"Bao
nhiêu thế hệ trải qua,
và Miền Nam chúng ta đã biến những người
phụ nữ thành những bà mệnh phụ.
Những vị phu nhân. Thế rồi Chiến Tranh xẩy ra, và biến những vị phu
nhân đó thành [vợ mấy tên Ngụy, sĩ quan cải tạo] những hồn ma."
Faulkner:
Absalom, Absalom!
Bản
Yoknapatawpha của Faulkner.
Hua Tát của
NHT. Macondo của Garcia Marquez.
Mê Thảo của Nguyễn Tuân, Greene, và
Hai Lúa.
Camus nói,
con người, sinh nhằm một thế giới phi lý,
có mỗi một phận sự
thực sự, là sống, âu o về đời sống, về cuộc loạn, cuộc tự do của mình
đó. Ông còn nói, giải đáp độc nhất cho nan đề sống, là chết. Và chết,
là thuộc con đường sai lầm. Con đường đúng, là phải dẫn tới đời sống.
Con người không thể cứ thế tiếp tục rên rỉ vì đau thương lạnh lẽo.
Chính vì thế mà ông nổi loạn. Ông từ chối rên rỉ vì lạnh lẽo. Ông từ
chối đi theo con đường dẫn đến cái chết...
Ông nói, "Tôi không thích tin rằng cái chết mở ra một cánh cửa khác.
Với tôi, nó là cái cửa đóng lại." Ông cố tin như vậy. Nhưng thất bại.
Khi ông được Nobel, tôi gửi điện cho ông, "Chào mừng một tâm hồn không
bao giờ ngừng nghỉ, trong việc tự tìm kiếm, tự hỏi mình", "On salue
l'âme qui constamment se cherche et se demande".
Faulkner viết về Camus
Thời gian là chiến thắng vượt quá sự thất trận, và chiến thắng này là
một điều mà những kẻ thắng trận không thể nào tiên đoán, hay hiểu được.
Một chốn tới, một bãi biển lánh nạn ở bờ bên kia của sự bại trận, những
cái tên trên những nấm mồ chỉ đường, được nâng niu, gìn giữ không phải
bởi vinh quang chiến thắng, bởi vị nữ thần chiến tranh với cành cọ vàng
và lưỡi gươm, nhưng mà là bởi một con hầu, một đầy tớ gái, của chính sự
thất vọng chán chường. Và cô bé đứng trầm ngâm, bất động.
Con người thực ra đâu cần sự thành đạt, cho lắm. Điều này lại càng
đúng, ít ra là, đối với cả một quốc gia, một dân tộc. Về cái chuyện
này, thất bại có khi lại là một điều tốt, cho nó.
[còn tiếp]
William Faulkner đọc
Con Đường
Trở Lại, The Road Back, của Erich Maria Remarque, trong W.
Faulkner: Tiểu luận, Diễn văn, Công Thư [Public Letters], nhà xb The
Modern Library, NY, ấn bản 2004.
Tôi đọc những dòng mở ra bài điểm sách trên, mà cứ tưởng tượng ra rằng
thì là, đây là những lời tưởng niệm, ở một bãi biển có những cái
thuyền, cái bè tị nạn
người Việt đã từng ghé.
Ba mươi năm rồi, có vẻ như chúng ta, những người Việt đã từng bỏ chạy
quê hương Miền Nam, đã cảm nhận ra, cái gọi là sự chiến thắng vượt quá
sự thất trận, mà những kẻ thắng trận chẳng thể nào hiểu nổi, hay tiên
đoán ra được.
Có khi bây giờ, chúng đã hiểu ra điều này, khi cố tình cho hạ những tấm
bia tưởng niệm?
Ngư Ông và Biển Cả
Cuốn hay nhất của hắn ta. Thời gian còn chứng minh thêm, nó sẽ là cuốn
độc nhất, duy nhất, và hay nhất, so với bất cứ một cuốn nào khác, của
lũ chúng ta, tức những kẻ đồng thời với hắn. Lần này, trong cuốn sách
đó, hắn ta khám phá ra Thượng Đế. Ông Trời. Kẻ Sáng Tạo.... Nhưng cũng
lần
này, trong cuốn sách đó, hắn ta nói về sự thương hại...
W. Faulkner
"A book is the writer's
secret life, the dark twin of a man: you can't reconcile them."
William
Faulkner: Mosquitoes [1927] (1)
Một cuốn sách
là cuộc đời bí ẩn của nhà văn, cái thằng anh em sinh đôi
u tối của hắn ta: bạn đừng hòng hoà giải hai thằng chả này.
(1) Coetzee
trích dẫn trong bài viết trên tờ Điểm sách Nữu Ước,
Thời Vô
Song
*
Thời gian là
chiến thắng vượt quá sự thất trận, và chiến thắng này là
một điều mà những kẻ thắng trận không thể nào tiên đoán, hay hiểu được.
Một chốn tới, một bãi biển lánh nạn ở bờ bên kia của sự bại trận, những
cái tên trên những nấm mồ chỉ đường, được nâng niu, gìn giữ không phải
bởi vinh quang chiến thắng, bởi vị nữ thần chiến tranh với cành cọ vàng
và lưỡi gươm, nhưng mà là bởi một con hầu, một đầy tớ gái, của chính sự
thất vọng chán chường. Và cô bé đứng trầm ngâm, bất động.
Con người thực
ra đâu cần sự thành đạt, cho lắm. Điều này lại càng
đúng, ít ra là, đối với cả một quốc gia, một dân tộc. Về cái chuyện
này, thất bại có khi lại là một điều tốt, cho nó.
William
Faulkner đọc
Con
Đường
Trở Lại, The Road Back, của Erich Maria Remarque,
trong W.
Faulkner:
Tiểu luận,
Diễn văn, Công
Thư [Public
Letters], nhà xb The Modern Library, NY, ấn bản
2004.
Tôi đọc những
dòng mở ra bài điểm sách trên, mà cứ tưởng tượng ra rằng
thì là, đây là những lời tưởng niệm, ở một bãi biển có những cái
thuyền, cái bè tị nạn người Việt đã từng ghé. NQT
Ba mươi năm
rồi, có vẻ như chúng ta, những người Việt đã từng bỏ chạy
quê hương Miền Nam, đã cảm nhận ra, cái gọi là sự chiến thắng vượt quá
sự thất trận, mà những kẻ thắng trận chẳng thể nào hiểu nổi, hay tiên
đoán ra được.
Có khi bây
giờ, chúng đã hiểu ra điều này, khi cố tình cho hạ những tấm
bia tưởng niệm?
*
Chuyện
nghề.
Ngài thân mến,
Bản thảo gửi trả Ngài bữa nay, tốc hành.
Lý do không ngửi được, [the reason they have not been accepted], là:
...
Hoa Lan Đen nặng
phần sử thi, nhưng thừa mứa, cần thu vén lại, thiếu hẳn một xen trung
tâm, kịch tính cao.
Tôi tính ngưng phán, nhưng không thể. Cho dù có phải làm ông bực. Tôi
coi cái nghề viết lách quá cao, nên đếch cần cái chuyện ông bực hay
không bực. Tôi không chịu nổi Hoa
Lan Đen. Câu chuyện mà ông kể cho tôi nghe về gia đình
đó, được lắm. Nhưng ông có viết nó ra đâu...
Nếu ông không định viết nó, tại sao lại gửi cho tôi?
Tôi nghĩ là ông đọc chưa đủ. Tôi không định nói tới ba cái tào lao, là
tìm kiếm, là sự kiện, research, facts. Ba thứ cứt đái đó ai cần [Who in
the hell cares for facts] ?
Ông chưa đọc đủ, những câu chuyện của những
con người, họ kể chúng ra thật là tuyệt vời. Hãy đọc những cuốn sau
đây, rồi sau đó, hãy viết lại Hoa
Lan Đen:
Anh em nhà Karamazov của
Dostoevsky.
Buddenbrooks của
Thomas Mann.
Tess of the d'Urbervilles
của Thomas Hardy.
Bất cứ một cuốn nào khác của Hardy mà ông thích.
Lời tôi phán có thể làm ông bực mình, làm ông quê một cục, This may
offend you. Nếu đúng như thế, tôi thành thực khuyên ông, chớ bao giờ
hăm he viết lách gì nữa.
Yours sincerely,
William Faulkner
[Trích Harper's Sept 2006]