Hôm nay nhân
loại nói chung một tiếng nói
Khi
là một học sinh trung học, tôi rất say mê môn toán. Mỗi lần sung sướng
vì tìm ra được lời giải cho một bài toán khó, khi cảm thấy có những lúc
gần gụi sự bí mật của những con số, tôi vẫn thấy mình bất lực vì không
làm sao chia sẻ niềm vui với tất cả, ngoại trừ một thiểu số bè bạn cũng
mê toán như tôi.
René Thom cho rằng toán học gia là những người rất buồn vì họ không thể
chia sẻ niềm vui với những người không phải là toán học gia, và ông tự
hỏi, toán học có phổ thông không. Người da đỏ, người Trung Hoa có lý
giải, raisonner, như những người Âu châu?
Ông là người Pháp, giải thưởng Field, 1958, tương đương với Nobel. Sở
dĩ không có giải thưởng Nobel về toán, chỉ vì mối giao tình giữa bà vợ
của Nobel với một toán học gia Thuỵ Điển khi đó, và giải thưởng này nếu
có, sẽ về tay ông ta, một điều không một ông chồng nào muốn.
Toán là một môn học phổ thông, chắc chắn như vậy, theo René Thom. Thoạt
kỳ thuỷ, toán học gốc Hy Lạp, hoặc ít nhất có hình thức thông minh cổ
Hy Lạp. Nhưng bằng những con đường khác biệt, cuối cùng các sắc dân
cũng đi tới những kết luận mang tính luận lý như nhau. Người da đỏ, khi
xây dựng những ngôi đền, người Trung Hoa, khi hoàn thiện âm lịch, họ
cũng đã "bịa đặt" ra hình tam giác, và tìm ra những tính chất của nó,
cùng lúc với những người Hy Lạp. Sự trùng hợp này không phải vì có một
tam giác như vậy ở ngoài đời, mà vì nó đáp ứng nhu cầu trí tuệ của nhân
loại. Cũng theo ý nghĩa đó, nhân loại cần tới văn chương, triết học,
nghệ thuật... Tới mức mà, giả sử không có một London, một St.
Petersburg thì Dickens, Dostoevsky cũng phải bịa đặt ra chúng. Và những
thành phố hoang tưởng như Bouville của Sartre, như Macondo của Garcia
Marquez, hoặc Đào Nguyên, Thiên Thai... của huyền thoại Đông Phương
nhiều khi thật, sống động hơn những thành phố có thực trên thế giới.
Nhưng chúng ta
mang ơn những người Hy Lạp ở nghệ thuật chứng minh. Theo
René Thom, người Trung Hoa, Người Nhật, người Da đỏ ghi nhận
(constater) chứ không chứng minh. Ngược lại, lý luận Hy Lạp không hề có
nhảy đoạn trong lý giải (raisonnement).
Trong những ngày
trung tuần tháng Bẩy 1995, tại Đại Học York, Toronto,
đã diễn ra cuộc thi Toán Quốc tế lần thứ 36, giữa những toán học gia
tương lai của nhiều quốc gia trên thế giới, nhật báo địa phương,
Toronto Star, viết: Hôm nay nhân loại nói chung một tiếng nói.
Phái đoàn Việt Nam gồm 6 em, 2 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, một
đồng. Cuộc thi thực sự mang tính cách cá nhân, nhưng so số điểm, phái
đoàn Việt Nam đứng hạng Tư, sau Trung Hoa, Romania, và Russia.
"Những toán học gia đều buồn...", tôi bỗng nhớ những ngày còn học Trung
học, nhớ tới câu nói của René Thom, buổi tối tại một nhà hàng ở
Toronto. Nỗi buồn càng thấm thía hơn qua câu nói khi giã từ của một em
trong đoàn: Giá Việt Nam được xếp hạng tư trên thế giới về văn minh, và
nếp sống hiện đại thì sung sướng biết chừng nào!
Hoang tưởng trong văn chương thì chẳng sao, nhưng hoang tưởng trong
quản lý kinh tế, trong quan hệ đối xử giữa con người với con người -
vốn quí nhất của xã hội - chỉ những người Cộng sản mới có riêng cho họ
thứ ngôn ngữ đó.
Nhưng đã có một
thời, những triết gia như Henri Lefèbvre, Aron, Merleau-Ponty... đã mơ
tưởng một thứ tiếng nói phổ thông, duy nhất, cho toàn
thể nhân loại: Chủ nghĩa Cộng sản. Thứ tiếng nói phi chính trị, phi
triết học, phi vong thân. Trước sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản, Louis
Althusser - trước thềm cái chết - đã ngậm ngùi than thở, chúng ta đã
sản xuất ra một triết học "ảo" cho Marx, một thứ triết học không có
trong tác phẩm của ông.
Trong bài mở đầu cuốn Signes (Ký hiệu, 1960), Merleau Ponty viết: "Chủ
nghĩa
Marxisme tìm thấy trong lịch sử những thảm kịch trừu tượng về Hữu thể
và Hư vô, nó đặt vào đó gánh nặng siêu hình lớn lao; điều này đúng, vì
nó nghĩ tới bộ khung, tới kiến trúc tính của lịch sử, tới sự xen lẫn,
bổ sung giữa vật chất và tinh thần, giữa con ngừơi và thiên nhiên, giữa
hiện hữu và ý thức, trong khi triết học chỉ đưa ra được bài toán đại số
và bản thiết kế. Thu tóm toàn bộ nguồn gốc nhân loại, chính trị cách
mạng đi qua trung tâm siêu hình này. Nhưng trong thời kỳ gần đây, chính
trị chỉ là thủ đoạn, một chuỗi đứt đoạn những hành động, những giai
đoạn không có ngày mai, và người ta 'buộc' vào đó tất cả những hình
thức của tinh thần và của cuộc sống. Thay vì nối kết những đức hạnh,
triết học và chính trị chỉ trao đổi cho nhau những cái xấu: Người ta có
một thực hành quỉ quyệt và một tư tưởng mê tín."
Bạn đọc thấy ngay
từ những năm 60, Merleau-Ponty đã nhìn thấy rõ kết cục bi
thảm của tương lai Cộng sản Việt Nam hiện nay: Hành động dã man, tư
tưởng tín điều.
Lý do là, theo
Merleau-Ponty, "nối kết mác-xít giữa triết học và chính trị
đã đứt rời". Và người ta cứ coi như nó vẫn như thế, theo nguyên tắc,
trong thế giới tương lai, nghĩa là thế giới ảo tưởng, điều Marx đã nói:
"Triết học, cùng lúc, được thực hiện và tiêu huỷ bởi lịch sử, cái phủ
định thì cứu vớt, cái tiêu huỷ thì hoàn tất." (La philosophie à la fois
réalisée et détruite par l'histoire, la négation qui sauve, la
destruction qui accomplit. Signes, p.13). Và ngay từ năm 1960,
Merleau-Ponty
đã tỏ ra sáng suốt, khi kết luận: "Cuộc vận hành siêu hình đó đã không
xảy ra." Thời đại đã chứng rõ ràng là, trong khi qui luật mác-xít đòi
hỏi, đừng tiêu huỷ triết học nếu không thực hiện nó, thực tế
Stalinienne tiêu huỷ triết học, giản dị có vậy.
"Những cuộc phiêu
lưu của biện chứng pháp", của Merleau-Ponty, xuất bản năm
1955, ghi lại những chặng đường phiêu lưu của chủ nghĩa Marxisme, kể từ
những người Bônsêvích tới Sartre, qua G. Lukács, tác giả cuốn Lịch Sử
và Ý Thức Giai Cấp, có thời được coi là Tân Thánh Kinh của những người
Cộng Sản, dù sau này tác giả phải phủ nhận tác phẩm khi bị buộc tội
theo chủ nghĩa xét lại. "Những cuộc phiêu lưu tới đó là hết."
Marx, chương cuối
trong 11 chương luận về Feuerbach, đã đưa ra một công
thức nổi tiếng bao gồm hết tham vọng lớn lao của ông: "Các triết gia
chỉ cắt nghĩa thế giới, bằng cách này cách nọ, nhưng vấn đề từ nay là
phải thay đổi nó đi". Thay vì trung thành với ông, chủ nghĩa Marxisme,
ấn bản Bônsêvích đã đưa vào đó ý niệm Léniniste về tập trung dân chủ và
quan niệm Trotskyste về cách mạng thường trực. Tư tưởng này đã làm đảo
điên thế kỷ 20. Cuộc Cách mạng Nga 1917 càng làm lời tiên tri của
Nietzsche là đúng: "Thời đại của những cuộc chiến tranh lớn lao, nhân
danh những tư tưởng thù nghịch." Lịch sử của thế kỷ đã nhịp nhàng diễn
ra qua bốn tiến trình kể từ cách mạng Bônsêvích: Thắng thế của chủ
nghĩa Léninisme trước chủ nghĩa xét lại của Bertein, và dân chủ xã hội
của Kautsky; chủ nghĩa Stalinisme nở rộ và chiến thắng Nazi mở ra đế
quốc xô viết; chiến tranh lạnh với những quốc gia dân chủ Tây phương,
sự đối đầu giữa hai khối ý thức hệ, được củng cố bằng những liên minh
quân sự, dưới lưỡi gươm ghê rợn của một cuộc chiến tranh nguyên tử; sự
sụp đổ tàn khốc và cùng lúc của Liên-bang Xô-viết, đế quốc Cộng Sản, và
của chủ nghĩa Mác-Lê như là Ý thức hệ quốc gia.
Triết gia Kostas
Papaioannou lại giải thích tiến trình trên qua "hai
mặt nạ lãng mạn" đã đi theo suốt cuộc đời Marx: Prométhée và Lucifer.
Về phía Prométhée, đó là sự phân tích xã hội kỹ nghệ. Về phía Lucifer,
lý luận về chủ nghĩa tập trung, những cuộc chiến toàn thể, ai thắng ai.
(Tài liệu tham
khảo: Tạp chí Văn học, Magazine Littéraire, số đặc biệt
về Marxisme)
Maurice Merleau-Ponty (March
14, 1908 – May 4, 1961) was a
French phenomenologist philosopher, strongly influenced by Edmund
Husserl, and
often somewhat mistakenly classified as an existentialist thinker
because of
his close association with Jean-Paul Sartre and Simone de Beauvoir, and
his
distinctly Heideggerian conception of Being
From
Wikipedia, the free encyclopedia
Triết gia hiện
tượng học Pháp, ảnh hưởng nhiều từ Edmund
Husserl, thường được hiểu lầm là triết gia hiện sinh, do cặp kè với đám
Sartre
và de Beauvoir, và do quan điểm mang tính Heidegger của ông về Hữu Thể.