng viên nhà báo. Giải thích chuyện này,
trong di
cảo, ông cho biết, đã quá chán là một Gary
nổi tiếng, ông muốn là một người nào khác. Ở tuổi 59, ông đã viết 33
cuốn sách,
với một mớ giải thưởng, và là một trong những tác giả thành công nhất,
được ái
mộ nhất trong số những nhà văn Pháp. "Tôi luôn luôn là một người nào
khác." Ông nói. Và nói thêm: "Tôi muốn là khán giả nhìn ngắm cuộc đời
thứ hai của chính mình." Dẫn lời nhà văn Ba-lan, Witold Gombrowicz: Rồi
cũng có ngày, cái ngày mà nhà văn trở thành tù nhân, bởi cái mõm mà
người ta
gán cho, la gueule qu'on lui a fait, nói rõ hơn, bộ mặt mà những nhà
phê bình
đã cho người viết, một bề ngoài chẳng liên quan đến tác phẩm, hay chính
người
đó. Đối với Gary, còn một nguyên nhân, làm ông quá chán căn cước của
mình, luôn
cảm thấy là một người khác: ông là một nhà văn lưu vong, không chỉ với
nơi chốn
ra đời, với ngôn ngữ mẹ đẻ.
Vào năm 1984, Hàn Lâm Viện Văn
Học Nghệ
Thuật Hoa-kỳ, American Academy và Institute of Art and Letters, đã trao
giải
thưởng cao quí nhất của họ về thể loại giả tưởng, cho một nhà văn mới,
"trẻ", người Mỹ gốc Mễ, có tên là Danny Santiago, với cuốn đầu tay
Nổi Tiếng Khắp Tỉnh, Famous All Over Town. Liền đó, người ta khám
phá ra
nhà văn trẻ này chẳng liên quan gì tới Mỹ-Mễ: Danny Santiago hóa ra là
nhà văn
già 73 tuổi, Daniel James, tác giả vài cuốn sách, được biết nhiều như
là một nhà
viết kịch, và truyện phim. Điều làm mọi người bực mình nhất: Ông có tên
trong
danh sách đen của Hollywood vào thập niên 1950: một cựu đảng viên CS.
Đây là
thời điểm chủ thuyết McCarthy đang thịnh hành, với những trò khủng bố,
lên án,
lên danh sách đen... nhằm quét sạch "mầm mống" CS tại thiên đường
châu Mỹ. Tác giả cho biết, cuốn sách là kinh nghiệm khi ông là một
thiện nguyện
viên làm công tác xã hội tại một khu vực Mỹ-Mễ ở Los Angeles, vào những
năm
1950 và 1960. Và ông chọn bút hiệu đó, vì đã mất tin tưởng vào khả năng
viết
lách của chính mình. Cũng có thể, khi chọn một cái tên gốc da mầu,
Santiago,
thay vì James, gốc da trắng, trong câu chuyện được kể bởi một đứa bé 14
tuổi
Mỹ-Mễ, ông cảm thấy gần gụi với Santiago, hơn là James.
Joyce Carol Oates, trong bài
viết Những Cái Tôi Giả Danh,
Pseudonymous
Selves, cho rằng, đến một tuổi nào đó, bản năng đòi vô danh của
chúng ta mạnh
hơn là đòi căn cước thực, hay nói rõ hơn, bản năng đòi tẩy xóa cái tôi
đầu, nhờ
vậy, lòi ra một cái tôi khác. Sau khi tạo nên một căn cước của mình
dưới con mắt
thế nhân, một cái mặt nạ đóng kịch, persona, không có cách chi có thể
huỷ diệt
nổi, con người lại mong ước chạy trốn nó! Đây là sự ngang bướng, bản
năng đòi
tự do, cái mới, của tâm lý con người.
Người viết đọc (lại) bài viết của Oates,
trong cuốn Nhà Văn (Đàn Bà), (Woman) Writer, tình cờ cùng thời
gian Mai
Thảo mất. Trong bài tưởng niệm ông, của Thanh Tâm Tuyền, trên tạp chí
Thơ,
người ta được biết, ông còn có bút hiệu Nhị, cho một số bài thơ, và
trong nhiều
năm, ông "viết văn, bằng lòng làm nhà văn." Bởi vì: "như mọi thi
sĩ của một thời điêu đứng," ông "đã trốn thơ, cho đến lúc không thể
trốn được nữa".
"Đáng lẽ Mai Thảo phải là thi
sĩ, một thi sĩ toàn phần như chữ ông
thường
dùng... Ngay cái bút hiệu của ông hiện nay, cũng nẩy sinh từ một mối
tình đối
với thơ." (Nguyễn Hưng Quốc viết về Mai Thảo, Văn số đặc biệt).
Bút hiệu Nhị phải chăng, là từ
núi Nùng, sông Nhĩ, Nhị Hà? Một bài viết
đầy
chất thơ của Mai Thảo: Tiếng còi tầu trên sông Hồng. Và đây là "thổ
ngơi" căn nhà vùng nước mặn, (còn là quê hương của Tú Xương), như trong
bài viết của Nguyễn Đăng Khánh, (Văn, số đặc biệt): Trước mặt và bên
hông nhà
là con sông đào, thuyền bè qua lại nhộn nhịp vào những ngày họp chợ.
Ông chạy trốn thơ, như mọi thi sĩ của một thời điêu đứng? (Pourquoi des
poètes,
en temps de détresse? Holderlin). Ông chạy trốn thơ, bỏ (bút hiệu) Nhị,
bằng
lòng làm nhà văn, phải chăng còn vì một câu văn bất hủ, mở đầu nghiệp
văn: Phượng
nhìn xuống vực thẳm: Hà-nội ở dưới ấy?
(Nhiều năm, nhiều lần, trong tiềm thức của riêng tôi,
mỗi lần dư âm
thành phố
xưa vọng lên, câu văn lại dội về, như thế này: Phượng nhìn xuống
Hà-nội: địa
ngục ở dưới ấy. Chỉ đến khi đọc bài viết của Thanh Tâm Tuyền, tôi
mới hiểu
mình nhớ lộn, hoặc đọc lầm, ngay từ đầu, như thể đâu đó ở trong tôi, đã
có sẵn
một câu văn, và (câu văn) Mai Thảo là một dịp để cho nó bật ra: phải
chăng trí
nhớ của con người vẫn dành riêng cho nó một quyền năng, tự do sáng tạo,
hoặc
tiên tri?)
Ông chạy trốn thơ, hay chạy
trốn một bút hiệu: Nhị? Khi từ bỏ một bút
hiệu, ông
cảm nhận (chấp nhận?), phần số lưu vong, chết nơi quê người?
Ra hải ngoại, ông làm thơ trở lại, như một hòa giải với một nơi chốn,
một miền
đất? Như một toan tính sau cùng: cởi bỏ mặt nạ văn chương làm dáng, văn
chương
thù tạc, giao duyên?
Ông là một thi sĩ, tuy tự trào,
bỡn cợt, nhưng "cũng đành" (résigné),
với thời gian, số mệnh, lẽ tử sinh, nhất là với bệnh tật, và cùng với
nó, nỗi
cô đơn. Thơ ngày một lạnh thêm. Mai Thảo, trước khi để cho người ta
nhìn thấy
ông, như ông là (một nhà thơ), nghĩa là một vị khách nhẫn nhục, và hóm
hỉnh,
của Địa Ngục; đã chịu đựng rủi ro, làm một nhà văn thời thượng, vô sắc,
một
cách thật đặc biệt. Đọc (ông, thấy) nhàm chán, hàm hồ, những chi tiết
vô hại
(vô tác dụng) làm phiền chúng ta. Sau vài trang, người ta nhận ra, sự
hời hợt,
cẩu thả, là cố ý, cốt cho đầy cuốn sách. (Mô phỏng Borges, khi ông viết
về
Henry James: "James, avant de laisser voir ce qu'il est, c'est à dire
un
hôte résigné et ironique de l'Enfer, court le risque de passer pour un
romancier mondain...", Jean- Yves Pouilloux trích dẫn, trong Borges,
Fictions.)
Ai cũng biết, điều này: Trước
1975, hầu hết truyện của Mai Thảo, là
tiểu thuyết
đăng báo.
Go on, run away, but you'd be far safer if you stayed at
home.
(John Fowles trích dẫn Martial, nguyên văn: I, fugi, sed poteras tutior
esse
domi.)
Trong Tựa đề cho những bài thơ, Foreword to the
Poems, John
Fowles cho
rằng cơn khủng hoảng của tiểu thuyết hiện đại, là do bản chất của nó,
vốn bà
con với sự dối trá. Đây là một trò chơi, một thủ thuật; nhà văn chơi
trò hú tim
với người đọc. Chấp nhận bịa đặt, chấp nhận những con người chẳng hề
hiện hữu,
những sự kiện chẳng hề xẩy ra, những tiểu thuyết gia muốn, hoặc (một
chuyện) có
vẻ thực, hoặc (sau cùng) sáng tỏ. Thi ca, là con đường ngược lại, hình
thức bề
ngoài của nó có thể chỉ là trò thủ thuật, rất ư không thực, nhưng nội
dung lại
cho chúng ta biết nhiều, về người viết, hơn là đối với nghệ thuật giả
tưởng
(tiểu thuyết). Một bài thơ đang nói: bạn là ai, bạn đang cảm nhận điều
gì; tiểu
thuyết đang nói: những nhân vật bịa đặt có thể là những ai, họ có thể
cảm nhận
điều gì. Sự khác biệt, nói rõ hơn, là như thế này: thật khó mà đưa cái
tôi thực
vào trong tiểu thuyết, thật khó mà lấy nó ra khỏi một bài thơ. Go
on, run
away... Cho dù chạy đi đâu, dù cựa quậy cỡ nào, ở nhà vẫn an toàn
hơn.
Khi trở về với thơ, vào cuối
đời, Mai Thảo
đã ở nhà. Cái lạnh, trong thơ ông, là cái ấm, của quê hương. Của Nhị.
[Nhị còn có nghĩa là Hai. Anh
Cả lo việc viết
văn, nhưng Anh Hai mới là cõi mơ tưởng. Về già, Mai Thảo làm thơ, vì
lúc này
đâu còn Anh Cả nữa! Những miếu đền, không phải chuyện tôn xưng cá nhân,
mà là
hương khói cho người đã chết, bất cứ một ai.]
Theo nghĩa ấm lạnh đó, (sống với hơi ấm của nỗi chết ở trong lòng bàn
tay),
người Việt nói: sống gửi, thác về.
[Một bạn văn giải thích riêng với tác giả: nóng lạnh (âm dương) ở đây
chỉ là
tranh chấp giữa hai thần Eros - hay Dục, Libido - và Thần Chết
(Thanatos).]
Hãy tưởng tượng ra thế chân vạc
của "văn chương": Một đỉnh, một câu
thơ: Chỉ thấy mưa sa... (Trần Dần). Rồi một đỉnh, một câu văn: Phượng
nhìn
xuống... (Mai Thảo). Và một đáy: một mầu cờ, hay một vực thẳm.
[Vẫn người bạn văn kể trên, cho rằng cái tam giác văn chương này quá
giản lược,
còn bị méo mó bởi tư tưởng chính trị. Anh đề nghị thay đỉnh thứ ba,
bằng Đinh
Hùng, hoặc Vũ Hoàng Chương, vẫn những đứa con của Hà-nội. Theo anh, chỉ
có những
Mê Hồn Ca, Đường Vào Tình Sử... của Đinh Hùng hoặc Mây, Say...
của
Vũ Hoàng Chương mới hóa giải nổi ám ảnh mưa sa, mầu cờ, vực thẳm... Lạ
một
điều, Vũ Hoàng Chương, đỉnh "viễn mơ" Mây, Say, Vân Muội, Rừng
Phong... kia, là muốn vượt lên cuộc tranh chấp, cuối cùng lại trở
thành kẻ tuẫn
nạn, cho một cõi văn chương Miền Nam.]
Tưởng tượng, hãy tưởng tượng:
Giao Thanh [Xin coi bài viết về MaiThảo,
của
Thanh Tâm Tuyền, trên tạp chí Thơ, số Mùa Xuân, 1998] in được tập
truyện của
mình, trước hoặc sau trại tù.
Từ vực thẳm,
địa ngục, ở dưới
ấy, là hệ quả: thời gian Mai Thảo hạnh
phúc nhất,
bảnh nhất, là ba năm kể từ ngày mất Sài-gòn. Ông là nhà văn "phản
động" độc nhất không trình diện học tập cải tạo, "nhởn nhơ"
trước mũi súng, trước cuộc săn người, lâu lâu vẫn có dịp họp bạn, cho
tới ngày
vượt thoát.
NQT
Tue, June 15, 2010 12:49:27
nhan tin ong Tru
Ông Trụ,
Là một độc giả lai rai xuân
thu nhị kì của Tin Văn, tôi xin nhắc nhở cho ông biết Joyce Anne
Nguyễn (Nguyễn Đắc Hải Di) là con gái của nữ đạo diễn Song Chi, mà Song
Chi là em dâu của nhà phê bình NHQ, nên Nguyễn Đắc Hải Di chính là
cháu ruột, kêu NHQ bằng bác, chớ không phải là một cô bé xa lạ nào. Cho
nên ông Trụ không thể nói NHQ là "cứ muốn nổi cộm, muốn xoa đầu người
này, người nọ". Vì bác mà xoa đầu một đứa cháu nhỏ mới cầm bút thì là
chuyện bình thường thôi.
Ông Trụ viết câu này bị hớ
nặng: "Viết một bài cỏn con như thế, mà cũng không nên thân, ấy là vì
cái
tâm địa, cứ muốn nổi cộm, muốn xoa đầu người này, người nọ."
Không chỉ hớ, mà còn cho độc
giả thấy ông Trụ mang mặc cảm nặng nề, thảm hại, lúc nào cũng sợ bị NHQ
xoa
đầu. Sao mà thảm vậy chớ! Nên coi lại cái tâm địa của chính mình.
Đã già, mà lại kém tài, thì
an phận đi, chớ viết lảm nhảm hoài người ta khinh lắm.
*
Phúc đáp:
Thảo nào nhà phê bình ưu ái với
cô bé này quá!
Gốc gác như thế!
Giá mà nhà phê bình viết thẳng
ra như vậy, thì đâu có gì đáng nói!
Vậy mà GNV lại tưởng "lần đầu tiên" nhà phê bình xoa đầu "một cô bé xa
lạ"!
Tuy
nhiên, xin hỏi lại, tại
sao gốc gác như thế, thì NQT không thể nói như thế?
Tôi,
NQT, nghĩ ngược hẳn lại, chính gốc gác như thế, thì lại càng nên
nói như
thế.
Tôi tin là bạn không đọc ra cái ý của câu văn của tôi. Sorry. NQT
V/v
những ý kiến khác, hớ hay
không hớ, tâm địa hay không tâm địa, mặc cảm hay không mặc cảm, già kém
tài an
phận…. , GNV xin y nhận.
NQT
Hết đệ
tử, bạn ‘nhà biên khảo’,
nay đến bà con họ hàng!
Băng đảng càng ngày càng lộng!
NQT
Nhắn
riêng nhà phê bình,
Lần sau, nếu khen bà con, nên khen ở trong nhà thì hơn, đừng lôi lên
Blog VOA!
Không nhớ người Việt mình nói, đừng phơi đồ trước nhà, sao?
Áo sạch, lại càng không nên
khoe!
Hữu xạ tự nhiên hương. Cháu gái có tài thì rồi cũng có người ngoài nói
tới,
không cần đến ông bác!
NQT
Cái
chuyện NHQ khen cháu gái
thì cũng tương tự NHQ khen 'hàng độc', là truyện ngắn số 1 của HNT,
trên VOA. Gấu
đã nhẹ nhàng nhắc rồi! Độc giả TV này, do lai rai xuân thu nhị kỳ cho
nên chắc không biết!
*
… ông Trụ mang
mặc cảm nặng nề, thảm hại, lúc nào cũng sợ bị NHQ xoa đầu. Sao mà thảm
vậy chớ?
Bạn lầm rồi!
NQT tôi đã từng hân
hạnh được nhà phê bình NHQ ‘xoa đầu’ rất nhiều lần rồi, mặc cảm gì nữa!
Nguyễn-Khoa
Thái Anh – Khi
nào Việt Nam
mới có một đại tác phẩm hay một cuốn phim vĩ đại?
Đọc bài viết, rồi
đọc còm, Gấu bỗng nhớ tới một câu chuyện của Borges, có cái tít như Gấu
còn nhớ
được, có ý nghĩa như vầy:
Bữa nay, ăn cơm chiều có món gà gô này, lại chỉ có một mình... Gấu!
Gấu đọc
truyện, từ hồi còn
ở trong nước, sau 1975, trên một tờ báo Sài Gòn. Ra hải ngoại cứ lâu
lâu lại nhớ
đến nó, lại cứ tự bảo mình, bữa nào phải tìm cho ra nguyên tác, dịch
Borges chơi!
Thời gian này, ông bạn nhà thơ
Joseph Huỳnh Văn còn sống, và Gấu tình cờ còn vớ được một bài thơ của
Borges, bản
tiếng Tây, bèn dịch chơi, lại dịch chơi, đưa cho bạn đọc, bạn thú quá,
khen rầm
trời, mi học trường Mít mà sao rành tiếng Tây hơn thằng em tao, Tú tài
Tây!
Cũng không nhớ bài thơ ra
sao, chỉ đại khái, đây là một bài thơ viết về hạnh phúc.
Truyện
của Borges là về một ông
quan còm, chiều hôm đó, đến thăm một nhà huyền thuật, nhờ ông bùa phép,
sao
cho được
cái ghế cao hơn, là chức trưởng huyện. Đang ngồi nói chuyện, thì người
làm bưng
lên món gà gô, và hỏi ông chủ, dọn cơm hai người, chủ và khách cùng
chơi con gà
gô này chăng. Chủ lắc đầu, nói, khoan đã, khoan đã. Người làm lại bưng
con gà gô
xuống bếp.
Đúng
lúc đó, thì có người nhà
ông quan còm hối hả chạy đến báo tin, tay trưởng huyện nhậu say quá, té
xuống
muơng chết rồi, và mọi người đang tìm kiếm ông quan còm để ban cho cái
chức kế
vị ông vừa ngỏm. Nhà huyền thuật bèn nói, may quá, vậy khỏi làm bùa
phép, nhưng
xin ông cho thằng cháu của tôi cái chức quan còm mà ông vừa bỏ nhé?
Ông quan còm lắc đầu, chức đó,
tôi dành cho tên đệ tử ruột rồi.
Ông
quan còm về nhà, làm chức
trưởng huyện đâu được hai tuần, thấy bổng lộc ít quá, bèn sai nhân viên
đánh xe
yết kiến nhà huyền thuật, xin chức cao hơn.
Câu
chuyện lập lại y chang,
cho tới lúc, ông quan còm từ giã thế giới ảo giác, trở về với chức quan
còm, thẹn
quá, không chờ ăn gà gô, bỏ đi một mách.
Thế là
nhà huyền thuật đành kêu người
nhà dọn cơm, lẩm bẩm, lại chỉ có một mình mình với con gà gô!
Truyện
trên, có vẻ như Borges
trước tác để tặng dân Mít chúng ta.
Đại tác phẩm Mít mà viết về
anh VC phản gián, bị đồng bọn VC phản thùng cho ăn bom Mẽo, thì nỗi đau
Mậu Thân Mít "Huệ" làm sao giải tỏa cho được? Viết về em "đừng đốt,
đừng đốt!",
thì lại
thiếu cái em "một ngàn giọt lệ", viết về đỉnh cao chói lọi, nhà tiên
tri, ngọn cờ đầu của văn chương viễn tưởng Mít, mà thiếu
cái khúc "đỉnh cao" nhẫn tâm để cho chúng làm thịt vợ, dẫn mẹ nó đứa
con trai đi trao cho thằng khác nuôi, đổi họ đổi tên cho mất luôn giống
Bác, thì cũng đếch được!
Chán
thật!
Chưa có đại tác phẩm mà đã cãi
nhau như mổ bò rồi!
Gấu,
chiều nay, lại ăn gà gô
một mình, đọc đỡ đại tác phẩm của mấy anh mũi lõ vậy!
*
Phải nói rằng Việt Nam
chưa có một
đại tác phẩm nào – trong tiểu thuyết cũng như phim ảnh – có thể sánh
với nỗi
trầm kha thống khổ và dai dẳng của một dân tộc bất hạnh.
NKTA
Ra điều
kiện như anh ký quèn
này, ‘tác phẩm lớn của Mít phải xứng đáng với nỗi trầm kha của dân
Mít’, là ‘hỏng
cẳng’, bởi vì có quá nhiều nỗi thống khổ của dân Mít, chính chúng
choảng lẫn
nhau, khổ thế.
Giả như chúng không choảng lẫn
nhau, thì vẫn hỏng cẳng. Bởi vì tác phẩm lớn có khi không cần nói tới
cái nỗi
thống khổ, mà nói về cái nhà ‘dởm’, to lớn đàng hoàng hơn trước, mà dân
Mít không
thể biến thành thực, hay nói về một số phận những kẻ không còn là Mít
nữa, nhưng
bố mẹ của chúng ngày nào là Mít…. Ui chao, khó quá, cứ như đụng vô nan
đề ‘nhà
văn không là nhà đại phê bình, không là nhà thầy giáo tiến sĩ, không là
nhà chính
trị về nước hai lần đều bị chúng đếch cho về!’
Hà, hà!
Nói rằng VN chưa có đại tác
phẩm, e cũng sai.
Bởi vì, có thể coi, một số tác
phẩm, tuy không đại, nhưng cũng tàm tàm được. Thí dụ, những truyện ngắn
của Nguyễn
Huy Thiệp, truyện dài Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, hoặc những
truyện ngắn
của TTT, truyện dài Bếp Lửa, cũng của ông…
Không thể so chúng với những
Chiến Tranh và Hòa Bình, tất nhiên. Bởi vì những đại tác phẩm như thế,
chúng ta
chưa từng nghĩ tới, và có khi, cũng chẳng cần nghĩ tới!
*
Nói đến đại tác phẩm mà bỏ
qua Bóng đêm thì quả là nhảm, đại nhảm!
Nhờ nó mà Âu Châu không bị
nhuộm đỏ!
Nó cho
thấy, một tác phẩm văn
học phải là một tác phẩm chính trị, phải cưu mang trong nó niềm quan
hoài tới số mệnh của con người,
tương lai của nhân loại, trong cái thế đứng đương thời của tác giả, và
có thể,
của độc giả, khi đọc nó.
Lạ, là
hai cuốn tiểu thuyết,
một, của TTT, Bếp Lửa, và một, của Bảo Ninh, Nỗi Buồn Chiến Tranh,
chúng như kế
tiếp nhau, nói về xứ Bắc Kít, Hà Nội, và những đứa con của nó, và những
cuộc
phiêu lưu của chúng.
Điều này giải thích tại sao TTT mê Malraux: nhân vật Tâm,
trong BL, vẽ ra cuộc
Vụ Án
Do bạn
quí kêu cứu bồ, cứu bồ,
GNV viết hai bài cho Blog NXH/VOA, bị chúng xúm lại chửi. Tất nhiên!
Gấu nghĩ,
do Thầy dốt, nên trò dốt, không đọc nổi bài viết của Gấu!
Nhưng, đây còn là do internet, tức cuộc ‘cách mạng, hay khởi nghĩa gì
gì đó, của đám đông’, chữ của băng đảng
HV, làm
con người ngu đi, theo như một bài viết trên The Economist June 26th
2010
The effects of the internet
Fast forward
The Shallows: What the Internet is Doing to
Our
Brains. By Nicholas Carr.
Norton; 276
pages; $26.95. Published in Britain
by Atlantic in September as 'The Shallows: How the Internet is Changing
the Way We Think, Read and Remember"; £17.99
IN
1492, the same year that
Christopher Columbus crossed the Atlantic, a Benedictine abbot named
Trithemius, living in western Germany,
wrote a spirited defence of scribes who tried to impress God's word
most firmly
on their minds by copying out texts by hand. To disseminate his own
books,
though, Trithemius used the revolutionary technology of the day, the
printing
press. Nicholas Carr, an American commentator on the digital
revolution, faces
a similar dichotomy. A blogger and card-carrying member of the
"digerati", he is worried enough about the internet to raise the
alarm about its dangers to human thought and creativity.
The recent uproar over
privacy on Facebook is only the latest backlash against man's newly
wired existence.
Mr Carr did his bit to encourage the anxiety in 2008 with an essay in
the
Atlantic entitled "Is Google Making Us Stupid?" His new book is an
expanded survey of the science and history of human cognition. Worry of
this
kind is not new: a decade ago, the first evidence suggested that Power
Point
changed not just how executives presented information, but also how
they
thought. Mr Carr's contribution is to offer the most readable overview
of the
science to date. It is clearly not intended as a jeremiad. Yet halfway
through,
he can't quite help but blurt out that the impact of this browsing on
our
brains is "even more disturbing" than he thought.
Humans like to believe they
control the tools they use, even if Socrates, Marshall McLuhan and Ivan
Illich
are among those who have argued that often they do not. From the
alphabet to
clocks and printing, every major new technology has profoundly altered
the way
in which humans think. The digital gadgets on which we now depend, Mr
Carr
explains, have already begun rewiring our brains.
Neurological research has
demolished the myth of the static brain. Neural networks can be rapidly
reorganized
in response to new experiences such as going on the web. Mr Carr
surveys
current knowledge about the effects on thinking of "hypermedia"-in
particular clicking, skipping, skimming-and especially on working and
deep
memory. He draws some chilling inferences. There is evidence, he says,
that
digital technology is already damaging the long-term memory
consolidation that
is the basis for true intelligence.
Only by combining data stored
deep within our brains can we forge new ideas. No amount of magpie
assemblage can
compensate for this slow, synthetic creativity. Hyperlinks and
overstimulation
mean the brain must give most of its attention to short-term decisions.
Little
makes it through the fragile transfer into deeper processing. Clearly,
argues
Mr Carr, this is a radical upending of the "literate mind" that has
been the hallmark of civilization for more than 1,000 years. From a
society
that valued the creation of a unique storehouse of ideas in each
individual,
man is moving to a socially constructed mind that values speed and
group
approval over originality and creativity.
True, there are
compensations: better hand-eye co-ordination, pattern recognition and
the very
multitasking skills the machines themselves require. Sceptics will
rightly
point out that similar concerns have accompanied each new technology.
Something
is always lost, and something gained. Some evolutionary biologists
claim that
the scholarly mind is an historical anomaly: that humans, like other
primates,
are designed to scan rapidly for danger and opportunity. If so, the net
delivers
this shallow, scattered mindset with a vengeance.
Mr Carr offers few
prescriptions. The author himself retreated to an (unplugged) mountain
hideout
to write his book, but he thinks most people depend too much on the net
for
work and fun to do the same. And he fails to address the ways in which
the
internet acts like a drug. Other critics have probed this issue more
deeply, notably
Jaron Lanier, a virtual-reality pioneer, in a recent book, "You Are Not
a
Gadget". Yet surely online bingeing is no different from eating too
many
sweets: its remedy is a matter of old-fashioned self-restraint. _
Only by combining
data stored deep within our brains can we forge new ideas.
Đúng
quá, chỉ có đào sâu cái
kho tư liệu trữ trong óc của chúng ta, mới nẩy ra những tư tưởng mới.
Cái kiểu
chưa đọc xong bài viết, đã viết liền một cái còm, chỉ làm cho chúng ta
ngày càng
ngu thêm đi thôi!
*
Thầy trò đều dốt, như nhau, và
đều độc, như nhau.
Thầy,
sau khi ‘xoa đầu’ ‘bạn
văn’, bằng những dòng thật là ‘hơi bị được’, rất ư là hoành tráng,
những gì gì,
có tới 10 thành công lực, chỉ mới xài có 4, khi viết tạp ghi cho NMG,
trong 10
thành công lực, có hai rất ư là bảnh, óc tổng hợp cực kỳ cao, và trí
nhớ cực kỳ
tuyệt hảo.... và, chỉ vì ‘bạn văn’ lỡ đụng tới một cái tiểu chú trong
một bài
viết của Thầy, về anh của Thầy, là Ngài tiên chỉ VP, thế là bèn lập tức
trả
đòn, bằng một cái mail thật hết sức khốn nạn.
Trò,
chẳng cần biết nếp tẻ,
chẳng cần đào sâu cái não chẳng sâu của chúng, vừa đọc thấy GNV nhắc
đến ‘đám
cưới giả’, là bèn sủa liền, mày nằm ở đâu, mà biết chuyện đó, nếu không
nằm gầm
giường nhà người khác?
Sự kiện ‘đám cưới giả’, GNV đã
nhắc tới, liền sau chuyến MN ghé thành phố Toronto, Canada tham dự một
liên
hoan phim, Toronto
Intel Film Festival Party, 13, July 2004, trong bài viết
Tha hương ngộ
cố tri.
… Bởi vì, "Thời của chúng tôi",
không chỉ có
Minh Ngọc của Trăng Huyết, Trái Khổ Qua, mà còn có Minh Ngọc,
người đỡ
đầu cho những dòng "Thư về Đường Sơn Cúc".
Nói rõ hơn, bà mới thực sự là kẻ đứng sau những dòng thư tuyệt tác đó,
theo
nghĩa, không có bà, thì không có Thư về Đường Sơn Cúc của Hoàng
Ngọc
Tuấn, nhà văn Sài Gòn ngày nào [không phải Hoàng Ngọc Tuấn hải ngoại].
Muốn chứng minh, cứ mang tác phẩm này đọ
với những tác phẩm khác, của HNT, thí dụ như Hình Như Là Tình Yêu,
Cô Bé
Treo Mùng... là thấy ngay sự khác biệt.
Ngay từ hồi đó, độc giả đã nhận ra điều này.
Nhưng "điều này" cho tới nay,
vẫn còn giữ nguyên niềm bí ẩn của nó: Thư về Đường Sơn Cúc không
thể có,
nếu không có bóng dáng một Minh Ngọc ở phía sau, nhưng đây là một em
gái dễ
thương, dễ thơ, và dễ thở, khác hẳn cô em gái trong Trăng Huyết. Nếu
bạn chưa
từng đọc Ngọc Minh, bạn cứ nghe Khánh Ly hát, rồi tưởng tượng ra giọng
đó là
giọng những nhân vật của bà, thời mới viết.
Hồi đó, chúng tôi vẫn thường nói đùa, Ngọc
Minh viết văn tay phải, là Trăng Huyết, tay trái viết giùm cho
Hoàng
Ngọc Tuấn, là Thư về Đưòng Sơn Cúc.
Có điều, chúng tôi không thể tưởng tượng ra được, còn nhiều Ngọc Minh,
Minh Ngọc..
khác nữa, trong một người nữ này.
Trong cái rủi có cái may, nếu không nhờ ơn "cách mạng", những nhân
vật đó làm sao có dịp xuất hiện?
Trở
lại với vụ Thư Từ Đường Sơn Cúc, MN nói, anh
viết
vậy, có thể làm người ta hiểu lầm, em bây giờ khá giả, quên bạn nghèo
ngày xưa.
Anh T. bi giờ khổ lắm, có lần em đề nghị với anh, tụi mình làm đám cưới
giả,
bạn bè xúm lại mừng, được bao nhiêu, em đưa anh hết... vậy mà anh ấy
cũng không
chịu...
*
Đó là lần đầu
tiên Gấu Cái gặp MN, và hai bà bèn nhắc lại thời khốn khổ sau 1975, mấy
ông
chồng đi tù, hoặc thất nghiệp, mấy bà phải kéo nhau ra lề đường kiếm
sống, nuôi
cả gia đình bằng một sạp bán báo, một cái tủ bán thuốc lá lẻ….
Chính là trong
khi hồi tưởng như thế, mà cùng nhắc tới nhà văn HNT, vì biết MN rất
thân với
anh. MN mới nói ra chuyện đám cưới giả.
Thì cũng chỉ là
một cách ngửa tay xin tiền bạn bè trong lúc quá ngặt nghèo, và còn nói
lên được
tư cách, tính tình của HNT, một người như anh làm sao chấp nhận được
chuyện đó.
MN kể, một phần là để cho thấy cái sự bảnh của HNT, chứ có đâu để làm
xấu hổ
anh?
Và cũng
chỉ MN mới nghĩ ra được
một cái chuyện ngửa tay xin tiền bè bạn như vậy, điều này tưởng rất ư
nhỏ nhặt,
nhưng chính nó phân biệt những tác phẩm của HNT, với Thư về Đường Sơn
Cúc, và với
Trăng Huyết. Nói rõ hơn, chỉ MN mới viết nổi Trăng Huyết, và phải có
bóng
dáng của MN đằng sau Thư về Đường
Sơn Cúc. Cái sự thất bại trong cuộc đời của
HNT chính là do anh không thể viết được thứ truyện ngắn ma quái như
Trăng Huyết,
và cũng thế, không thể vươn tới sự trong sáng tuyệt vời của một TVDSC.
Gấu chẳng đã từng viết, đứng
ngay bên cạnh một ông nhà văn viết cho tuổi thơ Duyên Anh, có một ông
Thương
Sinh viết độc ác đến vận vào chính ông ta? (1)
(1)
Cái câu trứ danh của Greene, là cũng
nhắm tới điều trên đây:
Tớ tin vào cái phần quỉ ma, độc
ác, của Thượng Đế
"I believe in the
evil of God." - from "The Honorary Consul" –
Nguồn
HNT rất giống Schulz, [đọc Tuổi
thiên tài], ở đời thường, khoan nói chuyện văn chương, nghệ
thuật. Cả hai đều khốn khổ khốn
nạn, sinh ra đời là đã chỉ muốn xin lỗi cuộc đời, xin lỗi, tớ tới nhầm
chỗ, đúng
ra tớ không nên bò ra cõi đời này.
Lũ khốn nạn làm sao mà đọc ra những điều như trên, thành ra xúm lại
chửi Gấu,
cũng là chuyện dễ hiểu.
Ngay cả cái đám bạn thân của HNT cũng không đọc ra nổi cái sự khác biệt
như
trên. Chúng cũng nghĩ là GNV làm xấu bạn của chúng!
Sự kiện HNT không thể là tác giả TPersuasions TVDSC, cho thấy, ông không thể là
một
TS, hay
KP… hay bất cứ một thứ chuyên viết biếm văn bẩn thỉu của Sài Gòn ngày
nào!
Bài
viết của Grossman về
Schulz thật tuyệt. TV sẽ dịch, cũng là một cách tưởng niệm cả hai,
Schulz và Hoàng
Ngọc Tuấn, và cũng là một cách hoài nhớ về Tuổi thiên tài, về huyền
thoại của một
con cá hồi:
Uyên
đã thực sự rời bỏ dòng sông để ra biển cả, không hề hiểu được một điều:
biển cả,
bởi vì mênh mông, cho nên thật khó mà nhận ra con đường ngày ra đi, hay
tìm thấy
được, con đường trở về...
Nơi
giòng sông chảy về phía nam
In my book
"See Under: Love," Bruno Schulz appears both as himself and as a
fictional character. In his fictional guise, I smuggled him out of
wartime
Drohobycz, under the noses of the literary scholars and the historians,
to the
pier in Danzig,
where he jumped into the water and joined a school of salmon.
Why salmon?
Perhaps because salmon have always seemed to me the living incarnation
of a
journey. They are born in freshwater rivers or lakes. They swim there
for a
while, and then head for salt water. In the sea, they travel in huge
schools
for thousands of miles, until they sense some inner signal, and the
school
reverses direction and begins to return home, to the place where its
members were
hatched. Again the salmon swim thousands of miles. Along the way, they
are
preyed upon by other fish, by eagles and bears. In dwindling numbers,
they
scoot upriver and leap against the current, through waterfalls twenty
or thirty
feet long, until the few that remain reach the exact spot where they
were
spawned, and lay their eggs. When the babies hatch, they swim over the
dead
bodies of their parents. Only a few adult salmon survive to perform the
journey
a second time.
HNT rất giống
Schulz, [đọc Tuổi
thiên tài],
ở đời thường, khoan nói chuyện văn chương, nghệ
thuật. Cả hai đều khốn khổ khốn nạn, sinh ra đời là đã chỉ muốn xin lỗi
cuộc đời,
xin lỗi, tớ tới nhầm chỗ, đúng ra tớ không nên bò ra cõi đời này.
Lũ khốn nạn
làm sao mà đọc ra những điều như trên, thành ra xúm lại chửi Gấu, cũng
là chuyện
dễ hiểu.
Ngay cả cái
đám bạn thân của HNT cũng không đọc ra nổi cái sự khác biệt như trên.
Chúng
cũng nghĩ là GNV làm xấu bạn của chúng! (1)
Sự kiện HNT
không thể là tác giả TVDSC, cho thấy, ông không thể là một TS, hay KP…
hay bất
cứ một thứ chuyên viết biếm văn bẩn thỉu của Sài Gòn ngày nào!
(1)
Trong thời
gian Nguyễn Thị Minh Ngọc có những truyện ngắn (khá hay) đăng trên tờ
Văn của
Trần Phong Giao/Nguyễn Đình Vượng, Hoàng Ngọc Tuấn đã là một nhà văn có
tên tuổi
trên văn đàn thời bấy giờ (nếu không muốn nói là “hot”) và đã có nhiều
tác phẩm
ấn hành dược sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhiều thành phần độc giả. Tôi
không
tin là NTMinh Ngọc có đủ khả năng “đỡ đầu” hay gà cho HNT viết Thư Về
Đường Sơn
Cúc. Chẳng qua, theo tôi TVDSC chỉ là kết quả của sự gặp gỡ giữa hai
tâm hồn
văn nghệ bay bổng : HNT đã lấy cảm hứng từ NTMN để viết nên thiên “tình
thi”
thơ mộng và trong sáng này .
Mấy lời
HXS
[Da Mau]
Mấy lời!
Bảnh thật!
Đâu có thua
gì nhà phê bình: Đã đành với giọng văn hờ hững như thế, tôi đâu có coi
mấy
thằng đó
ra cái gì.
When
I wrote the "Bruno" chapter of my book, and described an imaginary
scenario in which Bruno flees the failure of civilization, the
perfidious
language of humans, and joins a school of salmon, I felt that I was
very close
to touching the root of life itself, the primal, naked impulse of life,
which
salmon seem to sketch in their long journey, and which the real Bruno
Schulz
wrote about in his books, and for which he yearned in every one of his
stories:
the longed-for realm that he called the Age of Genius. The Age of
Genius was
for Schulz an age driven by the faith that life could be created over
and over
again through the power of imagination and passion and love, the faith
that
despair had not yet overruled any of these forces, that we had not yet
been
eaten away by our own cynicism and nihilism. The Age of Genius was for Schulz
a
period of perfect childhood, feral and filled with light, which even if
it lasted
for only a brief moment in a person's life would be missed for the rest
of his
years.
DAVID GROSSMAN
Bạn
đọc HNT, rồi đọc những dòng trên: chúng có thể áp dụng cho anh.
*
Mấy lời?
Gấu
không hiểu nhà
thơ HXS này coi ‘mấy lời’ của ông, là để phủ dụ Gấu, hay là để phủ dụ
độc giả
diễn đàn DA MAU?
Viết
cái gì thì cũng phải biết đến cái sự lịch sự làm đầu.
Hơn
nữa, có vẻ như ông không rành về giới văn nghệ Sài
Gòn thời đó: Truyện ngắn đầu tay của Ngọc Minh, Trăng Huyết, đăng trên
Thời Tập
của Viên Linh. NXH của Văn thấy nổi quá, mới xin NM bài, và đó là
truyện Trái
Khổ Qua.
Bảo rằng "khá hay", thì thật nhảm.
Phải nói là cực kỳ hay, cực kỳ lạ, nhất là Trăng Huyết.
Bảo rằng HNT “hot”, thì cũng thật nhảm. Văn của HNT là
thứ văn chương của tuổi thiên đường, tuổi thiên tài, tuổi học trò, tuổi
ô mai, tuổi
xí muội.... Hay, cực hay, cực hồn nhiên, nhưng không "hot".
Hai
cõi văn của Ngọc Minh và HNT là hoàn toàn khác
biệt hẳn nhau. [Lần gặp lại ở Toronto, Gấu có nhận xét về Trăng Huyết,
sao nó
ma quái, lạnh lẽo…, MN trả lời, chỉ có anh, vì cũng ở trong cõi đó, mới
nhận ra!]
Huế
buồn chi?
Thơ
HXS, thú thực Gấu chưa từng đọc, được, dù chỉ
một dòng, và Gấu cũng tin rằng, chưa có độc giả yêu thơ nào lọc ra được
trong
thơ của ông, dù chỉ lấy một dòng, một hình ảnh để đời!
Cứ nói
đến Huế, là giở cái giọng
buồn chi ra.
Chán thật.
Sau một cú Mậu Thân thì Huế bắt buộc phải đổi
khác,
làm gì có chuyện buồn chi?
Có vẻ nhà thơ chưa từng đau nỗi đau Mậu Thân, nên vẫn
cứ buồn chi như Huế ngàn đời vẫn buồn chi?
Lần Gấu
đọc mấy dòng của Võ Đình,
hình như một “Huệ” khác, viết về một bài Tạp Ghi của Gấu, xong đăng lại
trong cuốn sách của
nhà văn Phan Nhật Nam, ông cho biết, ông chưa từng đọc Adorno, và chê
ông triết
gia này ‘vung tay quá trán’, khi phán, “Sau Lò Thiêu mà còn làm thơ
thì thật
là dã man”, Gấu hỡi ơi: Ông này bỏ chạy rất sớm, ra hải ngoại rất sớm,
vậy mà
chẳng hề biết một tí gì về Lò Thiêu cả! (1)
Hoá ra
nhà thơ HXS này thì cũng
rứa, ở ngay Huế, mà không hề biết vụ Mậu Thân!
Sau Mậu Thân mà Huế vẫn buồn chi thì Huế thật là dã man! [Nhại Adorno!]
(1)
Đêm Tận Thất Thanh.
Văn Học
số Xuân Đinh Sửu
[129&130], trong phần Tạp Ghi, ông Nguyễn Quốc Trụ viết: "... rằng
sau
Auschwitz, 'nếu cá nhân nào đó mà còn làm được thơ thì thật là dã man'
(sic),
và 'mọi văn hóa sau Auschwitz chỉ là
rác
rưởi'.
Tôi chưa từng được quen biết,
trong lãnh vực văn học, ông Adorno này, nên không lạm bàn rông rài. Chỉ
"trộm" nghĩ rằng câu nói của ông [ta] có vẻ như... "vung tay quá
trán". Có thể đổi được chăng những câu phê phán này thành... "sau Auschwitz mà còn làm thơ... Trời ơi, Tuyệt!"? Hay là, "Mọi văn hóa sau Auschwitz
là những nhánh kỳ hoa bung lên từ bãi dơ bầy
nhầy, ruồi nhặng sâu bọ lúc nhúc, thối um"?
Đêm Tận Thất Thanh là một nhánh kỳ hoa
đó...
Tôi không may mắn (?) từng
đọc tác giả Adorno nói trên....
Loxahatchee, Florida 5-2-97
24 tiếng trước Tết Đinh Sửu,
ở Việt Nam
Võ Đình
Trên
đây trích từ bài viết
của Võ Đình, ở cuối cuốn Đêm Tận Thất Thanh của "bạn ta" là Phan Nhật Nam.
Trong cuốn sách bạn ta tặng, buổi tối tại nhà Nguyễn Đình Thuần. Với
lời đề
tặng:
Của Ông Sơ Dạ Hương với
tình thân 30 năm Nguyễn Quốc Trụ, La Pagode.
CA Oct/28/2003.
PNN ký tên.
*
Cái sự chẳng hề biết câu nói
của Adorno, thì cũng OK thôi, nhưng có thể, chính vì thế mà chẳng biết
gì về nỗi
đau Lò Thiêu, và, cũng chính vì thế mà chẳng hề đau nỗi đau Mậu Thân,
và cùng với
nó, nỗi đau Lò Cải Tạo, chăng?
Võ Đình đi rất sớm, viết, vẽ,
làm đủ thứ nghệ thuật, bảo rằng không hay thì cũng không được, bảo rằng
‘hàng đầu
hải ngoại’ thì lại càng không được, có thể chính là do không biết đến
câu của
Adorno, [lại] chăng?
GNV ra ngoài này ít lâu, rồi
viết cho NMG, nhân đó đọc ông trên tờ VH, nhưng không ‘mặn’, nên không
có ý kiến.
Tuy nhiên, nếu phải đưa ra một
cảm nghĩ, thì là như thế này, đây là thứ văn chương ‘vô can’, [so
với trong nước 'vô hại'], bạn viết nó hôm
nay cũng được, mai cũng được, lúc nào cũng được.
Còn một cảm nghĩ này nữa: Bạn
cũng chẳng cần biết, ai viết nó!
Riêng
với HXS, khác. Sau Lò
Thiêu, vẫn có thơ, sau Mậu Thân, vẫn có Huế, nhưng Huế không thể còn
nỗi buồn
muôn đời của nó nữa.
Không thể đổ hết cho HPNT, là
xong! (1)
Thành
thử, đau đáu nhất với
Huế, có khi lại là TCS!
Anh không thể lên rừng chung với đám bạn, ở lại,
trốn chui chốn nhũi vì trốn lính, và khi đám bạn VC về thành, chúng
không coi
anh là bạn của chúng, chúng bắt anh đi cải tạo, làm tờ tự kiểm, anh về
Huế, Huế
cũng không nhận, giả như anh có ôm lấy Mậu Thân, thì Huế cũng đếch cho!
Chán ‘Huệ’ quá!
Hà, hà!
(1) Khi
Adorno nói, sau
Auschwitz mà còn làm thơ thì thật là dã man, ông muốn nói, theo như tôi
hiểu,
hai điều:
Một là: Không thể làm thơ sau Auschwitz.
Hai là: Nếu sau Auschwitz vẫn có thơ, thì phải có Auschwitz
trong cái gọi là thơ đó.
Elfriede Jelinek
NKTV
Tuyệt!
Cái thứ
thơ Huế buồn chi,
may, là nó không hay, chứ nếu nó hay thì thật là bỏ mẹ.
Nó sẽ chứng tỏ một điều
thật là khốn nạn, Mậu Thân kệ cha Mậu Thân, Huệ vẫn cứ buồn chi, vẫn cứ
chỉ buồn.
Đẩy
thêm một mức nữa, bạn phải
có cái nỗi đau Mậu Thân trước cả Mậu Thân!
Thi sĩ là cái thứ người đó: đau
nỗi đau trước thiên hạ.
Người
đọc, đọc thơ, đọc văn, thì cũng
vậy. Bởi thế Steiner phán:
Theo
mức độ tối thượng, văn
chương cũng như vậy. Người nào đọc Hồi Thứ 24, sử thi "Iliad" - đêm
gặp gỡ giữa Priam và Achilles - hay là chương Alyosha Karamazov quỳ
dưới những
vì sao, người nào đọc chương XX của Montaigne (Que philosopher,
c’est apprendre à mourir. Rằng triết là học chết.), và cách mà
Hamlet sử dụng nó, và người nào mà không thấy mình bị biến đổi, nhận
thức về
chính cuộc đời mình vẫn như cũ, cái nhìn căn phòng [mới] chuyển tới
chẳng gợn
chút thắc mắc, những ai kia gõ cửa đâu có gì khác: người đó đọc mà sự
thực là
mù, tuy vẫn nhìn được, theo nghĩa vật lý. Liệu ai đó có thể đọc "Anna
Karenina" hay Proust mà chẳng kinh nghiệm được gì, về sự yếu đuối trong
những tình cảm, ý nghĩ liên quan tới dục tính?
Đọc tới nơi tới chốn, là chấp nhận hiểm nguy.
Điều gọi là căn cước, sự tự chủ của chúng ta có thể bị thương tổn.
Trong những
biểu hiện khởi đầu của chứng động kinh, có một giấc mơ thật đặc trưng;
Dostoevsky nói về nó. Con người như bị nhấc bổng ra khỏi thân thể của
mình;
người đó nhìn ngoái lại và cảm thấy một nỗi sợ bất thần, khùng điên;
một hiện
hữu khác đang đi vô chính cái thân thể của mình đó, và chẳng còn đường
nào để
mà trở lại. Nỗi sợ khủng khiếp làm cho cái đầu cố bật dậy, tỉnh giấc.
Cũng vậy,
khi chúng ta cầm trong tay một tác phẩm lớn lao, văn chương hay triết
học,
tưởng tượng hay đề thuyết. Nó có thể hoàn toàn chiếm hữu chúng ta,
khiến chúng
ta [phải] bỏ đi lang thang, sợ hãi ngay chính mình, không còn nhận ra
mình.
Người nào đọc "Metamorphosis"("Hóa Thân") của Kafka, và
nhìn vào gương không rùng mình, người đó có thể đọc bản in, theo nghĩa
kỹ thuật
của từ "đọc", nhưng thực sự là mù chữ, theo đúng nghĩa của việc đọc.
Bởi vì cái cộng
đồng của những giá trị truyền thống, đã tản mác, bởi vì những từ, chính
chúng
cũng bị vặn vẹo, rẻ rúng, bởi vì những thể loại cổ điển châm ngôn, hay
ẩn dụ
ngày trở thành những kiểu nói làm xàm cho qua đi: nghệ thuật đọc sách,
nghệ
thuật về một khả năng biết chữ thực sự (true literacy) phải được tái
tạo dựng.
Đây là nhiệm vụ của phê bình văn học: giúp chúng ta - như là những con
người
hoàn toàn - đọc. Bằng những thí dụ về sự chính xác, về nỗi sợ hãi, và
niềm vui
rạng ngời. So với hành động sáng tạo, nhiệm vụ này là thứ yếu. Nhưng
chưa bao
giờ nó quan trọng như là lúc này. Không có nó, sáng tạo, chính nó, có
thể rơi
vào câm lặng.
Nhân Văn
"Men who
wept at ‘Werther’ or Chopin
moved, unrealizing, through literal hell." Bản tiếng Pháp: "Những người
mà Goethe và Chopin làm đổ lệ, đã đi qua địa ngục của những kẻ khác mà
không
nhíu mày."
Những người
Huệ, đọc Huệ buồn chi mà
buồn, đi
qua mồ chôn tập thể Mậu Thân mà không nhíu mày!
Cái
thứ thơ Huế buồn chi, may, là nó không hay, chứ
nếu nó hay thì thật là bỏ mẹ.
Nó sẽ chứng tỏ một điều thật là khốn nạn, Mậu Thân kệ cha Mậu Thân, Huệ
vẫn cứ
buồn chi, vẫn cứ chỉ buồn.
“Mấy
lời”, “Đành rằng, với cách viết hờ hững như thế”,
“vung tay quá trán’….
Đọc,
suy ra một hệ luận:
Mít chúng ta có thừa nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình ‘nhớn’, nhưng do
mải lo
đóng vai nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nhớn, mải dựa hơi, ngửi hơi
lẫn nhau,
quên mẹ cả viết!
Tất nhiên, quên cả đọc!
Tất nhiên, quên Mậu Thân!
Ông
bà nào cũng tưởng mình là bố chó xồm cả!
Mấy lời!
Quá
Trán!
Chán Quá!
Gấu đang
làm MC, sinh hoạt VHNT.
Mắt lé, lác xệch, trợn ngược, vì
nền VHNT hải ngoại!
Cái
vụ làm MC thổi ống đu đủ,
những ngày đầu nơi xứ lạnh, thực sự là với một ông nhà văn khác, nhà
văn TC,
cũng trong nhóm Montreal, với cuốn Về Biển Đông, một cuốn bút ký viềt
về những
ngày ông đóng cửa phòng mạch, đi cứu người vượt biển. Cuốn thơ của HXS
xb cũng
khá lâu trước đó rồi, nhưng nhân tiện quá giang. Buổi ra mắt được tổ
chức tại
một nhà hàng ăn, thành thử mới có chuyện làm vách ngăn, "tables
séparées" là theo nghĩa đó.
PEN sở
tại đứng ra tổ chức,
người công tắc [contacter] Gấu, là một tay dược sĩ, quen biết TC. Gấu
nhận lời
liền, vì cũng đang cần chường cái mặt mo ra để lo bán bảo hiểm nhân
thọ, chán
thế.
Đúng
ra, đám NM, bạn bè TC,
nên ngồi tại phòng tổ chức, tốt nhất là ngay những hàng ghế đầu, để tỏ
thái độ
lịch sự, và phải có một tay trong bọn, vào giờ sắp tan hàng, lên cám ơn
MC, PEN
sở tại, và khán thính giả, độc giả đã bớt chút thì giờ… vv và vv.
Khi
thấy đám này bất lịch sự,
chơi cái bàn ở phía bên kia bức màn, ngăn cách hai bên, trong khi Gấu
ra sức
thổi kèn, thì cụng ly với nhau, gật gù, thổi được đấy; hoặc lắc đầu,
chưa đã
[như anh chàng bạn văn từ thời còn đi học của Gấu, chê bài viết Gấu
thổi anh
ta, phần đầu OK, phần sau chưa đã, Gấu đã từng lèm bèm đâu đó rồi], Gấu
chán
quá, nhưng hồi đó ‘hiền lắm’, chỉ nghĩ thầm, thôi kệ mẹ họ, mình cũng
đâu có
tốt lành gì, cũng “lợi dụng lẫn nhau”, vậy mà hay đấy!
Bà chủ
tiệm là bạn thân của
Gấu Cái.
Chủ
quán là một tay vai vế
trước 1975. Bà vợ, bạn cùng sở với Gấu Cái. Bả biết Gấu làm cho UPI qua
Gấu
Cái. Bà biết gia đình Gấu Đực và Cái không có êm ấm gì hết trơn hết
trọi. Khi
Gấu mới đặt chân xuống Xứ Lạnh, tờ LV có loan tin, và chúc mừng, và cho
thêm
chi tiết, Gấu nhà văn từng làm cho Mẽo UPI. Bà chủ quán bèn hỏi một ông
trong
PEN, anh hỏi thử coi bà vợ của ông ta có phải tên… không. Nếu phải, thì
như
vậy, họ chưa có bỏ nhau, và bà đó là bạn của tôi!
Cái ông
bạn văn chủ PEN đó
bèn đi một đường ghé thăm vợ chồng Gấu, khi đó còn đang ở shelter, và
hỏi Gấu,
nè bà xã có phải tên… không. Phải. Thế thì có bà tên…. hỏi thăm. Và cho
số điện
thoại.
Gấu
phải nhờ một tay quen,
cũng từ trại tị nạn mới qua, trước Gấu ít lâu, và đã thuê nhà riêng,
không còn
ở shelter, chỉ đường.
Thế là
vào một đêm đầy dông
bão, tuyết phủ đầy trời, đúng như vậy, vì Gấu tới Xứ Lạnh đúng những
ngày bão
tuyết, hai vợ chồng lần mò đến nhà người quen cùng ở trại tị nạn, rồi
đi cùng
với anh ta tới quán ăn, dự đại tiệc hàn huyên giữa hai chị em bạn, làm
cùng sở.
Cả ba địa chỉ, shelter, nhà anh bạn thuê, quán ăn, chỉ cách nhau vài
bước chân,
tuy nằm trên ba con phố khác nhau, vậy mà ba kẻ nhà quê phải mất ít
nhất là ba
tiếng đồng hồ lặn lội trong tuyết lạnh!
Trong
khi ăn, Gấu Cái hỏi
thăm bâng quơ, về cô bạn của vợ chồng Gấu, cô phù dâu ngày nào, nghe
nói hình
như hiện đang ở Xứ Lạnh... Bà chủ quán
giơ tay, chờ một tí, và đứng dậy, vô trong, kiếm một số báo LV, đem ra,
lật lật
vài trang, rồi nói, số điện thoại đây nè!
Vụ Án
Cái
thứ thơ Huế buồn chi, may, là nó không hay, chứ
nếu nó hay thì thật là bỏ mẹ.
Nó sẽ chứng tỏ một điều thật là khốn nạn, Mậu Thân kệ cha Mậu Thân, Huệ
vẫn cứ
buồn chi, vẫn cứ chỉ buồn.
Notes.
Đây là vấn
nạn TTT đụng phải, và ông không làm sao giải ra được, và đành im lặng,
không làm thơ nữa, khiến nhà phê bình lớn hoạnh họe:
TTT khi ra tù,
cũng bầy đặt làm thơ gửi ra hải ngoại, ký tên là Trần Kha, vậy mà khi
ra được
ngoài này, tại sao không làm thơ nữa, để cho ông ta đọc vài bài chơi!
(1) Après ma libération,
sur le chemin du retour, la première chose que j'ai faite, a été de me
replier
et écrire mes poèmes mémorisés tout au long de ma détention. Je suis un
survivant, mais je ne veux plus être écrivain, comme je l'ai pourtant
souhaité
depuis toujours. J'ai écrit dans
ma mémoire au camp : « II faut que j'arrive à écrire comme si rien ne
s'était
passe, comme si rien n'était modifié. »
Et maintenant je
me dis : « Quand serai-je capable d'une telle chose ? » Pour re-écrire.
Khi ra khỏi trại
tù, trên đường về, điều đầu tiên tôi làm, là cúi gập mình viết ra những
bài thơ
lưu giữ trong trí nhớ suốt thời gian tù đầy.
Tôi là kẻ sống
sót, nhưng tôi chẳng muốn làm nhà văn nữa, như đã từng mong muốn.
Tôi đã từng lưu
vào trí nhớ, khi ở trong trại tù, điều này: "Phải làm sao viết như
chẳng
có gì xẩy ra, chẳng có gì thay đổi."
Và bây giờ tôi tự
hỏi: "Khi nào thì tôi có thể làm được như vậy? Lại viết?
Thơ giữa chiến
tranh và trại tù
Ngay từ
lúc vừa trình diện làng
văn, tập tành viết phê bình, điểm sách, Gấu đã đụng vấn nạn trên, khi
đọc Mây
Bay Đi, tập truyện ngắn của Nguyên Sa, và Gấu đã nhận ra, ông là một
nhà văn dễ
dãi và hạnh phúc.
Một cách nào đó, GNV đã dính
cú đánh của cái rìu phá băng của Kafka, khi ông chưa ra đòn, nghĩa là,
khi chưa
đọc những dòng sau đây, (1) mà chỉ đọc được cái định nghĩa của ông về
nhà văn,
một thứ dê tế thần bouc-émissaire. NS nhận cú đánh, đến già cũng không
làm sao
quên được là vậy.
Kafka,
trong một
bức thư gửi cho bạn, viết:
“Nhà văn là một
bouc-émissaire của nhân loại. Nhờ hắn mà nhân loại có thể vui hưởng tội
lỗi một
cách ngây thơ vô tội”. Chính niềm hoan lạc ngây thơ vô tội này là sự
đọc. Sự
viết mang trong nó mầm bất hạnh, nhưng sự đọc lại là hân hoan, lại là
ân sủng.
Một nhân xấu cho một quả tốt. Viết là một sự vật ai oán (chose
nocturne), là
cái ngậm đắng, nuốt cay, là cái nghiệp, là cái sầu thảm. Nhưng đọc lại
là ân
huệ, là an hưởng tội lỗi một cách không tội lỗi, (một cách thơ ngây vô
tội).
Viết là một tác động xấu (activité mauvaise) nhưng đọc lại là cái bất
động, cái
tiêu cực sung sướng. Cái hữu của sự viết là bất hạnh trong khi bản tính
của sự
đọc lại là hạnh phúc, mặc khải…
Nguyễn Du giữa chúng
ta
(1) Kafka viết cho bạn là Oskar Pollak, vào năm 1904:
"Tôi nghĩ
chúng ta chỉ nên đọc những cuốn sách ngoạm, hoặc đâm chúng ta. Nếu cuốn
sách mà
chúng ta đọc không lay động chúng ta tỉnh hẳn người, giống như bị ai đó
giáng
một cú vào sọ, thì ích chi đâu mà đọc nó? Sách làm cho chúng ta hạnh
phúc? Cám
ơn Trời, chúng ta hạnh phúc biết bao nếu chẳng sách gì hết. Những cuốn
sách làm
chúng ta hạnh phúc, chúng ta có thể tự viết lấy. Sách mà chúng ta cần,
chúng
đập chúng ta giống như gặp một chuyện bất hạnh đau đớn nhất, như cái
chết của
một người thật thân thiết mà chúng ta yêu hơn cả yêu chúng ta, nó làm
chúng ta
cảm thấy như bị tống xuất tới một nơi rừng rậm, hẻo lánh, xa hẳn con
người,
giống như tự tử. Cuốn sách phải giống như cái rìu phá cái biển đóng
băng ở bên
trong chúng ta. Tôi tin như vậy."
(Alberto Manguel trích dẫn, trong cuốn A
History of
Reading, nhà xb Alfred A. Knopf Canada, 1996)
*
Jean Améry phải bặt tiếng
trong 20 năm.
Trong
lời tựa cuốn Vượt quá tội ác và hình phạt,
ông viết: Thật sai lầm khi cho rằng trong thời gian câm lặng dài như
thế, tôi
vờ đi, hay quằn quại, refoulé, với cái số phận của mình, và của người
Đức, ròng
rã trong 12 năm. Hai thập niên câm lặng đó, tôi sử dụng vào việc truy
tìm thời
gian bất khả mất, à la recherche du temps impossible à perdre, nhưng
thật khó
nói ra đối với tôi, mais il m’avait été difficle d’en parler.
Đọc văn, thơ, phê bình hải ngoại, điều đập vào mắt chúng ta, là, nó quá
nghèo
nàn cái phần hội nhập với văn học thế giới.
Huế buồn chi thì chỉ có Huế buồn chi mà thôi.
Do không đau, không đọc, để mà đồng cảm với thế giới, cho nên đành vờ
đi số phận
Huế của mình, và của những người dân Huệ khác
Cả một cuốn viết về Thơ của NHQ không hề nhắc tới một nhà thơ mũi lõ
nào. Ông
ta hình như cũng chưa từng viết về, giới thiệu, hay dịch thơ nước ngoài?
Chính là từ những nguyên nhân như trên, mà những ông Mít nhà văn nhà
thơ, đa số
đều rất ư là kênh kiệu, kiêu ngạo… khi nói về họ: Mấy lời, đã đành
với cách
viết hờ hững…
Họ đều không học được bài học của Brodsky: Lưu vong dậy chúng ta bài
học khiêm
tốn.
Gấu đọc thơ văn Mít, không làm sao thấy thế giới, trong khi đọc thế
giới, thì
lại thấy Gấu, và qua Gấu, Mít!
Đọc Brodsky, ra Bắc Kít. Đọc Milosz, ra Cái Ác Bắc Kít, đọc Steiner, ra
Lò
Thiêu.
Thí dụ
*
V/v Thiếu 1 ngày lính
Cái này
thì chỉ coi như là một
giai thoại: Gấu nghe một ông bạn nói về NS, khi được hỏi về 30 Tháng
Tư, và lưu vong xứ Mẽo, thi sĩ than, chúng lấy mẹ mất cái nhà và cái
trường to kềnh của
tớ!
Còn cái
chuyện ông bị gọi khi
xẩy ra vụ tổng động viên, ông hốt quá đến bị xì-trét, và sau chạy được
một chân
canh xác chết, nhờ vậy mà sáng tác được cái truyện ngắn, hay truyện dài
‘10 ngày
ở chung sự vụ”.
Bảnh
hơn Gấu, cứ 3 tháng là 1
lần trình diện Trung Tâm Tuyển Mộ Nhập Ngũ, rồi về.

Mục Tin
Văn trên tờ Văn ngày
nào, ký Thư Trung, tức TPG, đáp lễ NS qua loạt bài ‘Một bông hồng cho
văn nghệ’
Cái
thứ thơ Huế buồn chi, may, là nó không hay, chứ
nếu nó hay thì thật là bỏ mẹ.
Nó sẽ chứng tỏ một điều thật là khốn nạn, Mậu Thân kệ cha Mậu Thân, Huệ
vẫn cứ
buồn chi, vẫn cứ chỉ buồn.
Một
trong những khám phá tuyệt
vời nhất của Gấu khi ra được hải ngoại, Lò Thiêu, tất nhiên, và để được
‘ân sủng’
sau khi bị ‘thất sủng’ như thế, [Mi ở đây bao lâu rồi?] Thượng Đế cho
phép Gấu gặp
lại cô bạn ngày nào, làm được vài bài thơ nhờ gặp lại, đọc được, hay
được đọc
thơ [cả hai đều không dễ đâu nhé], và do đọc thơ, thì mới hiểu ra được
câu của
Borges, thơ được trao cho thi sĩ, và cái thứ người được trao đó, thì
đều rất ư
là khiêm tốn, vì họ rất ư là kiêu ngạo.
Mấy lời!
NQT
*
Anh nghĩ: Ta
đang ở địa ngục. Ta đã chết.
Anh nghĩ: Ta
điên rồi.
Anh nghĩ: Thời
gian ngưng.
Rồi anh suy
nghĩ, trong trường hợp như vậy, ý nghĩ của anh, cũng phải tới một điểm
ngừng.
Anh nóng lòng xét nghiệm khả năng này: anh nhắc lại (mà không mấp máy
môi) Bài
Thơ bí ẩn thứ Tư của Virgil. Anh tưởng tượng những người lính đằng xa
cùng chia
sẻ với anh nỗi nôn nóng; anh mong được liên lạc với họ. Anh sững sờ khi
thấy
mình không một chút mệt mỏi, không choáng váng vì sự bất động hoài huỷ.
Sau một
thời gian dài, không biết là bao lâu, anh rơi vào giấc ngủ. Khi tỉnh
dậy, anh
nhận ra thế giới vẫn bất động, tê cóng. Giọt mưa vẫn đọng trên má anh;
bóng con
ong vẫn dừng trên mặt phiến đá; khói từ điếu thuốc anh ném bỏ vẫn chưa
tan. Một
"ngày" khác đã qua, trước khi anh hiểu được.
Anh
đã xin Thượng Đế cho anh một năm để hoàn
thành tác phẩm: Quyền năng vô hạn của Người đã bảo đảm điều này. Vì
anh, Thượng
Đế đã hoàn thành một phép lạ bí ẩn: Sự thắng thế, dẫn đầu của đối thủ
Đức sẽ giết
anh, ở một giờ giấc nhất định, nhưng trong tư tưởng của anh, một năm đã
qua đi,
giữa lệnh bắn của viên đội, và cuộc hành quyết. Hoang mang, anh đi tới
ngỡ
ngàng; từ ngỡ ngàng tới cam phận, từ cam phận tới lòng tri ân bất ngờ.
Anh
đâu có tài liệu chi, ngoài hồi ức của
riêng mình. Đám rong chơi tài tử, vốn đã quên những chương đoạn mơ hồ,
phù phiếm,
họ không thể tưởng tượng, anh đã từng có được một sự nghiêm thủ hạnh
phúc, khi
làm chủ từng khổ thơ thêm vô đó. Anh không làm, cho hậu thế, ngay cả
cho Thượng
Đế, cũng không, những thưởng ngoạn văn chương cũng chỉ là vô danh đối
với anh.
Hết sức tỉ mỉ, không cử động, hết sức bí mật, anh dệt đúng thời gian,
mê cung
vô hình, kiêu hãnh của anh. Anh làm đi làm lại hai lần, hồi thứ ba. Anh
bỏ đi
những biểu tượng quá lộ liễu: tiếng đập của thời gian, của âm nhạc.
Chẳng có gì
thúc hối anh. Anh bỏ bớt, anh cô đọng, anh khuếch đại. Có chỗ, anh trở
lại
nguyên bản. Anh thấy mình trở nên trìu mến cái sân, doanh trại, một
trong những
mặt tiền của nó, trước mặt anh, đã sửa đổi quan niệm của anh về tính
tình của
Roemerstadt. Anh khám phá ra rằng, những tạp âm nặng nề đã làm Flaubert
bực
mình rất nhiều, chỉ là những mê tín thị giác, sự yếu đuối và giới hạn
của chữ
viết, không phải chữ có âm thanh, trầm bổng... Anh kết thúc bi kịch của
anh.
Anh chỉ còn bận tâm với mỗi một câu. Anh đã kiếm thấy nó. Giọt mưa lăn
trên má
anh. Anh bắt đầu một tiếng kêu man rợ, xoay mặt qua một bên. Ba bề, bốn
phía, một
luồng hơi đẩy anh té xuống.
Jaromir Hladík chết vào ngày 29
tháng Ba, lúc
9:02 sáng.
Mi ở đây bao lâu rồi?
Gấu không xin 1 năm, mà 'thật
nhiều
năm', sau 30.4...
Thì cũng vẫn thời gian 'giữa
lệnh bắn của viên đội, và
cuộc hành quyết'!


Xuống phố đi
khám… thận, nhân tiện ghé tiệm sách vồ 2 cuốn trên, để đọc song song
với
Blog của Thầy Cuốc trên VOA.
Cuốn đầu, làm thế nào để bốc phét về những cuốn sách mà bạn chưa đọc!
Nguyên tác tiếng Tây, rất nổi đình nổi đám khi vừa mới ra lò
Đọc xong, có thể sẽ gửi biếu nhà phê bình, vì có vẻ Ngài chưa đọc
cuốn
này, nên Ngài viết ra cái gì, tác giả nào, là thiên hạ biết tỏng Ngài
chưa từng
đọc!
Cuốn thứ nhì, của Llosa, có bài về chủ nghĩa quốc gia, thật tuyệt.
Coi xong, cũng sẽ gửi tặng, vì có vẻ như nhà phê bình lầm lẫn giữa tình
cảm yêu
nước và chủ nghĩa quốc gia, nationalism, trong loạt bài nhảm nhí của
Ngài!