Phỏng vấn Ilya
Prigorine
Trong bài Đối Thoại của Lê Đạt, mới đăng trên Talawas, có nhắc tới
Prigorin. Như một món quà đáp ứng, xin có thêm một chút tư liệu về ông
này.
Prigorine được Guy Sorman coi là một trong “Những tư tưởng gia thứ
thiệt của thời đại chúng ta”, Les vrais penseurs de notre temps, [nhà
xb Fayard, tủ sách Bỏ Túi]. Đây là nhan đề cuốn sách gồm những bài
phỏng vấn của ông.
Sorman kể lại, khi còn là sinh viên ở Paris, đã từng chiêm ngưỡng cặp
tình nhân và cũng là cặp bài trùng tư tưởng, hai đỉnh cao của triết học
hiện
sinh, là Sartre và Simone de Beauvoir. Chiêm ngưỡng chỉ là chiêm ngưỡng
mà thôi, ông thú nhận, và ân hận, vì đã không dám giáp mặt để làm một
cuộc
phỏng vấn. Thành thử với ông, Những tư tưởng gia... là một trong những
giấc
mơ thời niên thiếu đã được thực hiện. Một thứ thư viện sống, như trong
bài
tựa của cuốn sách của tác giả cho biết.
Ông cũng giải thích, theo ông, thế nào là một tư tưởng gia thứ thiệt.
Theo ông đây là người mà một khi người đó xuất hiện, người ta không thể
suy nghĩ như là trước nữa, trong cái ngành nghề riêng biệt của tư tưởng
gia đó.
Ông lấy thí dụ: Lévi-Strauss. Sau khi ông này xuất hiện, người ta không
thể nào suy nghĩ về môn nhân học (anthropologie) như trước nữa. Hay là
Noam Chomky, với môn ngôn ngữ học. Đây là những nhà tư tưởng “cắt đứt
truyền thống” [les hommes de ruptures: những con người của sự đứt
đoạn], để lên đường, nhưng
lên đường và đi tới nơi tới chốn hay không là còn tùy. Bởi vì chưa chắc
mấy
ông nội này tất cả đều có lý, khi cắt đứt [truyền thống], nhưng rõ ràng
là
tư tưởng của họ mang tính cách mạng. Những con người của cắt đứt
này còn
là những con người dám vượt bờ ngăn. Đa số họ là “những nhà xây cất hệ
thống”
[les constructeurs de système], chữ này Sorman cho biết, ông mượn của
sử
gia người Anh, Isaiah Berlin. So với thế kỷ trước, chúng ta nghèo hơn,
về
mấy ông xây dựng ý thức hệ, nhưng lại khấm khá hơn, nếu nói về những
nhà
xây dựng những hệ thống khoa học.
“Một nghệ sĩ thứ thiệt là kẻ đối thoại với tác phẩm của mình, kẻ bịp
bợm, lo mơn trớn đám đông”, câu nói của nhà sử học về nghệ thuật Ernst
Gombrich cũng là một châm ngôn mà Sorman dựa vào đó lọc ra những nhà tư
tuởng thứ
thiệt, bởi vì ông tin rằng, câu nói trên đúng, với bất cứ một ngành
ngề,
một môn khoa học nào. Thành thử, trong những người mà ông phỏng vấn, có
người
được biết đến, hoặc không, nhưng không hề có những con người nổi tiếng
(célèbres).
Ông thú nhận, trong khi mời chào những khách hàng để đưa vào “bảng
phong thần”, có ông “nói thẳng” vào mặt ông, “Tớ đếch có ham!”, thí dụ
như triết gia Đức Jurgen Habermas, một trong những trụ cột của trường
phái Frankfurt. Bởi vì tôi [Sorman] không làm sao hiểu nổi những tác
phẩm của ông, và tiếng tăm của ông thật là đáng kể, tôi nghĩ, một cuộc
nói chuyện với ông sẽ soi sáng cho tôi nhiều vấn đề. Nhưng Habermas
không bao giờ nói chuyện với những ai không chia sẻ những quan điểm
chính trị của ông. Một người nữa, là Ivan Illich, sáng lập viên thần
học về giải phóng [fondateur de la théologie
de la libérarion] của Mỹ châu La tinh, kẻ thù của tiến bộ, của trường
học,
và của y học, một nhà tư tưởng ngược ngạo (paradoxal), nổi tiếng hai
mươi
năm trước đây [cuốn sách của Sorman xuất bản năm 1989], tôi nghĩ, có
thể
bây giờ là lúc kéo ông ta ra khỏi lãng quên, nhưng ông lắc đầu, “Đừng,
đừng!”,
ông giải thích thêm, “Những tư tưởng của tôi quá cơ bản để mà phổ biến”
[Mes
idées sont trop fondamentales pour être divulguées].
Câu nói của ông làm người viết nhớ tới một giai thoại về Hegel, theo
đó, khi ông sắp đi, đệ tử xúm xít chung quanh coi thầy có dặn dò gì
không. Thầy nói, “Trong đám ngươi, có một thằng hiểu ta.” Đệ tử hồi
hộp, chờ thầy phán tiếp..... “Tội nghiệp cho nó, và luôn cả cho
ta, nó hiểu sai!”
Rồi đi luôn!
Ilya Prigorine được Nobel hóa học năm 1977, vì đã “đem lại sức sống cho
khoa học, nhờ những lý thuyết mầu mỡ nhằm nghiên cứu nhiều vấn đề, từ
lưu thông xe cộ, những xã hội của những loài côn trùng, tới sự phát
triển những tế bào ung thư...”, qua lời khen tặng của hội đồng Nobel
khi trao giải.
Nhà bác học Bỉ sinh tại Moscow năm 1917. Gia đình ông di sang Berlin
vào năm 1922. Biến cố Nazi khiến họ phải chạy qua Buxelles. Mê đủ thứ,
âm nhạc, văn chương, triết, thế rồi, bị “chấn động” [frappé] bởi quan
niệm về thời gian của triết gia Pháp Bergson, ông quay qua khoa học.
Ngay từ năm 1939, nghiên cứu của ông xoáy vào định luật thứ hai của môn
thermodynamique [nhiệt-động lực học], theo đó, sự mất trật tự [le
désordre] tăng lên trong một hệ thống khép kín, với bất cứ loại
năng lượng nào, cho tới lúc năng lượng biến mất... Từ định luật này, có
thể suy ra rằng, vũ trụ có khuynh hướng tiến tới một sự cân bằng “thê
thảm” [mortel: chết người], khi mà tất cả năng lượng bị
nướng hết [gaspillé: phí phạm]. Đây là [hiện tượng] “mũi tên của thời
gian”
[la flèche du temps]. Prigorine nghiên cứu những điều kiện thật cách xa
cân
bằng nói trên, và vào năm 1946, đã có ý nghĩ, rằng, những hiệu quả của
thời
gian có thể đẻ ra những cơ cấu mới.
Năm 1954, ông cho xuất bản cuốn Dẫn nhập vào môn nhiệt động lực học của
những tiến trình không thể nghịch đảo [des processus irréversibles].
Những cân bằng nhiệt động lực mà ông gọi là “mù” [aveugle] thì thật
hiếm trong vũ
trụ. Và những hệ thống mất cân bằng, thí dụ như những thành phố, hay là
những
tế bào, có thể sống sót trong những môi trường kém tổ chức [moins
organisé]. Prigorine chứng minh, trong những điều kiện cách xa
[éloigné] của diểm cân bằng, những biến động [fluctuations] có thể tự
ổn định. Những cơ cấu mà
ông coi là vung vãi, hoang phí [srtuctures dissipatives], chẳng hạn như
Cuộc Sống, đích thị nó, là một thí dụ, có thể kéo dài, bằng cách chôm
chĩa
năng lượng cần thiết cho môi trưởng hỗn mang của nó, rồi lại hoang phí
tiếp
ra bên ngoài [... peuvent ainsi durer, captant l’énergie nécessaire de
leur
environnement chaotique, puis la dissipant à nouveau à l’extérieur].
Nhóm nghiên cứu của ông ở Bruxelles, gồm sáu chục nhà khoa học, từ
nhiều môn khác nhau, hiện đang thử nghiệm quan niệm về cơ cấu hoang phí
trong
nhiều bộ môn: xã hội học, sinh học....
Những tác phẩm của ông gồm có:
Cơ cấu, sự ổn định và những biến động, Structure, stabilité et
fluctuations, nhà xb Masson, 1971.
Vật lý, thời gian và sự trở thành, Physique, temps et devenir, Masson,
1982.
Liên Minh Mới: Hóa thân của Khoa học, La Nouvelle Alliance:
Métamorphose de la Science (cùng với Isabelle Stengers), Gallimard,
1986.
Giữa Thời Gian và Thiên Thu (với Isabelle Stengers), Fayard, 1988.
Trật tự hay Hỗn mang: Prigorine vs René Thom
Quan niệm của chúng ta về thế giới bị ảnh hưởng bởi khoa học vật lý.
Một khi chúng ta cho rằng vũ trụ giống như một cái đồng hồ tuân theo
những qui luật bất biến, như vậy chúng ta là những đứa trẻ của Newton
và của môn cơ học của ông. Và chúng ta thật dễ dàng cho rằng những môn
khác như chính
trị, kinh tế... chúng cũng tuân theo những định luật bất biến.
Một cái nhìn mang tính cơ học như thế về vũ trụ là không có tính khoa
học, theo Ilya Prigorine. Đây chỉ những lý thuyết nẩy sinh từ thế kỷ 17
và đã
bị vượt qua, và bất hạnh thay, vẫn được đem ra giảng dạy tại trường
lớp.
Phải thay thế nó bằng môn vật lý học đương thời, được thành lập trên cơ
sở
của lý thuyết về xác xuất (la probabilité). Điều mà chúng ta tưởng như
là
một trật tự đã an bài, và bất biến, thật ra chỉ là hỗn mang, bất định
(indéterminé): Chẳng hề có đồng hồ, người làm ra đồng hồ, chẳng hề có
thần thánh, trần
tục, thế giới là một hỗn mang, không thể tiên đoán, mang tính đột xuất.
Như mọi môn khoa học nhân văn, những môn vật lý học, chúng chỉ là tổng
số
những ngẫu nhiên, bất ngờ!
Đâu phải như vậy, nhà toán học người Pháp René Thom đáp lại. Hỗn mang
ngự trị khoa học hiện đại chỉ là tạm thời. Đừng bao giờ từ bỏ việc tìm
kiếm
những định luật bất biến của vũ trụ. Thế giới có trật tự, thông minh,
theo
nghĩa có thể hiểu được nó. Thảm họa của khoa học hiện đại là do nó từ
bỏ
việc tìm hiểu vụ trụ, thế giới, khoa học hiện đại chỉ là một nghĩa địa
của
những sự kiện, một sự tích tụ những thông tin trên những máy tính,
chẳng
có một lý thuyết dẫn giải chúng. Khoa học hết suy tư, chính vì thế mà
nó
đang bị trục trặc, Thom kết luận.
Có một điều giống nhau, là cả hai đều tỏ ra thù nghịch với tính tản mạn
của tri thức, và đều tin rằng, khoa học nhân văn và khoa học chính xác
bị kết án phải giầu sang lên mãi mãi, nếu không muốn cùng theo nhau
chìm xuồng.
Theo Ilya Prigorin, chúng ta đừng tin rằng những lý thuyết khoa học là
những định luật được giấu diếm đâu đó, để chờ những nhà tìm kiếm tình
cờ
khám phá ra được. Vẫn theo ông, sáng tạo khoa học thì cũng hiện hữu y
chang
(au même titre) sáng tạo nghệ thuật. Lovelock có lý, khi cho rằng những
nhà bác học, vật lý, hóa học, họ là những tác giả, đúng như ý nghĩa của
từ này, khi dùng để chỉ những nhà văn.
Được thế giới biết đến qua những nghiên cứu về những cơ cấu không-cân
bằng (structures non-équilibres), đồng tác giả với Isabelle Stengers,
cuốn sách gây chấn động vì tính ngược ngạo của nó, Liên Minh Mới, Ilya
Prigorine gốc Bỉ, di dân từ Nga, năm 1921, khi mới 4 tuổi. Học
Bruxelles. Những gốc rễ
như vậy, cùng cái tên của ông, khiến cho báo chí, vào lúc ông được
Nobel
hóa học vào năm 1977, đã coi ông là dân Nga. Cực kỳ thông minh, nhìn
biết
liền, đúng như cảm tưởng của tôi [Sorman], về “tư tưởng gia thứ thiệt”,
khác
biệt hẳn với thứ dởm, ở cái vẻ khiêm tốn và giản dị của họ.
Khám phá lớn lao, là để dành cho thiên tài.
[Il n’y a pas de grandes découvertes sans un auteur de génie]
Đúng là trong những thời kỳ bình thường, nhất là với những môn học đã
đạt tới sự trưởng thành, bước tiến của khoa học gần như “vô ngã”
(impersonnelle), mang tính năng nhặt chặt bị [cumulatif: tích lũy], và
thêm nhà nghiên cứu này, hay bớt đi nhà nghiên cứu nọ, chẳng làm thay
đổi thành quả. Nhưng với những khám phá mang tính cách mạng, luôn xuất
hiện thiên tài, không chỉ
một, mà là “quần hùng tụ hội”, “Hoa Sơn luận kiếm” [“constellations de
génie”]: Đây là trường hợp xẩy ra ở đầu thế kỷ 17, thiên tài xuất hiện
như “lá mùa thu”: Copernic, Kepler, Galilée. Gần đây thôi, là Einstein,
Broglie, Heisenberg và Schrodinger. Thiếu Einstein, làm sao chúng ta có
lý thuyết tương đối?
Bộ dễ kiếm ra một Einstein thứ nhì? Từ đó suy ra: Tiến bộ khoa học
không
thể nào là thành quả của một định mệnh thuyết mang tính lịch sử. Cứ giả
sử
nhân loại một ngày đẹp trời nào đó, tiến tới chủ nghĩa CS, theo nghĩa,
không
còn người bóc lột người, do quá thừa mứa cái ăn cái mặc cái chơi, như
vậy
cũng không thể có cái chuyện ai cũng như ai, rằng, anh “mê gái” cũng
nhiều
như... tui được! Những lý thuyết vốn chỉ là những giả thuyết tạm thời,
những
công thức, kết luận mang tính cá nhân, qua thử thách của thời gian,
những
lý thuyết thí dụ như của Copernic, Newton, hay Einstein, ngày càng trở
nên
“xác định” [définitives] hơn. Chân lý khoa học, như vậy, không mang
tính
toàn thể. Thí dụ như môn cơ học cổ điển. Nó vẫn còn có giá trị vào thời
buổi
bây giờ, nhưng chỉ trong miền (domaine) của những vật thể nặng nề
(objets
lourds), thí dụ như là những hành tinh! Ngược lại, khi phải diễn tả sự
tiến
hóa của những vật thể “nhẹ” của thế giới tiềm-nguyên tử (subatomique),
Newton
chịu thua! Phải đưa vào đó môn cơ học lượng tử, một sáng tạo của thế kỷ
20.
Khoa học là một chuỗi những giả dụ có thể bị phản bác, và giả dụ như có
một
giả dụ vượt lên khỏi mọi phản bác, một “chân lý” như vậy sẽ thuộc vào
miền
của ma thuật, huyền thuật, chứ không phải của khoa học.
Khoa học đẻ ra từ Tây phương.
[La Science ne pouvait naitre qu’ en Occident]
Nếu chúng ta chấp nhận, cùng với Prigorine, rằng, bác học là những
người đối thoại với Thiên nhiên, như vậy tại sao, có những thời kỳ,
những nền
văn minh, thiên tài xuất hiện khá xôm tụ, cùng với họ, là những khám
phá
lớn lao, so với những thời kỳ khác, những nền văn minh khác? Tại sao,
nền
khoa học được thành lập bởi Descartes và Galilée, xuất hiện ở Tây
phương
mà không ở nơi khác? Câu trả lời, theo Prigorine, không nằm ở sự thông
minh
của những dân tộc hay những cá nhân, mà chỉ kiếm thấy ở trong những
hoàn
cảnh lịch sử hay văn hóa.
Khoa học xuất hiện cùng với [en fonction de] ý nghĩ, tư tưởng con người
về vũ trụ. Nếu một dân tộc tin rằng có một đấng Sáng Tạo là cội nguồn
của thế giới, và đấng Sáng Tạo đó sẽ quyết định tương lai của họ, từ
một niềm tin như vậy sẽ là những luật lệ, và cùng những luật lệ, là một
tương lai được
phân định (discernables). Vào thế kỷ 17 những định luật về Thiên Nhiên
qui
chiếu về một Nhà Lập Pháp tối thượng. Phần việc của những nhà bác học,
là
giải mãi (décoder) những luật thiêng, và những nhà bác học như thế có
thiên
hướng trở thành những người biết hết hiểu hết. Sự xuất hiện của một nền
khoa
học Tây Phương vào thế kỷ 17 là một hiện tượng cộng hưởng [résonance]
với
thần học của thời kỳ đó.
Đó là cái mẫu mã khởi đầu của khoa học Tây Phương được nhập thân bởi
hai nhà bác học của họ, là Newton và Leibnitz. Quan niệm cổ điển về
khoa học
như thế, coi Thượng Đế là một đảm bảo cho những luật lệ thiêng liêng,
vĩnh
cửu. Người đại diện cuối cùng của nền khoa học cổ điển nói trên, là nhà
bác
học Einstein, theo Prigorine. Công thức nổi tiếng của Einstein, “Thượng
Đế
không chơi xúc xắc” [Thượng Đế không đổ xí ngầu], khẳng định một sự
thực
thiêng liêng về Vũ Trụ và những luật lệ độc lập đối với cuộc sống ngẫu
nhiên,
tùy tiện của con người.
Nhưng một niềm tin về một Thượng Đế vạn năng và rất ư là thuần lý
(rationnel), như là một điều kiện cần thiết cho sự xuất hiện của khoa
học, chưa đủ. Cần phải có một ông Trời mạnh, theo Prigorine, chống lại
một ông vua “yếu”,
chống lại cái “trò chơi” (jeu) chính trị, và xã hội từ đó nẩy sinh nỗi
âu
lo về tinh thần, và đây là nguồn cơn đưa đến những cuộc tranh luận
thuờng
trực ở thời Trung Cổ tại Âu Châu, giữa những giáo hoàng và những vua
chúa,
chính từ đó mà tư tưởng độc lập đã nẩy sinh. Một trong những “trò chơi”
trí tuệ đáng kể đã xẩy ra vào thế kỷ 19 tại Vienne, nhờ nó mà những cấu
tạo lý thuyết tuyệt vời nhất của thời đại chúng ta đã nảy nở, phát
triển,
nhất là môn cơ học lượng tử và thuyết tương đối.
Một bên là sơ đồ Âu Châu như trên, một bên là Trung Hoa: Tại sao khoa
học hiện đại không nẩy sinh từ Trung Hoa? Theo Prigorine, câu trả lời
vẫn là
về một trật tự văn hóa. Quyền lực vua chúa trấn áp, triệt tiêu mọi tư
tưởng
đổi mới, một khi nó ló mòi làm loạn, nghĩa là làm xáo trộn trật tự xã
hội.
Ngoài ra còn là vấn đề này: những quan niệm thần học của Trung Hoa phù
hợp
với một viễn ảnh toàn cầu, toàn tiến (holiste), của Vũ Trụ. Một
quan niệm
như thế sẽ tỏ ra thờ ơ trước một nghiên cứu những định luật cơ học.
Ngược
hẳn với Âu Châu, Trung Hoa mạnh về khả năng, quyền năng (pouvoir fort),
nhưng yếu về thiên tính (divinité faible), chính vì vậy mà họ đã có
những khám
phá cơ bản thí dụ như la bàn, thuốc nổ, bánh lái (gouvernail), nhưng
chúng
không được đưa vào thực hành, thành thử không gây những đột phá quan
trọng
thay đổi hẳn bộ mặt xã hội.
“Bạn thấy đấy,” Prigorine bảo tôi, “Những nhà bác học không phải là
những con người không chút dây mơ rễ má (déincarné), mà là một phần tử
của bộ
lạc mà người đó sống. Văn hóa môi trường hướng dẫn những nghiên cứu tìm
tòi của nhà bác học, giống như mùi vị của tiền bạc và quyền lực.” Những
mũi nhọn chĩa vào môn sinh học, thí dụ vậy, là hậu quả của nỗi lo sợ về
bệnh
ung thư, hay nhắm vào môn vũ trụ học, là do nỗi lo âu, hoặc nghi ngờ,
có
hay không, một đấng Sáng Tạo. Đây là môi trường lịch sử và văn hóa nẩy
sinh
nền khoa học cổ điển của chúng ta, nhưng một hình ảnh như vậy về khoa
học
đã trở nên lổi thời, không chỉ lỗi thời, mà còn sai lạc (fausse).
Vũ Trụ không còn là đồng hồ, mà là hỗn mang.
Trong kiểu mẫu cổ điển của khoa học vẫn tiếp tục được giảng dậy ở lớp
học, những định luật của Vũ Trụ thì đơn giản, đối xứng, tất định, và
không thể đảo ngược được, và cái đồng hồ có thể coi như một biểu tượng
của nó, với
sự chuyển động bất biến, và có thể thấy trước được. Trong cái bản vẽ
(schéma) như thế đó, vật chất tuân theo những định luật, nhưng con
người, ngược lại, thì tự do. Đây là thế luỡng nguyên (position
dualiste) của Descates, và
nó đã đánh dấu, chỉ danh triết học Tây Phương, là như thế đó. Từ đó đẻ
ra
sự phân chia văn hóa của chúng ta [Tây Phương], giữa, một bên là khoa
học
nhân văn [thí dụ như lịch sử, hay tâm lý học], và một bên là những môn
khoa
học chính xác. Với môn nhân văn, thời gian và biến cố giữ một vai trò
thiết
yếu. Với khoa học chính xác, những định luật của chúng thì vô thời
[intemporelles].
Vào những năm đầu của thập niên 1920, thế giới khoa học xẩy ra một cuộc
cách mạng bản vẽ trên, với sự xuất hiện của môn cơ học lượng tử. Người
ta hiểu ra rằng, ở mức độ của những điện tử, khoa vật lý cổ điển chẳng
có một chút giá trị, và chúng ta bước vào một thế giới khác, thế giới
của những điều
bất trắc, không thể tính trước được. Rằng cái cấu trúc của vật chất
không
còn có thể định nghĩa bằng những định luật xác định, mà bằng những kiểu
mẫu
của xác xuất (modèles de probabilité). Thoạt đầu, những nhà bác học
giải
thích, những biến động (perturbations) ở trong Vũ Trụ là do sự đo đạc
của
con người mà ra. Người ta tin rằng, quan sát viên, tức con người, gây
ra
sự bất ổn định. Nhưng tới cuối thế kỷ 20, Prigorin khẳng định, chúng ta
biết
rằng vật chất thì không bền (instable), và Vũ Trụ, mà chúng ta nghĩ
rằng
bất biến, chính nó cũng có một lịch sử. Thế giới vật lý của chúng ta
không
phải là một cái đồng hồ mà là một hỗn mang không thể nào tiên đoán
trước
được. Tất cả những lý thuyết theo kiểu xâu chuỗi bắt buộc, nguyên nhân
như
thế, thì đưa đến hậu quả như thế này, chúng lần lượt được thay thế bằng
những
bài tính về xác xuất. Lẽ dĩ nhiên, người ta luôn luôn có thể biết
trước, từ những bản vẽ cổ điển theo kiểu Newton, vị trí của trái đất ở
một thời
điểm 5 ngàn năm sau, nhưng Prigorin nhấn mạnh, những chuyển động tuần
hoàn,
ổn định như thế đó, là ngoại lệ: phần lớn những hệ thống động lực thực
sự
luôn ở trong trạng thái không ổn định. Một thí dụ thật đơn giản, những
cũng
thật ấn tượng mà Prigorin đưa ra, là [môn] khí tượng (météo).
“Hiệu ứng bướm” khiến con người khó tiên đoán về Trái Đất.
Làm sao con người có thể tiên đoán, suốt cả một thế kỷ, đường đi nước
bước [le passage] của một ngôi sao chổi, vậy mà không làm sao tiên
đoán, thời
tiết ngày này tuần sau, sẽ ra sao? Môn khí tượng, theo Prigorin, chỉ
tiên
đoán [giả thuyết] khí hậu thời tiết không quá con số 4 ngày. “Dư luận”
cho
rằng, nếu trang bị cho những nhà khí tượng những máy móc tân kỳ, hiện
đại
hơn, họ có thể tăng con số 4 nói trên thành 8, hoặc 30, tức là một
tháng.
Sai! Prigorin trả lời. Thời gian là không thể tiên đoán, theo như định
nghĩa
về nó. Nó là kết quả của một tổng số những bất trắc: Đây là một hệ
thống
động lực không ổn định. Nói như vậy, có nghĩa, rằng một sự thay đổi nhỏ
bé
(moindre variation) ở một nơi chốn nào đó, có thể gây ra [entrainer]
những
hiệu quả đáng kể. Người ta gọi đây là “hiệu ứng bướm”: một tiếng đập
cánh
của một con bướm tại Bắc Kinh có thể gây ra một luồng hơi nhẹ (un
souffre
léger), và cái làn hơi nhẹ nhè nhẹ này, cứ thế cứ thế [de proche en
proche]
đẻ ra [donnera naissance] một trận bão, ở California.
Một thí dụ cơ bản nữa, về hệ thống của Prigorin, là: đồng tiền. Khi
chúng ta chơi trò sấp hay ngửa, bằng thống kê học, người ta tính đuợc,
tới một
lúc nào đó, đồng tiền “thích” phô ra, chỉ một mặt, hoặc hay sấp, hoặc
hay
ngửa [hình như mấy ông hay chơi sóc dĩa quá rành chuyện này, mà họ gọi
là
hiện tượng “rền”, nếu tôi không lầm?] Hãy tưởng tuợng chúng ta có trong
tay
một cái máy điện toán, và tính được tất cả những giai đoạn, rền sấp
hoặc
rền ngửa đó, như vậy
chắc
chắn chúng ta sẽ tiên đoán được, bỏ qua trường hợp tiền múa chúa cười
của
Trạng Quỳnh (?) khi đánh bạc với bà Chúa Liễu (?), chuyến này, là chẵn
hay
là lẻ. Hoàn toàn sai!, Prigorin trả lời. Không làm sao tính nổi, bởi vì
đồng
tiền bắt buộc sẽ trải qua những vùng bất trắc, những bước ngoặt [của
lịch
sử], những “bifurcations” [chỗ rẽ]. Trong một hệ thống động lực không
bền,
một điều kiện tiên khởi [condition initiale], đưa tới một kết quả
“sấp”,
thì cũng thật là gần gụi với một điều kiện tiên khởi đưa tới một kết
quả
“ngửa”.
Từ những”giai thoại” như thế đó – Progorin tránh không đưa ra những
giai thoại quá rắc rối, cho thấy: một cái nhìn mang tính định mệnh [một
định
mệnh thuyết về cuộc đời], kể như hoàn toàn sụp đổ. Nói ngắn gọn, cái
gọi
là ngẫu nhiên, tình cờ tham gia hết mình vào trong thực tại vật lý. Vật
chất,
y chang Cuộc Đời, có tính đột nhiên, bất thuờng, đỏng đảnh, như là một
biến cố [Làm sao anh
biết,
lần đó về HN, là gặp Em, thí dụ vậy?]. Ngược hẳn với niềm tin của
Einstein, Thượng Đế chơi xí ngầu, và chơi rất cừ, [nếu không làm sao có
chuyện Anh gặp
Em, ở quán gì gần bờ hồ, nhỉ.....]
Jennifer Tran