|
|
|
Szymborska
Hard Life
with Memory (poem)
Trên tờ NYRB
có bài viết về Szymborska, nhưng dân net không đọc được. GCC đành phải
xuống núi [downtown], nhưng chán quá, báo giấy chưa có. Hẹn độc giả
tuần tới.
Đành phải vớ
cuốn essays sau đây.
Không lẽ về
không?
Bài Intro được
lắm: Mình vào, và ra khỏi đời nhau, thì đều bằng, thay vì nhạc sến, thì
là những
con chữ.
THROUGH
RECENT EXPERIENCES with both birth and death have discovered that we
enter and
leave life as, among other things, words. Though we might later become
daughters and sons, many of us start out as whispers or rumors before
ending up
with names scrawled next to our parents' on birth certificates. We a
struggle
to find, both throughout our lives and at the end, words pin down how
we see
and talk about ourselves.
*
Thơ là để trao
cho thi sĩ. Borges phán.
GCC thêm vô, nhưng có những bài thơ, được trao cho, chỉ 1
thi sĩ.
Thí dụ bài “Vietnam”, của Szymborksa.
Thi sĩ Mít không thể làm được bài này.
Bởi vì phải đau cuộc chiến Mít tới cỡ nào thì mới làm nổi
bài thơ trên.
Cũng thế, là bài sau đây, cũng của Bà:
Vermeer
So long as that
woman from the Rijksmuseum
in painted quiet and concentration
keeps pouring milk day after day
from the pitcher to the bowl
the World hasn’t earned
the world’s end.
Một khi
mà người đàn bà ở
trong bức tranh ở viện bảo tàng
Rijksmuseum
vẫn trầm
lắng và chú tâm
rót sữa
mỗi ngày từ cái bình ra cái bát,
thì Thế
Giới vưỡn chưa có được cái sự tận cùng của thế giới.
Bài thơ này,
GCC đọc trên NYRB, 11.11.2010, bèn chôm
liền.
Tình cờ
sao, tay Prospero, cũng đọc, nhưng trên lưới, và cũng chôm liền, và đi
một đường
vinh danh thực là tuyệt vời: Bài thơ chống lại Tận Thế
Bạn
phải đau nỗi đau Việt Nam tới cỡ nào thì mới làm nổi bài thơ “Vietnam”,
và
chính vì đau nỗi đau VN như thế, thì mới lại làm nổi bài thơ
chống lại Tận Thế như thế!
"God
reveals in utter clarity that which we can't understand; that which we
can understand
He lays out in riddles."
Tạm dịch: Ông Giời bày ra cái thật rõ ràng để chúng ta đếch hiểu nổi.
Còn cái chúng ta hiểu được, thì ông bày ra qua thai đố.
Liệu hai bài
thơ trên, minh họa, câu trên?
I love the
shape of the poem—it thins like a stream of milk, pouring itself out. I
also
love the tension she sets up between the "W" and the "w",
which appears hierarchical but is also slippery.
Prospero
Tôi mê cái
dáng của bài thơ - mỏng như sợi sữa, tự nó đổ nó ra, chẳng cần tới ai.
Tôi cũng
mê sức căng mà thi sĩ tạo ra, giữa W và w, nó làm lộ ra đẳng cấp nhưng
cũng còn
làm lộ ra sự trơn trượt.
Ui chao,
phán như thế mới là phán chứ, nhỉ?
Nhưng bạn đã
nhận ra sức căng của thời tiết, vào lúc trời đất rơi vào thu phân?
… tóc em
rối giữa hai đầu ngọn gió
hình như
rừng rơi vào thu phân.
TMT
Wislawa
Szymborska, a Nobel Prize-winning poet
who used the imagery of everyday objects and a mordant style to explore
dramatic themes of human experience including love, war and death, died
Feb. 1
at her home in Krakow, Poland. She was 88.
She had lung cancer, her secretary Michal Rusinek told the Associated
Press.
Wislawa
Szymborska, nhà thơ Ba Lan, Nobel văn
chương - thường sử dụng hình ảnh của những sự vật đời thường, mọi ngày,
và 1 giọng
thơ móc họng người đọc, để diễn tả, khám phá, thám hiểm kinh nghiệm
nhân sinh,
bao gồm tình yêu, chiến tranh, và chết chóc - mất ngày 1 Tháng Hai, tại
nhà riêng
tại Krakow, Ba Lan, 88 tuổi, do ung thư phổi, theo người thư ký cho
biết.
Szymborska
thường viết, như thể, về 1 đề tài được chỉ định - một hạt cát, hay là
bức hình
đầu tiên của Hitler, hay một điều gì có tính suy đoán hơn, thí dụ, sự
hiện hữu
của linh hồn của chúng ta, hay là sự im lặng của cây cối quanh chúng
ta. Rồi,
tiếp đó, bà nghiên cứu, xem xét đề tài một cách gần gụi hơn. Trước
tiên, bà
miêu tả cái bà nhìn thấy, rồi bà nhớ lại những gì bà và những người
khác biết về
nó, và, yên chí lớn, độc giả theo kịp bà, cùng với bà đi tới mọi khúc
rẽ, mọi
bước ngoặt của cái đầu của bà, khi bà lần theo tư tưởng của mình, trên
đường đi
tới một kết luận ngỡ ngàng cho bài thơ, hoặc dí dỏm, hoặc tàn nhẫn, dã
man, ác
liệt.
Thơ như thế, có vẻ như là 1 cuộc triển khai, viết. Thì nó thế, thực.
Hơn hết thẩy những nhà thơ mà tôi biết, hay nghĩ tới, Szymborska không
chỉ sáng
tạo ra 1 tình trạng, một trạng thái [a state] thơ, ở nơi những độc giả
của bà,
nhưng còn nói cho họ biết, những điều họ chưa biết trước đó, và chẳng
bao giờ
nghĩ về nhưng điều đó.
Charles
Simic
Wislawa Szymborska in 2010. Photograph: Jacek
Turczyk/EPA
Wislawa Szymborska, 'Mozart of poetry',
dies aged
88
Polish president joins tributes to
Nobel prize-winner, calling her the country's 'guardian spirit'
Nhà thơ Ba Lan, Nobel văn chương mà
những bài thơ đơn giản, tếu tếu, dường như đánh lừa độc giả, nhưng nói
thẳng tới trái tim của cuộc đời thường nhật, mất hôm qua, Feb
1, thọ 88 tuổi.
Được miêu tả bởi Uỷ ban Nobel, như là 1 “Mozart của thơ”, với
“điều gì giận dữ của Beethoven”, và bởi một nhật báo Ý, như là một
"Greta Garbo của thế giới thơ”, Szymborska mất trong giấc ngủ,
theo người thư ký riêng của bà là Michal Rusinek.
Bronislaw
Komorowski, tổng thống Ba Lan, ngày hôm qua, đã gọi bà là “tinh thần hộ
vệ, thần
hộ mạng” của Ba Lan. Thơ của bà là những lời "cố vấn thông minh, sáng
ngời, qua đó,
thế giới trở nên dễ hiểu hơn”, chúng cho thấy sự quan trọng tìm ra giá
trị ở trong
“cuộc sống hối hả thường nhật”.
Sinh tại một
làng Ba Lan ở Bnin, vào năm 1923, Szymborska dời tới Krakow 8 năm sau
đó, và sống
ở đây tới khi mất. Bà học môn ngữ văn và xã hội học ở đại học thành
phố, và cho
in bài thơ đầu tay, “Tôi kiếm một Từ” vào Tháng Ba 1945, trên nhật báo
Dziennik
Polski. Tập thơ đầu “Đó là cái mà chúng ta sống vì nó”, 1952, được xb
khi còn “VC
Ba Lan”, và là 1 diễn tả chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; sau đó,
bà từ chối
thứ thơ thời kỳ Stalinist của bà, ở trong hai cuốn thơ đầu, và bắt đầu
làm thơ
chế nhạo chủ nghĩa cà chớn đó.
Ghi
chú
trong ngày
TV tính dịch
mấy bài thơ của Wistawa Szymborska, nhưng tình cờ vô blog của nữ dịch
giả TL,
thấy, đã dịch rồi, từ nguyên tác tiếng Ba Lan. Tính bệ về, khỏi mất
công dịch từ
tiếng Anh, nhưng lại thấy dòng chữ cấm ăn cắp:
Bản quyền
Tác giả giữ
bản quyền tất cả các bản dịch và sáng tác trên blog này.
GCC này thắc
mắc: Khi TL dịch như thế, có xin phép bà W. Szymborska hay không?
Bởi vì TL dịch rất nhiều thơ của bà này.
TV sở dĩ cho độc giả tha
hồ sử dụng, cho cá nhân mình, đừng chôm để viết tạp
ghi, “phén”, lấy tí tiền bỏ túi, là cũng ngại cái vụ bản quyền. Một tên
Gấu bỏ
tiền túi ra mua, dịch, ít nhất có 300 độc giả mỗi ngày được đọc free,
tha hồ sử
dụng riêng cho mình, chẳng tốt sao.
Cô TL này, có
lần rất bực GCC vì chê Ryszard Kapuscinski, tác giả Gỗ Mun, TL dịch qua
tiếng Việt.
Tuy nhiên, GGC chỉ tóm tắt một bài viết trên TLS về ông, khi đó
chưa đọc ổng.
Sau đó, tò mò
tìm đọc.Quả là số 1, nhưng, đúng như TLS nhận định, tác phẩm của ông
không phải
là sách sử học, mà là giả tưởng.
Thần sầu, nhưng giả tưởng.
RK là tiểu
thuyết
gia, không phải sử gia.
Còn nữa, ông
này là điệp viên, nhưng chỉ đến sau khi chết, người ta mới biết.
Đúng ra, ông
nên cho độc giả biết, trước khi chết.
Trên TV sẽ dịch
một truyện ngắn của ông, trên tờ Granta, thần sầu, độc giả Mít chắc
chắn là mê
tơi luôn!
Truyện có gì liên quan tới xứ Mít, sau khi chấm dứt chiến tranh.
Khi Talawas
vừa xuất hiện, GCC bèn xung phong cắp giỏ theo hầu Sến Cô Nương, cùng
lúc đóng góp
loạt bài “Dịch là Cướp”, “Dịch là chết ở trong hồn 1 tí…” và Sến mừng
rỡ, xoa đầu
Gấu rối rít, khen um lên, anh tặng tụi này toàn những nick đắt giá, nào
biệt kích
văn hóa, nào ăn trộm, ăn cắp, nếu không ăn cướp được… Ấy là vì Sến
hiểu, Mít rất
cần dịch thuật. Nhưng không phải trong tinh thần, ăn cắp rồi mang về
nhà làm của
riêng, cấm những tên Mít “vô học”, hay học mới học đến... lớp1,
như Sáu Dân Hồ Tôn Hiến,
hay anh y tá dạo nhờ Cách Mạng thành công leo lên đến chức thủ tướng,
không biết
tiếng mũi lõ, tụi mi không được ăn cắp lại của “chúng ông”.
Xin lỗi nếu TL không
phải Bắc Kít, nhưng, nếu là BK, thì sau khi ăn cướp cả 1 nền văn học
Miền Nam,
bây giờ nhờ ơn Đảng và Nước VC, được qua Ba Lan, lại ăn cắp của Ba Lan,
làm… của
mình?
*
Hoàng Hưng
có thể là người đầu tiên nhận ra hiện tượng thơ trẻ, nhưng hai câu hỏi
của ông,
(Bạn vẫn làm thơ, có điên không đấy? và Bao giờ thì Thơ chết?), thật sự
không
trực tiếp liên can tới Thơ Trẻ. Theo tôi, nó bắt nguồn từ câu thơ nổi
tiếng của
Holderlin: Tại sao thi sĩ trong một thời khốn kiếp như thế này? (bản
tiếng
Pháp: Pourquoi des poètes en temps de détresse?: Tại sao thi sĩ trong
thời khốn
khổ đọa đầy?), và "Sau Lò Thiêu mà còn làm thơ thì thực là dã man", của
triết gia Adorno.
Hơn thế nữa,
cái khoảng cách giữa Chế Lan Viên tiền-cách mạng và những nhà thơ được
Hoàng
Hưng nhắc tới, và cõi thơ "Tôi Âu Cơ một mình", là một khoảng cách
khá dài, và cần rất nhiều giả dụ, đề xuất...
Trong bài viết
"Thơ của tôi không dành cho bạn", Phan Huyền Thư hình như đã nhìn ra
khoảng cách đó, nghĩa là khoảng cách mà tôi gọi là không có thơ - cái
thời đại
khốn kiếp - khi đưa ra thách đố cho Thơ Trẻ: nó có lẽ sẽ làm cái phần
còn lại,
tức cái phần mà lớp thơ đàn anh bỏ lỡ, khi cố tình đẩy thơ về với đám
đông, với
cách mạng. Bởi vì, nên nhớ một điều, và điều này thật quan trọng: Trong
bài viết
của Hoàng Hưng, ông không hề nhắc đến những dòng thơ của một Chế Lan
Viên, khi
đã về với cách mạng, hoặc một dòng thơ của chính ông, cho dù tự hào
"Hèn" [tôi thích từ "Mèng"] hơn nhiều, như... Và khi ông
trích dẫn câu thơ "Nhưng tôi không thấu hiểu/Cái gì mạnh, cái gì đáng
sợ
treo ngược con người..." ông đã hiểu, như chính tác giả những câu thơ
đã
hiểu: Hơn cả một chế độ, cho dù toàn trị, là một cõi người không có
thơ: Cái thời
đại khốn kiếp! (1)
Tôi tản mạn
về một nhà thơ nước ngoài như trên, là để nói ra điều này: thế hệ nhà
thơ nào
cũng muốn chứng tỏ một điều: chúng tôi không vô ích, khi làm thơ. Nếu
mỗi thế hệ
là một quốc gia non trẻ , và, nếu thế hệ đàn anh của chúng tôi tượng
trưng cho
nước Việt non trẻ - vừa mới giành được độc lập - là bước ngay vào cuộc
chiến,
và, họ đã chứng tỏ được điều trên: đã không vô ích khi làm thơ; và đã
thắng trước
cuộc đời, cho nên đây là một thách đố đối với những nhà thơ trẻ như
chúng tôi:
đừng làm cho thơ trở thành vô ích. Và nếu thơ của lớp đàn anh chúng tôi
đã làm
xong phần đóng góp cho sự nghiệp chung của dân tộc, thơ của thế hệ trẻ
chúng
tôi có lẽ sẽ làm nốt phần còn lại: thơ sẽ nói lên nghệ thuật của sự
tưởng niệm,
và mỗi bài thơ, được viết đúng lúc như thế đó, sẽ trở thành một khúc
kinh cầu.
Đó là tham vọng của thơ trẻ. (2)
Thơ Mít
sau
30 Tháng Tư, thay vì vinh danh, thì phải là tưởng niệm những người đã
chết, ở cả
hai bên, ở cả thường dân lẫn những người cầm súng may mắn sống sót.
Cả 1 cõi
thơ Mít, không làm sao có nổi 1 bài thơ như bài “Việt Nam” của
Szymborska.
Không có ai khóc, mà chỉ những tên khốn kiếp ăn mừng chiến thắng, ăn
mừng nhận
hàng [Miền Nam nhận họ, Miền Bắc nhận hàng].
Nhận hết hàng Miền Nam, thì biến cả
thế giới thành bãi đánh hàng!
Sở dĩ trên
TV, chỉ có thơ của Simic, Zagajewski, Milosz, Szymborska, vì thơ của họ
đều là
những bài tưởng niệm cả 1 thời kỳ vừa qua.
Theo tinh thần đó, Helen
Vendler viết: Chẳng
có bài học trực tiếp nào mà những nhà thơ Mẽo học được từ Milosz. Họ có
bao giờ
nhìn bằng cặp mắt của chính họ, chiến tranh, trên đất nước, xứ sở của
chính họ.
Chính vì thế mà họ không làm sao nhập vào được giọng thơ của Milosz.
Chúng ta,
Mít, chẳng những chứng kiến, đau khổ vì cuộc chiến đến như thế, vậy mà
đâu có đẻ
ra được 1 thứ thơ như của Milosz, của Szymborksa.
Chính vì thế mà phải dịch,
cho mọi người cùng đọc, để làm thay đổi hẳn cõi thơ Mít.
Đâu phải để
làm “của” riêng, "của" mình?
Bài viết này, cho đến khúc này, dựa trên giả định, TL không xin phép bà
nhà thơ
Ba Lan.
Nếu
có xin phép, thì… OK. Nhưng tinh thần bài viết thì vẫn như vậy. Nghĩa
là tốt nhất đừng cấm Mít đọc free, tha hồ chôm về dùng riêng cho
mình, miễn đừng kiếm tí tiền bỏ túi, trên công lao của người khác.
GCC mới đọc bài viết của TL, về về Szymborska qua đời. (3)
Szymborska
CAKE AND
BRANDY WITH SZYMBORSKA
Bánh
Ngọt và Rượu Brandy với Szymborska
~ Posted by
James Hopkin, February 10th 2012
Vào khoảng
trưa ngày hôm qua, 9 tháng Hai, 2012, một điệu nhạc không chờ đợi, bất
ngờ, có
thể nghe được ở quảng trường chính của thành phố Krakow, Ba Lan. Thay
vì bản nhạc
truyền thống"hejnal", từ tháp nhà thờ St. Mary, thì tiếng kèn vang
lên một điệu nhạc buồn được viết ra để đi kèm với “Không gì hai lần”,
một bài
thơ của Wislawa Szymborska, nhà thơ Nobel văn chương Ba Lan, đã mất
tuần lễ trước,
thọ 88 tuổi.
Cách đó một
dặm rưỡi, tổng thống và thủ tướng Ba Lan cùng những nhân vật chức sắc
quan trọng
Ba Lan, trong tuyết rơi thật nặng, đã cùng tụ họp để tiễn đưa tro than
của nhà
thơ xuống lòng huyệt, tại nghĩa địa thành phố Rakowicki, theo âm
điệu của
một trong những bản nhạc mà bà yêu thích, "Cà Phê Đen" của Ella
Fitzgerald.
Quá xứng hợp.
Szymborska đã sáng tác một toàn bộ tác phẩm kết hợp sự thấu đáo, am
hiểu thật sâu
thẳm về nỗi buồn với cảm nhận, đánh giá chính xác, về cái phần sáng sủa
hơn,
vui tươi hơn, của cuộc đời. Học sinh toàn cõi Ba Lan, chúng gần như
thuộc lòng
những bài thơ của bà, như “Mèo Trong Phòng Trống”, “Yêu Từ Cái Nhìn Đầu
Tiên”,
“Chẳng Gì Hai Lần”, chúng làm chúng ngỡ ngàng vì cái vẻ giản dị dễ
thấm, và hứng
khởi. Lặng lẽ, thơ của bà đòi hỏi sự quả quyết, thầm thì lời cố vấn, và
dâng
tặng một trí tuệ dẻo dai, và một cảm quan tuyệt vời về hình dáng. Mặc
dù xb
chừng trên chục tập thơ, bà tiếp tục làm thơ, gần như cho đến khi mất.
Nổi tiếng vì
riêng tư, kín đáo, bà ít khi nhận lời phỏng vấn, nhưng đã gật đầu cho
phép tôi,
vào năm 2000, cho tờ báo Anh, the Guardian.
“Đừng hỏi về những bài
thơ”, bà
nói, vui vẻ gạt bỏ những câu có tính kinh điển, học viện. “Hãy hỏi tôi
về những
núi non”. Khi tôi nói, bữa nay là sinh nhật của tôi, bà vỗ tay hài lòng
và vô
nhà bếp, mang ra bánh ngọt và rượu brandy, và hai gói thuốc lá. Bà
chẳng thú gì
khi tôi lắc đầu chê thuốc lá, và còn gặng hỏi, “Không hút ư, thực hả?”
Then in her
mid-70s, Szymborska was alert and attentive, and ever so slightly
flirtatious.
I listened to the hour-long tape again this week. Her voice, like her
work, is
melodic, teeming with notes that run from sadness to glee, the latter
accompanied by laughter and clapping. "I'll remind you in infinite
detail," she writes in "Archaeology", "Of what you expected
from life besides death."
Rồi
thì, vào giữa thập niên của cái tuổi bẩy bó của mình, như hồi xuân, bà
trở nên
tỉnh táo, cảnh giác, chú tâm, và có thể, còn thích thích, nếu có người
tán tỉnh mình. Tôi lại ngồi nghe cả giờ cuộn băng dài. Giọng bà, như
thơ của bà, mới sến làm sao, đầy những “nốt” chạy từ buồn bã tới hân
hoan, kèm tiếng
vỗ tay rộn ràng, và tiếng cười ròn rã,
“Tôi sẽ nhắc nhở bạn trong thiên thu chi
tiết,”
[như dòng thơ của bà, trong “Khảo cổ học”]
“Về cái điều mà bạn mong ước, đợi
chờ, hoài vọng,
về cuộc đời,
bên cạnh cái chết”.
Szymborska đã trải qua phần lớn
tuổi trẻ của mình trong Ðại chiến
thế giới thứ II, nhưng bà ít viết về chiến tranh. Bà sáng tác
chủ yếu về
hoàn cảnh của con người, mối tương quan giữa cá nhân và lịch sử, đặt ra
những
câu hỏi căn bản về ý nghĩa, mục đích của những nỗ lực, đam mê, kinh
nghiệm và
suy tư của con người.
Thái Linh
Cô "chắc là Bắc Kít" này, nhờ
Đảng và Nhà Nước, qua Ba Lan sống, rành
tiếng Ba Lan, dịch thơ Szymborska, không biết có xin phép không, nhưng
cấm không
ai được ăn cắp thơ dịch trên Blog của cô, thì cũng được thôi, nhưng
dịch thì cứ
dịch, đừng phán ẩu về thơ của S, nhưng bà ít viết về chiến tranh.
Bởi vì như
Simic viết:
Thì
thầm muộn trong đêm từ Ba Lan
Note: Charles Simic điểm mấy
cuốn mới ra lò của ba nhà thơ Ba Lan,
trên NYRB, Dec 22, 2011.
Đọc câu sau đây, mà chẳng sướng
& tủi sao?
It is truly remarkable how many
fine poets Poland has given to the
world in the last century. This is an extraordinary accomplishment for
a
country used as a short cut in two world wars by both German and
Russian
invading and retreating armies, who, in addition to redrawing its
borders
repeatedly and occupying it for years, slaughtered millions of its
citizens and
deported others. Perhaps, as Czeslaw Milosz speculated back in 1965, in
the
preface to his much-admired anthology Post-war Polish Poetry, a poet
crawling
out from under the historical steamroller is better prepared to assume
the
tasks assigned to him than his colleagues in happier countries. For us,
he
said, "history is extremely real. It may not be to American poets, but
for
us it is very, very much a part of reality."
This sounds plausible, although
as Milosz himself noted elsewhere,
only a small percentage of human suffering ever gets into literature,
while
most of it disappears without a trace. Many nations that had undergone
similar
horrors have remained comparably mute afterward, so the vitality of
Polish
poetry must be due to many other factors besides its history.
Nevertheless,
even a cursory look at the lives of the three poets under review here
leads one
to the inescapable conclusion that the despair and moral outrage
provoked by
what happened to their nation were decisive for each of them.
Thực sự đáng kể, là con số khá
nhiều nhà thơ tuyệt vời Ba Lan đã
đến với thế giới trong thế kỷ vừa qua. Quả là 1 thành tựu lạ kỳ của một
xứ sở
được coi như là một “short cut” [đường cắt ngắn, lối đi tắt…] giữa hai
cuộc thế
chiến, bởi cả hai quân đội Đức và Nga, xâm lăng, rồi rút lui, và, không
chỉ vẽ
lại bản đồ biên giới, và chiếm giữ đất nước trong nhiều năm, mà còn làm
thịt
hàng triệu người Ba Lan, tống xuất, lưu đầy hàng triệu người Ba Lan
khác. Có
lẽ, như Czeslaw Milosz phán, vào năm 1965, trong lời tựa cho 1 tuyển
tập thơ
của ông, rất được ái mộ, Thơ Ca Hậu Chiến Ba Lan, một nhà thơ bò lồm
ngồm ra
khỏi đáy của con tầu lịch sử, thì đúng là đã được sửa soạn đầy đủ,
thông tri
đầy đủ… để đóng cái vai nhà thơ, và thi hành OK những trách nhiệm được
trao cho
anh ta, hơn là ba thứ cà chớn khác, tức những đồng nghiệp văn hữu, thi
hữu của
anh ta, ở trong những xứ sở hạnh phúc hơn. Đối với chúng ta, ông
[Milosz] nói,
“lịch sử thì thực cực kỳ thực. Điều này chưa chắc đã đúng, đối với
những nhà
thơ Mẽo, thí dụ, nhưng đối với chúng ta [những nhà thơ Ba Lan], nó quá
đúng,
quá đúng, là 1 phần của thực tại”.
Nghe thì có vẻ thật là bùi tai,
nhưng cũng lại chính Milosz, ở 1
chỗ khác, phán, chỉ một phần trăm rất nhỏ của nhân loại đau khổ cực kỳ
may mắn
được bò vô văn chương, thơ ca, trong khi đa số, hoặc hầu hết nhân loại,
biến
mất, chẳng để lại 1 tí dấu vết. Rất nhiều quốc gia trải qua rất nhiều
đau
thương tang tóc, kinh hoàng, man rợ… tương tự như Ba Lan, nhưng mà sau
đó trở
thành câm, hoặc cả nước bị Sáu Dân, Tấn Dũng… bịt
miệng, thành thử cái chuyện thơ ca bảnh tỏng như
Ba Lan hậu chiến có
thể còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác, ngoài yếu tố lịch sử của nó.
Mặc dù vậy, chỉ một cái nhìn
thoáng qua cuộc đời ba nhà thơ Ba Lan
được đề cập tới ở đây, là ngộ ra liền tù tì, là có ngay 1 kết luận
không thể
chệch đi đâu được: Sự chán chường, và sự vi phạm đạo đức, về những gì
xẩy ra
cho đất nước của họ, là yếu tố quyết định đối với mỗi một người trong
cả ba.
*
Wislawa Szymborska, sinh
năm 1923, sống gần một nhà ga xe
lửa tại Krakow trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến và làm nhân viên cho sở
hoả xa,
trong 1 xứ sở chồng chéo qua lại những đoàn tầu chở binh sĩ ra mặt
trận, chở
thương binh trở về từ bất cứ nơi nào có đánh nhau, chiến trận và thường
dân tìm
nơi trú ẩn xa mặt trận, hay bị chuyên chở dưới lính gác tới một trong
những
trại tập trung nổi tiếng của đất nước.
Bà nhìn thấy và nghe thấy muôn điều:
Hãy viết ra. Viết nó. Bằng mực
thường
Trên giấy thường: Họ chẳng được cung cấp thực phẩm
Họ tất cả đều chết vì đói. Tất cả. Bao nhiêu?
Đó là 1 cánh đồng rộng. Bao nhiêu cỏ cho một đầu người? Hãy viết ra:
Tôi không
biết
Lịch sử đong đếm những bộ xương thành con số không.
Một ngàn và một thì vẫn chỉ là một ngàn
Như thể chẳng có ai đã từng sống
Một bào thai dởm
Một cái nôi trống,
Một kíp nổ chẳng nhắm một ai
Không khí cười, khóc, lớn lên, mò cầu thang tìm lối hư không ra khu vườn
Không một vết người trong hàng ngũ.
Nó trở thành thịt ngay tại đây, trên cánh đồng này.
Nhưng cánh đồng thì câm lặng, như người chứng đã được mua
Trong xứ sở này [Ba Lan], W.
Szymborska là nhà thơ được biết và
được đọc nhiều nhất; một tập thơ của bà thì được bán ra trên 80 ngàn ấn
bản.
Không phải chỉ là do bà được Nobel văn chương. Đồng bào của bà, nhà thơ
Milosz
cũng Nobel vậy. Thơ của bà cũng một thứ phơi mở ra với độc giả, như
Różewicz,
nhưng ở bà, thoả mãn hơn, uyên nguyên hơn. Thêm nữa, bà chuyển dịch
thật tới.
Hay, có lẽ phải nói chính xác hơn, những dịch giả của bà cho độc giả
cảm tưởng
đó, qua năm tập thơ đã được dịch qua tiếng Anh. Cực kỳ thông minh, láu
lỉnh, tế
nhị, rất tự tin, bản lĩnh, ung dung, tự tại, bà dẫn dụ chúng ta bằng
cái tầm
rộng lớn của những quan tâm của bà, cái sự không có 1 tí vị kỷ của 1
nhà thơ,
[Tao & thơ tao là số 1, cái này thì thi sĩ Mít bị nặng lắm, đọc mấy
ông nhà
thơ ra cái điều trịnh trọng, hay, viết 1 cái mail không nên thân, do
tưởng ai
cũng biết mình là thi sĩ, hay, giả đò suy tư, thơ từ đâu tới… là Gấu
chỉ muốn
văng tục], và cái sự bi quan yếm thế nhưng vui vui của bà.
Đó là cách mà bà bắt đầu một bài thơ “Nhìn với một hạt cát”, trong 1
tập thơ xb
đã lâu, của bà:
We call it a grain of sand,
but it calls itself neither grain nor
sand.
It does just fine without a name,
whether general, particular,
permanent, passing,
incorrect, or apt.
Our glance, our touch mean
nothing to it.
It doesn't feel itself seen and
touched.
And that it fell on the windowsill
is only our experience, not its.
For it, it is no different from
falling on anything else with no assurance that it has
finished falling
or that it is falling still.
Nhìn với một hạt cát
Chúng
ta gọi nó, một hạt cát
Nhưng nó gọi nó, chẳng hạt, cũng chẳng cát
Không tên với nó là OK lắm rồi.
Dù tổng quát, hay đặc thù
Dù thường hằng, hay thoáng qua
Dù không đúng, hay đúng bong.
Cái nhìn, cái sờ của chúng ta chẳng là cái gì đối với nó
Nó chẳng bị nhìn hay được sờ
Và nếu nó có rớt xuống bậu cửa sổ
Thì đó là kinh nghiệm của chúng ta
Không phải của nó
Với nó, chẳng có gì khác biệt giữa rớt xuống một cái gì
và chẳng có gì là bảo đảm cái chuyện nó đã rớt xong xuôi lên một cái gì
đó
Hay là vẫn đang còn rơi (1)
Nhân nhắc đến
Krakow, bèn post bài thơ viết về Thảo Cầm Viên của thành phố,
của nhà thơ đồng
hương của Szymborska
THE BOTANIC
GARDEN
In the
Krakow Botanic Garden
I came upon an Asiatic tree
bearing the
name Chinese Metasequoia-a lovely
tree
with ragged, palmate needle-leaves.
But why
metasequoia-not just a regular sequoia?
Does the metasequoia
grow beyond itself?
Does it tower above the other trees?
Have even
plants begun to draw upon
the arcane
jargon
of certain
academic sages?
Adam
Zagajewski: Unseen Hand
Thảo Cầm Viên
Trong Thảo Cầm
Viên Krakow
Tôi mò ra một
cây Á châu
Có cái tên Siêu Bách Tầu -
một cây thật dễ thương,
lá
giống như những cây kim hình chân vịt, rách tả tơi.
Nhưng tại
sao một siêu bách mà không là cây bách bình thường?
Liệu thứ siêu
bách đó lớn lên vượt quá cả chính nó?
Liệu cái tàn
lá kia sẽ phủ lên những cây khác?
Liệu có những
loài cây lớn lên,
và phủ lên những biệt từ đám kinh viện dành cho chúng?
UNWRITTEN
ELEGY
FOR KRAKOW'S
JEWS
My family
lived here for five hundred years - DR. M. S.
But Joseph
Street is the saddest, spare as a new moon,
not a single tree though not
without charm,
the dark
charm of a province, of parting, a quiet burial;
in the
evening shadows gather here from every neighborhood,
and even some brought by
trains from nearby towns.
Joseph was
the Lord's favorite, but his street knew no
happiness,
no pharaoh
distinguished it, its dreams were sorrowful,
its
years were lean.
In the
Church of Corpus Christi I lit candles for my dead,
who live far off-I don't
know where
-and I sense
they warm themselves in the red flame too,
like the homeless by a fire when the
first snow falls.
I walk the
paths of Kazimierz and think of those who are
missing.
I know that
the eyes of the missing are like water and can't
be seen-you can only drown in
them.
To hear
footsteps in the evening-and see no one.
They walk
on, although there's no one here, the tread of
women in
boots
shod with
iron, beside the hangman's quiet, almost tender
steps.
What is it?
As if black memory moves
above the
city, like a comet withdrawing from the stratosphere.
Adam
Zagajewski: Unseen Hand
Bi
khúc chưa viết
cho những người Do Thái ở
Krakow
Gia đình tôi sống ở đây 500 năm
rồi - DR. M. S.
Nhưng con phố Joseph
Street
thì buồn nhất,
và gầy, như 1 vừng trăng non
Tuy nhiên, không 1 cái cây riêng lẻ nào mà không có sự mê hoặc
Sự mê hoặc âm u của một thị trấn, của sự ra đi, của sự chôn cất
Vào buổi chiều những cái bóng từ mọi khu xóm tụ tập về đây
Còn có cả những cái bóng đến bằng xe lửa từ những thành phố kế cận
Joseph [HV] là con cưng của Chúa,
nhưng con phố của anh ta
thì đếch biết hạnh phúc là cái chó gì!
Hà, hà!
Chẳng có một vì vua pharaoh nào nhận ra nó
những giấc mơ của nó thì u sầu, những năm tháng thì mới gầy guộc làm
sao.
Ở nhà thờ Church of Corpus
Christi, tôi đốt nến cho những người chết
của tôi
họ sống ở đâu đó, xa vời, làm sao tôi biết được –
và tôi cảm thấy
họ tự ấm họ lên trong ánh lửa đỏ,
như những người vô gia cư kế bên ngọn lửa, khi tuyết đầu mùa đổ xuống.
Tôi đi bộ trên
những lối đi ở
Kazimierz và nghĩ tới những người mất tích
Tôi biết mắt
của họ thì giống như nước,
Và không thể
được nhìn thấy – bạn chỉ có thể chết chìm ở trong đó.
Nghe những
bước chân của họ vào buổi chiều - và chẳng nhìn thấy một
ai
Họ bước đi,
mặc dù chẳng có ai ở đây,
tiếng bước
chân của những
người đàn bà mang giầy bốt,
bịt móng sắt,
bên cạnh tiếng bước chân lặng lẽ, dịu dàng, êm ái
của tên treo
người, kẻ sát nhân,
gã đao phủ.
Cái gì vậy?
Như thể một hồi ức đen chuyển động ở phiá bên trên thành
phố
Như ngôi sao chổi rút ra
khỏi tầng
bình lưu.
|
|