*

Tribute
TCS
1 2 3 4 5 6 7

























Trịnh Công Sơn vs Lịch Sử

Milosz, trong một bài trả lời phỏng vấn, cho biết, ông đào thoát, xin tị nạn tại Pháp tháng Hai năm 1951. Viết Cầm Tưởng, [Cái Đầu Bị Cùm], mùa xuân cùng năm, hoàn tất vào mùa thu cũng trong năm. Trong lời tựa, ông cho biết, viết để thanh toán một lần cho xong. Và hy vọng chẳng bao giờ phải đụng lại với vấn đề này nữa.
Trong ý nghĩ đó, theo tôi, những bản nhạc phản chiến, những ca khúc da vàng của TCS đã được "thanh toán".
Milosz cho rằng, cuốn sách không thuộc dòng của ông [that isn't my line]. Ông viết nó, như kẻ lưng đụng vô tường, hết đường lui.
Cũng trong bài viết, ông nhắc đến cảm giác hết sức bối rối, khó chịu, của Pasternak, khi được trao giải thưởng Nobel văn học, do cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, chứ không phải do thơ.
Bản thân Milosz cũng được nổi tiếng, là nhờ Cầm Tưởng.
Tôi nghĩ, Trịnh Công Sơn có gì tương tự với hai trường hợp trên. Ông nổi tiếng cả thế giới, là nhờ nhạc phản chiến. Nhưng thứ đó, thực sự "không thuộc dòng của ông".
Như Milosz, ông đụng lưng vô tường, khi viết nó.
Nhưng tình ca, mới là nhạc phản chiến đời đời của ông.
Và của loài người.
Hãy hát tình ca của ông, theo nghĩa mà Brodsky định nghĩa:
Nếu có gì có thể thay thế cho tình yêu, thì đó là hồi ức.
Tình ca của TCS, là hồi ức, là tưởng nhớ, là kinh cầu cho một miền nam hòa bình đã mất.
“Cái từ giải phóng chúng ta khỏi gánh nặng và nỗi đau làm người là hai chữ: Tình Yêu.”
*
Tôi thu tôi lại...
Hạt bụi nào...

He has turned into the life-giving ear of grain
Or into the gentlest rain of which he sang
Akhmatova
Người thi sĩ ấy biến thành mầm sống
Thành hạt mưa dịu dàng nhất mà chàng hát về nó
D.M. Thomas trích dẫn, cho chương Death of a Poet, [trong Solzhenitsyn: Thế kỷ ở trong ta], nói về cái chết của Pasternak. 


Trịnh Công Sơn:
Chim Thiêng Hót Lời Mệnh Bạc
L'oiseau sacré chante le destin tragique
*
Un jour se noyer et flotter
[Cũng sẽ chìm trôi]
Ah ! la lune en haut
Assis je suis en bas
La course de l'eau la limpidité
Mon âme l’eau trouble
Les hérons s'envolent crient le calme absolu
Les chemins de la vie proches
Mais les pas ralentissent de fatigue
Ah ! la lune en haut
Assis je suis en bas
Les chemins tordus
La lumière soudaine
Depuis l'oiseau sacré chante le destin tragique
Chaque goutte de l'infini
Se noie disparaît sans appel de retour
Lời Việt::
Nhật nguyệt í-a trên cao, ta ngồi ôi-à dưới thấp
Một dòng í-a trong veo, sao lòng ối-a còn đục
Bầy vạc í-a bay qua, kêu mòn ối-a tịch lặng
Đường đời í-a không xa, sao chồn ôi-à gối chân
Nhật nguyệt í-a trên cao, ta ngồi ôi-à dưới thấp
Một đường í-a cong queo, nắng vàng ối-a đột ngột
Từ độ í-a chim thiêng, hót lời ối-a mệnh bạc
Từng giọt í-a vô biên, trôi chìm ôi-à tiếng tăm

Partir et revenir
[Một cõi đi về]
Les années écoulées les départs
Partir tourner la vie les fatigues
Les épaules aux deux bouts de la lune
Le reflet transversal de cent ans partir et revenir
Quelle sera la parole des arbres
Quelle sera la parole de l'herbe étrangère
Un seul coucher du soleil dans l'ivresse
Quelle vie légère appartient déjà au passé
Ruine du printemps ruine de l'été
Un jour d'automne l'écho du galop au loin
Nuage couvre la tête soleil sur les épaules
Les pas s'en vont les rivières savent rester
Soudain l'otage de l'amour m'appelle
A l’intérieur apparaît l'ombre de l’être
Le détour de la pluie dans l'âme
Une pluie fine
Cent ans l'infini la chance de rencontre sera nulle
Quel lieu sera chez moi
Les chemins les détours les cercles en ruine
Le côté a' herbe le côté de rêve
Chaque parole du crépuscule
Chaque parole de la terre des tombes
Voix de la mer des fleuves de leurs sources.
Alors qu'on rentre on se souvient déjà qu'on partira
Partir vers les monts
Revenir vers le large
Les bras de la vie n’offrent jamais l'indulgence
Seul un vent impossible souffle tout au long de la
jeunesse
Trinh Cong Son
Traduit par Le Huu Khoa
Connu avec Pham Duy comme l'un des deux plus grands compositeurs du Vietnam actuel, Trinh Cong Son se veut avant tout poète et chante « les rêves en ruines de ses êtres ». Son œuvre raconte l'exil collectif de son peuple mais aussi l'éphémère de l'amour et de la beauté. Trinh Cong Son réussit pas à pas sa méditation sur la souffrance, ses textes construits autour d'un lieu de fractures né du passage des guerres offrent un fond de réinterprétations extrêmement riches du bouddhisme, du taoïsme.L'évidence esthétique du texte fait corps avec l'inexistence de l'être.
Được biết đến cùng với Phạm Duy như là một trong hai nhà soạn nhạc lớn lao nhất của Việt Nam hiện nay, Trịnh Công Sơn tự muốn mình, trước hết, như là một nhà thơ và hát "những giấc mơ điêu tàn của đồng loại". Tác phẩm của ông kể cuộc lưu vong tập thể của dân tộc ông, và về sự phù du của tình yêu và cái đẹp. Từng bước, Trịnh Công Sơn hoàn tất cơn trầm tư của mình về sự khổ đau, những bài ca của ông xoay quanh một nơi chốn tang thương đổ nát do chiến tranh cầy đi cầy lại, và chúng tạo nên một cái nền của những tái diễn giải cực kỳ giầu có, tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo. Cái đẹp hiển nhiên của bài ca làm bật ra nỗi vô thường của kiếp người.
Le Huu Khoa: Mảng lưu vong [La Part d'Exil]
*
Note: Tks K. Gấu

 

TCS: Kẻ Sĩ?
Một ý khác của Lữ Phương cho rằng bài viết của Trịnh Cung như là một gợi nhớ về cái thời huy hoàng của chế độ Việt Nam Cộng hòa, một điều lạc lõng trong thái độ kêu gọi hòa giải hiện nay. Nếu Lữ Phương hiểu được tâm lý của kẻ bại trận chắc ông sẽ có một cái nhìn khác. Nó giống như bố mẹ đánh oan một đứa con mà không cho nó có một cơ hội nào để tự bào chữa cho hành động của nó, đứa bé khóc nhưng trong lòng cứ rấm rứt, còn bố mẹ cứ bảo thôi lỡ rồi con, quên đi. Nhưng làm sao quên được khi mà trong lòng cứ rấm rứt. Hãy để những kí ức được viết ra, viết để rồi quen, để giải tỏa, và khi người đọc thấy đó là những điều rất bình thường, đã thuộc về lịch sử thì lịch sử đã được đóng lại, và một giai đoạn mới được mở ra.
Nguồn talawas
Ui chao, kẻ bại trận hết "được bị gọi" là Ngụy, nay trở thành "đứa con bị bố mẹ đánh oan", thì… phi ní lô đia [hết nước nói]!
Tâm lý kẻ bại trận nào như vậy?
Nếu Lữ Phương hiểu được tâm lý của kẻ bại trận chắc ông sẽ có một cái nhìn khác. Cái nhìn khác? Liệu có như cái nhìn sau đây:
Tuy 30 năm mới có ngày hôm nay, nhưng dân Mít Miền Nam, Ngụy hay không Ngụy, đều biết họ thua trận.
Nhưng thua trận như vậy coi bộ khó hơn thắng trận rất nhiều!
Thảo nào được ‘còm’ nức nở, hay quá, nhứt thằng cha này!
Bởi vậy, Gấu ‘tởm’ là đúng quá rồi.
Phải là một tên điên khùng mới có thể viết những dòng như trên, khi ví von, những kẻ bại trận, là cả một miền đất, như những đứa trẻ bị bố mẹ Bắc Kít đánh oan, nhưng lại không cho nó cơ hội để mà tự bào chữa!
Tên viết đã điên, mà cái tên dám đăng lên thì Gấu này quả thực là bội phục.
Quái làm sao, vẫn còn có kẻ vẫn cúc cung tận tụy viết bài cho nó, mới lại càng bội phục.
Trong đó có cả mấy đứa con bị bố mẹ Bắc Kít đánh oan nữa!
Tuy nhiên, điên mà viết được câu "Nếu Lữ Phương hiểu được tâm lý của kẻ bại trận", thì thực là thú vị!
Hắn làm sao mà hiểu được!
Bởi thế mà "Bùi thi sĩ" bực vô cùng khi có kẻ tán nhảm về cái tên cúng cơm của ông:
Nhục còn chưa có, nói chi Vinh!
*

Những bài đánh TC, bênh TCS ở trong nước, kể cả của những đấng bạn quí của ông, như HPNT, NDX… sự thực đâu có phải là bênh TCS. Chúng đánh bóng chúng, và cùng lúc đánh bóng chế độ. Cứ giả dụ như chế độ ra lệnh, đánh TCS, là bèn tự ý đục bỏ hết. Cái ông TC, sự thực thì cũng thuộc loại quá đát, muốn đánh canh bạc chót, lôi thằng bạn đã ngỏm ra đập, theo kiểu đốt đền, [đốt đền thờ, không phải đốt đèn], may ra hưởng chút xái, khi qua bên kia, có gặp thì cười trừ, huề cả làng.
Bởi vì cái gọi là tham vọng chính trị, chắc cũng chỉ là chuyện dzui thôi mà. Ghê gớm chi đâu?
TCS chưa từng phải sửa lời một bản nhạc nào, vậy cũng đã quá bảnh rồi.
Vả chăng, nói như Steiner, âm nhạc vượt qua ngưỡng cửa thiện ác, xấu tốt. Thành thử không thể lấy thước thiện ác, để mà đo TCS.
[Note: Ui chao, sao mà binh TCS dữ ha? Hay là mê o Huệ nào rồi?]
*
Đến như thế này thì hơi bị thảm, thật!
Có nhiều người cho rằng: "Điều kỳ quặc nhất và thành công nhất của Trịnh Công Sơn trong những nhạc phẩm của ông là đều kể lại những chuyện tình bi thảm của một người không có khả năng cho, một kẻ tàn phế trong tình yêu và phải chịu một cơn khát vĩnh cửu".
Anh suy nghĩ gì về người nói điều đó? Anh hãy chọn một nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn để minh họa cho điều đó ?".
Bản thông báo còn cho biết vòng chung kết cuộc thi và lễ trao giải diễn ra từ ngày 3 - 11/6/2006.
Nhưng, ngay cả phản ứng của những người được coi là thân cận nhất của TCS, cũng hơi bị lạ. Hoàng Phủ Ngọc Tường, thay vì viết Thư Ngỏ gửi cho Nhà Nước VC, hoặc tệ lắm, Nguyễn Khoa Điềm, lại nhè báo Thanh Niên để mà nên hay chẳng nên:
"Báo Thanh Niên nên có thái độ với cuộc thi có tính điên rồ và trò chơi thiếu văn hóa này".
Có thể, ông nghĩ, vụ này do báo Thanh Niên khui ra, nhưng theo Hai Lúa, 'nó' vượt ra khỏi tờ báo này rồi.
Nó bảo cho cả thế giới biết, cái ông nhạc sĩ hát rong, nói "Không" với chiến tranh đó, được cả thế giới trân trọng đó, chẳng là cái thá gì cả!
(1): Post lại trên Tin Văn, phòng hờ nguồn bị cháy.
*

Subject: Ve TCS
To:
Chào Ông,
 "...cái ông nhạc sĩ hát rong, nói "Không" với chiến tranh đó, được cả thế giới trân trọng đó, chẳng là cái thá gì cả!"
Ông phán một câu như...Thánh Thán!
Tôi vẫn nghĩ từ lâu nhạc của TCS cũng xoàng như những nhạc phổ thông khác. Nhưng các ông gọi là Văn Nghệ Sĩ trong và ngoài nước cứ xúm lại ca ngợi ...lời hát của TCS. Quả là buồn cho cái cách phê bình thiếu tính chuyên nghiệp.
Kính,
PS: Xin đừng post Email của tôi làm gì. Gây tranh luận vô ích!
Đành phải mạn phép bạn post cái mail lên đây, coi như của một độc giả nào đó.
Vì Hai Lúa này cũng muốn viết thêm về TCS nhân "vụ án" PD, và những chấn động tiếp theo mới đây ở trong nước,  Và cũng nhận được vài cái mail về TCS.


Beautiful feelings make bad art.
Tình cảm đẹp làm ra thứ nghệ thuật dởm
Without the devil’s help there would be no art.
Không có sự giúp đỡ của Quỉ, không có nghệ thuật
Gide viết về Dos [Lukacs trích dẫn, trong Chủ nghĩa hiện thực ở thời của chúng ta]
Hai ý trên đều có thế áp dụng cho nhạc TCS.
Câu đầu - Gide phán, sau khi ông đi thăm Liên Xô về - cho thấy TCS không thể là VC được.
Câu thứ nhì. Con quỉ ở đây, là con quỉ chiến tranh.
*
Milosz, trong một bài trả lời phỏng vấn, cho biết, ông đào thoát, xin tị nạn tại Pháp tháng Hai năm 1951. Viết Cầm Tưởng, [Cái Đầu Bị Cùm], mùa xuân cùng năm, hoàn tất vào mùa thu cũng trong năm. Trong lời tựa, ông cho biết, viết để thanh toán một lần cho xong. Và hy vọng chẳng bao giờ phải đụng lại với vấn đề này nữa.
Trong ý nghĩ đó, theo tôi, những bản nhạc phản chiến, những ca khúc da vàng của TCS đã được "thanh toán".
Milosz cho rằng, cuốn sách không thuộc dòng của ông [that isn't my line]. Ông viết nó, như kẻ lưng đụng vô tường, hết đường lui.
Cũng trong bài viết, ông nhắc đến cảm giác hết sức bối rối, khó chịu, của Pasternak, khi được trao giải thưởng Nobel văn học, do cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, chứ không phải do thơ.
Bản thân Milosz cũng được nổi tiếng, là nhờ Cầm Tưởng.
Tôi nghĩ, Trịnh Công Sơn có gì tương tự với hai trường hợp trên. Ông nổi tiếng cả thế giới, là nhờ nhạc phản chiến. Nhưng thứ đó, thực sự "không thuộc dòng của ông".
Như Milosz, ông đụng lưng vô tường, khi viết nó.
Nhưng tình ca, mới là nhạc phản chiến đời đời của ông.
Và của loài người.
Hãy hát tình ca của ông, theo nghĩa mà Brodsky định nghĩa:
Nếu có gì có thể thay thế cho tình yêu, thì đó là hồi ức.
Tình ca của TCS, là hồi ức, là tưởng nhớ, là kinh cầu cho một miền nam hòa bình đã mất.
“Cái từ giải phóng chúng ta khỏi gánh nặng và nỗi đau làm người là hai chữ: Tình Yêu.”
*
Tôi thu tôi lại...
Hạt bụi nào...
He has turned into the life-giving ear of grain
Or into the gentlest rain of which he sang
Akhmatova
Người thi sĩ ấy biến thành mầm sống
Thành hạt mưa dịu dàng nhất mà chàng hát về nó

D.M. Thomas trích dẫn, cho chương Death of a Poet, [trong Solzhenitsyn: Thế kỷ ở trong ta], nói về cái chết của Pasternak.
*

Man is not merely one who lives, taught Alain in a rare moment of pride, 'he is one who survives".
"Con người đâu chỉ sống, ông thầy Alain, trong một lần rất ư hiếm hoi là hơi bị tỏ ra tự hào, phán, 'nó còn là kẻ sống sót'".
Steiner: Những Bài Học của Những Ông Thầy.


"Ở bẩn sống lâu" hay "không thành công thì thành nhân", bạn muốn thứ nào?
Trong "Lessons of the Masters" [Harvard University Press, bìa mỏng, 2005], ông 'nghiên cứu sinh' Steiner vinh danh Alain, một trong những Vị Thầy Suy Tưởng, Maitres à Penser.  Steiner viết, Alain - thầy của Simone Weil, André Maurois -  dậy học trò một câu thật quái dị: đừng thành công [ne pas réussir]. Và đây là, theo Alain, luật tối thượng về đạo đức, the supreme moral rule.
Bởi vì "thành công", có nghĩa là, phải...  bẩn! Phải chiều theo luật "ông mất của kia bà chìa của nọ", nghĩa là phải biết điều, phải thỏa hiệp.
"Nỗi khổ" của PD, đúng như một độc giả trên talawas đã nhận ra, chính là sự thành công vượt bực của ông: trở thành một thiên tài, "một người nghệ sĩ lớn hiếm hoi mà thế kỉ XX dành tặng cho đất nước".
Thiên tài lớn lao của thế kỷ 20 của Việt Nam, sống thì có sống, thành công thì rất ư là thành công, nhưng không... sống sót!
Nhưng cũng vẫn Alain, đã gặt hái đuợc, nhân đọc Lagneau viết về Spinoza [Thầy đọc Thầy đọc Thầy..] định nghĩa này, về Cái Thiện Cao Cả Nhất Của Con Người, [man's highest good], đó là:
[Hãy] kinh nghiệm niềm vui của tư tưởng và [hãy] tha thứ cho Lão Tặc Thiên. Tha thứ cho ông trời già độc địa.
[to experience the joy of thought and to pardon God].
Trời kia mà còn "tha thứ", nữa là ba "vụ án" lẻ tẻ!
Vụ Án

Gấu có, chỉ một kỷ niệm với TCS, như đã kể ra trong bài viết, thật ngắn, ngay khi ông vừa nằm xuống.
Có thể nói, bài của Gấu là bài đầu tiên trong những bài ai điếu TCS.
Ông "trúng đạn" [có được cái vé đi chuyến tầu suốt], chưa kịp té xuống tới đất, là đã có bài ai điếu rồi!
Sau này, Gấu vẫn thường tự hỏi, tại sao mà mình bắn nhanh như vậy !
Mãi mới hiểu ra, đó là nhờ cái cảm giác bực mình, trong cái lần gặp gỡ đầu tiên và cũng là độc nhất tại Quán Chùa.
*
Anh ngồi chung bàn với Toàn và tôi, nhưng cứ chốc chốc lại có một anh bạn trẻ nào đó, từ một bàn nào đó, tạt qua bàn, chỉ để nói chuyện hoặc hỏi thăm anh, và thường là về Huế, và cứ mỗi lần như vậy, anh đổi giọng nói. Khi nói với hai đứa chúng tôi, anh dùng giọng Bắc.
Những ngày TCS
Sắp đi như ông, Gấu mới hiểu ra rằng thì là, chính nhờ ông, nhờ cái cảm giác bực mình đó, mà Gấu có được những người bạn "Huệ" thật là tuyệt vời, như Joseph Huỳnh Văn, ngày nào còn Sài Gòn, và... ngày này không còn Sài Gòn.