*
 






Lưới khuya, hồn ốc lạc thiên đường

*
Happy Birthday to you, Mom.
13.4. 2009
Richie & Jennifer Tran
*

Un renouvellement de la culture de masse
Wikipédia ou la fin de l’expertise ?
Le printemps de Milan Kundera
par Guy Scarpetta
Mùa Xuân của Kundera là một bài điểm cuốn mới ra lò của Kundera, Một cuộc gặp gỡ, trên tờ Thế giới ngoại giao, số Tháng Tư, 2009. Tin Văn sẽ có bài tóm tắt.


Thằng Khờ được việc

Người và Việc:
Trần Phong Giao, người gác cổng văn học, tạp chí Văn
Sunday, April 05, 2009
Du Tử Lê
Cái tít này, “người gác cổng”, theo Gấu, mô phỏng của một tay ở trong nước. (1)
Văn học nào mà cần người gác cổng?
Người và Việc?
Chẳng lẽ một bài tưởng niệm, bạn bè của nhà thơ, và nhân đó, cả một nền văn học, mà nhét vô mục Chó Cán Xe như thế này?
(1) Hoàng Hưng, Thơ Việt Nam đang chờ phiên đổi gác.
Note: V/v ẩn dụ 'ngưòi gác' này, Gấu nghi, mấy anh thi sĩ VC thuổng của ngoại quốc, nhưng họ dùng theo cái nghĩa, người gác đền thiêng, viện chư thần, đỉnh thi sơn...
Đền thiêng thì cần có người gác, còn kiêm việc ông từ, ngày ngày lo việc cúng bái, cầu nguyện...
Bài viết của bạn ta có vài sai sót. Phạm Thị Hoài viết thành Nguyễn Thị Hoài. Nguyên Ngọc không phải là người khám phá ra bà này, cũng không phải là tác giả cụm từ 'văn chương minh họa' [của Nguyễn Minh Châu].


Trịnh Công Sơn vs Lịch Sử
TCS: Kẻ Sĩ?


30.4.2009
Under Construction!


NMG vs Lưu Vong


Quand Robert parle de Jonathan

Littell, père et fils

Cha & Con Littell.
Ông bố thì bị ám ảnh bởi chủ nghĩa toàn trị Stalin, ông con, Nazi.
Tên ông con, Jonathan October Littell., là để đời đời  ghi nhớ Cách Mạng Tháng 10!
Tác phẩm mới nhất của ông bố: Chim Báo Bão, kể cuộc đụng độ giữa nhà thơ Mandelstam và đao phủ Stalin.


Life vs Death

*

Cutting Off Dissent:
Cắt ngón tay li khai: Để phản đối biến cố Thiên An Môn, 1989, nghệ sĩ Sheng Qi cắt ngón tay, tạo ra một số hình ảnh bàn tay cụt ngón tay của mình, trong có tấm hình ở nơi lòng bàn tay, là tấm hình một đứa bé trai.

Mất đi và Kiếm lại được
*

EDITOR'S LETTER
ALEX CLARK
The vanishing point: Điểm biến
When something is lost, our first instinct is often towards preservation: either of the thing itself, its memory and its traces in the world, or of the part of us that is affected by what is now missing. The pieces in this issue of Granta reflect on the complex business of salvage and try to bring into the light what we discover when we come face to face with loss.
It is rarely a straightforward process. JeremyTreglown's thought provoking exploration of the gathering movement to exhume the victims of the Spanish Civil War amply demonstrates the tensions created when a desire to commemorate clashes with a desire to move forward, and when both entirely natural impulses are claimed by other agendas. Although his investigation illuminates the continuing aftermath of a particularly dark and disastrous episode in Spanish history, it has clear parallels with other countries' attempts to recover from traumatic events and forces us to question whether an apparently simple urge to remember and to pay tribute can remain uninflected by other equally complex concerns.
A similar ambiguity informs Maurice Walsh's dispatch from Ireland, where he travelled to spend time with the Catholic priests whose numbers have been diminishing over the past few decades. He reports of a decline in vocations that coincided with a widespread rise in secularism and an attitude towards the Church that hardened - perhaps irreversibly - after the wave of child-abuse scandals in the 1990s, which were seen not merely as instances of individual wrongdoing but as evidence of a collusion between a powerful hierarchy and those whom it had sent into the community as trusted individuals. This shift in perspective has been well documented and, when the writer and I spoke about the piece in its earliest stages, we agreed that a fruitful focus would be what the priests themselves felt about this process of marginalization.
Elsewhere, we feature some extremely personal stories, perhaps none more so than Melanie McFadyean's 'Missing', which relates the experiences, over nearly two decades, of the Needham family. Ben Needham, a child of twenty-one months, disappeared on the Greek island of Kos in 1991; he has never been found. The moment of his disappearance - the moment when he was last seen by members of his family - resonates through her account with its utter simplicity; a child, playing in the sun, running in and out of doors, being completely childlike and completely unselfconscious. Then silence, and absence; and then the continuing lives of Ben's mother, Kerry, his grandparents, his uncles and the sister born after he disappeared. It is a familiar fictional device, and often characteristic of the stories we tell ourselves about defining periods in our lives, to suggest that everything can change in an instant. Much of the time, that is not really true, and rather more likely that a crisply delineated sequence of events allows us to cope with chaos and confusion. In the case of the Needhams, though, even that world-altering single moment, viewed through the prism of different people and the passage of time, can remain painfully resistant to closure.
There is a different kind of examination of the past going on in Elizabeth Pisani's 'Chinese Whispers', in which the author recalls the night that she spent in Tiananmen Square twenty years ago, frantically attempting to phone in reports to her news agency as tanks (not to be confused with armored personnel carriers, as her bosses on the other end of the line curtly impressed on her) rolled in to crush the ranks of pro-democracy protestors filling the Square.
But Pisani's resurrection of a night that, to her, an inexperienced reporter of twenty-four, was the most momentous she had ever lived through, proves rather harder to pin down in the retelling. Is her version of events correct to the last detail? Or has she embroidered and finessed her memories in the intervening years?
Sometimes, of course, the changing of the guard makes room for us to cast a lighter eye over events, as in Don Paterson's piece of memoir, which tells of his youthful passion - and passion is the right word - for evangelical Christianity, an effort to exoticize his everyday life that led to fervent prayer sessions enlivened by the odd bout of angeloglossia. It seems that what he discovered as his faith faded was an unshakeable enthusiasm for rational thought. But he also conjures, as the best memoirs do, a portrait of another time - in this case, a world of weak tea, Jammie Dodgers and fearsome bullies. Equally evocative are the pipe smokers, captured in Andrew Martin's ode to a pleasure in peril, who have found themselves defending their commitment to a slower, temptingly detached way of life - their special brand of 'hypnotic latency', as Martin puts it.
In among these surveys of vanishing worlds come three pieces of fiction: an artfully poignant story by Janet Frame, a wry tale of dentistry and disarray by A. L. Kennedy and two pieces of work by Altan Walker. Of Earthly Love, Walker's debut novel, was several years in the writing, rewriting and recasting and had yet to be finished when the writer died in 2007. As I began to read the manuscript, knowing that it would never now be completed, I felt immediately that if it were to remain unseen readers would be deprived of a true delight; one that would introduce them to a wild, shifting, ungovernable voice, capable of great acts of ventriloquism and imagination. It is a real pleasure to be able to publish part of Walker's manuscript here and to know that, in among the varieties of loss that we are often subject to, there remain treasures to find. _

NTS by NQL

Có lẽ lần đầu tiên nó biết thế nào là hạnh phúc.
NQL
Câu này, ‘độc’ hơn thịt vịt!
Chỉ những ai biết về NTS, ‘người đi qua đời tôi’, của biết bao nhiêu là em, thì mới thú câu này!
Tuyệt!
Cả băng này, Gấu đều quen, trừ NQL, nhưng cái tay bảnh nhất, không phải là mấy tay hay được nhắc đến như PXN, NTS…
 
NQT
BVVC


The destruction of someone's native land is as one with that person's destruction. Séparation becomes déchirure [a rendingl, and there can be no new homeland. "Home is the land of one's childhood and youth. Whoever has lost it remains lost himself, even if he has learned not to stumble about in the foreign country as if he were drunk." The ‘mal du pays’ to which Améry confesses, although he wants no more to do with that particular pays—in this connection he quotes a dialect maxim, "In a Wirthaus, aus dem ma aussigschmissn worn is, geht ma nimmer eini" ("When you've been thrown out of an inn you never go back")—is, as Cioran commented, one of the most persistent symptoms of our yearning for security. "Toute nostalgie," he writes, "est un dépassement du présent. Même sous la forme du regret, elle prend un caractère dynamique: on veut forcer le passé, agir rétroactivement, protester contre l'irréversible." To that extent, Améry's homesickness was of course in line with a wish to revise history.
Sebald viết về Jean Améry: Chống Bất Phản Hồi: Against The Irreversible.

[Sự huỷ diệt quê nhà của ai đó thì là một với sự huỷ diệt chính ai đó. Chia lìa là tan hoang, là rách nát, và chẳng thể nào có quê mới, nhà mới. 'Nhà là mảnh đất thời thơ ấu và trai trẻ của một con người. Bất cứ ai mất nó, là tiêu táng thòng, là ô hô ai tai, chính bất cứ ai đó.... ' Cái gọi là 'sầu nhớ xứ', Améry thú nhận, ông chẳng muốn sầu với cái xứ sở đặc biệt này - ông dùng một phương ngữ nói giùm: 'Khi bạn bị người ta đá đít ra khỏi quán, thì đừng có bao giờ vác cái mặt mo trở lại' - thì, như Cioran phán, là một trong những triệu chứng dai dẳng nhất của chúng ta, chỉ để mong có được sự yên tâm, không còn sợ nửa đêm có thằng cha công an gõ cửa lôi đi biệt tích. 'Tất cả mọi hoài nhớ', ông viết, 'là một sự vượt thoát cái hiện tại. Ngay cả dưới hình dạng của sự luyến tiếc, nó vẫn có cái gì hung hăng ở trong đó: người ta muốn thọi thật mạnh quá khứ, muốn hành động theo kiểu phản hồi, muốn chống cự lại sự bất phản hồi'. Tới mức độ đó, tâm trạng nhớ nhà của Améry, hiển nhiên, cùng một dòng với ước muốn xem xét lại lịch sử].
*
Nhà văn là một thứ phong vũ biểu. Thứ dữ dằn, một loài chim báo bão.
"Gấu nhà văn", về nhà hai lần, nhưng lần thứ ba, tính về, ngửi thấy có gì bất an, hay là do quá rét, bèn đi một cái mail, hỏi thăm thời tiết nơi quê nhà, và được trả lời, không được đẹp, thế là bèn đếch có dám mò về!
*
Khi thằng cu Gấu lên tầu há mồm vô Nam, bỏ chạy quê hương Bắc Kít của nó, ngoài hai cái rương [cái hòm] bằng gỗ nhỏ, có thể để mỗi cái lên một bên vai, trong đựng mấy cuốn sách, thằng bé còn thủ theo, toàn là những kỷ niệm về cái đói.
Và nửa thế kỷ sau trở về, cũng mang về đầy đủ những kỷ niệm đó, và trên đường về, tự hỏi, không hiểu bà chị mình có còn giữ được chúng…

Bà giữ đủ cả, chẳng thiếu một, nhưng, chị giữ một kiểu, em giữ một kiểu.
Nói rõ hơn, cũng những kỷ niệm về cái đói đó, ở nơi Gấu, được thời tiết Miền Nam làm cho dịu hết cả đi, và đều như những vết sẹo thân thương của một miền đất ở nơi Gấu.
Y như kỷ niệm sau đây, lần đầu làm quen thành phố Sài Gòn.
*
1965. Những ngày cuộc chiến tuy chưa dữ dội nhưng đã hứa hẹn những điều khủng khiếp. Người Mỹ đổ quân xuống bãi biển Đà Nẵng, liền sau đó là lần chết hụt của tôi tại nhà hàng Mỹ Cảnh. Tất cả những sự kiện đó, mỉa mai thay, chỉ làm cho bóng ma chiến tranh thêm độc, đẹp, thêm quyến rũ và trở thành những nét duyên dáng không thể thiếu của cô bé. Của Sài-gòn.
Chỉ có những người vội vã rời bỏ Sài-gòn ngay những ngày đầu, họ đã không kịp sửa soạn cho mình một nỗi nhớ Sài-gòn. Còn những ai ở trong tâm trạng sắp sửa ra đi, đều tập cho quen dần với cơn đau sẽ kéo dài. Đều lựa cho mình một góc đường, một gốc cây, một mái nhà... để cười hay để khóc một mình. Một mẩu đời, một đoạn nhạc, một bóng chiều, một giọt mưa, một sợi nắng... để gọi thầm trong những lúc quá cô đơn. Để mai kia mốt nọ, trên đường tha phương cầu thực, nơi đất khách quê người, những khi ngọn gió heo may bắt đầu thổi, những khi ngồi bó gối bên trời, nhìn lá vàng rơi đầy, lấy tay che thời gian không nổi, hay những đêm tàn nghe bếp lửa réo gọi... sẽ nhâm nhi những cọng cỏ tưởng tượng của quê hương. Ôi,"Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới" (1). Hãy cho tôi thăm lại con phố Bonard, nơi có bót Hàng Ken (2), chú bé di cư ngày nào ngơ ngác, rụt rè làm quen, tự mình khám phá Sài-gòn. Gần gốc cây chỉ còn trong cậu bé ngày xưa, một người đàn ông đánh đập dã man một người đàn bà. Không quên bài học Công Dân, chú bé chạy vào trong bót. Chú bị ăn bạt tai, cùng những lời sỉ vả, người ta đánh vợ, mắc mớ chi tới mày. Đồ con nít Bắc kỳ di cư, vô đây làm tàng. Ôi bài học đầu tiên khi tìm cách làm quen thành phố, được thời gian gọt giũa trở thành một nốt ruồi son đáng yêu biết là chừng nào trên khuôn mặt cô bé. Trên khuôn mặt Sài-gòn.
Một thành phố mà tôi đã chết ở trong,
nay sống lại,
chỉ để kể về nó.
Lần Cuối Sài Gòn


Kỷ niệm, kỷ niệm

Simenon trả lời tờ The Paris Review