Tình
Yêu như Trái Phá
Sắp phát hành 300 bức thư tình của Trịnh
Công Sơn
Tình
Yêu như Trái Phá
Sắp phát hành 300 bức thư tình của Trịnh
Công Sơn
Bài phỏng vấn
có nhiều phòng trống mời gọi sự tưởng tượng của các độc giả của nhà văn
Hoàng Hải
Thủy … (lth)
*
“ Anh lấy bút hiệu Công Tử Hà Đông hay đấy.’
Lúc ấy có anh bạn tôi, nói:
“ Công Tử Hà Nội” mới hay chứ.”
Anh Chu Tử nói:
“ Công Tử Hà Nội thì còn nói gì nữa.”
*
Tôi cũng mê nhạc Trịnh Công Sơn, mê chết đi được.
Lth
Theo tôi,
những người "mê
chết đi được", nhạc
TCS, phải là… VC!
Đây là
hiện
tượng "phản ứng ngược", trong vật lý, contre-réaction, và nó đã xẩy ra
với bài thơ Tẩu Khúc của Thần Chết
của Paul Celan.
Hay, 1 thứ khôi hài đen, “Người Đức sẽ
không bao giờ tha thứ cho người Do Thái, vì vụ Lò Thiêu”!
Chúng ra mê
nhạc TCS khác với VC mê nhạc TCS. Ông Chánh Tổng An Nam ở Paris, "hình
như" cũng
đã ngửi ra được điều này, khi phán, chỉ có ở Miền Nam, mới có thứ nhạc
sĩ như
TCS.
*
Nhạc
TCS đã giúp đám bỏ chạy bợ đít VC, đám VC chính hiệu nuốt được
nỗi đau 3
triệu con người chết vô ích, và nỗi nhục về tình trạng băng hoại như
hiện nay ở
trong nước.
Bản thân Trịnh cũng đậm
nỗi đau đó, chính vì thế mà ông viết ra thứ nhạc
đó!
Tình Yêu như
Trái Phá, 1 cách nào đó, còn là nỗi mong mỏi của họ Trịnh. Ông thèm
được “chọn
bên” [chọn VC trong cuộc chiến, và khi nó chấm dứt, chọn đi cải tạo như
bạn bè
Miền Nam của ông, chọn đi vượt biển, như cả Miền Nam], và bất cứ 1 chọn
lựa
nào, thì ông cũng không thể!
Nơi em về trời
xanh không em?
TCS hỏi, đau
thương như thế, chính là vì ông đếch có một nơi nào để về.
PXA chẳng đã từng than, địa ngục chật cứng, đếch có chỗ cho tớ!
NKTV
Note: ‘Bỗng
dưng muốn khóc’, và bỗng nhớ đến những bức thư của Kafka gửi cho Milena!
*
LTH:
Nói về Trịnh Công Sơn, một đỉnh điểm điển hình cho một công dân sáng
tác đóng
góp vào việc làm mất Miền Nam vào tay Miền Bắc. Tôi nghe một cuộc phỏng
vấn
trên một đài truyền hình trên net, bà Đặng Tuyết Mai vợ phó tổng thống
Nguyễn
Cao Kỳ kể lại bà cho mời ông Trịnh Công Sơn vào hát nhạc tình ca
và bắt
tay với nhau khen nhau này nọ trong dinh thự ông Phó Tổng Thống Nguyễn
Cao Kỳ.
Rồi chính ông Trịnh Công Sơn ra ngoài làm nhạc Phản Chiến nhiều hơn ai
hết. Thời
ấy mấy ai dám làm nhạc Phản Chiến đĩnh đạc và được sống sốt như ông
Trịnh Cộng
Sơn. Phản Chiến là phong trào Quốc Tế. Tôi nghe nói có lúc chính quyền
Miền Nam
đòi bắt ông Trịnh Công Sơn, nhưng Người Mỹ không cho. Rồi tôi lại nghe
ông Trịnh
Công Sơn theo VC với những người thân và bạn thân của Nhóm Huế của ổng
theo fò
VC tối đa, đến độ VC về Sài Gòn năm 1975 là Trịnh Công Sơn nhào
ra hát
bài Nối Vòng Tay Lớn trên Đài Phát Thanh Sài Gòn. Tôi cũng mê nhạc
Trịnh Công
Sơn, mê chết đi được. Nhưng thú thật, ở một cương vị cá nhân bị mất mát
quá nhiều
vì chiến tranh, tôi cũng phải nhìn lại cuộc chiến với suy tư để tự đi
tìm cho
mình một lời giải thích. Tôi muốn hỏi ông một câu ông nghĩ sao về
trường
hợp của Trịnh Công Sơn?
HHT:
Tôi khinh anh ta.
Trích Gió –O phỏng vấn
Hoàng Hải Thuỷ
Theo NQT
tôi, nhận xét của LTH và thái độ của HHT, chỉ nói lên bề mặt của trường
hợp
TCS.
Với HHT, ông
ở lứa tuổi không bị gọi lính, cũng đã từng sống 1 phần nào, thì cứ nói
đại như
vậy, cuộc đời của mình, khác hẳn với 1 người như TCS, 1 nghệ sĩ thù
ghét chiến
tranh, như mọi nghệ sĩ, và rất yêu cuộc đời, chưa từng biết mùi đời nó
ra làm
sao, vậy mà lúc nào cũng phải lo nơm nớp, mỗi khi ra đường, bị Quân
Cảnh thộp cổ!
TCS chắc chắn nghiêng về phiá VC, nhưng ông không thể chọn đường lên
rừng
theo
VC, vì ông đâu có mê cái chuyện cầm súng giết người, hay cổ võ người
khác đi giết
người, theo cái kiểu, đường ra trận mùa này đẹp lắm!
Còn bảo nhạc
của ông phản chiến ư? Có thể nói, phản chiến là ‘yếu tính’ của cả 1
miền đất,
là Miền Nam Cộng Hòa. Cả 1 miền đất nói không với cuộc chiến, chưa kể
cái đám
khốn kiếp nằm vùng tiếp tay cho cuộc chiến. Làm sao không mất nước?
Mất nước rồi thì đổ tội tứ lung tung, sao không thấy cái tội của chính
mình ở
trong đó?
Trong bài viết
thật ngắn, ngay khi TCS đi xa, Gấu đã viết về cái điều cả 1 miền đất
nói
“Không” đó. (1)
Phản chiến
quốc tế là của quốc tế, còn phản chiến của Miền Nam, là của lòng người
Miền
Nam, khác hẳn thứ tâm lý ăn cướp của Miền Bắc, và, ngay cả cái tâm lý
ăn cướp
này nó cũng có những lý do tiềm ẩn của nó! Cái tâm lý ăn cướp của Miền
Bắc còn
đánh lừa được cả một đế quốc CS quốc tế, làm sao mà chúng ta không bị
lừa cho
được?
Cả 1 đế quốc
Đỏ đứng đằng sau Miền Bắc, phục vụ ý đồ ăn cướp của Miền Bắc, ngụy
trang
bằng
chân lý nước Việt Nam là một, bằng chiến thắng thằng Mỹ là chiến thắng
của
CS chống
lại Tư Bản bóc lột vv và vv…
Quốc tế Đỏ chẳng đã từng
khuyên, thôi tha cho thằng Mẽo, sức mạnh quân sự của
nó ghê gớm lắm đấy, đừng chọc giận nó, anh VC Miền Bắc phán, việc đó để
tụi em
lo, đàn anh chỉ cần chi viện, đủ súng, đủ đạn, đủ hoả tiễn, là OK!
[còn lèm bèm tiếp]
(1)
… Phải
tới khi đứa em trai mất, tới lượt tôi vào Trung Tâm Ba Quang Trung,
trong những
đêm cận Tết, nằm trên chiếc giường sắt lạnh lẽo, một anh chàng nào đó,
chắc là
quá nhớ bồ, cứ thế huýt sáo bài Tình Nhớ gần như suốt đêm, thế là tiếng
nhạc
bám riết lấy tôi, rứt không ra… Lúc này, tiếng nhạc của anh, đối với
riêng tôi,
qua lần gặp gỡ trên, như trút hết những âm tiết địa phương, và trở
thành tiếng nói
chung của cả miền nam, tức là của cả thế giới, vào thời điểm đó, khi
cùng nói:
hãy yêu nhau thay vì giết nhau. Bởi vì chưa bao giờ, và chẳng bao giờ
miền nam
chấp nhận cuộc chiến đó. Chính vì vậy, họ lãnh đạm với chính quyền, ưu
ái với
miền bắc, vì họ đều tin một điều, miền bắc sẽ kết thúc cuộc chiến, và
người Mỹ
sẽ ra đi. Như cả nhân loại tiến bộ, họ chỉ có thể tiên đoán đến đó.
Nhạc Trịnh
Công Sơn nói lên tiếng nói đó. Tính phản chiến của nhạc của anh, chính
là tính
phản chiến của cả một miền đất.
TCS, sau
1975, bị VC đầy đọa như thế nào, thì chúng ta biết, ông "phản tỉnh" như
thế nào,
thì chúng ta hay, “đéo” phải là cuộc chiến giải phóng, mà là nội chiến,
rồi
ông “sám hối” bằng rượu, đến nỗi bị Hồ Tôn Hiến làm nhục, chúng ta cũng
biết,
vào gái, toàn chiêm ngưỡng gái đẹp, chiêm ngưỡng và kính trọng, contemplation
et respect, tình yêu
lý tưởng, amour platonique....
Chúng ta có thể “thương” ông, nhưng làm
sao... khinh ông ?
Khinh, là
khinh thế nào? Ông đâu làm gì mà khinh ông? Lên Đài Phát Thanh Sài Gòn
hát Nối
Vòng Tay Lớn? Đó không phải là giấc mộng lớn của cả dân Mít? Nó
không trở
thành giấc mộng lớn, thì phải khinh, phải thù cái lũ VC khốn nạn, đánh
lừa dân Mít, bằng lời
hứa lèo giấc mộng
lớn, chứ sao lại khinh người hát nó?
Note: ‘Bỗng
dưng muốn khóc’, và bỗng nhớ đến những bức thư của Kafka gửi cho Milena!
*
Con Tim Mù
Lòa
Sự khác biệt
giữa hai từ oanh kích và pháo kích còn là đề tài trọng tâm, của nhà văn
Đức
W.G. Sebald, trong cuốn “Về lịch sử tự nhiên của huỷ diệt”, xb sau khi
ông mất
vì tai nạn xe hơi, khi ông tự hỏi, tại sao văn chương Đức lại vờ đi một
đề tài
quan trọng như thế: Những cuộc "oanh kích” của quân đội Đồng Minh huỷ
diệt
những thành phố Đức?
Và ông tự trả
lời, người Đức vốn có thói quen không phô ra những vết thương, những
tủi nhục
có tính cách riêng tư, trong gia đình.
Nếu như thế, người Việt chúng ta, nhất là người dân Miền Nam, cũng có
thói quen
không phô ra những tủi nhục, khi họ bị người anh em Miền Bắc cho ăn
“pháo
kích”, như một cách nhắc nhở, chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc:
Ngày
thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, Sinh Nhật Bác…
Nếu có chăng, thì là chút lòng ưu tư của "Tướng Givral", khi ông mủi
lòng trước những cái chết của thường dân, và có thể, run sợ về một cái
chết của
chính ông ta, bởi vì những trái rốc kết vốn vô tình, và mù loà, cho nên
ông bèn
ra lệnh cho ngưng pháo kích.
Đêm nay ngưng pháo kích!
Ôi chao Gấu lại nhớ đến Bác, và nỗi lòng của nhân dân Mít, khi biết Bác
không
ngủ, lo lắng cho Bác, và dặn dò Bác, ngày mai nhớ ngủ bù nghe Bác, nếu
không,
không ngủ mãi, là trở thành điên, thành khùng!
Đêm nay Bác không ngủ
Ngài mai Bác ngủ bù!
Hậu quả của những vụ pháo kích, nếu có chăng, chỉ là chứng đái dầm của
một cô
gái, [cô gái lớn của Gấu], ngay khi còn là một thai nhi nằm trong bụng
mẹ đã
phân biệt ra được tiếng réo của những trái pháo khi bay qua, và sau
này, ngay cả
khi đã thành lập gia đình, vẫn còn mắc chứng đái dầm.
*
Nhân nhắc tới PXA.
Cái tít Tên Điệp Viên
Tuyệt Hảo, của một cuốn sách mới ra lò, ở Mẽo, về
PXA, thực
sự ra, là từ The Perfect Spy của John Le Carré.
Độc giả nào đã đọc qua cuốn trên, thì chắc là hiểu ra cái ý nghĩa xỏ lá
của nó.
Tay điệp viên tuyệt hảo của Le Carré, suốt đời thù ông bố của mình, [là
Anh Quốc,
chúng ta có thể hiểu ngầm], vì ông này đã đẩy con vô cái nghề khốn nạn
đó
[ngoài đời, ông bố Le Carré còn là một tên lừa đảo, có lần mượn cả tên
con để
lường gạt người quen. Trên tờ Người Nữu Ước, Le Carré có viết
về chuyện
này, nếu Gấu nhớ không lầm].
Gấu sợ rằng, tay tác giả cuốn sách mới ra lò về PXA, cũng muốn nói thay
cho
nhân vật của mình, cái ý nghĩ thầm kín đó chăng?
Nên nhớ PXA cũng là một thứ Bắc Kỳ di cư như Gấu, và biết đâu, ông cũng
đau nỗi
đau Yankee mũi tẹt thèm thuồng thiên đàng Miền Nam, như Gấu?
*
Gần gụi nhất, thì có từ "cứt" của NHT. Từ này, chỉ mấy ông nhà văn
trong nước mới hiểu trọn vẹn "ý nghĩa" của nó. [Gấu tính dùng từ
"mùi vị", nhưng thấy đểu quá, giống NHT quá, sợ bị gán tội "đạo
từ"].
Thảm nhất là, khi NHT văng nó vào trong văn chương, ông quên không chỉ
cách
giăng lưới bẫy cứt, thế là nó cứ ở mãi trong văn chương trong nước, chờ
cho đến
khi nào có một nhà văn khác, tìm được một 'thế thân" cho nó, thì nó mới
hết
nghiệp và tơ lơ mơ ngủ trở lại.
*
Graham Greene còn viết về Bloy, trong cuốn The Lost Childhood [tập
tiểu luận]. Chê cũng dữ, mà khen cũng thú.
Bài viết Man Made Angry [Tại sao Gấu cay đắng như thế] mở
ra thật
dữ dằn:
Thật mất thì giờ chỉ trích thằng cha Gấu, nhà văn, mày có biết tiếng
Tây không
đấy? Thằng chả chỉ lo có mỗi một chuyện là tự vẽ vời ra mình, từ nỗi
cay đắng,
là một thằng Yankee mũi tẹt, bỏ chạy cái ao làng xứ Đoài mây trắng lắm,
từ thù
hận và tủi nhục...
Nhưng Bloy,
đích thị xừ luỷ, viết về mình, mới phách lối làm sao:
I am forty-three years old, and I have published some literary works of
considerable importance. Even my enemies can see that I am a great
artist.
Also, I have suffered much for the truth, whereas I could have
prostituted my
pen, like so many others, and lived on the fat of the land. I have had
plenty
of opportunities, but I have not chosen to betray justice and I have
preferred
misery, obscurity and indescribable agony. It is obvious that these
things
ought to merit respect.
Tớ [Gấu]
cũng sắp xuống lỗ rồi. Cũng có tí tác phẩm, khá bảnh, phải nói,
thật bảnh.
[Thí dụ, Những Ngày Ở Sài Gòn, Lần Cuối Sài Gòn ?]. Ngay cả mấy
cái thằng
thù tớ [Gấu] đến phát điên lên, cũng phải úp mặt vô tường [chữ của ông
con
NĐT], lẩm bẩm, đúng, đúng, Gấu là một nghệ sĩ nhớn!
Thật
mất thì
giờ chỉ trích thằng cha Gấu, nhà văn, mày có biết tiếng Tây không đấy?
Thằng chả
chỉ lo có mỗi một chuyện là tự vẽ vời ra mình, từ nỗi cay đắng, là một
thằng
Yankee mũi tẹt, bỏ chạy cái ao làng xứ Đoài mây trắng lắm, từ thù hận
và tủi nhục...
NKTV
Cuộc tình giữa
Kafka và Milena là cũng chỉ qua thư từ, như TCS, chắc hẳn, mặc dù cả
hai cũng đã
trải qua những giờ phút thân mật, nhưng xem ra chẳng đi đến đâu, như 1
tay mũi
lõ viết, đại khái như GNV còn nhớ, kẻ nào yêu bằng đầu, thì ít khi sử
dụng tới
súng, cho dù còn hay không còn! [Ai mơ mộng nhiều, lỏng
tay ôm!]
Bạn thân của
TCS, hình như là HPNT chẳng đã từng kể chuyện TCS lấy vợ, một cô xẩm,
tên như tên
của 1 trong những người mà ông yêu, mà kết quả của cuộc tình, là bài
hát thần sầu
Ướt Mi, lạ một điều, cái air bài này khác hẳn tất cả những bài hát của
TCS, và
có vẻ như chưa từng có ai ngạc nhiên về phát giác của GNV! Và vẫn theo
HPNT đúng
đêm tân hôn, khi bạn bè từ giã TCS để anh "động phòng", thì, vừa đi
được vài
bước, đã thấy TCS hốt hoảng chạy theo, tao quên mang theo khẩu súng!
GNV thực sự
không hiểu tại sao gia đình của ông, hay bất cứ ai, lại cho in những
bức thư tình
da diết này!
Nên nhớ, đã
có lần VC tổ chức 1 cuộc thi có giải thưởng, và thai đố là: Theo
bạn, súng
của TCS hẳn vô dụng, chính vì thế mà bao nhiêu u uất, ông phổ vô
nhạc, nên
nhạc mới thê lương như thế?
Nơi em về ngày
vui không em?
Nhân đọc bài
trên, cùng lúc đọc cái tin thư tình TCS được công bố cho nhân loại cùng
đọc
[đám con cái của Milena đã từng phản đối cái việc in thư tình của mẹ
chúng, nếu
GNV nhớ không lầm], GNV bỗng tưởng tượng ra 1 cái đề tài, 1 anh ký giả,
nhà văn
làm 1 cú phỏng vấn 1 trong những người yêu của TCS, và câu chuyện chỉ
xoay vào
chủ đề, ‘chỉ còn cây súng nhỏ, giữa rừng sâu giết thù’!
Hà, hà!
Còn đây là hồi
ký của bạn gái ngày xưa của tác giả “Bắt Trẻ Đồng Xanh”
Cuộc
tình này
cũng không xuông xẻ, không phải súng của Salinger không nhả đạn, nhưng
cái bia vô dụng: em
bị chứng co thắt âm đạo!

Người
Quan Sát Mới,
Janvier 2011
Các bức thư
tình này do Trịnh Công Sơn gửi cho Dao Ánh, người trong mộng của ông từ
năm
1964 đến năm 1967. Dao Ánh đã giữ gìn các trang viết dành riêng cho bà.
Cả những
chiếc phong bì, nhành hoa, cọng cỏ mà Trịnh Công Sơn ép vào thư, bà
cũng nâng
niu cẩn thận đến ngày hôm nay.
Nâng niu gìn
giữ đến như thế, mà nỡ lòng nào mang ra bán ‘xôn’ [sale]
Thư Gửi
Milena
Nhờ 'Người đẹp
thành Prague', nhân loại có được "Thư gửi Milena". Kafka, người gửi,
coi việc
viết thư, là giao tiếp với quỉ thần, với những hồn ma: Khả năng dễ dãi
- viết
thư - đã đem huỷ diệt, điêu tàn cho những linh hồn thế gian. Viết
thư thực
sự là giao tiếp (intercourse, còn có nghĩa là làm tình) với những hồn
ma, không
chỉ những hồn ma của người nhận, mà luôn cả của chính mình...
Bóng ma của riêng
Kafka vẫn ám ảnh những lá thư gửi Milena. Trong đó, ông tự bộc lộ, lột
trần,
'Không ai khác, ngoài tôi ra, có thể nói cho em biết sự thực... sự thực
của cả
hai, của riêng tôi, và của em; tôi khám phá sự thực của riêng tôi, qua
em.'
Cô gái trưởng giả nổi
tiếng ngay từ khi còn trẻ thơ, do phá phách, nổi loạn. Để
chống lại ông bố quyền uy, cô sống một cuộc đời buông thả, làm bạn với
những tư
tưởng xã hội. Lấy chồng vào năm 1918, hai vợ chồng định cư tại Vienne,
tới
1924. Ở đó, vẫn tiếp tục cuộc sống phóng túng. Trong số những tình
nhân, có tiểu
thuyết gia Hermann Broch. Đầu năm 1920, bị cú sốc sau khi đọc những câu
chuyện
kể (récits) của Kafka, bà dịch chúng, và viết thư cho tác giả. Rồi
những lần hẹn
hò ở Prague, trong một tiệm cà phê, chắc là tiệm Arco. Hai người thư từ
cho
nhau từ đó. Từ văn chương, qua chuyện tình cảm. Nàng 23, chàng 37. Nàng
ở
Vienne, chàng ở Prague. Tuởng tượng, rồi lại tưởng tượng, cả hai bên.
Nhất là
Kafka. Người nữ Tiệp phiêu lưu với cặp má hồng, đầy nhựa sống, và niềm
vui, và chàng Do-thái xanh tái, khổ hạnh; đôi tình nhân kỳ lạ, Mary
Hockaday, nữ
ký giả người Anh, tác giả cuốn Milena
de Prague (bản tiếng Pháp, nhà xb
Calmann-Lévy, 1997), viết. Họ chỉ thực sự là của nhau, trong bốn ngày,
tại thủ
đô nước Áo, vào tháng Bẩy, 1920. Nàng khuyên chàng tới sống gần nàng.
Chàng
nghe theo, nhưng liên hệ giữa hai người chỉ qua thư từ. Bất hạnh thay,
những lá
thư của Milena không còn. Trong căn phòng tại khách sạn Vienne, họ nằm
chung
giường, nhưng không làm tình. Nói một cách khác: Chàng đã không thể
chiếm đoạt
thân thể nàng, một cách trọn vẹn. Ai mơ mộng nhiều, lỏng tay ôm! Tới
tháng
Chín, 1920, dứt liên lạc. Ngọn lửa sống động (le feu vivant) của
đời tôi,
Kafka viết cho Max Brod, về Milena.
Sau khi Kafka mất ít lâu, Milena cùng với chồng rời Vienne. Họ trở lại
Prague
sau những chuyến đi thăm bạn bè. Tới tháng Năm, 1925, li dị. Lấy chồng
lần thứ
nhì vào giữa năm 1926, và có được một bé gái (1928). Lại li
dị. Ma
tuý, bệnh, chiến đấu viên của đảng CS. Đặc biệt lo tiếp đón những di
dân Đức chạy
trốn Đệ Tam Reich. Cho rằng Liên Bang Xô-viết không đủ đáp ứng những
đòi hỏi chống
phát-xít, bà phản bội đảng CS, cho chủ nghĩa quốc tế. Gia nhập du kích,
khi Đức
Quốc Xã xâm lăng Tiệp. Năm 1939, bị Gestapo bắt, do một bài viết trên
báo chui.
Sau đó bị đầy đi trại tập trung Ravensbruck. Milena mất tại đây, vào
ngày 17
tháng Năm, 1944, khi bà 48 tuổi, do bệnh tật, tuy được sự giúp đỡ của
những người
CS Tiệp cùng bị giam giữ.
Thư cho Milena
được xuất bản lần đầu, vào năm 1952, bởi Willy Haas, một người bạn của
cả hai,
người gửi và người nhận. Milena đã giao cho ông, khi người Đức chiếm
đóng
Prague. Tôi có nhiều lý do để thực hiện việc làm này, và tin rằng
Milena không
phản đối. Nhiều năm sau, con gái của Milena đã không đồng ý với nhận
định của
Haas, và cho rằng, cả Kafka, lẫn mẹ bà, sẽ không cho phép xuất bản
những bức
thư.
Nhưng nhân loại, may mắn thay, đã được đọc chúng. Hơn nữa, ngay
trong bài essay, Letters of Notable
People, chính Milena đã đưa ra ý tưởng, một
khi mà sự hiểu biết về nghệ thuật của chúng ta chưa hoàn hảo, chúng ta
cần nhiều
hơn là sự khẳng định của nghệ sĩ; một khi chúng ta còn phải đặt ngón
tay vào vết
thương, như Thomas, chúng ta có quyền thuyết phục chính chúng ta, rằng
vết
thương vẫn còn đó, rằng nó thì sâu hoắm.
Em nghĩ sao? Liệu tôi vẫn
có thư, bữa Chủ nhật? Có thể, phải không? Nhưng đam
mê thư thật vô nghĩa. Liệu một cái, là đủ, liệu một cái, là hiểu đủ? Lẽ
dĩ
nhiên là vậy, tuy nhiên, tôi đang ngả đầu ra phía sau, uống từng lá
thư, từng
con chữ, chỉ quan tâm một điều, rằng tôi không muốn ngừng uống. Hãy
giải thích
điều đó đi, cô giáo Milena!
Mong ước độc nhất của
tôi, là đặt đầu mình trên lòng em, cảm thấy tay em trên đầu
mình, và cứ ở như vậy, cho trọn thiên thu.
Tình
Yêu như Trái Phá
TRẦN
THIỆN ĐẠO
…. Là
bởi trái phá trong câu
ca từ chỉ là hình ảnh cụ thể phác họa một í niệm chớ không một vật thể
đặt định
nào. Trái phá ở đây dịch là artillery shell, hay grenade, hay smoke
grenade,
hay exploding shell, hay một từ khác chỉ định bom đạn thì cũng có í
nghĩa tượng
trưng ngang nhau. Nhưng nếu như chuyển nó bằng một từ nào thích hạp với
cách
diễn đạt bản năng của người phương Tây thì chắc dễ được họ tiếp thu một
cách
thấm thía hơn. Chẳng hạn sử
dụng í niệm coup de foudre của Pháp, hoặc
love at
first sight (hay coup de foudre lấy nguyên xi tiếng Pháp) của Anh và Mĩ
- cả
hai đều hàm nghĩa sét đánh giống như chúng ta đã nhại theo tiếng Pháp…
Và chắc
còn nhiều từ/thành ngữ sở tại và cách diễn đạt khác nữa mà chúng tôi
không/chưa
nghĩ ra, mà bạn đọc sành Anh ngữ và Mĩ ngữ đã nghĩ tới rồi.
Tạm kết
Trở lên trên là những í kiến
sơ đẳng, nhưng đã được tôi luyện qua kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy và
chuyển
dịch Pháp->Việt, Việt->Pháp và Pháp->Anh, Anh->Pháp. Tuy
chỉ chạm
tới những chi tiết nhỏ nhặt, nhưng chẳng phải vì vậy mà không liên quan
tới
những vấn đề khái quát.
Dịch thuật vốn là một công
việc trần ai, ngoại trừ lối
dịch cẩu thả và lấy có, kể cả của mấy dịch
giả danh
tiếng, thường thấy trên thị trường của chúng ta hiện nay. Cho
nên câu
chuyện sẽ
còn dài và còn lâu mới (chưa chắc) chấm dứt.
TRẦN
THIỆN - ĐẠO
(Paris,
03/05/2010)
Ông Tây
mũi tẹt này kể cũng
lớn lối, khi lên giọng chê bai những dịch giả khác, nhưng, nếu đọc
những nhận
xét của ông về chỉ hai câu nhạc của họ Trịnh, là Gấu thấy ông ta
chẳng hiểu
tí chó nào cả, và lý do không hiểu y chang 1 tay cùng băng bỏ chạy
của ông
ta, "người của chúng ta ở Paris”, đã từng lầm, khi không phân biệt được
thế
nào là oanh kích, thế nào là pháo kích!
Cái
kiểu viết tiếng Việt “í
kiến” của ông ta cũng làm Gấu này nực!
Đây là bắt chước
trong nước, đám Bắc Kít hay sử dụng, cứ ‘y’ dài là bèn đổi
thành ‘i’
ngắn.
Nếu thế, thì Thanh Thúy thành
Thanh Thúi ư?
GNV,
trong kỳ tới, sẽ chỉ
ra cái ngu ngốc mà còn muốn làm ông nội của ông Tây mũi tẹt này, khi
coi
Tình Yêu
Trái Phá giống như “coup de foudre”!
Chỉ bật
mí sơ sơ, tình yêu
trái phá không thể nào giống ‘cú đờ phút’ được, vì ‘cú đờ phút’ chỉ
đánh trúng
1 thằng, còn trái phá mà nó nổ 1 cái thì là khối thằng bị văng miểng!
Hồi mồ
ma tờ Văn, Gấu đọc
ông Tây mũi tẹt dịch Camus, nể quá. Vì tiếng Tây của Gấu thuộc loại
ăn đong,
còn ông này chính gốc Tây, chính gốc Paris, xém 1 tí thì cũng Tây
đặc, chỉ có
cái mũi tẹt là không giống.
Bây giờ, về già, đọc ông ta
phán bố lếu bố láo, mới hiểu ra, không phải cứ giỏi tiếng Tây, là đọc
được sách
Tây, thí dụ, của Camus.
Nói thế, không phải là chê ông
ta dịch sai.
Dịch đúng, vẫn đếch làm sao hiểu được Camus!
Nguyễn
Mạnh Côn chẳng đã từng
dịch Y Sĩ Đồng Quê của Kafka, và phán, dịch thì dịch, chẳng hiểu ông ta
nói cái
gì?
Khi ông Tây mũi tẹt này dịch Camus, chắc chắn là không hiểu Camus, bởi
vì nếu
hiểu Camus, ông đâu có ‘tôi bỏ mẹ tôi’, chạy thẳng từ Xề Gòn qua Paris,
dịch Camus, làm Tây mũi tẹt, nói không, không, tôi không phải là 1 tên
Ngụy!
Chán
thật!
Cũng
chỉ là tình cờ, nhưng hai thuật ngữ, trong bài
điểm sách của Anne Applebaum, có thể muợn, để sử dụng ở đây. Từ “trái
phá” của
TCS không thể dịch grenade, lựu đạn, được, vì trong nó có cái mà
Applebaum gọi
là cái “tệ hại nhất của sự khùng điên”, the worst of the madness. Nôm
na, nó
gây miểng nhiều hơn, so với lựu đạn. Và không biết ai là tác nhân,
trong khi lựu
đạn liên quan tới người mang, đeo nó. Còn nữa, từ lựu đạn còn có nghĩa,
để chỉ
1 người nào cà chớn, "đồ lựu đạn, nó là thằng lựu đạn", thí dụ.
Trong
từ ‘trái phá’ có cái
nghĩa ‘mù lòa’, theo kiểu ‘trời kêu ai thì người đó dạ’!
Làm sao mà có thể dịch là "lựu đạn" được?
Từ ý
nghĩa ‘trái phá mù lòa’ mới
ra ý ‘con tim mù lòa có lý do mù lòa của nó’, như Tây mũi lõ phán, trái
tim có
lý lẽ riêng của nó, lý lẽ mù, khùng, điên, ba trợn... và ‘trao duyên
lầm tướng cướp’ là chuyện thường!
TCS là
1 nhạc sĩ, còn là thi
sĩ, ông rất rành tiếng Việt, rất cẩn trọng khi dùng chữ, vả chăng, tác
giả dùng
chữ nào, khi chuyển ngữ, cố dùng chữ đúng, hoặc kẹt quá gần đúng, vậy
mà sao lại
có mấy thằng ngu, cứ cố tình dịch khác đi, khó hiểu thật!
Cũng
thế, từ "trái phá" không phải là 1 ẩn dụ, như
Applebaum coi từ "đất máu", trong cái tít của cuốn sách được bà điểm,
không phải 1 ẩn dụ.
*
Trong bài viết
"Hãy Bước Qua Lằn Ranh Này", Rushdie trích "Ghi chú về dịch thuật"
của Nabokov, qua đó, nhà văn Nga này cho rằng, có "ba bậc quỉ ma"
[three grades of evil], trong thế giới lạ kỳ dịch thuật.
Bậc thứ nhất, không đến nỗi tà ma cho lắm, là do thiếu hiểu biết, hiểu
sai. Cái
này tha thứ được. Vì làm người có nghĩa là phải có lỗi lầm.
Bậc thứ nhì dẫn tới Địa Ngục, "The next step to Hell", là thiến vô
tư, thoải mái những chữ, những đoạn, mà dịch giả không hiểu nghĩa , hay
cảm thấy,
chúng có vẻ mù mờ, tối tăm, hay thô bỉ, dơ dáy, tục tĩu đối với những
độc giả
mà người dịch mường tượng ra ở trong đầu.
Bậc thứ ba, tội ác tệ hại nhất trong dịch thuật, là dịch giả muốn "làm
tốt", sửa đổi, improve, nguyên tác, "đánh bóng, minh họa" nó,
sao cho tác phẩm đi đúng luồng, phục vụ yêu cầu của nhân dân [to
conform to the
notions and prejudices of a given public: phù hợp với quan niệm và định
kiến
của một tầng lớp công chúng nhất định].
Cuộc chiến dịch
thuật
Trên TV
có rất nhiều sai sót
vì dịch thuật, và lý do thì cũng rất nhiều, và đều thuộc bậc đầu của ba
bậc quỉ
ma, theo cách nói của Nabokov.
Mới đây
nhất, nhân
Linda Lê về trong nước, một độc giả đọc bài dịch cuộc phỏng vấn bà trên
tờ báo
Tây, dịch từ đời thuở nào, kiếm ra mấy cái lỗi dịch sai, chỉ cho GNV.
Lạ, là những cái lỗi đó, thực
sự không nằm trong ba bậc quỉ ma mà Nabokov nhắc tới.
Chúng quá dễ, vậy mà GNV
cũng dịch sai!
Thí
dụ
hai câu sau đây:
Pourquoi
ne l'avez-vous pas rejoint
au Vietnam?
L.L. On
trahit toujours ceux
qu'on aime. Faute de les tuer. Mon père est catholique et je connais
mieux la
Bible que les
enseignements des confucéens. J'ai toujours été portée
vers le
catholicisme. Adolescente, j'aimais lire les vies des saints, puis
Dostoïevski
et Kierkegaard ont imprégné mon univers, l'ont nourri de culpabilité,
de
mortification. J'ai toujours éprouvé une très grande attirance pour les
mystiques, leur parole faite à la fois de soumission à Dieu et de
révolte
absolue, leur attirance pour l'avilissement. J'aime particulièrement
sainte
Thérèse d'Avila, son attitude, sa vie et son Château intérieur. Saint
Jean de
la Croix, lui, me fascine par son style. Aujourd'hui encore lorsque je
me
promène, j'entre toujours dans les églises. Et puis, j'écoute beaucoup
de
chants religieux, Buxtehude notamment.
-Tại
sao bà không về VN gặp
lại ông?
LL:
Người ta luôn luôn phản
bội những người mà mình yêu thương. Do không thể giết được họ. Cha tôi
là người
theo Ca-tô giáo, và tôi biết rành Thánh Kinh, hơn là những điều giảng
dậy của
Khổng Tử. Tôi luôn hướng về Ca-tô giáo. Từ nhỏ, tôi thích đọc sách cuộc
đời
những vị thánh, rồi Dostoievski và Kierkegaard đã thấm vào vũ trụ của
tôi, nuôi
nó bằng thực phẩm: tội lỗi, nhục nhã. Tôi luôn bị cuốn hút bởi những kẻ
thần
bí, những lời nói của họ vừa là chịu mình trước Thượng đế, vừa là nổi
loạn
tuyệt đối, sự cuốn hút của họ với chuyện "tự hạ mình" (avilissement).
Tôi đặc biệt yêu thích Thánh Thérèse d'Avila, thái độ, cuộc đời, và
Château
intérieur của ngài. Thánh Goan Thánh Giá (Jean de la Croix) lại quyến
rũ tôi, ở
văn phong. Bây giờ cũng vậy, mỗi lần đi dạo, tôi luôn luôn vô nhà thờ.
Và tôi
thích nghe thánh ca, đặc biệt là Buxtehude.
Bản
dịch cũ, sai, đã sửa, Gấu
dịch "rejoint… " là "nối kết lại với Việt Nam",
"mieux.. que", thì dịch “cũng ngang bằng”!
Hóa ra
là, do GNV này quá
tham, trong khi dịch 1 bài, thì cái đầu lại nghĩ về 1 bài khác, 1
chuyện khác,
1 dự án khác!
Giống như lần dịch 1 bản văn
tiếng Pháp cho talawas, đầy lỗi, SCN phải vứt vô thùng rác, thay bằng 1
bản
dịch khác, của người khác!
Lần đó,
GNV vừa dịch vừa đọc Joseph
Roth!
Cái đầu chỉ nghĩ tới Hành Khúc
Radetzky, của Joseph Roth.
Khủng
nhất, là lần đi thi Tú
Tài 2, khoá đầu, rớt, vì quá mê cờ tướng, trong đầu chỉ thấy mấy con cờ
nhẩy
múa, này, đúng ra phải đi nước này... không làm sao tập trung vào bài
thi được!
Đây
cũng là do phách lối nữa!
Thường,
GNV tưởng tượng, ta
là 1 đại cao thủ, chơi mấy cuộc cờ, cùng 1 lúc, đụng mấy cao thủ, vấn
nạn, nan
đề... cùng lúc!
Đang dịch Linda Lê, thì lại
tấm tắc với 1 cuốn tiểu thuyết, của tay Qiu Xiaolong, Khi Đỏ là Đen,
đang đọc
dở.... đại khái như vậy.
Bạn đọc để ý, trên trang nhất
TV [giao diện] có tới mấy bài viết, đều dở dang!
Cái vụ
anh Tây mũi tẹt này,
không làm sao hiểu được mấy từ đơn giản Tình Yêu Trái Phá, của TCS,
đúng là do
anh ta bỏ chạy, bợ đít hay không bợ đít VC, mà ra.
Đây là do kinh nghiệm riêng
của GNV mà ngộ ra điều trên, không phải buộc tội ẩu tả.
Hưỡn hưỡn, Gấu kể tiếp!
Tình yêu như trái phá, con
tim mù lòa
Cái vụ
dịch dọt này, đang ì
xèo trên Da Màu, Gấu nhớ là cũng đã có 1 lúc, ngứa ngáy, nói leo, như
thế này:
Câu hát của ông nhạc sĩ họ
Trịnh này, chỉ là để nói về một cái chân lý cũ rích, con tim mù lòa nó
có lý do
mù lòa của riêng nó, người không mù lòa không làm sao hiểu được, nhưng
được nói
bằng cái ngôn ngữ của thời của ông, tức là thời của trái phá, của lựu
đạn, của
pháo kích…. Mấy anh chết rét bỏ chạy
cuộc chiến, có biết gì về trái phá đâu, mà cũng chê bai, dịch sai!
Cũng vậy, là 1 anh trong số
này, chẳng thể nào phân biệt được pháo kích và oanh kích nó đau đớn
khác nhau
ra làm sao.
Tất nhiên
Cái tay
TTD, này, GNV thời
gian tập tành đọc sách Tây, và tất
nhiên, đọc
Camus, thấy ông ta dịch Camus, phục quá đỗi. Nhưng về già, mới hiểu ra
mấy đấng
này, trong có đấng DT, bạn hiền của GNV, chẳng hiểu tí chó nào về Camus!
Nói rõ hơn, mấy cha này, lành
lặn, không 1 tí thương tật, thiếu 1 ngày lính, cho nên đếch đọc được
bất cứ cái
gì, nói gì Camus!
Và mới vỡ ra mấy giai thoại,
đọc từ hồi lớp đồng ấu, trong quốc văn giáo khoa thư.
Thứ nhất, là cái chuyện anh
nhà quê đi mua kính, vì nghĩ, cứ đeo cái kính vô, là đọc được chữ!
Thứ nhì, là từ Khổng Tử.
Ông này phán, mỗi lần bạn
tính đọc sách là phải chay tịnh, không gần… đàn bà ít lắm là 1 tuần lễ,
cho cái
tâm nó sạch, nó sáng ra thì mới đọc sách thánh hiền được!
Hà, hà!
Trong
câu phán của Adorno, có
ý trên, như là một hệ quả:
Sau Lò
Thiêu, sau Lò Cải Tạo, chưa được nếm mùi trái phá, cả lương tâm lẫn
thân thể vẫn còn zin, thì thật
là dã man, khi bàn về những nhà văn như Camus!
Chính
là do nỗi lo sợ từ bỏ
thế kỷ không một tí thương tật, mà nhà văn Gunter Grass phải thành thực
khai
báo trước Đảng, thân thể tôi có 1 vết chàm, do hồi nhỏ hung hăng con bọ
xít,
nhỏ máu ngón tay, viết đơn xin vô lực lượng SS.
Cả cuộc viết của Steiner, là
từ vết chàm: lẽ ra phải có mặt tại Lò Thiêu.
Cái
chuyện sợ chết bỏ chạy,
theo VC, trước 1975, thì hiểu được. GNV này cũng đòi phen, tính chuồn.
Nhưng
quái đản, ở lũ khốn này, là thái độ của chúng, vẫn viết, như chưa từng
có gì
xẩy ra!
Ngay ở
đám VC chính hiệu,
trước tình hình nước Mít bây giờ, chúng cũng phải tự vấn lương tâm, và
tìm hiểu
coi có cái gì sai trái, và nó bắt đầu từ lúc nào. Tất cả tác phẩm của
Miền Bắc
gần đây, là chủ yếu xoáy vào vấn nạn trên, từ đám già như Tô Hoài, như
Nguyễn
Khải… cho đến đám trẻ sau đó, như Vương Trí Nhàn, và sau đó, như Võ Thị
Hảo, và
sau nữa, như Thuận, vậy mà đám khốn kiếp nằm vùng, hay bỏ chạy, vẫn
tỉnh bơ,
vẫn viết như chẳng có gì xẩy ra, vẫn tiếp tục viết, chẳng hề có chuyện
ngưng
nghỉ, rồi lại bắt đầu viết trở lại!
Một đất
nước như hiện nay, có
bao phần đóng góp của đám nằm vùng, chúng tỉnh bơ, phủi tay, không có
chúng tớ!
Chúng vẫn viết, như thể lương tâm trắng bóc! Đọc cái bài viết mới của
DT, về
Thảo Trường, những gì lấn cấn, là ông cho vô ngoặc, “ngoài đề”
(Khi
một lý tưởng thất bại
thì biến thành ảo tưởng. Nhưng cũng có khi chiến thắng hóa lý tưởng
thành ảo
tưởng: ngoài đề.)
(Có kẻ
không muốn chen chân
vào hào quang của người chiến thắng, thì nấp vào bóng mát của cây lọng
người
quân tử sa cơ: ngoài đề.)
Ngoài
đề, tuyệt! (1)
Thế thì
DT, ở trong hay ở
ngoài, đề?
(1) Cái
tay điểm sách Primo Levi,
trên NYRB cũng có ý này, khi gọi thời gian Levi ở Lò Thiêu là "ngoài
thời"... (2)
(2)
… vì những
ngày
tháng lang thang vùng Đông Đức của Levi là một "ngoài-thời" (a kind
of "time out"), giữa Auschwitz-như-kinh nghiệm và Auschwitz-như-hồi
nhớ. Cuốn sách khép lại với tiếng kẻng báo thức, đúng ra là tiếng hô
buổi sáng
của trưởng trại Auschwitz: Thức dậy!
(Wstawach!).
...
một người diễu cợt (ironist) và hài hước
(humorist) đã đi đi lại - như là một cách chơi - qua những nấc thang âm
thanh,
đề tài, giọng điệu... Primo Levi được trình bầy ở đây: như là một con
người lạc
quan, một Do-thái đã hội nhập vào một người Ý trong cơn đọa đầy ở Auschwitz. Có thể so sánh với Dante, bằng cách
diễn tả
Ulysses - một hình tượng văn chương mà Levi ưa thích, và cũng là một
hóa thân
của ông - như một người lính già trên đường qui cố hương kể lại một vài
vấn đề
khi rong chơi nơi Lò Thiêu
Nguồn
Camus
không dễ đọc. Ngay nhà
thơ ông anh của Gấu mà đọc không nổi Camus, nữa là, ấy là vì, khi đó,
ông vẫn còn
tin vào một ‘nghĩa cả’ nào đó, và không làm sao chấp nhận cái thái độ
đứng ở lưng
chừng trời của Camus, và ông phán, thật ác liệt, cái chết phi lý của
Camus, đã
nhốt chặt ông ta vào dĩ vãng.
Nhưng
chỉ đến tháng 3 1975,
trong lần nói về thơ Vũ Hoàng Chương, và có thể lần cuối cùng nói về
thơ, tại một
Miền Nam
tự do, TTT mới có lời nói lại về trường hợp Camus, khi vinh danh thơ:
Làm thơ. Làm thơ
hành động tối thậm phi lý, mở mọi ngõ ngách phi lý, đẩy đưa đời người
vào cõi
phi lý. Ngõ ngách phi lý ấy là chính chúng ta, cõi phi lý ấy chính là
đời chúng
ta. Như đêm nay không giống mọi đêm đã qua và sẽ chẳng bao giờ giống
một đêm
nào ở mai kia. Làm thơ như rong chơi, quên lãng, hay làm thơ như tận
tụy với
một mối duyên tình hay làm thơ như đốn ngộ hốt hoảng thì vẫn là cái
“không thể
làm” được ở đời người, ở kiếp sống. Tri kỷ khả nhi vi chi, biết không
làm được
mà lại cứ làm. Tại sao? Tại sao vậy?
Trầm trọng phải không? Tự nhiên cái sự thể nó như thế. Trầm trọng cũng
là tự
nhiên của thơ và của việc làm thơ.
Thi sĩ đêm nay của chúng ta Vũ Hoàng
Chương - làm thơ suốt một đời. Một đời để ra làm thơ. Thơ Vũ Hoàng Chương đi từ “Đêm
Hoa Đăng
đèn xanh bóng trăng” từ
“Phách ngọt đàn say đêm khói êm” từ “Áo vải mộng phong hầu” đến “Ngồi
quán” đến
Isabel Baes đến nhị thập bát tú và không gian “bốn bề vẫn chỉ một
phương,” đến
Ngày lớn. Chúng ta không thể nào hiểu Vũ Hoàng
Chương còn đi đến đâu - hỏi thực cũng như chúng ta đây chúng ta trong
giây phút
này có biết chúng ta đi đến đâu - nhưng hiện thời chúng ta cũng đang
biết -
biết gì? - biết Vũ Hoàng
Chương
đang ăn nằm với Thơ như đang ăn nằm với cái chết. Chết cũng là một cách
nói
thôi. Như Trang Tử nói chết là tỉnh giấc chiêm bao. Và có “tỉnh lớn”
thì
mới biết
được “chiêm bao lớn.” Ta có một đời để sống, để chết hay có vô vàn đời?
Ai
biết? Mà nói chi những điều ấy. Nhưng người làm thơ cứ nói. Nói miết.
Thay nhau
nói. Tranh nhau nói. Để làm gì?
Thôi nói chi những chuyện ấy. Thơ là lời và hơn lời. Đã đến lúc chúng
ta cần
nghe thơ. Thơ đọc trong đêm nay dành cho Vũ Hoàng Chương.
Còn Vargas LLosa, ông này cũng
không chịu nổi Camus, cho tới khi ông
đụng đầu
khủng bố, khi ra tranh cử tổng thống....
Hai
mươi năm trước đây, Albert Camus là một tác giả thời thượng; những kịch
phẩm, tiểu luận và tiểu thuyết của ông giúp những người trẻ tuổi, sống.
Vào lúc đó, bị ảnh hưởng Sartre, say mê những tư tưởng của ông ta, tôi
đọc Camus mới ngán ngẩm làm sao, và nhiều khi còn bực bội về cái gọi là
chất trữ tình làm ra vẻ trí thức của ông!
Sau đó, khi tác phẩm di cảo của ông, Sổ Ghi [Notebooks], được
xb, vào năm 1962 và 1964, tôi bèn đi vài đường tạp ghi, bằng một giọng
văn tầm phào, bố lếu bố láo, phiến diện, tôi chụp cho cái xác của ông
một cái nón mầu ‘xám chưa đủ xám’[a ‘premature greyness’]. Dựa vào thái
độ của ông trước thảm kịch Algeria - một vị trí mà tôi thật sự chẳng
hiểu cái chó gì, hò theo những kẻ thù, đối thủ của ông, không chịu đọc
thẳng ông, tôi tự cho phép mình vẽ ra một hình ảnh tiếu lâm về ông, một
kẻ công chính, một ông bình vôi, the lay saint, mà những đệ tử của ông
để lên bệ thờ và cứ thế xì xụp!
Tôi đếch thèm đọc ông, cho mãi tới mấy tháng trước đây, may mắn làm
sao, trong khi theo dõi một vụ khủng bố tấn công ở Lima [ở Sài Gòn, do tay khủng bố VC
nằm vùng DH, cũng một đệ tử của ông, thực hiện! Hà, hà!]… . tôi lại mở
ra Kẻ Nổi Loạn, một tiểu luận của ông về bạo động trong lịch sử
mà tôi đã quên mẹ nó từ lâu (hay, chẳng bao giờ hiểu được).
Ui chao, đúng là một mặc khải.
Cú tìm tòi, nghiên cứu của ông về những nguồn gốc triết học của khủng
bố, món quà quí báu [đặc sản Nam Bộ của đám VC nằm vùng đem đến cho dân
Miền Nam, trong có Gấu, đã từng xơi hai trái mìn cờ lê mo của DH hoặc
bạn của ông!] của lịch sử đương thời, làm cho tôi kinh ngạc đến mất hết
cả hồn vía, vì cái sự sáng suốt, cái sự xác đáng nóng bỏng của nó, cùng
với nó là những câu trả lời cho những hồ nghi và sợ hãi mà tôi cảm
thấy, về thực tại đất nước tôi. Tôi sướng điên lên, khi khám phá ra
rằng, một số những nan đề về chính trị, lịch sử và văn hóa, của riêng
tôi, sau bao nhiêu lần vấp ngã, sa sẩy, té lên té xuống, sau cùng đã đi
đến những kết luận, những giải đáp y chang của ông Camus!
Trong mấy tháng sau đó, do tôi cứ thế đọc đi đọc lại ông, sau bao bất
đồng không thể tránh khỏi, cuối cùng tôi thấm đòn, gật gà gật gù chịu
ông, và biết ơn ông.
Sau đây, tôi sẽ đi vài đường, về cái hình ảnh mới mẻ mà tôi nhìn ra ở
nơi ông.
Tình Yêu như Trái Phá
Cái vụ
anh Tây mũi tẹt này,
không làm sao hiểu được mấy từ đơn giản Tình Yêu Trái Phá, của TCS,
đúng là do
anh ta bỏ chạy, bợ đít hay không bợ đít VC, mà ra.
Đây là do kinh nghiệm riêng
của GNV mà ngộ ra điều trên, không phải buộc tội ẩu tả.
Hưỡn hưỡn, Gấu kể tiếp!
Thú
thực, Gấu này không làm
sao hiểu nổi, cái ông Tây mũi tẹt bỏ chạy cuộc chiến, chẳng biết gì về
lựu đạn,
trái phá, pháo kích, oanh kích, nó ra thế nào, và nỗi sợ nó giáng
xuống, khác
nhau ra làm sao, nhưng, ngay cả những tên Mít đã từng trải qua cuộc
chiến, dù
gián tiếp, vậy mà cũng có tên e thẹn đưa ra ý kiến, trái phá nên dịch
ra tiếng
Anh, tiếng U, là ‘grenade’, rồi nghĩ sao, lại thưa chị, em nghĩ, nên
thêm vô,
smoke grenade, lựu đạn khói, chắc là nghĩ phải có khói, thì mới mù
được!
Đứa con
gái lớn của Gấu, sinh
ra đúng những ngày Mậu Thân, mẹ hàng đêm nghe pháo kích, sợ quá, ảnh
hưởng tới đứa
bé khi còn nằm trong bụng, thành thử cháu chậm biết đi, trí thông minh
chỉ còn
một nửa, chắc thế, so với mấy đứa kia, và đến già vẫn còn bị tật đái
dầm, khủng
khiếp hơn nũa, 1 trong hai đứa con của nó, cũng mắc tật đái dầm y như
mẹ!
Từ 1
kinh nghiệm khủng khiếp như thế, thử hỏi phải dịch trái phá là gì? Trái
lựu đạn
ư?
Một
người lính quen thân với
Gấu, có truyền cho Gấu hai kinh nghiệm, 1 về lựu đạn, và 1 về trái phá.
Anh ta
biểu, hồi mới đánh nhau, tụi Mặt Trận sử dụng lựu đạn do cơ xuởng ở
trong rừng
của chúng chế tạo, kêu bằng lựu đạn nội hoá, mỗi lần tụi nó thẩy tới
tụi này, lăn
long lóc, thế là tụi này lấy cái nón sắt chụp, rồi ngồi lên, nghe đánh
ình một cái, đít nhảy dựng lên 1 cú, là xong!
Còn
trái phá, thì anh ta biểu,
nếu mi nghe tiếng trái phá nổ đánh ình một cái kế bên, thì sau đó, liền
lập tức,
nhẩy vô cái hố, là khoẻ re, bởi chưa bao giờ xẩy ra trường hợp hai trái
đạn trái
phá cùng tranh nhau 1 cái lỗ cả!
Hà, hà!
Hai
trái lựu đạn tranh nhau 1
cái lỗ, thì lại là 1 câu chuyện tiếu lâm tục, chắc cũng nhiều người đã
từng
nghe, và kể!
Thành
thử thứ tình yêu như trái
phá, nó khủng khiếp lắm, thê lương lắm, đầy mùi vị của cái chết, của
người chết
hai lần, của đêm nghe tiếng đại bác, của người phu quét đường dừng chổi
đứng
nghe... làm sao mà 1 tên Mít bỏ chạy cuộc chiến hiểu được, vậy mà
cũng
bầy đặt, lên
lớp, lên giọng bố chó xồm, trước đây mấy chục năm ta đã từng dịch
Camus!
Tây mũi tẹt không
hiểu, nhưng thứ chính hiệu mũi lõ, lại hiểu, có thể hiểu hơn cả anh
nhạc sĩ da
vàng hát
nhạc đỏ, và có thể, đây cũng là cảm nhận của TTT, khi ông dịch bài thơ Barbara của
Prévert, và khi ông viết lời tựa cho tập thơ Tiếng nói một người của Trần Lê
Nguyễn.
Barbara,
Barbara,
Đêm đó mưa rơi hoài xuống Brest....
Hỡi
Barbara
Cuộc chiến tranh xuẩn ngốc
xiết bao
Còn em giờ đã ra sao
Dưới trận mưa lửa thép….
Rappelle-toi Barbara
Il pleuvait sans cesse sur Brest ce jour-là
Et tu marchais souriante
Épanouie ravie ruisselante
Sous la pluie
Rappelle–toi Barbara
Il pleuvait sans cesse sur Brest
Et je t’ai croisée rue de
Siam
Tu souriais
Et moi je souriais de même
Rappelle–toi Barbara
Toi que je ne connaissais pas
Toi qui ne me connaissais pas
Kỷ niệm
thê lương, tuyệt vời,
và nhớ đời, hết đời này qua đời khác, giả như có đời này, đời khác,
kiếp
này,
kiếp khác, về "tình yêu như trái phá", Gấu lèm bèm về nó nhiều
lần, và, có thể vì vậy, lần đầu tiên nghe ai đó hát lên, tình yêu như
trái phá, con
tim mù lòa
‘bỗng sáng rỡ ra’, là Gấu này thấm liền, ngộ ra liền….
*
Khi Nabokov cảnh báo về ‘ba bước
tới địa ngục’ trong dịch thuật, có lẽ trong đầu ông chỉ nghĩ tới vấn đề
lương tâm
và đạo đức của dịch giả, như là một anh thợ, thợ dịch!
Alain mới là người nhìn rộng
hơn, khi khuyên đệ tử, yêu ai thì cứ dịch người đó, rồi cũng sẽ trở
thành nhà văn
như thầy của mình.
Theo nghĩa đó, viết văn là phải
có thầy, và dịch, cũng chính là sáng tạo.
Sở dĩ Mít chúng ta không có ‘nhiều’
dịch phẩm để đời, chính là vì đội ngũ những nhà dịch thuật của chúng
ta, đa số
chỉ là thợ, thợ dịch!
Một khi bạn coi dịch giả là sáng
tác gia thì mọi khổ nạn liên quan tới sáng tác, cùng lúc, cũng là những
đau nhức
của dịch thuật!
Theo nghĩa đó, chúng ta nắc nỏm,
tâm đắc… với Toni Morrison, khi bà trả lời tờ The Paris
Review, trong mục Nghệ
Thuật Giả Tưởng.
INTERVIEWER
Do you ever read your work
out loud while you are working on it?
MORRISON
Not until it's published. I
don't trust a performance. I could get a response that might make me
think it
was successful when it wasn't at all. The difficulty for me in
writing-among
the difficulties-is to write language that can work quietly on a page
for a
reader who doesn't hear anything. Now for that, one has to work very
carefully
with what is in between the words. What is not said. This is measure,
which is
rhythm, and so on. So, it is what you don't write that frequently gives
what
you do write its power.
INTERVIEWER
How many times would you say
you have to write a paragraph over to reach this standard?
MORRISON
Well, those that need
reworking I do as long as I can. I mean, I've revised six times, seven
times,
thirteen times. But there's a line beetween revision and fretting, just
working
it to death. It is important to know when you are fretting it; when you
are
fretting it because it is not working, it needs to be scrapped.
INTERVIEWER
Do you ever go back over what
has been published and wish you had fretted more over something?
MORRISON
A lot. Everything.
Câu
hỏi/trả lời thứ nhất, một
cách nào đó, liên quan tới lời nhạc của TCS. Một khi chúng ta, những
người yêu nhạc
của ông, nghe tiếng hát của Lệ Thu, hay của Khánh Ly cất lên, "tình yêu
như trái phá", lập tức, chúng ta cảm thấy đau, như thể có một quả đạn
trái
phá, nổ đâu đó, quanh ta, và có thể, bạn còn nghĩ đến, một người thân
nào đó,
đã banh xác vì nó! (1)
Đây là nỗi đau - bạn gọi nó là hạnh phúc thì cũng được - của đám Miền
Nam, khi
nghe nhạc họ Trịnh. Đám bỏ chạy, đám Bắc Kít sau 1975, không có nỗi đau
này.
Hoặc có, nhưng họ vờ đi!
Hoặc cảm thấy nỗi đau, như nỗi nhục, vì đây là chiến lợi phẩm của họ,
như là
những tên ăn cướp!
Hà, hà!
Câu trả
lời thứ nhì liên quan
đến dịch thuật, như là sáng tác.
(1)
Garcia
Marquez có 1 truyện ngắn,
chúng ta có thể sử dụng nó, để ‘minh họa’ cho cái cảm giác, như nhìn
thấy cái
chết, khi KL hát lên lời liêu trai, trù eỏ, “tình yêu như trái phá”….
Câu
chuyện một em
chuyên làm nghề thầy bói, về già, bèn bói cho mình 1 quẻ, và quẻ phán,
chỉ còn ít
lâu thì ngoẻo; thế là em lo xây dựng phần mộ của mình, và mỗi lần đi
thăm chốn
yên nghỉ, thì bèn dẫn theo 1 con chó, hy vọng, khi em đi rồi, nó sẽ lâu
lâu ghé
thăm mộ, cùng một bó hoa; thế rồi một bữa, đi thăm nơi mình sẽ an nghỉ,
trên đường về, gặp 1
chàng xin
quá giang xe; đến nhà, chàng bèn tự nhiên như người Hà Nội, lững thững
cùng em
vô nhà, để cùng đưa nhau vào hạ, và đúng cái lúc lấy chìa khoá mở cửa
phòng, thì
em hiểu ra, những điềm triệu về cái chết của quẻ bói, chính là những
điềm triệu
của tình yêu.
Tình Yêu Như Trái Phá
TRẦN
THIỆN ĐẠO
…. Là
bởi trái phá trong câu
ca từ chỉ là hình ảnh cụ thể phác họa một í niệm chớ không một vật thể
đặt định
nào. Trái phá ở đây dịch là artillery shell, hay grenade, hay smoke
grenade,
hay exploding shell, hay một từ khác chỉ định bom đạn thì cũng có í
nghĩa tượng
trưng ngang nhau. Nhưng nếu như chuyển nó bằng một từ nào thích hạp với
cách
diễn đạt bản năng của người phương Tây thì chắc dễ được họ tiếp thu một
cách
thấm thía hơn. Chẳng hạn sử
dụng í niệm coup de foudre của Pháp, hoặc
love at
first sight (hay coup de foudre lấy nguyên xi tiếng Pháp) của Anh và Mĩ
- cả
hai đều hàm nghĩa sét đánh giống như chúng ta đã nhại theo tiếng Pháp…
Và chắc
còn nhiều từ/thành ngữ sở tại và cách diễn đạt khác nữa mà chúng tôi
không/chưa
nghĩ ra, mà bạn đọc sành Anh ngữ và Mĩ ngữ đã nghĩ tới rồi.
Tạm kết
Trở lên trên là những í kiến
sơ đẳng, nhưng đã được tôi luyện qua kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy và
chuyển
dịch Pháp->Việt, Việt->Pháp và Pháp->Anh, Anh->Pháp. Tuy
chỉ chạm
tới những chi tiết nhỏ nhặt, nhưng chẳng phải vì vậy mà không liên quan
tới
những vấn đề khái quát.
Dịch thuật vốn là một công
việc trần ai, ngoại trừ lối dịch cẩu thả và lấy có, kể cả của mấy dịch
giả danh
tiếng, thường thấy trên thị trường của chúng ta hiện nay. Cho nên câu
chuyện sẽ
còn dài và còn lâu mới (chưa chắc) chấm dứt.
TRẦN
THIỆN - ĐẠO
(Paris,
03/05/2010)
Ông Tây
mũi tẹt này kể cũng
lớn lối, khi lên giọng chê bai những dịch giả khác, nhưng, nếu đọc
những nhận
xét của ông về chỉ hai câu nhạc của họ Trịnh, là Gấu này thấy ông ta
chẳng hiểu
tí chó nào cả, và lý do không hiểu này, y chang 1 tay cùng băng bỏ chạy
của ông
ta, "người của chúng ta ở Paris”, đã từng lầm, khi không phân biệt được
thế
nào là oanh kích, thế nào là pháo kích!
Cái
kiểu viết tiếng Việt “í
kiến” của ông ta cũng làm Gấu này nực!
Đây là cái trò bắt chước
trong nước, nhất là đám Bắc Kít hay sử dụng, cứ ‘y’ dài là bèn đổi
thành ‘i’
ngắn.
Nếu thế, thì Thanh Thúy thành
Thanh Thúi ư?
GNV
này, trong kỳ tới, sẽ chỉ
ra cái ngu ngốc mà muốn làm ông nội của ông Tây mũi tẹt này, khi coi
Tình Yêu
Trái Phá giống như “coup de foudre”!
Chỉ bật
mí sơ sơ, tình yêu
trái phá không thể nào giống ‘cú đờ phút’ được, vì ‘cú đờ phút’ chỉ
đánh trúng
1 thằng, còn trái phá mà nó nổ 1 cái thì là khối thằng bị văng miểng!
Hồi mồ
ma tờ Văn, Gấu này đọc
ông Tây mũi tẹt này dịch Camus, nể quá. Vì tiếng Tây của Gấu thuộc loại
ăn đong,
còn ông này chính gốc Tây, chính gốc Paris, xém 1 tí thì cũng là Tây
đặc, chỉ có
cái mũi tẹt là không giống.
Bây giờ, về già, đọc ông ta
phán bố lếu bố láo, mới hiểu ra, không phải cứ giỏi tiếng Tây, là đọc
được sách
Tây, thí dụ, của Camus.
Nói thế, không phải là chê ông
ta dịch sai.
Dịch đúng, vẫn đếch làm sao hiểu được Camus!
Chán
thật!
Thấy người sang bắt quàng làm họ,
cái vụ nhà
Nobel Toán, ngửi khói
hành lang, biết mình đuợc Nobel, bèn vội vàng xin nhà nước mũi lõ phát
cho quốc tịch Tây, có cái gì giông giống Gấu, khi, vào năm 1954, ở Hà
Nội, khi Ông
Tây chồng bà Me Tây là Cô Dung của Gấu, làm thủ tục kết hôn, và đưa vợ
về nước,
thì Gấu cũng tự nhủ, mình sẽ học tiếng Tây, để làm sao viết cho được 1
cái thư
bằng tiếng Tây, cám ơn 1 ông Tây thuộc địa, bởi vì không có ông, là
không làm
sao có… Gấu Nhà Văn, và thay vì như vậy, thì có 1 thằng Bắc Kít khốn
nạn cũng cỡ
Đông B, chắc hẳn !
Về già, Gấu ngộ ra, giả như Gấu cố
học tiếng
Tây, để chuồn, thì chắc hẳn, sẽ
được như, thí dụ, ông Tây mũi tẹt, cách đây mấy chục năm đã từng dịch
Camus !
Gần bốn
mươi lăm năm trước,
vào tháng 12/1966, khi chuyển dịch xong truyện kể La Chute (Sa đọa –
1954) của
nhà văn Pháp Albert Camus (1913-1960), chúng tôi có bộc bạch như sau: «
Trong
công trình này, chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp khó xử: người Việt
nam ít khi
biểu lộ những thực tại vô hình bằng những khái niệm trừu tượng, mà
thường gợi ý
qua nhiều cách nói vận dụng hình ảnh cụ thể. Mà ép buộc dùng hình ảnh
cụ thể
lại khó bề bám sát ý nghĩa của từ ngữ trừu tượng. Gặp những trường hợp
tương
tợ, chúng tôi đã không ngại tùy cơ ứng biến, cốt sao vừa diễn tả được
trọn vẹn
những ý niệm phát biểu. »
TTD
Cái ông
Camus được ông Tây
mũi tẹt này dịch gần bốn mươi năm trước khác hẳn ông Camus bây giờ, sau
cú
11/9, thí dụ. Ông ta thì vẫn thế, Sa
Đọa của ông thì vẫn thế, nhưng cái
nhìn
của chúng ta, về ông, về tác phẩm của ông, khác đi, khác đi nhiều lắm.
Gấu thực sự không hiểu ông
Tây mũi tẹt, nghĩ gì, khi chọn Camus, và chọn Sa Đọa để dịch, cách đây
mấy chục
năm, vào lúc cuộc chiến Mít "chưa hứa hẹn những điều khủng khiếp", [ông
này chuồn
lẹ lắm, trước tất cả mọi người, kể cả ‘người của chúng ta ở Paris’,
chắc hẳn,
vì khi GNV còn cắp sách đi học, thì đã thấy ông ta ở Paris rồi!]
Cái
chuyện "khó xử" khi dịch
của ông, mang tính 'kỹ thuật', khi chuyển dịch bất cứ 1 ngôn ngữ. Ông
không cho
biết, cái khó xử, kia, khác, khi chọn Camus để dịch?
Hay là
ông lấn cấn khi "bỏ mẹ
tôi", và chọn Đầm làm mẹ?
Đây là
vấn đề tiềm ẩn, có
thể, bởi vì như NMG có lần giải thích, khi GNV hỏi, văn của ông khác
hẳn Dos,
tại sao lại chọn Dos là Thầy, anh trả lời, chính vì khác, nên chọn,
như 1 kẻ mình không làm sao đạt tới, và chỉ đứng xa vái vọng.
Ông Tây
mũi tẹt, do bỏ chạy
mẹ tôi, nên lương tâm của ông cắn ông ta đau quá, nên chọn Camus để
dịch?
Chắc không đâu, vì nghe khẩu
khí của ông, chỉ qua 1 đoạn viết, thì có vẻ ông rất ư là tự mãn. Hơn
thế nữa,
còn giở giọng Thầy ra dậy dỗ, coi độc giả như học trò của ông:
Trở lên
trên là những í kiến
sơ đẳng, nhưng đã được tôi luyện qua kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy và
chuyển
dịch Pháp->Việt, Việt->Pháp và Pháp->Anh, Anh->Pháp. Tuy
chỉ chạm
tới những chi tiết nhỏ nhặt, nhưng chẳng phải vì vậy mà không liên quan
tới
những vấn đề khái quát.
TTD
Đúng
giọng bố chó xồm! Không
có lấy 1 tí khiêm tốn tối thiểu làm thuốc!
1966:
Gấu ăn mìn của VC tại
nhà hàng nổi Mỹ Cảnh ngày 26.6.1965.
Chắc
vào lúc đó, ông Tây mũi
tẹt đang ngồi dịch Camus ở Paris.
Một
trong những chuyện cực thú
của VC, đối với riêng GNV, đó là cách chúng đối xử với đám Miền Nam bỏ
chạy bợ đít
chúng: đếch cho về!
Anh Tây mũi tẹt này, già quá
rồi, sắp chết rồi, chúng mới gật đầu cho về.
Về 1 cái, là lên giọng Thầy, dạy hết
người dịch này đến người dịch kia, cả ở trong lẫn ngoài nước, lại còn
khoe sách
được nhà nước VC cho phép in, sắp cho ra lò!
Chán thật!
Nadine Gordimer chọn Sách Trong
Năm 2007: Camus @ Combat:
Non-fiction - Camus at
"Combat": Writing 1944-1947 by Albert Camus, edited by
Jacqueline Levi-Valensi (Princeton):
editorials and other texts, letters, published at high personal risk by
Camus in
what began as an underground newspaper during the German of Occupation
of
France. Every line totally charged with extraordinary synthesis of
passionate
conviction and objectivity in intellecctual force that distinguishes
Camus's
creative talent in his novels, The Plague and The Outtsider.
As
editor and journalist, he writes on the premiss, good for during the
Occupation
and prescient for our present he did not live to see: " ... the end of
ideologies is upon us, that is, the end of absolute utopias that
destroy
themselves owing to the heavy price they eventually exact when they
seek to
become part of historical reality". After the war, he wrote on Algeria
what held good for other colonial empires as well: "The failure to
peacefully put an end to colonialism in the aftermath of World War II
... a
serious, if not the most serious, failure of French democracy itself'.
… Loại không giả
tưởng, tôi chọn cuốn “Camus tại báo Combat", gồm những bài bình
luận, và những bài viết khác, xuất hiện vào lúc thật nguy hiểm cho
người viết,
trên tờ nhật báo chui tại một nước Pháp bị Nazi chiếm đóng. Mỗi dòng
viết, chứa
trong nó, sự tổng hợp kỳ tuyệt, của niềm tin say mê và của tính khách
quan,
trong một sức mạnh trí tuệ, chính nó làm rạch ròi ra cái tài năng sáng
tạo của
Camus, ở trong những cuốn tiểu thuyết, Dịch Hạch và Kẻ Xa
Lạ. Vừa
là chủ bút vừa là ký giả, ông viết, về tiền đề, tốt cho thời kỳ [nước
Pháp bị]
Chiếm Đóng, và còn là một dự báo cho thời hiện tại của chúng ta mà ông
chẳng
còn sống để chứng nghiệm: “… sự cáo chung của những ý thức hệ đè lên
chúng ta,
nói rõ hơn, sự cáo chung của những không tưởng tuyệt đối, chúng tự huỷ
chúng,
và trong khi tự huỷ, chúng còn đòi cái giá nặng nề khi muốn có phần
trong thực
tại lịch sử”. Sau chiến tranh, ông viết về Algeria, điều được coi là
tốt, không
chỉ cho cựu xứ sở thực dân thuộc địa này mà còn cho những đế quốc thực
dân
thuộc địa khác: “Sự thất bại không kết thúc một cách hoà bình chủ nghĩa
thực
dân thuộc địa, sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt… là một thất bại
nghiêm trọng,
nếu không muốn nói, tối nghiêm trọng, cho chính nền dân chủ của nước
Pháp”.
Nguồn
Tưởng Niệm Camus
Ở trong những tác phẩm sau này
của Camus,
phong cảnh – và trên tất cả, phong cảnh quê ta, miền đất thiên đàng Địa
Trung
Hải của ông - vưỡn hiện diện, thường như là, một ham muốn tàn khốc, an
atrocious
desire, hay một hoài nhớ khủng khiếp, đến trở thành khốn khổ, khốn nạn,
rất ư
là hơi bị thảm hại [y chang Gấu, những ngày sắp lìa đời!], a terrible
nostalgia:
Marthe và bà mẹ của cô, những tên trộm cướp và những tên sát nhân trong
Ngộ
Nhận, làm thịt du khách trong quán trọ, để có một ngày, có đủ vốn
liếng,
tậu được một căn nhà bên bờ biển [Ui chao, chẳng lẽ đây là giấc đại
mộng của
những anh nhà quê Bắc Kít, những anh Cu Sài, xẻ dọc Trường Sơn, hy vọng
vô được
nước Xề Gòn, kiếm tí chiến lợi phẩm, về làng cũ, xây cái nhà gạch nho
nhỏ, sửa
sang phần mộ cho ông cụ, cưới một em ở Xóm Đoài, Xứ Đoài mây trắng
lắm?], và
cái anh chàng Tướng Về Hưu, Jean Baptiste Clemence, sau khi xây dựng
xong Địa
Ngục, bèn đi vào miền Sa Đọa, The Fall, tên một tác phẩm của
Camus, sám
hối, và trong một khoảnh khắc trầm thống, rống lên như một con quỉ, Quỉ
Bắc
Kít, trong một cuộc độc thoại nội tâm: “Ôi, mặt trời Bắc Kịt, ôi bãi
biển Đồ
Sơn, ôi những hòn đảo Hạ Long của những trận gió thương mại, ôi những
hồi ức
của thuở thanh niên, chúng mới làm cho đám Bắc Kít chúng ta chán chường
làm
sao!” [‘Oh, sun, beaches, islands of trade winds, memories of youth
that make
us despair’]: Ở Camus, cái đẹp và cái ấm mà con người được thừa hưởng
từ thiên
nhiên không chỉ thỏa mãn nỗi thèm khát của cơ thể, mà còn là một thứ
thánh dược
thanh tẩy tâm hồn!
Ui chao, những
câu sau đây, trong Lần Cuối Sài Gòn, của
'đại văn hào' Gấu Nhà Văn, mà không phải những "thánh ngôn" 'thanh
tẩy tâm hồn', ư?
Trong mỗi chúng ta đều có một Sài-gòn âm ỉ cháy. Tôi
khơi cục than hồng của
tôi, để cho Sài-gòn của bạn sáng ngời.
Lần thứ nhì bỏ chạy quê hương,
cùng nỗi
nhớ Sài-gòn là sự thật đắng cay mà tuổi già càng làm thêm cay đắng: Một
giấc
mộng, dù lớn lao dù lý tưởng cỡ nào, cũng không làm sống lại, chỉ một
sợi nắng
Sài-gòn.
Trong những đêm chập chờn mất
ngủ, hồn thiêng của thành phố thức
giấc ở trong tôi, tôi tưởng hồn ma của chính mình đang lang thang trên
những
nẻo đường xưa cũ, sống lại cái phần đời đã chết theo cùng với Sài Gòn,
bởi cái
phần đời đó mới đáng kể. Tôi đọc lại Nabokov và lần ra sợi dây máu mủ,
ruột
thịt giữa tác giả-nhà văn lưu vong-con vật đáng thương-nàng nymphette
tinh
quái. Đọc Koestler để hiểu rằng, tuổi trẻ của tôi và của bao lớp trẻ
sau này,
đều bị trù yểm, bởi một ngày mai có riêng một con quỷ của chính nó:
Miền Bắc,
Hà-nội.
Suốt cuộc đời, Camus luôn tỏ ra
trung
thành với niềm tin, rằng con người phải hoàn chỉnh trọn vẹn chính mình,
sống
trọn với bản chất của mình, khi mình tương hợp với thế giới tự
nhiên, khi
cuộc ly dị giữa nó và thế giới tự nhiên sẽ cắt manh mún cuộc hiện hữu
nhân sinh
của nó. Có lẽ, đây là niềm tin, kinh nghiệm của một người lớn lên không
nương
tay nhờ sỏi, đá, bụi bặm, giọt mưa, sợi nắng, và, nó tách Camus ra khỏi
cái đám
đông khốn kiếp ở thành phố, ở Paris, và hơn thế nữa, tách ông ra khỏi
cả một
tầng lớp trí thức cùng thế hệ với ông. Tất cả lũ, nào Mác Xịt, nào Ky
Tô, nào
tự do, nào hiện sinh, đều có một điểm chung: chúng đều thần tượng hoá
lịch sử.
Sartre và Merleau-Ponty, Raymond Aron và Roger Garaudy, Emmanuel
Mounier và
Henri Lefebvre, ít ra đều đồng ý về một điểm: rằng con người là một con
người
xã hội, và, để hiểu nỗi khốn cùng, những khổ đau của nó, và đề ra giải
pháp cho
vấn đề của con người, việc đó chỉ thế xẩy ra, ở trong cái khung lịch
sử. Kẻ thù
ở bất cứ đâu đâu, ở bất cứ điều gì khác, nhưng đám này đều chia sẻ với
nhau một
giáo điều rộng lớn nhất trong mọi giáo điều của thời đại chúng ta: rằng
lịch sử
là chìa khóa cho câu hỏi nhân sinh [that history is the key to the
human
question], là nơi chốn, môi trường, ở đó, trọn số phận của con người
được quyết
định.
Llosa: Albert Camus và đạo đức học của những giới hạn
Bây giờ thì Gấu
hiểu được, vị trí của ông anh nhà văn nhà thơ của Gấu, và cái sự tại
sao ông
không chịu nổi Camus!
GNV này
thường tự hỏi, nhiều
câu lẩn thẩn, thí dụ, trong khi trong 3 triệu Mít chết, thì anh Tây mũi
tẹt này
đang làm gì ở Paris. GNV biết, 1 trong những ông bạn của anh ta, làm
cớm cho
VC, còn anh này thì không biết làm gì
Vẫn
được đi, nhưng chẳng lẽ
cả 1 cuộc chiến đau thương như thế, thoát chết nhờ bỏ chạy, và nay già,
được VC
cho về, chỉ để khoe, tớ rành tiếng Tây, tiếng Anh, và đã làm thầy ở xứ
người?
Vẫn
được đi. Tuy nhiên GNV này không làm sao hiểu được, bằng cách nào anh
ta
đọc, và dịch Camus?
My dad
read me The BFG by
Roald Dahl when I was younger. I'm really fond of that book. Le Petit Prince [by Antoine de
Saint-Exupéry]. I like books that aren't just lovely but that have
memories in
themselves. Just like playing a song, picking up a book again that has
memories
can take you back to another place or another time.
10
Questions
Tôi
thích những cuốn sách
chứa trong nó những hồi ức, giống như chơi 1 bản nhạc, cầm lại nó lên
là
những hồi ức có thể đưa bạn trở lại 1 nơi chốn khác, 1 thời gian khác.
Anh Tây
mũi tẹt này đọc Camus,
thì có được những hồi ức gì? Và chúng đưa anh ta đi đâu, đến thời nào
khác, khi
đọc lại?
Nhân vụ
ông Tây mũi tẹt cao
giọng về dịch dọt, chê thiên hạ dịch thua ông xa, TV post bài viết của
Nabokov,
Nghệ Thuật Dịch, bản tiếng Tây, trước, bản tiếng Anh, sau [khi nào
tìm được trong Tàng Kinh Các
hầm bà làng của GNV!], liên quan tới ba bước tới địa ngục, trong dịch
thuật!
Đọc,
rồi áp dụng một cách thông
minh và thiên tài vào trường hợp ông Tây mũi tẹt, thì thấy.. không được!
Đúng ra, phải nhét ông ta vào
trường hợp mà Steiner đã chỉ ra, trong bài viết Nhân
Văn, đại khái, người
nào mà
nghe câu hát của TCS, Tình Yêu như Trái Phá, mà không thấy rùng mình,
thì đúng
là mù, hoặc điếc, hoặc cơ thể chậm phát triển!
Hoặc mắc bịnh vô cảm như VC thường
nói!
Với ông Tây mũi tẹt này, quả đúng
như thế, và đây là do thiếu 1 ngày lính mà ra.
Chuồn lẹ quá, thành thử chẳng
thấy rùng mình gì hết, khi nghe hát nhạc Trịnh, mà chỉ thấy “buồn bã
với những
môi hôn”!
Chính vì chuồn lẹ quá, chưa từng
nghe tiếng trái phá, nên cho rằng nó giống như 1 cú sét đánh!
*
Xuyên suốt bài viết, điều mà
tôi nhắm tới, đó là ý niệm về "humane literacy". Trong cuộc trò
chuyện lớn lao với những người chết còn sống mà chúng ta gọi là đọc
sách đó,
vai trò của chúng ta không phải là một vai trò thụ động. Đọc là một
kiểu hành
động, chứ không phải là chuyện mơ màng hay trò nhâm nhi dửng dưng, phát
sinh từ
buồn chán. Chúng ta lay động sự hiện hữu, tiếng nói của cuốn sách.
Chúng ta cho
phép nó nhập vô - tuy lúc nào cũng cảnh giác - phần sâu thẳm ở trong
chúng ta.
Một bài thơ, một cuốn tiểu thuyết cổ điển, chúng áp đảo; chúng tấn
công, và
chiếm lĩnh những trọng điểm của ý thức. Bằng những chiêu thức kỳ lạ của
một bậc
thầy, chúng quay quật trí tưởng tượng, cõi dục, tham vọng, và những cơn
mộng
thật bí ẩn, thật thầm kín của chúng ta. Những kẻ đốt sách biết rõ điều
mà chúng
đang làm. Nghệ sĩ là một sức mạnh không thể nào kiểm tra được: kể từ
Van Gogh,
không một con mắt Tây-phương nào nhìn cây bách mà không nhận ra ở trong
đó,
khởi đầu của một ngọn lửa.
Theo
mức độ tối thượng, văn chương cũng như
vậy. Người nào đọc Hồi Thứ 24, sử thi "Iliad" - đêm gặp gỡ giữa Priam
và Achilles - hay là chương Alyosha Karamazov quỳ dưới những vì sao,
người nào
đọc chương XX của Montaigne (Que philosopher c'est apprendre l'art de
mourir:
Rằng suy tư triết học là học nghệ thuật chết) (6), và cách mà Hamlet sử
dụng
nó, và người nào mà không thấy mình bị biến đổi, nhận thức về chính
cuộc đời
mình vẫn như cũ, cái nhìn căn phòng [mới] chuyển tới chẳng gợn chút
thắc mắc,
những ai kia gõ cửa đâu có gì khác: người đó đọc mà sự thực là mù, tuy
vẫn nhìn
được, theo nghĩa vật lý. Liệu ai đó có thể đọc "Anna Karenina" hay
Proust mà chẳng kinh nghiệm được gì, về sự yếu đuối trong những tình
cảm, ý
nghĩ liên quan tới dục tính?
Đọc tới
nơi tới chốn, là chấp nhận hiểm nguy.
Điều gọi là căn cước, sự tự chủ của chúng ta có thể bị thương tổn.
Trong những
biểu hiện khởi đầu của chứng động kinh, có một giấc mơ thật đặc trưng;
Dostoevsky nói về nó. Con người như bị nhấc bổng ra khỏi thân thể của
mình;
người đó nhìn ngoái lại và cảm thấy một nỗi sợ bất thần, khùng điên;
một hiện
hữu khác đang đi vô chính cái thân thể của mình đó, và chẳng còn đường
nào để
mà trở lại. Nỗi sợ khủng khiếp làm cho cái đầu cố bật dậy, tỉnh giấc.
Cũng vậy,
khi chúng ta cầm trong tay một tác phẩm lớn lao, văn chương hay triết
học,
tưởng tượng hay đề thuyết. Nó có thể hoàn toàn chiếm hữu chúng ta,
khiến chúng
ta [phải] bỏ đi lang thang, sợ hãi ngay chính mình, không còn nhận ra
mình.
Người nào đọc "Metamorphosis"("Hóa Thân") của Kafka, và
nhìn vào gương không rùng mình, người đó có thể đọc bản in, theo nghĩa
kỹ thuật
của từ "đọc", nhưng thực sự là mù chữ, theo đúng nghĩa của việc đọc.
Bởi vì cái cộng
đồng của những giá trị truyền
thống, đã tản mác, bởi vì những từ, chính chúng cũng bị vặn vẹo, rẻ
rúng, bởi
vì những thể loại cổ điển châm ngôn, hay ẩn dụ ngày trở thành những
kiểu nói
làm xàm cho qua đi: nghệ thuật đọc sách, nghệ thuật về một khả năng
biết chữ
thực sự (true literacy) phải được tái tạo dựng. Đây là nhiệm vụ của phê
bình
văn học: giúp chúng ta - như là những con người hoàn toàn - đọc. Bằng
những thí
dụ về sự chính xác, về nỗi sợ hãi, và niềm vui rạng ngời. So với hành
động sáng
tạo, nhiệm vụ này là thứ yếu. Nhưng chưa bao giờ nó quan trọng như là
lúc này.
Không có nó, sáng tạo, chính nó, có thể rơi vào câm lặng.
Đọc bài
viết của Steiner, từ đó,
quy về TTD, GNV thực sự tin, ông ta không đọc được, nói chi dịch, Camus
Cái
chuyện VC mê TCS hơn Ngụy
ngày nào làm Gấu nhớ đến trường hợp Tẩu Khúc của Thần Chết của Celan.
Bài thơ của
Celan làm dịu nỗi đau của người Đức, sau cú Lò Thiêu.
Tương
tự, nhạc TCS đã giúp đám bỏ chạy bợ đít
VC, đám VC chính
hiệu nuốt được nỗi đau 3 triệu con người chết vô ích, và nỗi nhục về
tình trạng
băng hoại như hiện nay ở trong nước.
Bản
thân Trịnh cũng đậm
nỗi đau đó, chính vì thế mà ông viết ra thứ nhạc đó!
Tình
Yêu như Trái Phá, 1 cách
nào đó, còn là nỗi mong mỏi của họ Trịnh. Ông thèm được “chọn bên”
[chọn VC
trong cuộc chiến, và khi nó chấm dứt, chọn đi cải tạo như bạn bè Miền
Nam của ông,
chọn đi vượt biển, như cả Miền Nam], và bất cứ 1 chọn lựa nào, thì ông
cũng không
thể!
Nơi em
về trời xanh không em?
TCS
hỏi, đau thương như thế,
chính là vì ông đếch có một nơi nào để về.
PXA
chẳng đã từng than, địa ngục chật
cứng, đếch có chỗ cho tớ!
Nhạc TCS đã giúp
đám bỏ chạy bợ đít
VC, đám VC chính
hiệu nuốt được nỗi đau 3 triệu con người chết vô ích, và nỗi nhục về
tình trạng
băng hoại như hiện nay ở trong nước.
Bản thân Trịnh cũng đậm nỗi
đau đó, chính vì thế mà ông viết ra thứ nhạc đó!
Tình
Yêu như Trái Phá, 1 cách
nào đó, còn là nỗi mong mỏi của họ Trịnh. Ông thèm được “chọn bên”
[chọn VC
trong cuộc chiến, và khi nó chấm dứt, chọn đi cải tạo như bạn bè Miền
Nam của
ông, chọn đi vượt biển, như cả Miền Nam], và bất cứ 1 chọn lựa nào, thì
ông
cũng không thể!
Nơi em
về trời xanh không em?
TCS
hỏi, đau thương như thế,
chính là vì ông đếch có một nơi nào để về.
PXA chẳng đã từng than, địa
ngục chật cứng, đếch có chỗ cho tớ!
*
Cuốn
"Kẻ Xa Lạ" được chọn là cuốn
sách số 1 trong 1 cuộc bình bầu của 1 tờ báo Tây, và, 1 trong những lý
do, là,
nó ngắn quá, dễ đọc quá, nhất là đối với giới sinh viên học sinh người
nước ngoài,
nghĩa là, đối với 1 thằng cu Gấu, tập tành viết, và tập tành đọc sách
Tây, thuở
mới lớn, ở một thành phố Sài Gòn còn thanh bình, chưa từng biết đến bom
đạn,
chiến tranh thì ở quá xa. Thành thử, cái lần Gấu rời thành phố, đi Cai
Lậy, rồi
đi qua cây cầu gỗ, rồi tiếng đạn đại bác từ chi khu bất thình lình bắn
đi, khiến
trái tim mù lòa của Gấu bỗng sáng rỡ, nhận ra mình, nhận ra tình yêu,
nhận ra cái
chết, là vậy. Anh Tây mũi tẹt có bao giờ được hưởng cái sung sướng tận
cùng
sung sướng, khổ đau tận cùng khổ đau, như thế, thành thử, không thể nào
hiểu Tình
Yêu như Trái Phá được!
Anh ta
cũng không đau cái nỗi
đau của Camus, khi tới Paris
lần đầu, và ghi trong nhật ký:
Kẻ xa
lạ, Camus, đến từ mặt
trời Địa Trung Hải, đã thất vọng, lần đầu gặp Paris, và khám phá vẻ
nham nhở,
xám xịt, mưa, những người gác cổng, và những vụ tự tử vô danh trong
những căn
phòng khách sạn, như trong Sổ Tay của ông, vào năm 1940, khi định cư
tại đây:
"Đọc Paris Buổi Chiều và cảm thấy trái tim của thành phố ê hề trên
những
trang báo, cái tính đê tiện của một cô thợ khâu.... Nó [Paris] thì thối
rữa.
Sướt mướt, mỹ miều, vui lòng khách đến, chốn ẩn trú nhớm nhúa, nơi con
người
phải cố mà sống trong một thành phố quá tàn bạo đối với nó."
Cảm giác đầu tiên và cũng là
cuối cùng: Chẳng bao giờ ông có được một từ dịu dàng với thành phố đó.
Ông cảm
thấy lạc lõng, xốn xang. Đây là một con người khốn khổ vì hoài nghi, vì
nghĩ
rằng mình vô ích, vô tích sự, và chỉ cảm thấy dịu đi một phần nào, bằng
những
câu vắn ngắn thật sáng sủa, chỉ để tố cáo sự bất công của cõi người.
Sự thực, ông ở đâu đó, không
ở chỗ đó: Paris.
Ngay cả khi đã nổi tiếng, sau khi Kẻ Xa Lạ xuất bản, vào năm 1942,
chẳng có một
câu nào trong Sổ Tay nói lên niềm vui của ông, mà chỉ là niềm kinh
hoàng
(effroi). Ông bị chấn động bởi nỗi khốn cùng, mà ông chứng kiến, khi đi
đi về
về trên xe lửa, từ Saint-Étienne tới Chambon-sur-Lignon, nơi ông phải
tới để
chữa trị chứng lao phổi.
GNV đọc Kẻ Xa Lạ của Cà Muy
[Cà Muy, thì giống như Cà Mau,
vậy, thành thử Mít đọc NNT mà thấy ra chất hiện sinh, phi-ní!]

TLS 18 Nov 2010
Anh Tẩy
mũi tẹt chuồn cuộc
chiến Mít "trước khi có cuộc chiến Mít" [khi nó “chưa” hứa hẹn những
điều khủng khiếp, khi Miền Nam
còn tương đối thanh bình], và qua những gì anh ta cho biết, khi qua
Tây, anh ta
sống bằng nghề dạy học, trong khi chờ cuộc chiến chấm dứt, và.. về,
nhưng cả một
bầy như anh ta, mặc dù chiến tranh chấm dứt, Đảng nhắn nhe, chắc thế,
đếch cho
một mống nào về, cho đến khi già sắp chết, Đảng thương hại, thôi tha
cho nó; về
1 cái, là anh lên giọng khoe tài ngoại ngữ của ảnh.
Khổ một nỗi, anh ta không làm sao vỡ ra được một điều rất ư là cơ bản,
là cái việc
dịch văn nó khác hẳn cái việc dậy ngoại ngữ. Bạn thật rành tiếng nước
ngoài,
chưa đủ bảo đảm, bản dịch của bạn, là một tác phẩm văn học, trong tiếng
mẹ đẻ
của bạn. Nhiều độc giả nhỏ tuổi, ở trong nước, chẳng đã từng than, nghe
giới
thiệu tác giả đó, đó, số 1 thế giới, và khi đọc bản dịch, bèn xì
một
tiếng, thua một tác giả Mít, thứ thường thường bậc trung, chưa nói thứ
bảnh
tỏng!
Rõ nhất
với Mít, là trường hợp Hà Mai Anh dịch "Tâm Hồn Cao Thượng",
của
De Amicis, qua bản tiếng Pháp, khi đang học Trung Học, vậy mà cho tới
nay, không
bản dịch nào qua được bản dịch của ông.
Nhiều
khi cái đọc của bạn quyết định số phận một bản dịch.
GNV đã
từng gặp hơn 1 lần
kinh nghiệm này.
Một lần với bản dịch Trăm Năm
Cô Đơn, đã từng kể ra, trong 1 bài viết đăng trên talawas, và
trên TV
Và một lần, với bản dịch một
bài thơ của Brodsky, của 1 ông “cũng” thi sĩ, nhà văn, nhà dịch thuật
từ khi
GNV mới tập tành viết lách! Vụ này, GNV cũng đã từng lèm bèm vài lần
trên TV. (1)
Đọc, 1 phát, bài thơ dịch, là
thấy có cái gì gai gai. Bèn phải đi kiếm bản tiếng Anh, để so sánh. Hoá
ra là
ông thợ dịch muốn làm hài lòng nhà nước VC, ông ta chẳng đã từng khoe,
là
người
đầu tiên giới thiệu Brodsky thi sĩ, tới độc giả Mít ở trong nước.
Thế là ông ta
bèn biến 1 ông thi sĩ Nga, yêu hoà bình,
bị lưu đầy nội xứ, Brodsky, Nobel văn chương, thành 1 ông, ngang tầm
thời đại với tác giả câu thơ làm
chết 3 triệu
người, ở cả hai bên cuộc chiến, chưa kể vài triệu người sau khi nó chấm
dứt, ‘đường
ra trận mùa này đẹp lắm’, Phạm Tiến Duật.
TV post
bài thơ của Brodsky,
và nhân đó, dịch, để đáp lại tấm thịnh tình của 1 độc giả, sao GNV lèm
bèm hoài
về Brodsky, mà chưa thấy dịch thơ Brodsky!
*
Vả
chăng cái lý do ông phịa ra, cái gì gì tiếng Mít cụ thể, tiếng Tẩy
trừu
tượng, để giải thích nỗi khó khăn khi dịch, theo Gấu, đại nhảm. Chứng
cớ,
chuyện đang ì xèo, nhân bản dịch mới nhất ra tiếng Anh, cuốn Madame
Bovary,
của Lydia Davis, cho thấy 1 điều: Dịch từ tiếng Pháp qua tiếng
Anh, cũng đâu có dễ nhá!
*
Odysseus to Telemachus
My dear
Telemachus,
The Trojan War
is over now;
I don't recall who won it.
The Greeks, no doubt, for
only they would leave
so many dead so
far from
their own homeland.
But still, my homeward way
has proved too long.
While we were wasting time there, old Poseidon,
it almost seems, stretched
and extended space.
I don't
know where I am or
what this place
can be. It would appear some
filthy island,
with bushes, buildings, and
great grunting pigs.
A garden choked with weeds;
some queen or other.
Grass and huge stones ... Telemachus, my son!
To a wanderer the faces of
all islands
resemble one another. And the
mind
trips, numbering waves; eyes,
sore from sea horizons
run; and the flesh of water stuffs the ears.
I can't remember how the war
came out;
even how old you are-I can't
remember.
Grow
up, then, my Telemachus,
grow strong.
Only the gods know if we'll
see each other
again. You've long since
ceased to be that babe
before whom I reined in the plowing bullocks.
Had it not been for
Palamedes' trick
we two would still be living
in one household.
But maybe he was right; away from me
you are quite safe from all
Oedipal passions,
and your dreams, my
Telemachus, are blameless.
1972 /
Translated by George
L. Kline
Note:
Bài thơ này, in trong
tập A Part Of Speech, để tặng
ông cụ bà cụ thân sinh, phần I: A
Song to
No Music
(1)
Nhân chuyện nói không với
cuộc chiến, và nhân đọc thơ Brodsky (1940-1996), do Hoàng Ngọc Biên
dịch, (2) đăng
trên Tiền Vệ, Gấu tôi xin ghi ra đây.
Odysseus
nói với Telemachus
Telemachus con yêu của ta,
Cuộc chiến thành Troy
giờ đây đã kết thúc; ta không
còn nhớ ai đã thắng trận.
Người Hy lạp, hẳn thế, bởi
cho đến nay chỉ có họ mới có thể
đánh gục được nhiều người đến
vậy khi xa quê hương mình.
[HNB dịch]
Bản
tiếng Anh [Collected Poems in English]
My dear Telemachus,
The Trojan war
is over now; I don't recall who won it.
The Greeks, no doubt, for only they would leave
so many dead so far from their own homeland.
Câu trên, ông bố nói với thằng con, ta đếch thèm nhớ, ai thắng trận.
Câu dưới, ông bố quả quyết, chắc chắn mấy thằng... VC, ấy chết xin lỗi,
mấy
thằng Hy Lạp, bởi vì chỉ chúng nó mới dám đi xa quê hương của chính
chúng nó.
Để... ăn cướp!
Nhưng
Brodsky viết, họ "để lại nhiều xác chết", chứ không phải
"đánh gục nhiều người".
Nhà thơ không hề phân biệt, giữa rất nhiều xác chết đó, cái nào
"được" coi là... liệt sĩ, cái nào "bị" coi là... Nguỵ!
NKTV
(2) Bệ về đây, cho chắc ăn:
JOSEPH
BRODSKY
(1940-1996)
Telemachus
con yêu của ta,
Cuộc chiến thành Troy
giờ đây đã kết thúc; ta không
còn nhớ ai đã thắng trận.
Người Hy lạp, hẳn thế, bởi
cho đến nay chỉ có họ mới có thể
đánh gục được
nhiều người đến
vậy khi xa quê hương mình.
Thế tuy nhiên, đường về quê
ta ta quả thấy quá xa.
Trong khi chúng ta phí thì
giờ ở đấy, thì gần như có vẻ
thần biển Poseidon đã căng
dài và mở rộng không gian.
Ta không biết mình đang ở đâu
cũng chẳng hay chỗ này
có thể là gì. Hình như ta nhìn
thấy có hòn đảo nát bẩn,
những bụi cây, những tòa nhà,
và cả những con lợn ủn ỉn.
Một khu vườn ngập tràn cỏ
dại; một nữ hoàng gì đó.
Cỏ và đá tảng... Này Telemachus, con trai ta!
Đối với một kẻ tha phương thì mọi hòn đảo
dáng vẻ đều giống nhau. Và trí tuệ lạc bước,
vì mải đếm những ngọn sóng; nước mắt ứa ra vì mải nhìn
những chân trời; và những khối nước làm cho tai lùng bùng.
Ta không nhớ ra được cuộc chiến đã kết thúc như thế nào;
ngay cả con bao nhiêu tuổi – ta cũng không thể nhớ ra.
Vậy thì hãy lớn dậy, hỡi Telemachus con ta,
hãy lớn mạnh.
Chỉ thần thánh mới biết được chúng ta sẽ còn gặp lại nhau
hay không. Từ lâu con đã thôi là thằng bé con ta vẫn
phải đứng trước mặt để chận những con bò kéo cày
Nếu không có cái trò bịp của Palamedes
cha con ta đã vẫn còn sống bên nhau dưới một mái nhà.
Nhưng có lẽ ông vua kia có lý; sống xa ta
con lại an toàn khỏi lo mọi thứ đam mê kiểu Œdipus, và
những giấc mơ của con, Telemachus, sẽ không có gì tội lỗi.
--------------------------------
Dịch từ bản
Anh ngữ "Odysseus to Telemachus"
của George L. Kline, đăng lần đầu trên The New York Review of Books, số
ra ngày
5 tháng Tư năm 1973. Số báo này nằm trong xấp báo cùng tên, lẫn lộn với
những
số The New Yorker anh Diễm Châu để lại Saigon sau khi đã cắt đi những
bài anh
ấy muốn giữ có lẽ để đem theo qua Pháp. Bản dịch trên – một trong những
bản
dịch Brodsky “lâu đời” nhất vừa tìm thấy lại của tôi – vì thế, đã được
gửi gắm
cho tienve, để tặng và cám ơn nhà thơ Diễm Châu, khi đi Pháp đã không
quên để
Brodsky lại Saigon cho người dịch
này. Bài thơ
trên cũng được chọn in trong Selected Poems, Joseph Brodsky, Harper
& Row,
Publishers, 1973, và Collected Poems in English, Joseph Brodsky,
Farrar, Straus
and Giroux, 2000. Như chúng ta
biết, [?], những bản
dịch của G.L. Kline hầu hết đều được Joseph Brodsky xem lại.
*
“Như
chúng ta
biết, những bản dịch của G.L. Kline hầu hết đều được Joseph Brodsky xem
lại.”
HNB.
Như chúng ta
biết: Thú thực, GNV không biết!
Lần này, thư thả,
GNV đọc lại toàn bài dịch của HNB, thấy… dởm. Không chỉ 1 mà tới… hai
chỗ dịch
sai. Ngay ở đầu bài thơ, chúng ta đã được biết, cuộc chiến kết thúc ra
sao, vậy
mà, sau đó, nhà thơ Mít dịch câu thơ, I can't remember how the war came
out: Ta
không nhớ ra được cuộc chiến đã kết thúc như thế nào!
Nên dịch, ‘ta
không biết lý do cuộc chiến bùng ra’, đại khái thế, và liền đó, ông bố
nói, ta
cũng đếch có nhớ, mi, thằng con ta bao nhiêu tuổi, để nhấn mạnh cái trí
nhớ tồi
tệ của mình.
Từ “blameless”,
không có gì trách cứ, thì ông thợ dịch là “sẽ không có gì tội lỗi!
Dịch như thế, mà
dịch gần như suốt 1 đời, quả cũng là 1 điều “sẽ không có gì tội lỗi cả”!
A
wanderer, một người lang thang, dong duổi, thơ thẩn, "dong chơi một cõi
trời chỉ biết", mà dịch là 1 kẻ tha
hương, không đúng tinh thần Brodsky, như cái tay viết bài trên trang
net của Viện
Nobel chỉ ra.
Với ông Bengt
Jangfeldt này, Brodsky là 1 kẻ
bị trầm luân bởi cái thân
phận một đi
không trở lại. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Joseph Brodsky: Người
hùng
Virgil: Đi để mà đừng bao giờ trở về. A Virgilian Hero, Doomed Never to
Return
Home. Thành thử dịch, 1 kẻ tha phương, là không đúng.
Nên nhớ, Brodsky chẳng hề muốn
dời khỏi nước Nga. Nhà nước bắt ông đi, và bắt ông điền đơn xin được tự
nguyện
tha phương. Khi điền đơn, tới mục, tên người bảo lãnh ông ở nước ngoài,
ông phải
hỏi đấng công an bạn dân: Gọi ông này là gì, và tay công an gợi ý, ghi
là chú!
Và khi Brodsky hỏi lại, nếu tớ
đếch ký đơn tình nguyện lưu vong này, thì sao, tay kia nói thẳng, sẽ
‘hot’ nóng
lắm đấy!
*
And the mind
trips, numbering waves; eyes, sore from sea horizons
run; and the flesh of water stuffs the ears.
HNB dịch là:
Và trí tuệ lạc
bước,
vì mải đếm những ngọn sóng; nước mắt ứa ra vì mải nhìn
những chân trời; và những khối nước làm cho tai lùng bùng.
Thú thực, không
biết ông lấy ở đâu ra từ “lạc bước”!
Theo Gấu ở đây có
3 mệnh đề, với 3 động từ được chia, là ‘trip, run, và stuff’. GNV thử
đề nghị bản
dịch sau đây:
Và cái đầu dong
duổi, [lẩn thẩn] đếm những con sóng; cặp mắt nhức nhối chạy theo những
đường chân
trời; và khối nước nhồi đôi tai.
Từ ‘flesh’, thịt, ở
đây cũng “rất” Brodsky. Nó làm chúng ta nhớ tới câu thơ, "Bao thơ tôi,
ít nhiều chi, là về cùng một điều - về Thời Gian. Về thời gian làm gì
con
người". Và từ đó, tới câu thơ, “Bụi là thịt của Thời Gian”.
*
Trong bài thơ,
Khúc Ru Mỏm Cá Thu, “Lullaby of Cape Cod" (1975) Brodsky
miêu tả cuộc “dời” [his “move”] đi
Mẽo của ông, như là “thay đổi Đế quốc”. Cho dù ra đi, dời đổi, là mất
mát, là
gì gì đi chăng nữa, với ông, về bản chất, chẳng có gì là đổi thay,
nghĩa là ông
vẫn vậy. Nếu không chi ly từng chi tiết - nghĩa là, lẽ đương nhiên, một
đế quốc
này có thể tởm hơn đế quốc kia - đế quốc luôn luôn hiện hữu, và ‘mắm
sốt’ [même
chose] như nhau [empires have always existed and resemble one another],
mặc dù
thi sĩ bị đế quốc Xô Viết làm tình làm tội, nhưng ông không tin rằng,
có một hệ
chính trị đem đến cho con người một xã hội hoàn toàn. Kẻ Thù Lớn không
phải là
Không Gian, nhưng mà là Thời Gian.
Chính cách tiếp
cận thời gian của Brodsky đã xác định cái nhìn thế giới của ông. “Điều
làm tôi
quan tâm, và luôn luôn quan tâm nhiều nhất, đó là thời gian, và những
tác động
- những hậu quả - của nó lên con người. Cách chi chi, như thế nào, nó
thay đổi,
nghiền nát con người… Về mặt khác, đây
chỉ là một ẩn dụ, về điều thời gian làm, đối với không gian và với thế
giới.
Thời gian là tối thượng - tất cả cái còn lại, nghĩa là không phải là
thời gian,
thì đều là bị chi phối bởi “quyền lực của thời gian”, “tên cai trị”,
“kẻ sở
hữu”. Thời gian là kẻ thù của con người, và của tất cả những gì con
người sáng
tạo ra và trân quí chúng. “Điêu tàn là chiến thắng của khí trời và của
thời
gian”: "Ruins are the triumph of oxygen and time."
Thời gian, như
đỉa đói, bấu chặt lấy con người, và con người vì nó mà già khòm, xấu xí
mãi ra,
rồi chết, biến thành “bụi” –
“thịt của thời gian”, như Brodsky gọi. Những từ
chià khóa của thơ ông là: “splinter”, “[cái gai, cái dằm: Gai chích vô
thịt thì
đau, thịt chích vô thịt nhớ nhau trọn đời], “shard” [miểng kính bể],
“fragment”[ đoạn, mẩu]. Một trong những cuốn sách của ông có tên là Một
Phần
Lời. A Part of Speech. Con người – nhà thơ, nói riêng – là một phần của
ngôn
ngữ, mà ngôn ngữ thì già hơn anh ta, và sẽ còn cứ thế tiếp tục sống,
sau khi đã
tính sổ với tên hầu của nó, là con người – nhà thơ, nói riêng.
A Virgilian Hero, Doomed Never to
Return
Home
Vào
thời đại net như thế này,
tốt nhất, khi dịch, nên kèm theo nguyên tác, hoặc bản tiếng nước ngoài
mà dịch
giả đã dịch, từ đó. Trên TV, hầu như bài dịch nào cũng có nguyên tác
đính kèm,
là vậy. Thứ nhất, và trên hết, để độc giả đọc song song, và tham dự vào
phần
dịch, và nếu cần, đưa ý kiến, dịch sai hay đúng… Chỉ có cách đó, thì
theo thời
gian, chúng ta mới có được 1 bản dịch ngày một hoàn hảo. Dịch xong mà
đốt mẹ
nguyên tác, ai cũng dịch được hết.
Giấu
nguyên tác, thì cũng
tiếu lâm như “phịa” ra nguyên tác, dù đứng ngay kế bên, của 1 tay MC ở
trong
nước!
Trong
bài tưởng niệm Jospeh Brodsky,
khi ông mất, GNV kèm thêm phần viết về bạn mình, là nhà thơ Joseph
Huỳnh Văn;
một ông cũng viết lách lăng nhăng, vớ vỉn, xạc, bạn ông, thơ cỡ nào, mà
ông dám để kế bên Brodsky? (1)
Cả hai
ông Jospeh này đều dân Ky Tô.
Bạn đọc, dịch thơ Brodsky, đừng có quên, ông
là nhà thơ Ky Tô, như Milosz, cũng dân Ky Tô.
Sở dĩ
GNV không dám đụng vô thơ Brodsky, đa phần là vì Gấu là 1 tên
ngoại đạo!
(1)
Chết là hết, như người
Việt thường nói. Nhưng Volkov, trong bài viết tưởng niệm thi sĩ Joseph
Brodsky,
"Con sói cô đơn của thơ ca", đã trích dẫn câu thơ của nữ sĩ
Akhmatova, "Khi một người đàn ông chết, những bức chân dung của người
đó
thay đổi", và đưa ra nhận xét, "có chút chi lạnh lẽo ở hai dòng thơ
này". Theo ông, thường ra, khi được tin một người bạn mất, và được trao
công việc lọc lựa những bức chân dung, ông nhận thấy có những thay đổi
thật tế
vi, đôi khi gây kinh ngạc, từ nét mặt người quá vãng. Như thể thần chết
vạch
giùm cho chúng ta thấy một ý nghĩa, một viễn tượng nào đó, ở nơi người
chết,
chỉ sau khi đã phán bảo: người này chết rồi. Những giai thoại-sau cái
chết (the
posthumous legend) càng mạnh, hậu quả của chúng càng xáo trộn, ở nơi
những bức
chân dung đó. Và theo Volkov, chuyện như vậy đã không xẩy ra, trong
trường hợp
của Joseph Brodsky. Sau khi ông mất vì bịnh tim vào ngày 28 tháng Giêng
năm
1996 ở New York City, giai thoại về ông khi còn sống nhập hẳn vào những
bức
hình của ông, qua đó, là thời niên thiếu nổi loạn trong một thành phố
bị vây
hãm, cuộc vây hãm 900 ngày, dài nhất trong lịch sử cận đại, chưa kịp
hồi phục
bị giáng thêm đòn thanh trừng thời kỳ Stalin, rồi tới bản án theo kiểu
Kafka
của nhà nước Xô viết…
Người
viết đã có lần giới
thiệu bài tưởng niệm Joseph Brodsky, của T. Tolstaya, rồi nhân đó,
tưởng niệm
một nhà thơ Việt. Một người quen đã bực mình, tại sao lại để hai nhà
thơ kế
nhau như thế? Brodsky thì ai cũng biết, nhà thơ bạn anh, đâu có ai biết
đến mà
chơi cái trò ăn theo!
Tôi
thật sự ngạc nhiên, khi
bị hỏi như vậy, lần đó.
Trong
bài viết của Tolstaya
có nhắc tới một người thợ mộc ở Moscow,
nhân được phỏng vấn, đã trả lời: Tôi chỉ mong có một cuộc sống riêng
tư. Như
Joseph Brodsky!
Anh bạn
nhà thơ của người
viết sau 1975 đã làm nghề thợ mộc. Trước đó anh làm nghề dạy học. Anh
khoe, tìm
thấy những vân gỗ y hệt những vần thơ!
Cái ông thợ mộc chẳng ai biết
đến đó lại mong có một cuộc đời rất riêng tư của một nhà thơ được giải
Nobel
văn chương!
Cái ông thợ mộc bạn tôi, giả
sử như gặp nhà thơ Nga ở cái thế giới nào đó, có thể sẽ là hai người
bạn thân.
Tôi thực sự mong mỏi như vậy. Và tôi còn tin rằng Joseph Brodsky sẽ
thèm thuồng
cái số phận của anh bạn thơ của tôi, ở trong cái thế giới cả hai đã
cùng từ bỏ.
Nhà thơ
Nga bị nhà nước Nga
tống xuất, xin xỏ mãi để được ở lại, mà không được. Bạn tôi cứ tà tà ở
lại,
chẳng ai đuổi, và cũng chẳng thèm đi! Bạn tôi làm thợ mộc, nhà thơ Nga
phải làm
nghề mổ tử thi. Ông tự hào về nghề đó, và xấu hổ khi phải bỏ nghề. Anh
bạn nhà
thơ của tôi tự hào là một anh thợ mộc, và anh tìm thấy thơ ở đó, khi
không còn
có thể làm thơ được nữa.
Thử hỏi Brodsky có tìm thấy
thơ từ những xác chết hay không?
Anh bạn nhà thơ của tôi, là
bạn thân của Đỗ Long Vân.
Tôi viết bài tưởng niệm Đỗ
quân cũng trong ước vọng đó: được có một cuộc đời riêng tư như Đỗ quân.
Bởi vì cái cuộc đời riêng tư
đó thật là hiển hách vô cùng, đối với đám tụi tôi. Đám chúng tôi, khi
đi trình
diện nhập ngũ, trưng đủ thứ bằng cấp, để được đi học sĩ quan (bằng tú
tài), để
được biệt phái về một đơn vị không tác chiến (bằng chuyên môn)…
Đỗ quân, tuy bằng cấp đầy
mình, đã từng du học Paris,
giáo sư đại học, đi trình diện như một cái bang chẳng có một túi nào!
Sĩ quan, binh lính miền nam
trước 1975 thường mặc quân phục bó sát người. Kỷ niệm của tôi về Đỗ
quân, trong
lần tình cờ đi cùng anh bạn thi sĩ Joseph Huỳnh Văn ghé thăm ông tại
Đài Truyền
Tin Phú Lâm, là một anh lính trong bộ quần áo nhà binh rộng thùng
thình, tươi
cười, thoải mái. Tôi có cảm tưởng ông thoải mái hơn cả lần đầu gặp tại
quán Cái
Chùa, đường Tự Do.
Nguồn
Một số bài liên quan:
Ai cho phép mi là thi sĩ
Tưởng niệm DLV
Vô Kỵ giữa chúng ta
Trang DLV
Sở dĩ
GNV không dám đụng vô thơ Brodsky, đa phần là vì Gấu là 1 tên
ngoại đạo!
Nói rõ
hơn, thơ Brodsky có
nhiều điển cố (1), chưa kể cái nguồn Ky Tô giáo của ông. Ngay bài thơ
trên
đây, nhắc
tới mặc cảm [đam mê, chữ của Brodsky] Oedipe, cũng không đơn giản, có
thể vì vậy,
mà ông thợ dịch, dịch ‘những giấc mơ của
con,
Telemachus, sẽ không có gì tội lỗi’. Mặc cảm Oedipe
ở đây, móc
tới Hamlet, và cùng với ông hoàng này, là giấc mơ ngủ với mẹ, làm thịt
chú để
trả thù cho cha, móc tới xứ sở quê hương của Brodsky, móc tới Stalin
rất ghét kịch
Hamlet, cấm không được trình diễn, và 1 ông vua dựng kịch của Nga khốn
khổ vì nó.
Không
phải tự nhiên là Bác Hồ được gọi là cha già dân tộc, mà còn là do, bất
cứ
một anh VC đều mơ, ngủ dậy,
thấy ông bố của mình biến thành Bác Hồ, nghĩa là, đều ôm ấp
giấc mơ “làm thịt” cha đẻ của mình, coi Bác Hồ mới đích thực là cha!
Gấu đã
kể
về giấc mơ của anh sĩ quan trẻ trong Con Gái Viên Đại Uý của Pushkin
(2),
bị ông bố
đầy đi tiền đồn heo hút, và mơ thấy ông bố bị bịnh, đến gần giường vấn
an, nhìn
mặt bố, thì lại hoá ra là ông Pugachev, thủ lĩnh nông dân nổi loạn, sau
bị Nga
Hoàng xử tử. Hình tượng Hamlet
ám ảnh suốt cả lịch sử 1
nước Nga, và... lây lan tới tận xứ Bắc Kít!
Bạn không phải là Bắc Kít, bạn không
làm sao tưởng tượng ra được 1 ông bố Bắc Kít!
Phải đến khi BHD đi rồi, thì GNV
này mới hiểu ra được, dù chính Gấu cũng là 1 tên Bắc Kít, lý do làm sao
mà em bỏ
anh cu Gấu!
Thành
thử dịch thơ Brodsky, nói
rộng ra, bất cứ thơ của bất cứ ai, là cực khó. Trong số những ông dịch
thơ khủng
nhất, là DC, nghe nói, 1 ngày ông có thể làm thịt chừng 10 ông thi sĩ
ngoại, và
là chuyện thường ngày ở huyện đối với ông ta!
(1)
Ở
cuối tập thơ A Part Of Speech, phần tiểu chú, Notes,
cho thấy, có khi, chỉ 1 cái tít, thí dụ,
A Song to No Music, là cũng cần phải giải thích: nó liên quan tới
những cây
cối ở Nga, và là 1 đề từ Ivan
Turgenev sử dụng, nói lên tính chất của ngôn ngữ, tác giả đích thực là
1 dịch giả
Nga, thế kỷ 19, khi ông này dịch Shakespeare!
(2)
Nhà văn Nguyễn
Huy Thiệp, khi đưa ra một hình ảnh khác về Vua Quang Trung, theo thiển
ý, chỉ
để mọi người, nhất là đồng bào Miền Bắc, có một cái nhìn "thực tế" hơn
về vị "cha già dân tộc". Hình như vào thời điểm này, UNESCO dự
định
vinh danh Hồ Chí Minh. Hơn nữa, hình tượng "cha già dân tộc", hình
tượng hoàng tử Hamlet vốn đầy rẫy trong văn học cổ điển Nga. Trong "Cô
con
gái viên đại úy" của Pushkin, anh chàng thiếu úy trẻ bị ông bố đầy ra
một
tiền đồn heo hút. Anh nằm mơ thấy ông già bị bệnh. Tới bên giường, hóa
ra không
phải ông già "ruột" mà là Pugachev, một nông dân nổi loạn sau bị Nga
Hoàng xử tử. Không hiểu trong lịch sử Đảng CSVN có bao nhiêu kẻ mong
muốn kẻ
thù giết cha biến thành cha ruột của họ?
Nguồn
Ông bố
Bắc Kít của anh chàng
Kiệt ở trong Một Chủ Nhật Khác mà chẳng khủng sao, và "rất nhiều phần",
có phần đóng
góp của ông bố có thực ở ngoài đời của BHD. Ông bố BK của anh chàng
Tuổi Hai Mươi
Yêu Dấu, và cái chết của ông ta, chẳng là niềm ước mong của ông con
ghiền, biểu
tượng của suốt 1, trọn 1, tuổi trẻ Mít, kể từ. sau, 30 Tháng Tư 1975,
và cùng nó,
là thông điệp của Ông Tướng Về Hưu: Phải làm thịt ÔNG BỐ BẮC KÍT, thì
mới mở ra
cơ may cho nước Mít ?
Ông Bố Bắc Kít này chỉ là 1 biểu tượng, một Bóng Ma, mà nhập
thân của nó, là Bắc Bộ Phủ, là Cái Ác Bắc Kít, là Cha Già Dân Tộc, là,
là…..
Hà, hà!
*
Cái câu hát Tình Yêu như Trái Phá, đối với
riêng Gấu, nó đúng là giống như một cú mặc khải về cái chết, về tình
yêu.
Gấu đã lèm bèm về nó, nhiều lần, và cũng bị Gấu Cái cự đòi phen rồi:
Anh viết về nó, OK, nhưng tôi không hiểu tại làm sao anh lại viết về
“nó”,
trong 1 bài viết về ông nội của mấy đứa trẻ. Hử, hử?
Cả đời viết lách của Gấu, Gấu Cái chỉ bực, có hai lần, một lần là về
cái nick
Tuấn Anh. Tuấn là tên thằng cu lớn, còn Anh, là tên… cô bạn.
Và lần kia, là về Tình Yêu như Trái Phá, ở cái đoạn sau đây, trong
Tự Truyện
Ông bị đám người vũ trang thủ
tiêu bằng
cách buộc đá bỏ xuống sông, như lời một người bạn tù nào đó kể lại.
Theo lời
kể, cha anh đã không giả ngu giả dại như người khác. Cái tính lì lợm,
bướng
bỉnh nhưng dễ tin người, di truyền tới anh, trở thành ngu ngơ, khù khờ,
nếu
không muốn nói là đần độn. Có lần nghe anh kể tôi thấy tội nghiệp, đời
thuở nhà
ai chỉ vừa nghe nói tới tên cô bạn đã nghĩ ngay đây là người của mình,
rồi lặn
lội lên tận Đà Lạt, tới tận khu nội trú, chỉ để nghe, ở đây có một cô
sinh viên
có tên như thế nhưng đã về Sài-gòn.
Tôi biết anh còn muốn kể lại,
lần đầu tiên
anh xuống xe đò, đi lang thang trên con lộ dẫn vào quận lỵ, khi đi
ngang cây
cầu gỗ, rồi tiếng đạn từ chi khu bắn đi nghe chát chúa bên tai. Đó là
lần đầu
tiên anh nhận ra chiến tranh có thật, và tất cả những gì anh tưởng
tượng về cô
bạn đều có thật. Mặt nước sông nhăn nhó để lộ sự giận dữ của thiên
nhiên, vẻ
gớm ghiếc của số mệnh. Cùng lúc anh nhận ra nỗi đau khổ, sự thông cảm.
Sau mặt
nạ đầy hăm dọa của dối trá, anh nhận ra một khuôn mặt khác, một cuộc
đời khác,
đúng không, đúng không?...
*
Khủng khiếp thay là trí tưởng
tượng của
Gấu! Vừa nghe đánh ầm một tiếng, quả pháo đầu tiên từ chi khu bắn đi
làm mặt
nước sông run lên bần bật, là cái đầu của Gấu cũng ngộ ra là, mình yêu
cô bạn,
phải như thế, đúng như thế, nếu không làm sao có chấn động khủng khiếp
đến như
thế, vào đúng lúc đó ?
Nhưng có thể, cảnh phiên chợ vội vàng thu vén, chờ đêm xuống, giao lại
cho VC,
đã khiến cho tình cảnh thê thảm thêm lên chăng?
Ui
chao,
bao nhiêu năm trời, vậy mà đọc Rừng
Tràm một phát, là đồng loạt hiện về, phiên chợ chiều
Cai
Lậy, cây cầu gỗ, và cô
bạn, cô bạn….
NKTV
Ui chao, sao có người ngu như
thế, cô bạn
"chửi": Vừa nghe đến tên tui, vậy mà đã mê rồi, đã yên chí, đây là
"cô bạn" của mình rồi, thì đúng là cù lần!
Chờ đợi hàng hàng kiếp kiếp, chỉ để gặp tui, nhìn thấy tui, vậy là bõ
công chờ
rùi, thì đúng là đại cù lần!
*
Ông Tây mũi tẹt, như ông viết
ra thì GNV
này mới biết, chuồn qua Tây, ngay từ khi cuộc chiến chưa 'hứa hẹn những
điều
khủng khiếp', và sau đó làm nghề dậy học. Tự khoe, rất rành cả tiếng
Tây lẫn
tiếng Anh.
Tuy nhiên, sự kiện ông ta dịch Sa
Đọa của
Camus, từ những ngày chủ nghĩa hiện sinh đang ‘hot' đó, và sau đó, bặt
tiếng, cho
thấy, ông ta cũng 1 thứ thời thượng, thấy Camus đang ăn khách, thì
dịch, chứ cũng
chẳng biết gì về Camus, về cái sự, 1 thằng miệt vườn như Camus, tởm
Paris, tởm
cái đám Xác Xiệc như thế nào, và chính cái căn cước ‘miệt vườn’ của
Camus đó,
làm cho ông trở nên bảnh, và cho đến bây giờ, vẫn còn đọc được, và được
đọc, đúng
như Vargas Llosa nhận xét:
Để hiểu tác giả Kẻ Xa Lạ, thì chớ bao giờ quên ba món đặc sản,
đúng ra
phải nói, ba cái cù lần của ông: một kẻ miệt vườn, một tên ven biên, và
một gã
thuộc cộng đồng thiểu số, a provincial, a man of the frontier, and a
member of
a minority. Cả ba món này, theo tôi, đã góp phần tạo nên cách cảm, cách
viết và
cách nghĩ của ông.
Camus là một gã miệt vườn theo đúng nghĩa thật nghiêm ngặt của cái từ
này, vì
ông sinh ra, được dậy dỗ và trưởng thành ở một nơi thật quá xa thành
phố, khu
thị tứ, chốn phồn hoa, ở một nơi thật xa nước Pháp: Algeria, Bắc Phi.
Khi ông
dời hộ khẩu thường trú vào Paris, ông vào lúc đó là đúng cái tuổi Cụ
Khổng gọi
là tam thập nhi lập, Vargas Llosa viết, yếu tính mà nói, thì ông đã là
cái mà
ông sẽ là suốt cuộc đời còn lại sau đó, he was already in essence what
he would
be for the rest of his life.
Với tất cả những sự kính trọng, chúng ta có thể phán, Camus là một anh
chàng
nhà quê, cù lần, miệt vườn, theo nghĩa tốt nhất, và tệ nhất của những
cái nón
này!
Thứ nhất, bởi vì, không như mấy thằng cha sống ở những thành phố lớn,
ông sống
trong một thế giới mà ‘quang cảnh quê ta’ thì luôn luôn tràn trề, chỉ
có nó, và
nó mới quyến rũ, mới quan trọng làm sao, làm sao xi măng, cát vữa, nhựa
đường…
so với nó cho được! Cái tình yêu thiên nhiên của Camus thì thường trực
ở trong
tác phẩm của ông. Trong những tác phẩm đầu tay – Beteween Yes and No
[Giữa
Ừ và Không Ừ], Noces [Hôn Lễ, Trần Thiện Đạo, trên báo Văn ngày
nào dịch
là Giao Cảm, nếu Gấu nhớ không lầm], Mùa Hè, Minotaure
ou
halte d’Oran [The Minotaur or the Shop in Oran] - mặt trời,
biển,
cây cối, hoa lá, đất cứng, và những đụn cát nóng bỏng của Algeria là
chất liệu
thô, nguyên, ròng, sẵn sàng chờ được miêu tả, và mở ra suy tưởng.
Chúng là những điểm qui chiếu bắt buộc của tiểu luận gia trẻ tuổi, khi
ông toan
tính định nghĩa cái đẹp, nâng bi cuộc sống, hay lèm bèm về ‘ngứa quá,
ngứa quá’
[thiên hướng nghệ thuật, artistic vocation]. Cái đẹp, cuộc đời, nghệ
thuật, chúng
đan dệt vào với nhau, ở trong những bản văn ngắn ngủi, chau chuốt, tẩn
mẩn này,
và biến thành một thứ tôn giáo tự nhiên, a sort of natural religion,
một sự hợp
nhất thật bí ẩn với đất, với đá, với những thành phần thiên nhiên [Ngày
sau
sỏi đá cũng cần có nhau, là cũng theo nghĩa này], một sự thánh hoá
thiên nhiên
khiến tôi [Vargas Llosa] nhớ tới José Maria Arguedas, trong những cuốn
tiểu
thuyết của tác giả này cũng xẩy ra tình trạng tương tự.
Có thể nói, anh Tây mũi tẹt của
Mít chúng
ta, có đủ những phẩm chất, y hệt Camus, vậy mà thảm chưa, suốt 1 đời
chẳng làm
được cái trò trống gì, chỉ ngửa cổ chờ ‘hồng ân’, nghĩa là, chờ VC đại
xá, gật
đầu cho về, vậy mà cũng hống hách, chê hết người này đến người
khác, luôn
cả những người viết thuộc thế hệ thứ ba, thứ tư, chẳng hề biết "Tình
Yêu như
Trái Phá" là gì, nhưng vẫn ưu tư về nó, về 1 câu hát, của cái
thời
đó đó, cái thời mà anh ta bỏ chạy, chẳng biết 1 tí chó gì!
Cái đẹp, cuộc đời, nghệ thuật,
chúng đan
dệt vào với nhau, ở trong những bản văn ngắn ngủi, chau chuốt, tẩn mẩn
này, và
biến thành một thứ tôn giáo tự nhiên...
Vargas Llosa
Ui chao, đúng là thứ Camus mà
GNV này đã
đọc, cảm nhận, và sau đó, thuổng, và đẻ ra được tác phẩm đầu tay, nhà
thơ TTT
đọc một phát, sướng mê tơi, về khoe với bà cụ thân sinh, mẹ ơi thằng
Trụ nó
viết truyện đấy, và nó sẽ còn đi xa hơn DNM!
NB2. Có
một câu nói ác, bảo Camus
là triết gia của học sinh cấp ba, và Cioran bảo văn chương Camus là thứ
văn
chương tỉnh lẻ :p (đồng thời Sartre chẳng có gì đáng quan tâm cả).
Cioran cũng
là một cục đen hiểm ác, cực hiểm ác.
Blog NL
Không phải 1 câu, mà 1 cuốn
sách: Camus,
philosophe pour classes terminales
Sự kiện Cioran không khoái Camus,
thì cũng
đúng thôi, vì 1 bên là mặt
trời, 1 bên là đêm đen; cả chuyện coi ông là triết gia của lớp chót bậc
TH cũng đúng, vì cái thái độ đạo đức của ông, chỉ đám học sinh may ra
còn chịu nổi, hay tin được.
Điều làm GNV điên cái đầu, là, cái
ông Tẩy
mũi tẹt, tại làm sao lại chọn
cuốn La Chute để dịch ?
Chỉ đến khi thấy ông ta "về", và
phán nhảm,
thì Gấu mới vỡ ra là
Người chẳng có thú tội gì hết :
Sự thú tội của Clamence vẽ lên chân dung 1 con người bị cắn rứt bởi
tuyệt
vọng, tội lỗi và ân hận vì đã vờ 1 em tự trầm.
Nhưng Clamence còn đưa 1 tấm gương cho những người muốn dòm vào
đó,
theo
cái kiểu mà Nguyễn Huệ của NHT đã từng làm :
Hãy nhét cứt vào miệng chúng, để chúng nhận ra thân phận của chúng.
Trong NHT có cả ba, Clamence & Tướng Về Hưu & Nguyễn Huệ, là
vậy !
Hà,
hà !

1956: Cuộc chiến Mít chưa hứa
hẹn những điều khủng khiếp, và ông Tẩy thì chắc cũng mới chuồn qua Paris, hẳn thế?
Với riêng Gấu,
phải đến khi ra được hải ngoại, thì mới nhìn ra sự thân
quen giữa
Clamence và Tướng Về Hưu!
Sa Đọa
gióng lên hồi chuông
báo tử cho những kẻ tưởng là giải phóng, hóa ra là ăn cướp, tưởng xây
dựng thiên
đàng, hóa ra địa ngục, là 1 nước Mít hậu chiến.
GNV
Mô
phỏng:
La
Chute
sonne comme un
adieu de l'auteur à ses propres illusions:
Sa Đọa gióng lên
lời vĩnh
biệt của tác giả với những ảo mộng của chính ông.
Face aux désordres et à
la confusion du temps après 1975, j'ai pensé avoir déjà vécu
toute ma
vie, le temps qui me restait était quelque chose en trop, je ne me
donnais plus
la peine d'y penser. La désillusion était totale. En 1975, le
nouveau
régime m'envoyait en camp de rééducation avec mes amis « de la même
fête et
dans le même bateau », nous quittions la plaine pour les monts avec
calme et
indifférence, sans désespoir et sans espoir.
J'ai pensé « disparaître » sans espoir de retour, pourquoi pas comme le
déchet
emporté par l'inondation de l'histoire. Mais je me trompais.
Đối diện với
hỗn loạn,
tình trạng mơ mơ hồ hồ thời gian sau 1975, tôi
có cảm tưởng đã sống hết đời tôi, quãng còn lại chỉ là dư thừa, tôi
chẳng để ý
tới nữa. Ảo vọng là hoàn toàn. Năm 1975, chế độ mới đưa tôi đi trại cải
tạo,
cùng với bạn bè của tôi, "cùng hội, cùng thuyền"; chúng tôi rời đồng
bằng lên vùng rừng núi, dửng dưng, bình thản, không tuyệt vọng cũng
không hy
vọng. Tôi đã nghĩ mình "biến mất", chẳng mong ngày trở lại, như bọt bèo
trong cơn lũ lịch sử, tại sao không. Nhưng tôi đã lầm.
TTT: La
poésie entre la guerre et le camp
Thơ giữa chiến tranh và trại
tù
Ui
chao, chẳng lẽ đây là giấc đại mộng của những
anh nhà quê Bắc Kít, những anh Cu Sài, xẻ dọc Trường Sơn, hy vọng vô
được nước
Xề Gòn, kiếm tí chiến lợi phẩm, về làng cũ, xây cái nhà gạch nho nhỏ,
sửa sang
phần mộ cho ông cụ, cưới một em ở Xóm Đoài, Xứ Đoài mây trắng lắm?, và
cái anh
chàng Tướng Về Hưu, Jean Baptiste Clamence, sau khi xây dựng xong Địa
Ngục, bèn
đi vào miền Sa Đọa, The Fall, tên một tác phẩm của Camus, sám
hối, và
trong một khoảnh khắc trầm thống, rống lên như một con quỉ, Quỉ Bắc
Kít, trong
một cuộc độc thoại nội tâm:
“Ôi, mặt trời Bắc Kịt, ôi bãi biển Đồ Sơn, ôi những hòn đảo Hạ Long của
những
trận gió thương mại, ôi những hồi ức của thuở thanh niên, chúng mới làm
cho đám
Bắc Kít chúng ta chán chường làm sao!”
[‘Oh, sun, beaches, islands of trade winds, memories of youth that make
us
despair’].
Cái mẩu tóm tắt La Chute, trên, là từ số đặc
biệt về Camus, của tờ ML, hors-série.
Tờ này làm tới hai số, hoặc có thể hơn, về Camus, vì GNV có hai số về
Camus.
Camus 50 năm sau khi chết

Vérité, liberté, humanité
Par MINH TRAN HUY
Si l'idée d'une
panthéonisation
d'Albert Camus à l'occasion du
cinquantenaire de sa mort a fait couler beaucoup d'encre, de Jeanyves
Guérin
(1) à Michel Onfray, tous s'accordent cependant sur une chose: les
mérites de
l'œuvre et de la trajectoire d'un homme d'exception. La popularité de
l'écrivain est immense, en France et à l'étranger; André Brink (2) ou
Imre
Kertész le citent comme une de leurs références, on ne compte plus le
nombre de
rues à son nom en Europe de l'Est, L'Étranger
est l'un des romans les plus lus dans le monde. Une unanimité qui fait
oublier
qu'Albert Camus fut autrefois contesté des deux côtés de l'échiquier
politique,
y compris lors de ce qui aurait dû être une apothéose -l'obtention du
prix
Nobel fut accueillie avec hargne par les Kléber Haedens, Jacques
Laurent et
autres Lucien Rebatet.
L' écrivain fut pareillement
l'objet, lorsque
L'Homme révolté renvoya dos à
dos les « idéologies meurtrières» du nazisme et du marxisme tout en
critiquant
le libéralisme, d'acerbes formules allant de la «morale de Croix-Rouge»
(Francis Jeanson) à 1'« incompétence philosophique» (Jean-Paul Sartre).
On le
taxa d'angélisme et de tiédeur alors qu'il tentait de « penser les
limites »,
ainsi que le rappelle Alain Finkielkraut dans ce hors-série qui entend
éclairer
les différents visages d'un intellectuel engagé à qui l'Histoire a
donné raison,
d'un Français d'Algérie qui se situait « à mi-distance du soleil et de
la
misère », d'un écrivain qui s'est voulu fidèle à la beauté mais aussi
aux
humiliés: romancier, auteur de théâtre, essayiste, journaliste, Albert
Camus
fut un homme de son temps qui sut aussi aller contre son temps. Contre
les« noces
sanglantes de la répression et du terrorisme », les« utopies absolues»
légitimant la violence - et pour une justice incarnée, dans la
conscience
permanente du possible, du concret, du présent.
«Définir
les conditions d'une politique modeste, c'est-à-dire délivrée de
tout messianisme, débarrassée de la nostalgie du paradis terrestre » :
tel
était le but, dont l'audace n'apparaît qu'aujourd'hui, d'un humaniste
qui
rechercha toujours l'équilibre des contraires, et, jusqu'au cœur même
de la
révolte, la mesure au sens grec du terme. Non pas la modération ou la
mollesse,
mais une tension alimentant aussi bien la dénonciation des tyrans que
celle des
révolutionnaires extrémistes, rejetant la tentation nihiliste sans pour
autant
se faire la servante d'une abstraction idéologique. La vérité, qu'elle
soit de
droite ou de gauche, voilà tout ce qui importait à ce penseur du midi
qui fit
le choix de l'homme plutôt que de son concept, alliant dans sa quête
résistance
à l'oppression et refus du mensonge, attention à l'Histoire mais aussi
au
simple bonheur d'être, et offrit dans son discours de Stockholm l'une
des
définitions les plus justes du mouvement même de son écriture, et plus
encore
de sa vie: « Celui qui, souvent, a choisi son destin d'artiste parce
qu'il se
sentait différent apprend bien vite qu'il ne nourrira son art, et sa
différence,
qu'en avouant sa ressemblance avec tous. L'artiste se forge dans cet
aller-retour perpétuel de lui aux autres, à mi-chemin de la beauté dont
il ne
peut se passer et de la communauté à laquelle il ne peut s'arracher. » •
(1) Qui a piloté le remarquable et
très
complet Dictionnaire Albert Camus,
éditions Robert Laffont. « Bouquins» 092 p .. 30 €).
(2) Son admiration pour Albert Camus imprègne notamment ses mémoires,
Mes
bifurcations. traduits de l'anglais (Afrique du Sud) par Bernard Turle
éd. Actes
Sud. 544 p., 24.80 €.
LE MAGAZINE LITTÉRAIRE HORS-SÉRIE
no 16
Tháng Giêng & Tháng Hai 2010