|
|
The Nobel Prize in Literature
2010
Mario Vargas Llosa

The
Nobel Prize in Literature
2010 was awarded to Mario Vargas Llosa "for his cartography of
structures
of power and his trenchant images of the individual's resistance,
revolt, and
defeat".
Bản
tiếng Tây:
“pour sa cartographie des structures du pouvoir et ses images aiguisées
de la
résistance de l’individu, de sa révolte et de son échec” [“vì cái bản
đồ cơ cấu
quyền lực của ông, và những hình ảnh sắc bén của ông, về cuộc kháng cự
của cá
nhân, sự nổi loạn, và thất bại của hắn ta”
Bản tiếng Mít của Bi Bi Xèo:
Ủy ban
nói ông đã “khắc họa
các cơ cấu quyền lực cũng như những hình ảnh sâu sắc về sự kháng cự, sự
nổi
loạn và bất lực của con người”.
Dịch
cũng không đến nỗi... sai, nhưng giá thêm cụm từ 'cá nhân', trước 'con
người', thì rõ hơn!
Theo nghĩa đó, mấy ông Tây viết:
Les jurés du Nobel ont récompensé un écrivain engagé dans son époque:
Uỷ ban Nobel đã tưởng thưởng một nhà văn dấn thân của thời của ông ta.
Tờ The New
York Times viết:
The Peruvian writer Mario Vargas Llosa, whose deeply political
work vividly examines the perils of power and corruption in Latin America, won the 2010 Nobel
Prize in Literature on Thursday.
Nhà văn Peru Llosa, mà những tác phẩm nặng chất chính trị quan sát
sống động những hiểm họa của quyền lực, và sự tham nhũng, băng hoại ở
vùng đất
Mỹ Châu La Tinh, đã thắng giải Nobel văn chương 2010.
Bản tin
AP:
"I am very surprised,
I did not expect this," Vargas Llosa told
Spanish National Radio, adding he thought it was a joke when he
received the
call.
"It had been years since my name was even mentioned," he added.
"It has certainly been a total surprise, a very pleasant surprise, but
a
surprise nonetheless."
The Swedish
Academy
said
it honored him for mapping the "structures of power and (for) his
trenchant images of the individual's resistance, revolt and defeat."
Its
permanent secretary, Peter Englund, called him "a divinely gifted
storyteller" whose writing touched the reader.
"His books are often very complex in composition, having different
perspectives, different voices and different time places," Englund
said.
"He is also doing it in a new way, he has helped evolve the art of the
narration."
Tôi quá ngạc nhiên. Tôi không hoài vọng điều này. Llosa phán. Thoạt
đầu, tôi
nghĩ, họ chọc quê tôi, khi nghe điện thoại. Đã nhiều năm rồi tên tôi
được nhắc
tới. Hoàn toàn ngỡ ngàng, ngỡ ngàng thú vị, nhưng quả là ngỡ ngàng!
Hàn Lâm Viện Thụy Điển vinh danh ông vì đã vẽ ra cái bản đồ của những
cơ cấu quyền
lực, và vì những hình ảnh sắc bén của ông về sự kháng cự của cá nhân
con người,
sự nổi dậy, và sự thất bại, của nó.
Viên thư ký thường
trực gọi ông là một 'tay kể chuyện
thiên bẩm', mà cách viết của ông đã làm độc giả cảm động.
*
Llosa,
tác giả 'ruột' của Tin
Văn được Nobel văn chương 2010
Tuyệt cú mèo!
Cũng đệ
tử Faulkner! (1)
Bài viết
mới nhất của ông, trên TV là bài viết về Camus, nhân kỷ niệm 50 năm ông
mất
Xin trân trọng trình lại ở đây, thay một lời xưng tụng.
Albert Camus
và đạo đức học của những giới hạn
Note: Ông này
đã từng bợp tai,
hay thoi vô mặt
Garcia Marquez, vì xàm xỡ bà xã của Llosa!
[Par une
nuit orageuse de 1976
à Mexico,
Mario avait envoyé son poing dans la figure de son grand ami Gabriel.]
William
Faulkner: The
Sanctuary of Evil
Llosa
Faulkner
suốt đời giữ cái nhìn
tiêu cực của ông, với Sanctuary,
câu chuyện một cô gái bị một tên liệt dương
phá huỷ trinh tiết bằng một cái bắp ngô, bởi vì, cả nửa thế kỷ, sau
những dòng
tự kiểm hồi sách mới ra lò, trong lần nói chuyện tại Đại học Virginia,
[Vintage
Books, New York, 1965], ông vẫn còn chê đứa con hư hỏng của mình, coi
đây là
một câu chuyện "yếu" và được viết bởi những tà ý [base intentions].
Nhưng
đây là một đại tác phẩm
của ông. Hai Lúa cứ liên tưởng tới Giáo Đuờng Của Cái Ác, ở một xứ sở
khác, ở
đó, có những tên già, liệt dương hay không liệt dương, lôi con nít vào
khách
sạn hãm hiếp, xong xuôi, đuổi ra, quẳng cho cô bé hình như là một trăm
đô thì
phải, thí dụ như một tay LQD nào đó.
Bởi vì,
chỉ có thiên tài mới
có thể kể một câu chuyện như thế, với những sự kiện như thế, với những
nhân vật
như thế, bằng một cách kể mà người đọc, không chỉ chấp nhận, gật gù, kể
được,
được đấy, mà còn như bị quỉ sứ hớp hồn!
Như
chính Faulkner đã từng
kể, ông viết Giáo Đường, bản
viết đầu, trong ba tuần lễ, năm 1929, liền
sau Âm
thanh và Cuồng nộ. Ý tưởng về cuốn sách, như ông giải thích, trong lần
in thứ
nhì [1932], thứ tiểu thuyết ba xu, và ông viết, chỉ vì một mục đích duy
nhất,
là tiền, [trước nó, thì chỉ vì vui, for "pleasure"]. Phương pháp của
ông, là, "bịa ra một câu chuyện ghê rợn nhất mà tôi có thể tưởng tượng
ra
được", một điều gì một con người miệt vườn, vùng Mississipi, có thể coi
như là một chủ đề. Quá sốc, khi đọc, tay biên tập bảo ông, hắn sẽ chẳng
bao giờ
xuất bản một cuốn sách như thế, bởi vì, nếu xb, là cả hai thằng đều đi
tù.
Bản
viết thứ nhì cũng chẳng
kém phần ghê rợn...
Được
coi như, hiện đại hóa bi
kịch Hy Lạp, viết lại tiểu thuyết gothic, ám dụ thánh kinh, ẩn dụ chống
lại
công cuộc hiện đại hoá mang tính kỹ nghệ nền văn hóa Miền Nam nước Mẽo
vân vân
và vân vân. Khi Faulkner mang đứa con hư của mình trình làng văn Tây,
André
Malraux phán, đây đúng là, "đưa tiểu thuyết trinh thám vô trong bi kịch
Hy
Lạp", và khi Borges nói dỡn chơi, rằng những tiểu thuyết gia Bắc Mỹ đã
biến "sự tàn bạo thành đức hạnh", chắc chắn, ông ta có trong đầu lúc
đó, cuốn Giáo Đường của
Faulkner.
Những con thú ăn thịt sống
Nhà văn Bắc Mỹ Paul Theroux,
tác giả
The Mosquito Coast, một cuốn tiểu thuyết thú vị, và nhiều cuốn sách
du lịch
rất ăn khách, một bữa khám phá ra là, một tiệm sách ở Anh rao bán một
số tác
phẩm của ông, cuốn nào cũng có chữ ký, và thủ bút của tác giả, là những
dòng đề
tặng Ngài Sir Vidia S. Naipaul. Tức điên lên, ông bèn viết thư cho nhà
văn
Nobel, và ông này, thay vì phúc đáp, thì để cho vợ ra đầu ngõ, vén váy,
đi vài
đường bồm bộp [nguyên văn, thay vì đích thân trả lời, Naipaul trao
trách nhiệm
này cho bà vợ mới, một ký giả Pakistani, “đần độn như là nhan sắc đẹp
đẽ” của
bà, nhưng cho dù đần độn, mớ chữ ít ỏi của bà cũng đủ để đi vài dòng
chế nhạo].
Sự trả thù của ông Theroux mới khủng khiếp làm sao: Chẳng thua gì giáo
sư Nguyễn
Đăng Mạnh!
Llosa, tác giả bài viết The Predators mà Gấu đang đi một đường
giới
thiệu độc giả Tin Văn, khuyên độc giả chớ có mua cuốn sách vừa tai
tiếng vừa
rất ư cụp lạc, Sir Vidia’s Shadow: A Friendship across Five
Continents
[Cái bóng của Naipaul: Một tình bạn xuyên qua năm lục địa]. Bởi vì vừa
đọc vài
dòng, là bạn không thể nào rứt ra nổi!
Theroux, đệ tử, nhỏ hơn Naipaul chừng 10 tuổi, gặp sư phụ ba chục năm
trước đây
tại Keynia, Đại Học Makerere, nơi cả hai cùng làm việc. Đệ tử bị sư phụ
hớp hồn,
cả về tài năng lẫn nhân cách, vào lúc đó, Naipaul đã nổi như cồn với
những tác
phẩm như A Bend in the River, hay A House for Mr. Biswas. Theroux trở
thành đệ
tử, tài xế, và tà lọt, và để tưởng thưởng, Naipaul thỉnh thoảng cũng
đưa ra vài
ngón nghề, của một thiên tài văn chương, và, lâu lâu, giống như quẳng
cho một
người ăn xin vài đồng lẻ, Naipaul cũng lèm bèm cùng đệ tử, về quan niệm
của ông
về thế giới, về con người, về Phi Châu, về lịch sử.
Những bài học này thật bảnh, thật sáng chói, chắc hẳn, bởi vì đệ tử
ghim vào ruột,
chẳng bỏ qua một chi tiết nào, để rồi bao nhiêu năm sau, gậy ông đập
lưng ông,
đem ra xài, và [vẽ rắn] thêm chân cho chúng.
Đương nhiên là, những quan điểm của Naipaul, trong những lúc phởn phơ
như thế, không
thể nào in ra được. Lúc đó chưa có net, và, như trường hợp hồi ký NDM,
không có
một thằng phải gió nào, không hiểu sao vớ được, và hê ầm lên. Gấu này
nghi,
chính me-xừ NDM cố tình làm ra như vậy! Bởi vì một khi viết ra được một
câu
sướng đến phát điên lên, thí dụ, tả cảnh NDT run như cầy sấy trước TH,
như con
ếch nhìn thấy con cua, mà lại không công bố cho mọi người cùng thưởng
thức sao?
Cũng thế, với Naipaul. Khi những nhà thơ trẻ Phi Châu tới đọc thơ cho
ông nghe và
xin ý kiến, ông phán, vứt ngay vô thùng rác cho ta! [Có thể Sến cô
nương đã từng
nghe chuyện này, và… mô phỏng chăng, khi phán về NDT?] Có khi ông nức
nở khen,
chữ ai viết mà đẹp thế! Khi được hỏi về giải thưởng thơ của Hội
Nhà Văn
Mít, ông nhỏ nhẹ khuyên, chỉ nên phát giải ba, giải nhất giải nhì kể
như không
có! Được hỏi về văn chương Phi châu, ông thuổng ngay câu của nhà văn
nhớn ra đi
từ Miền Bắc, Vũ Thư Hiên, khi ông này được hỏi về văn học hải ngoại:
“Này có
thứ đó thiệt hả”? [But does it exist?]
Naipaul chẳng hề hổ thẹn, khi phán về văn chương Phi châu, một khi đám
trắng bỏ
đi, nó sẽ trở về thời dã man. Và để chọc quê người bản xứ, ông gọi xứ
sở của họ
bằng những cái tên thời còn thực dân.
Llosa thú nhận, ông thừa sức viết vài cuốn sách như thế, về những văn
hữu của ông,
những người mà ông quen biết, bởi vì lúc này, lúc nọ, ông nghe được cả
lố những
điều khủng khiếp từ miệng của họ thốt ra, thường là vào đêm khuya, khi
rượu vào
lời ra, khi mầy tao chi tớ với nhau, và văng ra đủ thứ. Và gặp một tay
có tài
như Theroux [số một, trong số những nhà văn hạng nhì], bạn vô tình đọc
phải, là
không thể nào rứt ra được, chuyện đương nhiên: nhân vật Vidia S.
Naipaul mà ông
ta sáng tạo ra, ở trong cuốn sách của ông, thì cũng độc địa chẳng kém
chi người
kể chuyện, tức chính ngài Theroux, đích thị Ngài.
Bất cứ một cá nhân con người nào, thì cũng có lúc, hoặc thậm xưng, hoặc
cường điệu,
hoặc bốc phét, hoặc lỡ lời, đưa ra một nhận định cay nghiệt, dã man,
hoặc một
câu khôi hài đen, về một ai đó. Ông bạn của tôi [Llosa], Carlos Barral,
một thiện
nhân quân tử, một tay phong nhã có hạng, vậy mà chỉ chơi thêm một ly
gin thứ nhì,
là như ma quỉ được xổ lồng, xổ ra những lời quỉ ma nhất mà tôi chưa
từng được
nghe. Mặc dù độc giả đã được cảnh giác ngay từ đầu, đây là một cuộc
"Thanh
Toán tại OK Corral" giữa sư phụ và đệ tử, nhất là khi đệ tử bị chính
ông
thầy, là người mà mình tôn thờ, chơi mình, gặp thứ đệ tử số 1 trong
những nhà
văn hạng nhì, cỡ như tay NTV với thầy NVT chẳng hạn, làm sao mà trò tha
thầy
cho được cơ chứ! Có thể, trong khi mê mải kể xấu Thầy, trò đã rớt trúng
cái bẫy
do mình đặt ra, bị ma thuật, là cái trò kể chuyện đó hớp mất hồn vía,
theo
kiểu, chúng nhân thường mê hóng chuyện, buôn chuyện? Cũng có thể, nhưng
nguyên
uỷ ở đây, theo tôi, là, cuốn sách, dù muốn dù không, rớt vào loại
‘testament’,
di chúc, giữa thầy và trò, đúng như NTV đã từng bật mí, bởi vì chỉ có
ông mới
biết, thầy của ông đã từng năn nỉ nhà nước mới như thế nào. Cũng vậy, ở
đây trò
Theroux tự cho mình có bổn phận phải bật mí tất cả những gì xấu xa đê
tiện nhất
của sư phụ Naipaul.
Khủng khiếp nhất, là, cuốn sách cho chúng ta thấy, không chỉ một
Theroux, mà bất
cứ ai trong chúng ta, nói chung, cả nhân loại đều có một lúc nào đó,
không tránh
khỏi bị sa đọa như vậy!
Đọc cuốn sách, Llosa bỗng nhớ đến một tiểu luận của Ortega, thật tuyệt
vời, được
viết như là một lời bạt cho một cuốn sách về săn bắn của bá tước Yebes.
Thoạt
đọc, thì tưởng như một thứ tạp ghi, một thứ áo thụng vái nhau, dành cho
bạn, là
một nhà quí tộc, nhưng đây đúng là một trầm tư trầm trọng về một cái
hang động
thời tiền sử nằm ở trong tim trong hồn con người hiện đại. Và ở trong
cái hang
động đó vẫn còn nguyên cái bản năng nguyên thuỷ, và cái ước muốn, đòi
hỏi, cái
nhu cầu không có không được: xé xác, ăn tươi nuốt sống con mồi.
Phu Nhân ở Somerset
Chúng
tớ trao Nobel 2010 năm
nay cho cậu, vì cái "bản đồ cơ cấu quyền lực, và những hình ảnh
sắc bén
của cậu, về cuộc đề kháng, nổi loạn, và thất bại của cá nhân con người.”
Ui
chao, cứ như thể mấy ông này trao Noebl Văn cho Llosa, để 'sửa chữa',
sự 'chia sẻ những lỗi lầm', [chữ của Nabokov] khi [không phải đám này]
trao Nobel Toán
cho NBC, một cá nhân chẳng hề biết gì
tới đề kháng, nổi loạn, và thất bại của cá nhân, [đúng ra của cả nước,
ít ra, của đám Ngụy], trước cái ác
tập thể!
Hà hà!
(1)
Trong
số những đệ tử của
Faulkner, tệ nhất, [không có, để lận lưng, trên chuyến tầu suốt, một
cuốn tiểu
thuyết ], hẳn là Gấu, và, trong số những đệ tử làm dạng danh Thầy, hẳn
có tay
Llosa.
Gấu đã
từng kể, trong những
ngày Mậu Thân, mỗi khi bí, mỗi khi bị những trái hoả tiễn VC làm "vãi
linh
hồn", là lôi thầy ra, để chôm, một câu văn, một ý tưởng, làm mồi nhử
những
con chữ, từ xó xỉnh đâu đâu, mò về…
Llosa
cũng có những kỷ niệm y
chang những ngày đầu đọc Faulkner. Như dưới đây cho thấy.
-
Nadine Sautel. La Fête au
Bouc fait penser à la fois à une fugue à trois voix, à un film de Costa
Gavras
mâtiné de David Lynch, et aux romans de Faulkner, dont Mallraux disait
qu'il
abordait le thème de la condition humaine comme « l'intrusion de la
tragédie
grecque dans le roman policier " ...
- Mario
Vargas Llosa. J'aime
beaucoup votre idée de roman faulknérien. Faulkner est le premier
écrivain que
j'ai lu avec un crayon et un bout de papier à la main, essayant de
déchiffrer
ses structures temporelles, la façon dont il organisait les points de
vue.
Tragédie grecque? Roman policier? Certainement ! Les faits dépassaient
en
horreur l'imaginable, et il fallait les débusquer. Ça peut choquer
qu'on fasse
de la douleur ou de l'atrocité une matière pour la création. Mais c'est
la
condition de l'écrivain, de convertir ce qu'il lit, ce qu'il vit, en
œuvre
d'art. Et la dictature, Mallraux l'a bien montré, est un thème
particulièrement
riche, parce que c'est une expérience-limite qui oblige à affronter la
peur.
C'est l'épreuve dans laquelle on peut observer ce qu'il y a de meilleur
et ce
qu'il y a de pire dans l'être humain. Et la dictature de Trujillo, quand
j'étais jeune, était
considérée comme la forme emblématique de la dictature en Amérique
latine. Elle
en avait poussé à l'extême les caractéristiques: la cruauté, la
corrruption,
mais aussi la théâtralité. Trujillo
était insurpassable dans le grotesque: nommer colonel son fils Ramfis à
neuf
ans, puis général à douze ans, dans une cérémonie publique à laquelle
assistaient tous les ambassadeurs ... Il dessinait luimême ses
uniformes
extraodinaires, et la forme de sa moustache hitlérienne, aidé par un
top model
newyorkais qu'il avait adopté. C'était à la fois son chef de protocole
et son
ministre des plaisirs. Je l'appelle Manuel Alfonso. J'ai gardé ces
images. A
l'époque j'étais étudiant en lettres à l'université San Marrcos, à Lima.
Llosa trả lời tờ Le Magazine
Littéraire
Note:
Bài phỏng vấn này thật tuyệt,
và thật có ích cho đám nhà văn VC, Yankee mũi tẹt!
Tin Văn sẽ cố gắng dịch để gửi cho những bạn văn VC, vốn chỉ khoái
viết, đọc và
dịch thứ văn chương vô ích, vô hại, hay quá đát!
Bạn
biết đấy, với tôi, viết
là một “lý do đủ”, để sống. Nó cứu tôi khỏi tình trạng tuyệt vọng tuyệt
đối, và
sự tuyệt vọng tuyệt đối gây bại liệt. Nhà văn không được xấu hổ về cái
chuyện
“đâm xầm vào chính trị” [“từ” của một đấng bạn quí của Gấu]. Nhà văn
phải có
trách nhiệm, do quyền năng của những chữ của người đó, lên những độc
giả của
mình. Tôi luôn trung thành với Sartre, cho tới khi ông ta phán một câu
thật khó
nghe với tờ Le Monde, vào năm 1964 [“Đứng trước một đứa trẻ
đang chết,
cuốn Buồn Nôn chẳng là cái đéo gì!]. Vào cái lúc mà người ta
thay thế lý
trí bằng những hành động của niềm tin, [đây là quan điểm của tôi về ý
thức hệ],
nhà văn là kẻ chứng tỏ cái thực, một cách thuần lý. Điều này thật quan
trọng,
là vì, một khi mà con người xử sự một cách phi lý, thì đó là lúc bạo
lực xuất
hiện. Điều quan trọng với nhà văn là phải một lòng một dạ, chân thực,
với chính
mình, và sống với tất cả sự toàn vẹn khả hữu, điều mà anh ta viết
NKTV
*
The Peruvian writer Maria Vargas Llosa today
won the 2010 Nobel prize for literature,
crowning a career in which he helped spark the global boom in South
American
literature, launched a failed presidential bid and maintained a 30-year
feud
with the man he now joins as a Nobel laureate, Gabriel García Márquez.
Cited by the Swedish Academy for "his
cartography of structures of
power and his trenchant images of the individual's resistance, revolt
and
defeat", the 10m SEK (£1m) award is the culmination of a literary life
that began in 1963 with the publication of his novel The Time of the
Hero, and
includes further books such as Conversation in the Cathedral (1969),
Aunt Julia
and the Scriptwriter (1977) and The Feast of the Goat (2000).
According to the Uruguayan publisher and
journalist, Andreas Campomar, the
award is "not before time".
"It's something he should have won ages ago,"
said Campomar, who
described himself as "so chuffed for" the author. "I feared that
his time might have passed." Campomar acknowleged that a political
journey
which saw the writer move from supporting the regime of Fidel Castro to
running
for president on a right-wing platform of reform had made him a
"polarising figure", but suggested that the award would be celebrated
by many in South America as a way of "putting Latin American literature
back on the map".
"First and foremost, he's a great man of
letters," he continued.
"He has a formidable style, but as with most Latin American writers, at
the bottom of all his work, as well as power, and the abuse of power,
is the
question of cultural identity - what it means to be a European in this
Amerindian continent."
Guardian
Nhà văn Peru hôm nay ẵm Nobel văn chương,
vòng hoa phủ lên toàn bộ văn
nghiệp của ông, trong có sự châm ngòi làm nở rộ dòng văn chương Nam Mỹ,
có cuộc chạy đua ghế tổng thống, nhưng hụt, và cuộc thù nghịch kéo
dài 30
năm với bạn quí cũng Nobel văn chương, là Garcia Marquez.
Cho hơi bị trễ, thời của xừ luỷ qua rồi. Ngày nay ai còn đọc Faulkner,
nói gì
đệ tử của Thầy!
Trừ GNV!
The
Nobel Prize in Literature
2010 was awarded to Mario Vargas Llosa "for his cartography of
structures
of power and his trenchant images of the individual's resistance,
revolt, and
defeat".
Nobel
văn chương 2010 được trao cho Llosa, "vì đã vẽ nên cái bản
đồ cơ cấu
quyền lực, và vì những hình ảnh sắc bén của ông, về cuộc kháng cự
của cá
nhân, sự nổi loạn, và thất bại của hắn ta”
Vòng
hoa đầu Nobel, tức cái mẩu
trên, không dễ viết, vì nó giống như một hình ảnh ‘trói voi bỏ rọ’,
nghĩa là gói
trọn toàn bộ văn nghiệp, vào chỉ một vài chữ, thành thử rất ư là khó
dịch, với
một ai chưa từng đọc tác phẩm của người được trao giải.
Câu trên có hai vế. Cho
Nobel, cho Llosa, vì cái bản đồ cơ cấu quyền lực mà ông vẽ ra, và vì,
những hình ảnh thật sắc bén của ông, về cuộc kháng cự của 1 cá nhân con
người trước quyền lực, sự nổi loạn, sau đó, và sau cùng, là sự thất bại
của 1 cá
nhân con người này.
Thành
thử Nobel văn chương không
hề bao giờ được trao cho thứ văn chương không có cái đỉnh cao chính
trị, là chính
nó, là chính cái mà nó mong đạt được!
Cho Cao
Hành Kiện, vì lịch sử
của 1 cá nhân chống lại lịch sử của cả lũ, nhớ đại khái.
Albert Camus
và đạo đức học của những giới hạn
Llosa
Ở
trong những tác phẩm sau này của Camus, phong cảnh – và trên tất
cả, phong cảnh quê ta, miền đất thiên đàng Địa Trung Hải của ông - vưỡn
hiện
diện, thường như là, một ham muốn tàn khốc, an atrocious desire, hay
một hoài
nhớ khủng khiếp, đến trở thành khốn khổ, khốn nạn, rất ư là hơi bị thảm
hại [y
chang Gấu, những ngày sắp lìa đời!], a terrible nostalgia: Marthe và bà
mẹ của
cô, những tên trộm cướp và những tên sát nhân trong Ngộ Nhận,
làm thịt
du khách trong quán trọ, để có một ngày, có đủ vốn liếng, tậu được một
căn nhà
bên bờ biển.
[Ui chao, chẳng lẽ đây là
giấc đại mộng của những anh nhà quê Bắc Kít, những anh Cu Sài, xẻ dọc
Trường
Sơn, hy vọng vô được nước Xề Gòn, kiếm tí chiến lợi phẩm, về làng cũ,
xây cái
nhà gạch nho nhỏ, sửa sang phần mộ cho ông cụ, cưới một em ở Xóm Đoài,
Xứ Đoài
mây trắng lắm?], và cái anh chàng Tướng Về Hưu, Jean Baptiste Clemence,
sau khi
xây dựng xong Địa Ngục, bèn đi vào miền Sa Đọa, The Fall, tên
một tác
phẩm của Camus, sám hối, và trong một khoảnh khắc trầm thống, rống lên
như một
con quỉ, Quỉ Bắc Kít, trong một cuộc độc thoại nội tâm:
“Ôi, mặt trời
Bắc Kịt,
ôi bãi biển Đồ Sơn, ôi những hòn đảo Hạ Long của những trận gió thương
mại, ôi
những hồi ức của thuở thanh niên, chúng mới làm cho đám Bắc Kít chúng
ta chán
chường làm sao!”
[‘Oh, sun, beaches, islands of trade winds, memories
of youth
that make us despair’].
Ở Camus, cái đẹp và cái ấm mà con người được
thừa hưởng
từ thiên nhiên không chỉ thỏa mãn nỗi thèm khát của cơ thể, mà còn là
một thứ
thánh dược thanh tẩy tâm hồn!
*
The Feast of the Goat (2002), widely viewed
as his most recent masterpiece,
returns to dictatorship, offering a portrait of Rafael L Trujillo
Molina, who
ruled the Dominican Republic
from 1930 until 1961. Vargas Llosa draws him as an incontinent
hyper-villain,
ruled by the outbursts of a body and mind that are out of his control.
The
novel circles around Trujillo's
attempt to have sex with the 14-year-old daughter of his chief
minister, and
his assassination two weeks later.
He has described it as a "realist treatment
of a human being who
became a monster", adding that he is distrustful of "the idea that
you can build a paradise here in history. That idea of a perfect
society lies
behind monsters like the Taliban. When you want paradise you produce
first
extraordinary idealism. But at some time, you produce hell."
Guardian
Tác phẩm The Feast of the Goat được nhiều
người coi như tuyệt tác gần đây
nhất của ông, trở về với đề tài độc tài, đưa ra chân dung Rafael L
Trujillo
Molina, trị vì Dominican Republic, từ 1930 tới 1961… Ông coi, đó là 1
‘trị liệu
hiện thực một con người trở thành quỉ’, và nói thêm, ông đếch tin cái ý
tưởng
với sức người sỏi đá cũng thành cơm, và người ta có thể xây dựng thiên
đàng ở
nơi đây, trong lịch sử. Rằng lý tưởng về một xã hội hoàn hảo nằm ở đằng
sau
những con quỉ như Taliban. Khi bạn muốn thiên đàng, bạn sản xuất ra chủ
nghĩa
lý tưởng lạ thường đầu tiên. Nhưng có lúc, thí dụ như vào ngày 30 Tháng
Tư năm
1975, bạn sản xuất ra địa ngục!
Hà, hà!
Trên tờ
NYRB có 1 bài điểm
cuốn trên, thật tuyệt. Gấu đọc đã lâu, để lục coi còn không….
The New Age of Tyranny
October 24, 2002
Mark Lilla
Những đứa con của tiểu thuyết
Ngay từ
cuốn truyện đầu, độc
giả đã hỏi Mario Vargas Llosa, (người Peru 1937-), chuyện
"thực" hả? Ông chẳng thích thú việc trả lời. Theo ông, đa số độc giả,
thường đánh giá thực/giả, bằng ý niệm tốt/xấu. Những "thẩm tra viên"
(inquisitors) người Tây Ban Nha đã cấm in và nhập cảng tiểu thuyết, tại
thuộc địa
của họ, với lập luận, chỉ là những chuyện phi lý, vô nghĩa, rất có hại
cho sức
khoẻ tinh thần của thổ dân da đỏ. Trong vòng 300 năm, dân Mỹ châu thuộc
Tây Ban
Nha phải đọc tiểu thuyết chui, và cuốn tiểu thuyết đầu tiên được xuất
bản tại
đây là sau Độc lập (tại Mexico, vào năm 1816). Không chỉ một vài tác
phẩm đặc
biệt bị cấm, mà là cả một thể loại văn chương. Những "inquisistors"
đã coi đây là một luật, không có ngoại lệ, rằng tiểu thuyết luôn luôn
nói dối,
chúng luôn luôn đưa ra một viễn ảnh giả về thế giới. Nhiều năm trước
đây,
Vargas Llosa đã có lần chỉ trích họ, nhưng sau ông nghĩ, họ có lẽ là
những
người đầu tiên hiểu - trước những nhà phê bình, và những tiểu thuyết
gia - về
bản chất của giả tưởng, và những ý hướng nổi loạn của nó. Tiểu thuyết
nói dối -
chúng không thể làm khác - nhưng đây chỉ là một phần của câu chuyện.
Phần kia
là, bằng nói dối, chúng diễn tả một sự thực kỳ cục, chỉ có thể hàm ý
qua dáng vẻ mập mờ, như được hóa
trang thành một điều chi không phải là nó. Con người vốn không bao giờ
hài lòng
về mình, cho dù giầu có hay nghèo hèn, nổi tiếng hay vô danh... Họ vẫn
mong một
cuộc đời khác, khác với cuộc đời họ đang sống. Tiểu thuyết ra đời là để
thỏa
mãn cơn đói khát đó.
*
$17.95
WHEN a master novelist,
essayist, and critic searches for the wellsprings of his own work,
where does
he turn? Mario Vargas Llosa-Peruvian writer, presidential contender,
and public
intellectual-answers this most personal question with elegant concision
in this
collection of essays. In "Four Centuries of Don Quixote," he revisits
the quintessential Spanish novel-a fiction about fiction whose
ebullient prose
still questions the certainties of our stumbling ideals. In recounting
his
illicit, delicious discovery of Borges' fiction "the most important
thing
to happen to imaginative writing in the Spanish language in modern
times"-Vargas Llosa stands in for a generation of Latin American
novelists
who were liberated from their sense of isolation and inferiority by
this
Argentinean master of the European tradition.
In a nuanced appreciation of
Ortega y Gasset, Vargas Llosa recovers the democratic liberalism of a
misunderstood radical-a mid-century political philosopher on a par with
Sartre
and Russell, ignored because "he was only a Spaniard." And in essays
on the influence of Karl Popper and Isaiah Berlin, the author finds an antidote
to the
poisonous well of fanaticism in its many modern forms, from socialist
utopianism
and nationalism to religious fundamentalism. From these essays a
picture
emerges of a writer for whom the enchantment of literature awakens a
critical
gaze on the turbulent world in which we live.
Mario Vargas Llosa's many
novels include The Feast of the Goat, The Storyteller, Aunt Julia and
the
Scriptwriter, and, most recently, The Bad Girl. In 2006 he presented
the
Richard Ellmann Lectures in Modern Literature at Emory University,
entitled "Three Masters," which were adapted for this volume.
THE RICHARD ELLMANN LECTURES
IN MODERN LITERATURE
*
Lại nói chuyện mê đọc sách.
Trên TLS, số 7
Tháng 11, 2008 điểm sơ sơ [in brief] cuốn tiểu luận mới ra lò của tay
Vargas
Llosa, Wellsprings
[202 pp. Harvard University Press. US 17.95], gồm 7 tiểu luận, một
trong số đó,
là sự diễn giải, interpretation cuốn Don Quixote của Cevantes.
Nhà văn xứ Peru miêu tả Quixote, như là
một tay bị gậm nhấm, bào mòn bởi một cái đói khủng khiếp: đói đọc tiểu
thuyết,
giả tưởng, và liền đó, Llosa, “giật mình mình lại thương mình sót sa":
Quixote đói khát làm sao thì tớ đây cũng rứa, nhưng với ông, là một sự
đói
“thuốc, sái, sảm”: đói cơn “yên sĩ phi lý thuần”, inspiration, đói niềm
hứng khởi,
những khi ngồi trân trân trước trang giấy trắng, và không thể đẻ ra
được một
chữ nào.
Vargas Llosa phán, độc giả thì tự đồng nhất họ với Don Quixote, kẻ bị
mồi
chài, dụ khị
bởi điều không thể, và sa đọa vì nó, who ‘succumbs to the temptation of
the
impossible’, thay vì, làm một tên Sancho Panza, bị cầm tù bởi điều khả
thi, là
chuyện thường ngày ở huyện, là cái thường nhật thảm hại, là thảm kịch
của cái
vô ích, tức là bằng lòng là một kẻ trần tục.
Ui chao, lại nhớ đến Bông Hồng Đen, và cái
gật đầu, "Yes, I do" tuyệt vời của em: Ta thương mi, vì mi muốn
điều không thể.
Em phán bằng tiếng Tây, thế mới sướng một đời Gấu chứ: Je t’aime
parce que
tu veux l’impossible!
NKTV
GNV mê
đọc ‘tạp ghi’ hơn là đọc tiểu thuyết của Vargas Llosa, chỉ ít lâu sau
này, trước
khi ông được
Nobel, mới mầy mò tới mấy cuốn tiểu thuyết.
Cuốn ‘tạp ghi’ mới nhất của
ông, Wellsprings,
2008, trong có bài về Isaiah Berlin, đã được viết từ lâu, và được in
trong Making
Ways, 1996. Tò mò, GNV đọc thử, thì hoá ra đây là 1 trong những
người
mà Vargas Llosa
thực sự ngưỡng mộ. Bài viết ‘Những đứa con của tiểu thuyết’, của GNV,
là từ ‘Sự
thực của
những lời dối trá’, 1990, trong Making Ways,
cộng thêm một số tư
tưởng của Kundera,
Sartre…
Vargas
Llosa
sinh năm 1937, cùng
tuổi GNV, và do đó, cũng có cùng những bận tâm, và những ông thầy.
Ông bye bye Satre, sau câu tuyên bố [của Sartre]: Đứng trước đứa trẻ
chết đói,
cuốn Buồn Nôn [của Sartre]
chẳng có ký lô nào!
Thoạt đầu ông mê Sartre, và không làm sao chịu nổi Camus, nhưng chỉ mãi
sau
này, ông mới lại khám phá ra Camus, cùng với cả nhân loại!
Bài viết của ông về Camus, thật là tuyệt vời, nhân dịp kỷ niệm 50 năm
Camus ra
đi, TV đã dịch thuật, như là một ‘tribute’ dành cho nhà văn của một
thời mới
lớn của GNV!
Cái
vụ
ông thoi sưng mắt,
chảy máu mũi ròng ròng, ông bạn quí, nhà văn Nobel, Garcia Marquez,
như
trên net có tay cho biết, liên quan đến bà vợ Vargas Llosa, bà này mò
đến than
thở với
bạn chồng, khi Vargas Llosa chạy theo một em. Bạn quí an ủi chắc cũng
kỹ quá,
và thế là, khi gặp lại Garcia Marquez, ông chồng bèn cám ơn cái sự an
ủi vợ tao của mi, bằng trái đấm!
*
Cũng
xin nói
ngay, không quan tâm, không phải tôi nghĩ Vargas Llosa không xứng đáng.
Không
phải. Từ lâu tên tuổi ông đã vang dội khắp thế giới và được xem là một
trong
vài cây bút viết văn xuôi bằng tiếng Tây Ban Nha vĩ đại nhất trong nửa
thế kỷ
vừa qua. Tôi chưa đọc cuốn tiểu thuyết nào của ông, nhưng lại đọc khá
nhiều
tiểu luận và các bài ông trả lời phỏng vấn. Thích. Thấy, ở ông, cả sự
uyên bác
lẫn sự lịch lãm; cả sự sâu sắc lẫn sự tinh tế, vừa rất sách vở vừa rất
đời thường.
Nói chung, tôi phục ông. Hơn nữa, mến ông.
NHQ
Phán
kiểu ‘huề vốn’, ‘vô tội vạ’ như thế này, thì chẳng cần đọc
Vargas Llosa!
GNV có thể mượn cái đoạn gạch đít trên, áp dụng vào chính.... NHQ, cũng
đặng!
Hà, hà!
Từ
trước giờ, chưa thấy Thầy Cuốc nhắc tới Vargas
Llosa, và thực sự mà nói, GNV không nghĩ, ông đọc Vargas Llosa, và nếu
có, thì
qua
trang TV.
Tay NL viết, trong Blog của mình, ông không phải là fan của Vargas
Llosa, và tôi
nghĩ, đúng. Thời của Vargas Llosa qua rồi. Như 1 tay mũi lõ nào
đó nói,
cho muộn quá!
Một
cách nào đó, cho
Vargas Llosa, là cho… Sartre, sau khi ông từ chối, và chết, từ đời nảo
đời nào
rồi.
Cho là cho cái tinh thần nhập cuộc, dấn thân, từ hiện sinh mà ra. Báo
Tây nhận
ra điều này.
Bởi thế, ngay Vargas Llosa mà còn ngạc nhiên, này đừng có nói rỡn cha
nội!
Như vậy, tại sao sự muộn màng này?
Tay thư ký Nobel giải thích, ông,
Vargas Llosa, là một nhà kể chuyện thiên
bẩm. Đó là 1 trong những lý do Vargas Llosa được Nobel năm nay, và lý
do này
nằm bên
ngoài vòng hoa đầu.
*
Vargas Llosa rất mê
Faulkner,
cũng như bạn quí của ông, mà ông đã từng thoi, là Garcia Marquez, nhưng
trong
hai người, Garcia Marquez học được lối viết của thầy, theo Gấu.
Garcia
Marquez đã từng kể lại
cú mặc khải của ông, nhân lần đọc… Kafka.
Trên tờ
Điểm Sách Paris (The
Paris Review interviews, Writers at Work, 6th Series), khi được hỏi bắt
đầu
viết như thế nào, Gabriel Garcia Marquez
cho biết, khi học đại học Bogota, những bạn bè mới quen biết ở đây đã
giới
thiệu ông một số nhà văn đương thời. “Một đêm, một người bạn cho tôi
mượn tập
truyện ngắn của Franz Kafka. Khi về nơi trọ, tôi mở ra, bắt đầu đọc
‘Hóa Thân’,
và dòng đầu tiên gần như đánh văng tôi ra khỏi giường. (The first line
almost
knocked me off the bed). Tôi quá đỗi ngạc nhiên. Dòng đầu như sau:
‘Buổi
sáng đó, Gregor Samsa thức giấc và thấy mình biến thành một con bọ ở
trên
giường.’ Khi tôi đọc dòng đó, tôi nói với tôi, mình chưa từng gặp một
con người
nào được phép viết một điều như vậy. Nếu biết, tôi đã khởi sự viết từ
đời nảo
đời nào rồi.”
Chất
hiện thực huyền ảo ở
trong văn chương của Vargas Llosa không tới bằng của Garcia Marquez,
theo Gấu,
một phần là do ông quá mặn với vai trò dấn thân của 1 nhà văn, và điều
này, là
từ Sartre, như trong bài viết về Borges, mới được in lại trong Wellsprings:
Khi là 1 sinh viên, tôi mê
Sartre, và rất tin, firmly believed, quan điểm của ông ta về sự dấn
thân của nhà
văn vào thời của riêng mình, và vào cái xã hội mà anh ta sống ở trong
đó, rằng,
“chữ là hành động”, “words were actions”, rằng, qua cái sự viết mà một
người, đàn
ông hay đàn bà, có thể ảnh hưởng lịch sử. Bây giờ, những ý tưởng như
thế xem ra
thật ngu ngơ, khờ khạo, naïve, và có thể nói, tẻ ngắt, tedious – chúng
ta sống
trong 1 thời đại rất ư là bi quan về cái gọi là quyền năng của văn
chương cũng
như là của lịch sử - nhưng vào thập niên 1950, quan niệm thế giới có
thể thay đổi, trở nên tốt đẹp hơn, và văn chương có phần đóng góp tới
chỉ của nó vào vụ này, quan điểm đó đã 1 thời hớp hồn đám con nít chúng
tôi!
The Nobel
Prize in Literature
2010
Mario Vargas Llosa
Cũng
xin nói
ngay, không quan tâm, không phải tôi nghĩ Vargas Llosa không xứng đáng.
Không
phải. Từ lâu tên tuổi ông đã vang dội khắp thế giới và được xem là một
trong
vài cây bút viết văn xuôi bằng tiếng Tây Ban Nha vĩ đại nhất trong nửa
thế kỷ
vừa qua. Tôi chưa đọc cuốn tiểu thuyết nào của ông, nhưng lại đọc khá
nhiều
tiểu luận và các bài ông trả lời phỏng vấn. Thích. Thấy, ở ông, cả sự
uyên bác
lẫn sự lịch lãm; cả sự sâu sắc lẫn sự tinh tế, vừa rất sách vở vừa rất
đời thường.
Nói chung, tôi phục ông. Hơn nữa, mến ông.
NHQ
Phán
kiểu ‘huề vốn’, ‘vô tội vạ’ như thế này, thì chẳng cần đọc
Vargas Llosa!
GNV có thể mượn cái đoạn gạch đít trên, áp dụng vào chính.... NHQ, cũng
đặng! (1)
Hà, hà!
(1)
GNV thử lập lại, coi có... ngon cơm không:
Thích. Thấy, ở Thầy Cuốc, cả sự uyên bác lẫn sự lịch lãm; cả sự sâu sắc
lẫn sự tinh tế, vừa rất sách vở vừa rất đời thường. Nói chung, Gấu tôi
phục Thầy
Cuốc. Hơn nữa, mến Thầy Cuốc!
Ui
chao, sao thấy ngượng miệng quá!
Từ
trước giờ, chưa thấy Thầy Cuốc nhắc tới Vargas
Llosa, và thực sự mà nói, GNV không nghĩ, ông đọc Vargas Llosa, và nếu
có, thì
qua
trang TV.
Tay NL viết, trong Blog của mình, ông không phải là fan của Vargas
Llosa, và tôi
nghĩ, đúng. Thời của Vargas Llosa qua rồi. Như 1 tay mũi lõ nào
đó nói,
cho muộn quá!
Một
cách nào đó, cho
Vargas Llosa, là cho… Sartre, sau khi ông từ chối, và chết, từ đời nảo
đời nào
rồi.
Cho là cho cái tinh thần nhập cuộc, dấn thân, từ hiện sinh mà ra. Báo
Tây nhận
ra điều này.
Bởi thế, ngay Vargas Llosa mà còn ngạc nhiên, này đừng có nói rỡn cha
nội!
*
Mario Vargas Llosa, The Art
of Fiction No. 120
*

When the Era
Was an Era
The Feast of the Goat
by Mario Vargas L1osa,
translated from the Spanish by Edith Grossman.
Farrar, Straus and Giroux,
404 pp., $25.00
Alastair Reid
NYRB Nov 29, 2001

*
Phu Nhân ở Somerset
Vargas Llosa
Miss
Trask đâu có thì giờ để
làm công tác xã hội với những người lối xóm. Hay để ngồi lê đôi mách về
giá cả
cuộc sống thường nhật, bữa này thịt cá hơi bị mắc, hay không làm sao
kiếm được
một bó rau muống, hay ca cẩm về đám trẻ bây giờ mất dậy quá, "anh anh
tôi
tôi" với cả bậc tiên chỉ!
Bởi vì mỗi phút của cuộc đời của cô thì đều được
tập trung cao độ về những đam mê bất khả: búng tay một cái là dúm tro
than kia
biến mất, và Bông Hồng Đen lại xuất hiện, trước cặp mắt mừng rỡ đến
phát khùng
phát điên lên được của anh cu Gấu!
Làm sao đám người “mưa đêm
tỉnh lẻ” lại có thể đem đến cho Miss Trask, những ngôi nhà đỉnh gió hú,
những
cánh rừng ma, những rừng thông Đà Lạt, và chiếc tắc xi già, nặng nhọc
leo lên
đến đầu con dốc, là hết hơi , bèn từ từ lùi xuống: Phải tưởng tượng
thằng cu
Gấu hạnh phúc [Tưởng tượng gì nữa, khi có BHD ngồi kế bên!]

Gấu xơi
mìn VC ở nhà hàng nổi
Mỹ Cảnh, năm 1965. Cuộc rong chơi Đà Lạt mỗi cuối tuần như vậy là vào
năm 1964,
kỳ nghỉ hè, sau khi em đậu Tú Tài I. Sáng Thứ Bẩy, GNV ra bến xe đò,
thủ theo1 cuốn Faulkner, vượt quãng đường mấy trăm cây số, lên Đà
Lạt, chờ em ở cà
phê Tùng, rong chơi tới trưa Chủ Nhật, GNV về lại Sài Gòn để sáng Thứ
Hai đi làm
Bưu Điện.
Bức hình chụp 1969, cũng thời
gian đó
*
Cái bài
dịch Phu nhân ở Somerset
cũng có một giai thoại tuyệt vời về nó.
Khi đọc, là GNV nghĩ ngay đến một vị nữ độc giả thật thân quí, 1 trong
hai vị vốn được GNV coi là Tả Hữu Hộ Pháp của trang TV, một vị rành
tiếng Anh, 1, rành tiếng Pháp, và vẫn thường sửa giùm, hoặc dịch giùm
TV, khi GNV này bí, hoặc dịch sai.
Bởi vì
nhân vật Phu nhân Somerset giống y chang vị này!
Tuy nhiên, khi đăng trên TV, GNV phịa ra nhiều đoạn, theo cái kiểu
phóng tác, thành thử, khi đăng trên trang bạn, một vị, vị kia, trong
hai vị, lại bực bội, vì dịch như thế là phản bội nguyên tác.
Chính vì mới phải để cả nguyên tác tiếng Anh để độc giả tường.
Câu
này, trong bài viết, thật quá xứng đáng đối vị nữ độc giả, hộ pháp của
TV.
Thật xứng với trang net của vị nữ chủ nhân:
Đẩy đời thực vào một xó
xỉnh, chiếm càng ít không gian bao nhiêu, tốt bấy nhiêu, nhường chỗ cho
giả tưởng.
Và đây là câu trả lời của vị nữ chủ nhân trang bạn:
Thì trang TV cũng rứa,
đẩy hết đời thực, đời hiện tại vào 1 góc…. nhường chỗ cho…. BHD!
Đa tạ. Chưa
có lời khen tặng nào tuyệt vời như thế, dành cho TV/GNV!
The Nobel
Prize in Literature
2010
GNV thực sự không tin Thầy Cuốc
đọc, và sau đó, do đó, phục, và mến Vargas Llosa!
Ông
tân Nobel văn chương không khoái cái món hậu hiện đại, và trong hai tác
giả nổi
cộm của nó, ông mến Foucault, nhưng không phục, và cũng
chẳng mến,
Derrida!
VL gọi Steiner là một ‘enfant
terrible’ của thế kỷ, rất chịu Ngôn ngữ và
Câm lặng, nhưng những gì viết sau đó, chê.
VL gọi Sartre là ông quan
Sartre, the Mandarin, trong 1 bài viết, với cái tít như trên.
Nhưng theo Gấu, VL và nhiều tác
giả khác nữa, không đọc hết, đọc tới, Sartre, 1 phần là do bỏ qua tác
phẩm bảnh
nhất của ông, là Buồn Nôn.
Trong bài viết về TTT, từ
1973, GNV đã nhận ra điều này.
Cũng thế, là nhận xét của VL,
với Steiner.
Mặc dù dấn thân như thế, VL
không cảm nhận ra nỗi đau Lò Thiêu, nỗi đau là 1 tên Do Thái, ở
Steiner. TV sẽ
post 1 số bài liên quan để chứng tỏ, GNV bảnh hơn VL nhiều!
Hà, hà!
Mario Vargas Llosa, The Art
of Fiction No. 120
Note:
Cái tít này, thấy mấy
ông mấy bà Hậu Vệ dịch là 'Nghệ Thuật Văn Chương Hư Cấu'; dịch như thế,
thừa
chữ ‘văn chương’.
Tờ The Paris Review chia ra mấy
thứ nghệ thuật, để
tiện việc phỏng vấn, thí dụ, nghệ thuật kịch, nghệ thuật hồi ức, nghệ
thuật phê
bình, nghệ thuật thơ... và như thế, nên dịch The Art of Fiction là nghệ
thuật
giả tưởng, tức nghệ thuật viết tiểu thuyết, hay truyện ngắn.
Bởi vì dịch
‘nghệ
thuật văn chương hư cấu’, độc giả sẽ tưởng có cả thơ ở trong đó.
Thơ mà chẳng là…
hư cấu, ư?
Dịch như thế mà cũng cần sư phụ hiệu đính, chú thích!
Dịch là ‘nghệ thuật
giả tưởng’,
vừa ngắn gọn, vừa cho thấy, còn có thứ ‘nghệ thuật không-giả tưởng’,
như tờ The
Paris Review ‘hư cấu’, thí dụ, qua cuộc phỏng vấn tay Gay Talese, The Art of
Nonfiction No. 2
Bản dịch của Hậu Vệ
còn bỏ đi
‘cái nón’ của The Paris Review. Đọc sơ sơ vài dòng, thì thấy, thuật ngữ
tiếng Tây,
kế bên từ nhà nữ quyền, “feminist” avant la lettre, được để vô trong
ngoặc
(theo cách nói bây giờ); ‘avant la lettre’, đúng ra phải dịch, khác,
thí dụ, trước
khi có từ này, ý niệm này!
Nhưng thôi, kẻo lại bị rũa,
"bới bèo ra bọ"!
*
Bài
viết trên Người Kinh Tế,
ngắn, gọn, nhưng thật tuyệt, về cái chuyện may quá, 'xém 1 tí' thì
Vargas Llosa
[VL] cũng bị kết án nằm trong số những kẻ hẩm hiu, trong khi nhiều tay
khác tài
năng kém ông, thì lại được.
Quả đúng như Mít nói, có còn hơn không, dù
cho quá muộn màng, giải thưởng Nobel năm này là 1 sự nhìn nhận 1
tiểu
thuyết gia và nhà văn Mỹ châu La tinh, thành quả nhất, hiện đang còn
sống.
Bài viết cũng nhắc tới tác phẩm xb tháng 11 này,
bằng tiếng Tây Ban Nha, về Roger Casement,
một trong
những 'nguồn', của Conrad, khi viết Trái
Tim của Bóng Đen. (1)
A
universal Peruvian
Oct
7th 2010, 17:02 by M.R. | LONDON
IT
HAD seemed inevitable that Mario Vargas Llosa was condemned to join the
list of
great writers never to receive the Nobel prize, while many of lesser
talent but
more fashionable views were honoured. So this year’s award is welcome,
if
overdue, recognition for the most accomplished living Latin American
novelist
and writer.
In
its citation, the committee commends Mr Vargas Llosa for “his
cartography of
structures of power and his trenchant images of the individual’s
resistance,
revolt, and defeat.” These themes are treated most powerfully in what
are
perhaps his two finest novels, written more than three decades apart.
“Conversation in the Cathedral”, an early work of astonishing maturity,
is set
in Peru
in the 1950s during a military dictatorship. “The Feast of the Goat”,
published
in 2000 (and reviewed by The Economist), explores the cruel regime of
General Trujillo
in the Dominican
Republic.
While novels about dictators are a staple of Latin American literature,
Mr
Vargas Llosa took the genre beyond political denunciation, crafting
subtle
studies of the psychology of absolute power and its corruption of human
integrity. These are themes he returns to in his latest book, "El Sueño
del Celta" (“The Dream of the Celt”), a novel about Roger Casement, an
Anglo-Irish diplomat and early crusader for human rights, which will be
published in Spanish in November.
Born
in Arequipa in southern Peru
in 1936,
Mr Vargas Llosa’s early works are rich with the flavours and injustices
of his
native country. “La Ciudad y los Perros”, whose poorly chosen title in
English
is “The Time of the Hero”, is a clammily claustrophobic fictional
account of
the author’s unhappy experience as a teenager in Lima’s
Military
College.
His complex and contradictory
feelings about Peru
are a constant strand in his work, but his themes and increasingly his
subjects
are universal. Another
recurring theme is the search for utopia, and its often
tragic consequences, political or personal, which he explores in
different ways
in “The War of the End of the World”, “The Real Life of Alejandro
Mayta” and
“The Way to Paradise”, a study in counterpoint of the lives of Paul
Gauguin, a
painter, and his Franco-Peruvian grandmother, Flora Tristán, an early
feminist
(reviewed by The Economist).
Mr
Vargas Llosa’s prose lacks the poetic intensity of Gabriel Garcia
Marquez, his
Colombian near-contemporary (and the last South American* writer to win
the
Nobel, in 1982). But he more than makes up for this with his greater
intellectual depth, subtlety and authorial rigour. His books are
meticulously
researched and carefully crafted. He writes every morning, and corrects
his
manuscripts three times, using different coloured ink. His style shows the
influence of Flaubert and Sartre, but also the Spanish picaresque
tradition. He
is extraordinarily versatile and prolific. His novels include lighter,
comic
works, such as the autobiographical “Aunt Julia and the Scriptwriter”
and the
recent “The Bad Girl”. But he has also written plays, works of literary
criticism and political essays, as well as a longstanding fortnightly
column in Spain’s
El País newspaper.
A
youthful enthusiasm for the Cuban revolution quickly gave way in Mr
Vargas
Llosa to a trenchant liberalism. This often made him unpopular in Latin America. He was equally critical of Fidel
Castro
and of Peru’s
conservative strongman, Alberto Fujimori. He abhors the nationalism
that is the
default tool of so many Latin American politicians, and espouses a
universal
humanism. His passionate belief in the cause of liberty led him into
active
politics. In 1990 he ran for president of Peru. Fortunately for the
cause of
literature, he lost. Once a polarizing national figure, he is now
universally
respected as the country’s moral conscience. As well as a great
novelist, Mr
Vargas Llosa has become Latin America’s
most
influential liberal thinker. Now 74, he shows no sign of slowing down.
*Correction
note: this originally said "Latin American". Sorry for the error.
Thanks to TiagoDF for spotting.
The
Economist
(1)
Entry
for October 07, 2008
Writing without frontiers ... Mario
Vargas
Lllosa
He's following in
the footsteps of Roger Casement, a British consul turned Irish
nationalist who was hanged for treason in 1916 and painted as a
paedophile by the British government for what he is said to have
written in the so-called Black Diaries. Casement is to be the
protagonist of "a novel that will take place in Ireland, Congo, in Berlin and the Amazon,
including places I have never been to, such as Ulster," he says, with
genuine excitement at the prospect of the journey that awaits.
"There
are many things that haven't changed in Congo. It is one of the
most tragic countries in the world, which endured a terrible colonial
experience [at the hands of brutal Belgian king Leopold II]. And it has
only got worse since," he says.
"It
is calculated that in the last 10 years four to five million people
have been killed in Congo, yet it barely gets
reported in the newspapers. In many ways the Congolese are still living
with the same problems they faced in the era of Conrad and Casement."
Ông ta [Vargas
Llosa] đi
theo những vết chân của Roger Casement, một nhân viên Hồng Mao trở
thành
một nhà ái quốc Ái nhĩ lan và bị treo cổ vì tội phản quốc vào năm 1916…
Casement sẽ là một nhân vật trong một cuốn "tiểu thuyết đặt để tại Ái
nhĩ lan, Congo, Berlin, và Amazon, bao gồm
cả những nơi chốn mà tôi chưa tới như Ulster”, ông nói, thực
tình hào hứng về viễn tượng một chuyến đi đang chờ đợi.
“Có
rất nhiều điều chẳng thay đổi ở Congo. Đó là một trong
những xứ sở thê thảm nhất trên thế giới, nơi đã trải qua kinh nghiệm
thực dân thuộc địa khủng khiếp, và cứ tệ mãi đi kể từ đó". "Theo như
tính toán thì trong 10 năm vừa qua, từ bốn đến năm triệu người đã bị
giết ở Congo, nhưng báo chí gần
như vờ luôn. Trong rất nhiều đường hướng, người dân Congo vẫn sống với cùng
những vấn đề mà họ đã đối diện thời kỳ có Conrad và Casement."
Không hiểu cái tên
ngu đần chê bai, dè bỉu phim Tận Thế
Là Đây của Coppola, và còn viết ra điều đó bằng tiếng Anh tiếng
U, đăng trên Guardian, đã vỡ
cái ngu ra chưa, khi gọi đó là Khải Huyền Dối Trá?
Coppola,
khi làm phim trên, đã mường tượng ra được, có một cái gì đó nối kết một
xứ sở Mít, thời nội chiến lần thứ hai, với một Congo thời Conrad.
Tận Thế Là Đây là
Việt Nam! Khủng khiếp thật!
Roger Casement vs The British Empire
Entry for June 17, 2008
*
Trong The
Rings of Saturn, W.G. Sebald kể lại, ông thấy mình ngủ gà ngủ gật
khi nghe
đài BBC, trong một bài nói về Roger Casement, bị người Anh xử tử vào
tháng Tám
1916 về tội phản quốc. Khi tỉnh giấc, ông vẫn còn bị trí tưởng tượng
đeo đuổi,
vì tình bạn giữa Casement và nhà văn Conrad, tác giả Giữa Lòng Đen,
Heart of
Darkness, một trong những tác giả ruột của ông.
Có vẻ như vô phương, không thể
nào tránh được, cái chuyện
VL sẽ bị kết
án, chìm vào quên lãng, nghĩa là, gia nhập
danh sách những nhà văn vĩ đại bị đời vờ, không cho Nobel văn chương,
trong khi
nhiều tay cà chớn hơn ông nhiều, thì lại được, chính vì thế, mà giải
thưởng
năm nay
trao cho ông, dù quá muộn màng, nhưng quả là một lời chào mừng, và nhìn
nhận, đây
là một tiểu thuyết gia và nhà văn thành tựu nhất, hiện đang còn sống,
của vùng
Mỹ Châu La Tinh.
Tiểu thuyết gia và nhà văn:
Tuyệt!
Cái tay viết cái bài này, của tờ Người
Kinh Tế, quả đúng là một tay nhà nghề!
Cái tính chính trị, ở nơi ông, phải hiểu
theo nghĩa cao nhất của từ này.
Ngay Garcia Marquez, tuy bị VL
chửi là tay
bợ đít độc tài, chơi thân với Castro, nhưng ông cũng là 1 nhà văn… chính trị, đặt chính trị là đỉnh cao của văn
chương. Rushdie nhận ra điều này, khi viết:
Ở
Mỹ Châu La Tinh, thực tại biến dạng do chính trị nhiều hơn là do văn
hóa. Sự
thực được bưng bít đến nỗi không còn biết đâu là sự thực. Cuối cùng chỉ
còn một
sự thực độc nhất, đó là lúc nào người ta cũng nói dối. Những tác phẩm
của
Garcia Marquez không có tương quan trực tiếp tới chính trị, nhưng chúng
đề cập
tới những vấn đề đại chúng bằng những ẩn dụ. Chủ nghĩa hiện thực huyền
ảo là
một khai triển chiết ra từ chủ nghĩa siêu thực; một chủ nghĩa siêu thực
diễn tả
lương tâm đích thực của Thế Giới Thứ Ba, tức là của những xã hội được
tạo thành
"có một nửa", trong đó, cái cũ có vẻ như không thực chống lại cái mới
làm người ta sợ, trong đó sự tham nhũng, thối nát "công cộng" của đám
cầm quyền và nỗi khiếp sợ "riêng tư" của từng người dân, tất cả đều
trở thành hiển nhiên. Trong thế giới tiểu thuyết của Garcia Marquez,
những điều
vô lý, những chuyện không thể xẩy ra, đều xẩy ra hoài hoài, ngay giữa
ban ngày
ban mặt. Thật hết sức lầm lẫn, nếu coi vũ trụ văn chương của ông là một
hệ
thống bịa đặt, khép kín. Nó không được viết ở trên mảnh đất nào khác mà
chính
là mảnh đất chúng ta đang sống. Macondo có thực. Và đó tính nhiệm mầu
của ông.
Uỷ ban Nobel viết, trao cho ông
Nobel văn
chương, vì cái bản đồ cơ cấu quyền lực mà
ông vẽ ra, và vì những hình ảnh sắc bén của ông, về cuộc kháng cự, nổi
loạn và
thất bại của cá nhân con người trước quyền lực; những đề tài này, được
ông xử trí, [nghiên cứu, giải quyết, treated, chữ của Người Kinh Tế,
tuyệt!], một cách
thật là mãnh liệt ở trong hai cuốn tiểu thuyết, có lẽ tuyệt
vời nhất
của ông, được viết cách nhau ba thập niên.
*
Trong cuốn tiểu thuyết đầu
tay của VL, The Time of the Hero,
đề từ Phần Một, của
Sartre: Chúng ta đóng vai anh hùng, vì là kẻ hèn nhát, những vì thánh,
vì là ma
quỉ, kẻ sát nhân, vì thèm giết đồng loại đến phát điên lên được: chúng
ta đóng
vai người, như là kẻ dối trá, ngay từ khi sinh ra.
Phần Hai, câu đề từ, thuổng
Paul Nizan, qua Sartre, y chang GNV, trong Những Ngày Ở Sài Gòn, viết năm 1965,
sau khi xơi mìn VC tại Mỹ Cảnh:
Tớ hai mươi tuổi, và không
cho phép bất cứ ai được nói, đây là tuổi đẹp nhất trong đời một người
Có thể
nhà văn ít để ý đến giải
thưởng [trong khi sáng tác, sau đó, chắc cũng thèm!], nhưng nhà phê
bình không
thể không. Những năm gần đây, Nobel xoáy vào Lò Thiêu, vào thế giới
toàn trị,
như GNV này đã từng phán… ẩu, có vẻ như mấy ông Hàn lấy câu ‘mỗi tài
liệu về văn
minh là 1 tài liệu về dã man’của Walter Benjamin làm ‘tiêu chí’. Booker
cho thấy dòng văn
học di dân
viết bằng tiếng Anh đang lên ngôi.
Cái sự cho Nobel năm nay, hình như
cũng có ẩn
ý, như là 1 cảnh báo hãy xì tốp thứ văn chương hiện thực huyền ảo, và
nhà
văn, hãy
trở về với thế giới thực, và, lại sửa soạn 'xuống thuyền', lăn mình vào
cuộc đời,
viết với một sự chính xác.
Có thể
như thế lắm. Bởi vì,
thầy của VL, ngoài Faulkner, còn Flaubert.
VL rất mê Flaubert, nhất là
cuốn Madame Bovary. Ông đã viết cả 1
cuốn tiểu luận về cuốn này, và còn viết lại Bà Bô 1 lần nữa, với cuốn
tiểu
thuyết
The Bad Girl của riêng ông.
Nên nhớ Flaubert viết văn với 1 sự chính xác
khủng khiếp,
cứ như là 1 nhà giải phẫu, như bức hình sau đây cho thấy:
 
“Conversation in the Cathedral”
- tác phẩm đầu tay của sự chín mùi
đến ngỡ ngàng– được đặt để ở Peru, thập niên 1950, dưới chế độ độc tài
quân sự;
“The Feast of the Goat”, xb năm 2000, khai triển chế độ độc ác, tàn bạo
của General
Trujillo ở xứ Dominican Republic. Trong khi tiểu thuyết về những nhà
độc tài là
chủ đề của văn chương Mỹ Châu La Tinh, VL đẩy tác phẩm của ông vượt quá
dạng tố
cáo, tới những vùng sâu hơn, với những nghiên cứu tinh tế về một thứ tâm
lý của quyền
lực tuyệt đối và sự hư ruỗng mà nó gây ra cho sự vẹn toàn của con
người. Ông trở
lại với những đề tài này trong The Dream of the Celt, một cuốn tiểu
thuyết về
Roger Casement, một nhà ngoại giao Anh, gốc Ái nhĩ lan, và cuộc viễn
chinh vì
nhân quyền ở cái thuở đầu tiên của nó, cuốn này sẽ được xb bằng tiếng
Tây Ban
Nhà vào tháng 11, 2010
|