1 2
|
Một
thời vô song: Sự tạo thành một nhà văn có tên là
William Faulkner
J.
M. Coetzee, trên tờ Điểm Sách Nữu Ước NYRB [số đề ngày 7
Tháng Tư, 2005], khi điểm cuốn tiểu sử Faulkner, của Jay Parini [One
Matchless
Time: A Life of William Faulkner, Một thời vô song: Cuộc đời W.
Faulkner, nhà
xb HarperCollins, 492 trang, $29.95], đã mở ra bằng một câu của chính
Faulkner:
"Bây giờ, lần đầu tôi nhận ra," Faulkner viết cho một bà bạn, khi
nhìn ngoái lại, từ lợi điểm, là khoảng giữa những năm năm mươi của ông,
"tôi có một của báu thật là lạ: vô học trong bất kỳ ý nghĩa chính qui
nào,
chẳng có bạn hay chữ, nói chi bạn giỏi văn, thế mà lại làm được những
điều tôi
đã làm. Tôi không biết nó từ đâu tới. Tôi không biết tại sao Ông Trời,
hay các
thần linh, hay chẳng rõ vị nào, chọn tôi làm con thuyền."
["Now I realise for the first time", wrote William Faulkner to a
woman friend, looking back from the vantage point of his mid-fifties, "
what an amazing gift I had: uneducated in every formal sense, without
even very
literate, let alone literary, companions, yet to have made the things I
made. I
don't know where it came from. I don't know why God or gods or whoever
it was,
selected me to be the vessel"]
Coetzee cho rằng, chút hồ nghi về mình, của Faulkner, không được “thực
thà” cho
lắm. Bởi vì, như cái kiểu nhà văn mà ông muốn trở thành, ông có đủ thứ
học vấn,
đủ thứ sách học mà ông cần. Còn nói về bạn, ông có những bạn già tay
chân xương
xẩu, nhớ dai, nhớ đủ thứ, và cũng thật hay chuyện, không phải thứ văn
nhược.
Tuy nhiên, ngạc nhiên về ông cũng không hiếm. Bởi vì, ai mà tiên đoán
ra được,
một thằng bé từ một miền khỉ ho cò gáy Mississipi, trở thành, không chỉ
một nhà
văn nổi tiếng, ở nhà cũng như ở toàn thế giới, mà còn một nhà văn đổi
mới triệt
để về tiểu thuyết Mỹ, đến nỗi, đám tiền phong ở Âu Châu và Mỹ
Châu La
Tinh phải xin thọ giáo.
Về cái học trường lớp, với Faulkner, quả là quá ít ỏi. Ông đi bụi rất
sớm, ngay
những năm đầu trung học, [ông cụ bà cụ của ông coi bộ cũng chẳng thèm
quan tâm tới
chuyện này]. Và mặc dù cũng sinh viên Đại học Mississipi, nhưng đây là
do ưu ái
mấy ông nhà binh giải ngũ muốn cắp sách trở lại. Bảng học vấn của ông
mới tồi tệ
làm sao: một semester [học kỳ sáu tháng] tiếng Anh [grade, hạng: D],
hai semesters
tiếng Pháp và Tây Ban Nha. Về cái chuyện trở thành nhà thám hiểm, khai
phá linh
hồn [hay, tâm hồn] Miền Nam
hậu chiến, For this explorer of the mind of the post-bellum South: ông
đếch
thèm học sử. Về cái chuyện trở thành một tiểu thuyết gia muốn đan
dệt thời
gian Bergson, the Bergsonian time, vào cú pháp của hồi ức, the syntax
of
memory, ông đếch thèm học triết hay tâm lý học.
Thay vì học ba thứ lẩm cẩm nói trên, anh chàng có hơi mơ mộng là Billy
Faulkner
lại ép mình vào trong một cái đọc rất ư là chật hẹp [narrow], và rất ư
là gay
cấn, khẩn trương [intense], là thi ca Anh cuối thế kỷ, nhất là hai
tay Swinburne
và Housman, và ba tiểu thuyết gia Balzac, Dickens và Conrad. Ba ông
này, bằng
những từ của Coetzee mô tả: làm cho những thế giới giả tưởng sống động
và hài
hòa, đủ để tiếp mộc di hoa, theo nghĩa, ba cây chụm lại thành hòn núi
cao, tạo
ra được đích thị xừ luỷ, the real one, [tức William Faulkner].
Tuy nhiên, cũng phải thêm vô, tí ti đọc Cựu Ước, Shakespeare, và Cá Voi
Trắng,
và vài năm sau đó, một nghiên cứu nhanh, những gì hai đấng đàn anh,
[những
người đồng thời nhưng nhiều tuổi hơn], T.S. Eliot và James Joyce đã
từng ngó
qua. Thế là chàng đã được võ trang đầy đủ, sẵn sàng nhập trận.
Về phần chất liệu, những gì chàng thâu lượm được, trong những năm học Oxford,
hay rong chơi nơi quê hương tôi đất mặn... Cà Mâu, [Mississipi],
hóa ra
lại quá đủ, nếu không muốn nói, thừa mứa: Một sử thi, kể đi kể lại
không bao
giờ hết, về Miền Nam, một câu chuyện về độc ác, về bất công, về hy
vọng, về
thất vọng, về nông nỗi hoá thành nạn nhân, về đề kháng.
Chàng
Billy Faulkner vừa mới bỏ trường lớp, chưa kịp đi
hoang, thì cuộc Đệ Nhất Thế Chiến nổ ra. Quá mê mẩn với giấc mơ hoành
tráng,
trở thành phi công bay trên vùng trời Đức, chàng làm đơn nhập ngũ, và
được đưa
tới Không Lực Hoàng Gia, The Royal Air Force. Nơi đây đang quá cần ba
thứ nhân
lực mới tinh này, thế là chàng bèn được đưa qua Canada
để thực tập. Thảm một nỗi, chưa hết khoá học đầu, chưa bay mình ên, dù
chỉ một lần,
chiến tranh đà chấm dứt!
Chàng trở lại Oxford,
diện đồ bay Không Lực Hoàng Gia, cố sửa giọng đúng điệu dân Ăng Lê,
chân đi hơi
cà nhắc một tí. Một tai nạn nho nhỏ trong khi bay, chàng giải thích.
Với mấy
tướng thật là thân, chàng thì thào, trong người tớ còn có một miểng kim
loại!
Chàng đánh bóng những huyền thoại bay của mình trong nhiều năm. Và chỉ
xuống
giọng, khi trở thành nhân vật quốc gia, sợ rằng, lỡ có thằng khốn nào
bới lông
tìm vết, và nếu thế, thì nguy quá! [the risk of exposure loomed too
large].
Thua thì thua cố níu lấy con: Khổ một nỗi, giấc mơ bay không từ bỏ
chàng, mà
chàng cũng chẳng thể từ bỏ được nó. Trong nhiều năm, cố dành dụm, vào
năm 1933,
chàng học bay trở lại, và sắm cho mình một chiếc phi cơ, đi một đường
quảng
cáo: "William Faulkner [nhà văn nhớn nổi tiếng, Famous Author] Air
Circus" [Gánh xiệc bay].
Mấy tay chuyên viết tiểu sử coi đây là những trò ưa mút ngón tay, thèm
nổi
tiếng, thèm được người đời chú ý tới. Frederick R. Karl tin rằng,
"chiến
tranh đã biến đổi [Faulkner] thành một người kể chuyện, a storyteller,
một tay
phịa chuyện, a fictionist, và đây là một mốc rất quan trọng trong đời
chàng".
Cái chuyện bịp, và bịp một cách thật là dễ dàng, những con người tốt
bụng chung
quanh, vào thời gian học Oxford,
đã chứng tỏ cho Faulkner thấy rằng, dối trá có thể đánh bại sự thực.
Và, hơn
thế nữa, người ta có thể kiếm sống bằng điều quái dị, vượt ra khỏi đời
thường,
one can make a living out of the fantasy.
Trở về nhà, Faulkner sống một cuộc sống bồng bềnh, trôi nổi, a drifting
life.
Chàng mần thơ, về “cái rốn”, mượn chữ của nhóm TCT [Tạp Chí Thơ], để
dịch từ
“epience”; Faulkner khi dùng từ này, thực sự để chỉ những người đàn bà
“eo hẹp”
[narrow-hipped], mà ông đêm ngày mơ tưởng; những bài thơ của chàng,
theo
Coetzee, cho dù cái mũi của bạn lạc quan, dễ dãi cách mấy thì cũng
không thể
nào ngửi được! Chàng bắt đầu ký, không phải Falkner, như tên khai sinh,
nhưng
Faulkner, và, nhà có dòng, chàng bắt đầu nhậu như hũ chìm. Trong vài
năm chàng
làm nghề bán tem [postmaster] tại một bưu điện nhỏ cho tới khi, do
trình diễn
tệ quá, trong việc bán tem, chàng bị cho nghỉ việc [until he was
dismissed for
poor performance]. Chàng trải qua hàng giờ trong quầy bán tem như thế
đó, để
đọc và viết.
Đối với một người nào khăng khăng đi theo sự mách bảo của “thiên hướng
của
chính mình” [his own inclinations], thật kỳ kỳ, nghĩa là, thay vì xếp
mền
chiếu, lên đường kiếm chút ánh sáng nơi những đô thị lớn, chàng chọn
thành phố
nơi chàng sinh ra, và ở đây, cái việc viết lách của chàng bị coi là một
trò
nhạo báng. Jay Parini, người viết cuốn tiểu sử mới nhất về Faulkner, đã
giải
thích, Faulkner không làm sao rời xa bà mẹ của ông, một người đàn bà mà
tình
cảm dành con trai nhiều hơn là cho ông chồng đần độn, nhu nhược.
Trong những lần “đột nhập” New Orleans, Faulkner mở ra được một vòng
tròn những
ông bạn giang hồ tứ chiếng của mình, và gặp Sherwood Anderson, một tay
viết
biên niên sử về Winesburg, Ohio, tình bạn sau này làm chàng đau đớn.
Chàng bắt
đầu cho in những bài viết ngắn trên báo chí New Orleans;
hơn thế nữa, chàng còn mê lý thuyết văn học. Willard Huntington Wright,
đệ tử
của Walter Pater, đã gây ấn tượng ở nơi chàng. Trong Ý Chí Sáng Tác
[The
Creative Will, 1916], chàng đọc, Wright cho rằng, nhà nghệ sĩ thứ thiệt
là cô
đơn do bản chất, “một vị thần chỗ nào cũng có mặt, vị thần này tạo
khuôn tạo
dáng cho cái gọi là định mệnh của một thế giới mới, rồi dẫn dắt tới cõi
viên
mãn của nó, “đứng một mình, tự chuyển động, độc lập”, và khiến cho kẻ
tạo ra nó
sướng điên lên được, [exalted of spirit]. Kiểu nghệ sĩ-thần thánh, theo
Wright,
là Honoré de Balzac. Tay
này còn hơn cả Émile Zola, vốn chỉ có thể coi là một tay mô phỏng
[copyist]
thực tại hiện hữu trước đó [a pre-existing reality].
Vào năm 1925, Faulkner làm chuyến đi nước ngoài đầu tiên. Chàng trải
qua hai
tháng ở Paris
và chàng thích nó. Chàng tậu một cái mũ beret, để râu, và bắt đầu viết
một cuốn
tiểu thuyết - chẳng mấy chốc liệng thùng rác - về chàng họa sĩ với vết
thương
chiến tranh mò tới Paris
thực hiện giấc mơ nghệ thuật. Chàng quanh quẩn quán cà phê James Joyce
thường
hay ngồi. Ở đó, có lần chàng thoáng thấy nhà văn nhớn, nhưng lại rụt rè
không
dám tới gần.
Như vậy là, sau cùng, như những chi tiết như trên cho thấy, chẳng một
tí gì, về
một chàng sẽ là nhà văn. Chẳng có một tia sáng nào loé ra, về một thiên
tài văn
chương. Thế mà, vừa mới trở lại quê hương Mẽo được ít lâu, chàng ngồi
xuống
bàn, và viết ra một sơ đồ 14 ngàn từ, những ý nghĩ, tư tưởng, nhân vật.
Đây
chính là cái cốt tuỷ, mà sau này, chàng dựa vào đó, đẻ ra được những
cuốn tiểu
thuyết, xin nhắc lại, những cuốn tiểu thuyết lớn lao, trong những năm
từ 1919
tới 1942. Cái bản thảo, bản nháp, cuốn bí kíp đầu tay của chính ngài
giáo chủ
môn phái văn chương “dòng ý thức, ý thức nội tâm, dòng lảm nhảm một
mình, độc
thoại nội tâm”…. gì gì đó, có tên là Yoknapatawpha
County
[Bản, Làng, Quận, Miền… có tên là Yoknapatawpha]. Một Thiên Thai
của
chàng.
Khi
còn là một đứa bé, Faulkner cũng có một bà chị Hoài;
thực ra, tên cô bạn gái lớn tuổi hơn cậu là Estelle Oldham. Hai cô cậu
đã từng
thề non hẹn biển. Nhưng khi đã đến tuổi có thể làm vợ chồng, cha mẹ cô
gái, do
chẳng mấy thích thú cái thứ tuổi trẻ bông lông vô nghề nghiệp của
Faulkner, bèn
cho cô gái lấy chồng xa, một anh chàng luật sư sáng giá. Khi Estelle
trở về nhà
bố mẹ, thì đã là một goá phụ, tay bế tay bồng [with two small children].
Faulkner có vẻ như chẳng hy vọng gì về chuyện tiếp nối ân tình. Nhưng,
“bảnh”
như mình không lẽ rút dù. Và họ thực hiện lời chỉ trăng thề, bên giếng
ngày
nào.
Estelle cũng chẳng hơn, nàng cũng hồ nghi. Cuộc hôn nhân không hạnh
phúc, phải
nói là tệ hại. “Họ chẳng hợp đôi chút nào”, cô con gái của họ, Jill,
nói với
Parini. “Chẳng có gì là đúng cả, nếu nói về cuộc hôn nhân”.
Estelle là một người đàn bà thông minh. Nhưng nàng có thói quen xài
tiền, luôn
cả thói quen cần nhiều người làm để sai bảo. Cuộc sống trong “khung
rêu” [chữ
của Thuỵ Vũ, để chỉ những gia đình địa chủ mền nam đang suy thoái, chờ
cuộc đổi
đời, là Cách Mạng, do miền bắc đem lại. Nguyên văn Coetzee: một căn nhà
cũ kỹ,
rệu rạo, mục nát], với một ông chồng sáng nào cũng hí ha hí hoáy, mân
mê ba con
chữ, chiều loay hoay thay ba cây cột mục nát, hay săm soi ba ống nước,
một cuộc
sống như thế quả là một cú sốc lớn đối với nàng. Một đứa bé ra đời,
nhưng chết
hai tuần lễ sau đó. Jill sinh năm 1933. Cuộc sống chăn gối của đôi vợ
chồng kể
như ngưng từ đó.
Hàng ngày nhìn thấy nhau, ra vô nhìn thấy nhau, nhưng nghìn trùng xa
cách, thế
là, mặc ai người nấy uống. Vào cuối tuổi trung niên của đời mình,
Estelle cố
bỏ, và bỏ được, rượu. William, chẳng bao giờ. Ông có những cuộc tình
với những
người đàn bà trẻ hơn, và không đủ sức, hay bất cẩn, hay không thèm giấu
diếm,
thế là chiến tranh xẩy ra hàng bữa, cuộc sống vợ chồng ngày càng biến
thành,
như người viết cuốn tiểu sử thứ nhất về Faulkner là Joseph Blotner,
viết, “một
cuộc chiến tranh du kích bát nháo tại gia”.
Gì thì gì, trong 33 năm, cho tới khi Faulkner mất vào năm 1962, cuộc
hôn nhân
cứ thế tiếp diễn, cứ thế tồn tại. Tại sao?
Một trong những lý do trần tục nhất của nó, là, cho tới cuối thập niên
1950,
Faulkner không làm sao mà chịu đựng nổi những thủ tục đầu tiên [tiền
đâu] của
một vụ ly dị. Luôn cả chuyện, ly dị rồi, làm sao mà chu cấp nổi, một bà
vợ chỉ
thích xài tiền, cộng thêm một lũ con, những binh đoàn có tên là
Faulkners, hay
Falkners, lại thêm ông bà già vợ, tất cả đều sống phụ thuộc vào ông. Ấy
là chưa
kể, lại phải tái lăn lưng vào cuộc đời, nghĩa là, phải tái trình diện
với xã
hội loài người, một cách bảnh bao tươm tất, như là một người đàn ông
goá vợ, và
một nhà văn. Nhưng, như Karl, một trong những người viết tiểu sử của F.
cho
thấy, còn một lý do sâu thẳm nữa, là, F. không làm sao rứt ra khỏi bà
vợ. Họ
sinh ra là để làm khổ lẫn nhau, và, nếu không có lý do làm khổ lẫn nhau
thì làm
sao giải thích được chuyện họ sinh ra đời, và... lấy nhau? Như Karl
viết: Ở
từng sâu thẳm nào đó, Faulkner cần Estelle [Đây là câu Gấu cái thường
ngày ca
cẩm Gấu đực: Anh cần tui chứ anh đâu có iêu tui]. "Estelle không có thể
nào mà thoát ra khỏi mớ bòng bong,chằng chịt ở những vùng xa xăm nhất
mà trí
tưởng tượng của Faulkner vươn tới", Karl viết. "Không có Estelle [Gấu
cái], là đếch có Faulkner [Gấu đực. Nên nhớ một trong những truyện ngắn
thần
sầu của Faulkner là... Gấu]. Nguyên văn: "Không có Estelle... ông ta
không
thể nào tiếp tục [viết]". Nàng là bà mệnh phụ "không cám ơn" của
chàng. [She was his madame sans merci: Nàng là bà mệnh phụ tàn nhẫn,
không xót
thương, của chàng] - cõi lý tưởng, thánh nữ mà người đàn ông thờ
phượng...
nhưng cũng còn là vật bất tường, miền tàn khốc, cõi huỷ diệt.
Bằng cách chọn Estelle làm vợ, bằng cách chọn nhà của chàng ở Oxford,
giữa bộ
lạc "Falkner", Faulkner tự chọn mình một thách đố khủng khiếp: Làm
sao làm ông chủ, người được sự hỗ trợ của toàn thể gia đình, người cha,
con đực
đứng đầu cả một bộ lạc… giống như một đàn ruồi, xâu xé, từng đồng xu
kiếm được,
trong khi, cùng lúc, làm sao phục vụ con quỉ nằm ở nơi đáy sâu con
người ông.
Trường kỳ kháng chiến, cùng một lúc chịu đựng cả hai mặt trận như thế,
sức voi
cũng chịu thua, cho nên, như Parini gọi ông, “một con quỉ của sự hữu
hiệu”, với
khả năng của vị thần Appolon, cuối cùng, khối lượng công việc cũng quật
ngã
ông. Để cung phụng đàn ruồi, thiên tài chói chang của văn chương Huê Kỳ
thập
niên 1930 sau cùng đành phải để việc viết tiểu thuyết qua một bên - đây
là thứ
viết lách mà chàng quan tâm tới nhất, chàng sinh ra đời, là để viết
tiểu thuyết
– quay qua, đầu tiên là viết ba đồ làm xàm, bá láp cho mấy tờ lá cải,
sau tới
kịch bản phim cho Hồ Ly Út.
[Đây chính là điều mà Gấu cái ca cẩm thường
ngày: “Tài” của mi đâu
phải để làm trang... nhà! Tài của mi, là để viết “tỉu thết”, thứ để
đời, nhờ đó
mà ta được thơm lây!]
[còn
tiếp]
|