Sự cứu rỗi cuối cùng

Đọc ở liên hoan văn học do PEN tổ chức, New York

Nguồn 1 [BBC]
Nguồn 2 [Diễn Đàn Tự Do & Dân Chủ]

Faith & Reason: Writers speak, một trong những đề tài của liên hoan văn học, theo tôi, nên dịch là: Niềm Tin & Trí Tuệ: Những tiếng nói của nhà văn.
Faith & Reason làm nhớ Brodsky và tập tiểu luận nổi tiếng của ông, On Grief and  Reason, Về Khổ Đau và Trí Tuệ, và biết đâu, đề tài này hợp với Dương Thu Hương hơn chăng? NQT

"Trong diễn từ Nobel, Brodsky vạch ra một mỹ tín [aesthetic credo] mà cuộc sống đạo đức của dân chúng sẽ được xây dựng trên nền tảng đó. Mỹ học như ông nói, là mẹ của đạo đức, theo nghĩa, con người càng trọng mỹ tới đâu thì sàng lọc ra cái vô đạo tới đó. Và nếu như vậy, nghệ thuật tốt sẽ ở về phía của cái tốt. [Good art is thus on the side of the good]. Cái ác, cái tà ma, về mặt còn lại, ‘đặc biệt là cái ác chính trị, luôn luôn là một thứ văn phong tồi tệ” [Evil, on the other hand, ‘especillay political evil, is always a bad stylist”. On Grief… trang 49].”
Về Khổ Đau và Cà Rem

Conversations in the Library: Duong Thu Huong & Robert Stone
Sunday, April 30 at 12:00
Tickets: $15.00 general admission/$10.00 library donors, seniors, and students with valid ID
PEN

Bữa nay, 30 Tháng Tư, 2006, nhà văn Dương Thu Hương nói chuyện tại Thư viện.
Đề tài ‘Cuộc chiến Việt Nam, tình trạng kiểm duyệt và vai trò của nhà văn tại Việt Nam’.



Trên con đường dài đặc [dặc?] của lịch sử, tấm áo giáp tinh thần đầu tiên che chắn cho tâm hồn mong manh của con người chính là niềm tin.
DTH.
 Nhưng chính niềm tin mở ra Cách Mạng Tháng Mười, theo nghĩa, một sửa soạn cần thiết để xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa. Một cách nào đó, đây là một nghi lễ choàng hoa cho niềm tin, rồi tống cổ nó đi lưu đầy viễn xứ.
 Trong bài "Cách Mạng Nga, Những Con Người Bị Quên Lãng", điểm cuốn "The Philosophy Steamer: Lenin and The Exile of Intelligentsia" [Lênin và Cuộc Lưu Đầy Tầng Lớp Trí Thức], tác giả Lesley Chamber, Atlantic Books, trên tờ Người Kinh Tế, số đề ngày 18 Tháng Ba, 2006, người điểm sách cho biết, vào Mùa Thu, [lại Mùa Thu] năm 1922, Lênin đã ra lệnh tống xuất 70 con người, được coi là những đầu óc số một của nước Nga, đẩy tất cả xuống hai con tầu Đức: the Oberburgermeister Haken Preussen. Tất cả 220 nhà trí thức cùng gia đình của họ, đã bị đá văng ra khỏi đất mẹ Nga, nhằm sửa soạn cho việc sáng tạo ra Liên Bang Xô Viết, vào cuối năm đó.
Những người này chẳng phạm phải một tội ác nào, ngoại trừ điều này: họ đều có chung một niềm tin rằng thì là, sự thay đổi [reform] về đạo đức và tôn giáo thì rất ư cần thiết, so với cách mạng xã hội.
Rất nhiều người trong số họ đã đả kích thậm tệ những tà ma ác quỉ xã hội của chủ nghĩa sa hoàng, và một vài người trong số đó, nằm trong tù, khi Lênin đang say sưa đọc sách tại một thư viện công cộng ở Zurich.
Trong số họ, có những triết gia tôn giáo như Nikolai Berdyaev và Semyon Frank, những kinh tế gia cởi mở như Boris Brutskus, nhà văn, nhà phê bình như Mikhail Osorgin và Yuly Aikhenvald, những nghệ sĩ trừu tượng, những sử gia, toán học gia. Hầu như tất cả đều có chung một 'niềm tin'' và là những nhà xã hội học Ky tô giáo, theo một kiểu riêng của người Nga; chỉ một số ít là những nhà bảo thủ 'phản cách mạng'.
Đích thân Lênin quyết định, người nào bị tống xuất.
Số phận của họ sau đó?
Và liệu, cái gọi là ý thức công dân mà Việt Nam hiện đang rất cần sau Đại Hội Đảng, theo như một nhà thơ trong nước, cần hơn, so với niềm tin mà DTH hiện đang rao giảng cho dân Mẽo, ở Nữu Ước?


Chắc chắn chỉ là tình cờ, trong khi DTH rao giảng về niềm tin ở Mẽo, ở Anh, tờ Granta Số Mùa Xuân 2006, để "tống cựu nghinh tân" [tờ báo đổi chủ], đã chơi cả một số cho niềm tin, và cho... Thượng Đế: Những xứ sở của riêng Mi là những xứ sở nào, và liệu cái miền đất khốn khổ mà chúng ông đang ở đó, là một trong những xứ sở của Mi? [God's own countries. Are you living in one?]
Đã có thời, kể từ sau Soi Sáng, nhân loại tưởng rằng thì là Thượng Đế đang chết, trí tuệ và khoa học đang thắng thế, nhưng than ôi, sự tình không đơn giản như vậy! Thượng Đế vưỡn có bạn của Ông Ta ở trên thế gian này, và đôi khi [ở Texas, Istambul, Teheran) họ và Ông Ta coi mòi hung hãn hơn bao giờ hết.
Chỉ một điều này thôi, là đủ rõ: nếu không có 'niềm tin' Mẽo đang đem con nít Miền Nam bán qua Cam Bốt, đàn bà, con gái qua Đại Hàn, Singapore.. làm sao có chiến thắng 30 Tháng Tư?


*

   "The Nazis censored Sander because his 'faces of the period' did not correspond to the aesthetic of the Nazi race." Sander: Notary. [Hình trích Roland Barthes: Camera Lucida]
"Đám Nazi kiểm duyệt hình của Sander, như bức trên đây, bởi vì 'những bộ mặt thời đó' của ông ta, không hợp với [không nói lên được] vẻ đẹp của dòng giống Nazi."

Trong thời gian chiến tranh, người phụ nữ Miền Bắc, do khuân vác thồ, cửu vạn cứu nước...  nhiều quá, thành thử cái 'co' cứ lùn tịt xuống, bè mãi ra. Bây giờ, lại đẹp rồi!

Cũng trong cuốn đã dẫn, Barthes cho biết, tờ Life đã từng vứt vào thùng rác [rejected] những bức hình của Kertesz khi ông tới Mỹ vào năm 1937, bởi vì những hình ảnh của ông ta nói nhiều quá [spoke too much]. Chúng bắt chúng ta phải suy nghĩ, phải đề nghị một ý nghĩa  - một ý nghĩa khác hẳn ý nghĩa thông thường, nghĩa đen, nghĩa mà mọi người muốn.
Đẩy đến tận cùng, theo Barthes, Hình ảnh, Photography, gây loạn, đạp đổ, làm giặc, khi nó suy tư, khi nó nghĩ [when it is pensive, when it thinks].

Tôi sợ rằng, những 'hình ảnh' của DTH khi tới Mỹ, bị 'từ chối', rejected, [bởi những ai kia, chứ không phải tờ Life, Mẽo], là đúng như Barthes cắt nghĩa..
Chúng nói nhiều quá, và nói đúng quá, về cái dáng vẫn còn bè ra, lùn đi, ngày một thêm lên, về tinh thần, của một miền đất.
Điều này còn có thể giải thích, tại sao DTH cứ ôm lấy hình ảnh người đàn bà Bắc Kỳ quê mùa, cổ hủ, và không hề sửa đổi cách ăn nói sao cho ra vẻ văn minh, theo lẽ thông thường.
Ngoài ra, tôi tin rằng, cả hai người, Nguyễn Quí Đức, người phiên dịch trong buổi nói chuyện tại Thư Viện, và Trịnh Lữ, tác giả một bài viết trên talawas, về DTH, đều chưa từng đọc DTH.

Thực tình, bi giờ chẳng ai có thể là nhà văn, a Dichter, nếu anh ta không tận tình hồ nghi cái quyền làm nhà văn của anh ta.
For in reality, no man today can be a writer, a Dichter, if he does not seriously doubt his right to be one.
May mắn làm sao, mới đây, tôi vớ được một câu viết vội của một tác giả vô danh, mà nếu tôi có nói tên thì cũng chẳng ai biết. Câu viết vội đề ngày 23 Tháng Tám 1939, nghĩa là chỉ một tuần lễ trước khi Thế Chiến Thứ Hai nổ ra.
Câu đó như vầy:

"Nhưng mọi chuyện vậy là xong. Nếu tôi thực sự là nhà văn, tôi đã có thể ngăn chặn cuộc chiến".
"But everything is over. If I were really a writer, I would have to be able to prevent the war."
Elias Canetti [1905-1994, Nobel 1981]: Nghề của nhà văn, The Writer's Profession, bài đọc tại Munich, Tháng Giêng 1976, được in trong Lương Tâm Của Chữ, The Conscience of words.

Trong bài Tựa, ông tự hỏi, liệu có một người nào lại lấy lại được cái nghĩa của từ tiếng Đức, nhà văn, dichter, một khi nó có vẻ như đã bị huỷ diệt.

Ôi chao, bảnh chưa, sướng chưa! Trơ cu lơ có một thằng, mà phải là một thằng nhà văn, thế là nó "bèn" ngăn được cuộc chiến!
Nhật Ký Tin Văn, 30 Tháng Tư, 2005
Theo nghĩa trên, tôi thành thực tin rằng, DTH, độc nhất, nhà văn. Mấy thứ kia, đồ bỏ. NQT
*
Ông Trịnh Lữ đặt câu hỏi: “Nguyễn Quí Đức, không hiểu vì lí do gì, lại dịch chữ “làm giặc” ấy của Hương là “trouble-maker” thôi chứ không phải là “rebel”. Hay là anh cố tình làm dịu câu chuyện?

Tôi cho là ông Nguyễn Quý Đức đã truyền tải đúng nghĩa bóng của từ “làm giặc” (ít ra trong trường hợp này) tức là “trouble maker”, kẻ quấy rối (chính quyền) làm họ mất ăn mất ngủ, chứ không có đủ sức mạnh hay vũ lực của “phiến quân”, “kẻ khởi loạn” (rebel) nhằm tiêu diệt kẻ thù...
Nguồn

Tác giả thư góp ý trên, sau khi chê TL dịch nhiều cảm tính, thiếu thuyết phục... thì, liền sau đó, cắn ngay đúng một mẩu lưỡi của mình, khi bênh vực NQĐ, dịch chữ làm giặc là 'trouble-maker': truyền tải 'đúng nghĩa bóng' của từ làm giặc!

Làm giặc là.... làm giặc. Đâu có phải tự nhiên mà DTH tự coi mình là một kẻ làm giặc. Không lẽ 'một' con sói cô đơn không thể làm đổ được một chính quyền, một đế quốc ma quỉ? Có đấy, trường hợp Solzhenitsyn, thí dụ vậy.
Bà đâu hề có ý định quấy rối chính quyền?
Tác giả bức thư góp ý, theo tôi, không hề hiểu được ý nghĩa mang tính truyền thống của từ làm giặc, 'xuyên suốt' lịch sử lập nước của Việt Nam."Ta thà làm quỉ phương Nam thay vì làm vua phương Bắc". "Không thành công thì thành nhân". Đấy là nói về một phần.
Phần kia, có thể chỉ là "tình cờ", với DTH. Nó còn là truyền thống Châu Âu, qua Camus chẳng hạn, với Con Người Nổi Loạn, hay Vị Thần Sisyphe Vác Đá của ông. Hay truyền thống Nga, qua Brodsky, Thi Sĩ Nổi Loạn, đi để mà chẳng bao giờ trở về....

Phải tưởng tượng Dương Thu Hương hạnh phúc.

Trong Bếp Lửa, Thanh Tâm Tuyền đã để cho một nhân vật nói lên nhận định về tôn giáo: một khi nhập thế trong xác phàm, thần thánh cũng phải chịu đựng, như bất cứ một con người nào, mọi thảm kịch của nhân gian, triết hiện sinh gọi là những hoàn cảnh hữu hạn, và chỉ thoát ra bằng sự thất bại. Tư tưởng này có thể coi như chung cho một số nhà văn hiện sinh, tuy cách phát biểu ở mỗi người một khác. Sartre: Con người bị kết án phải tự do. Camus: Phải tưởng tượng Sisyphe hạnh phúc. (Sisyphe là nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, bị tội vần đá lên núi. Gần tới đỉnh núi, hòn đá lăn xuống, và Sisyphe lại vần đá tiếp.)
Như lính giữa rừng

vl

Anh nghĩ sao về văn chương kháng chiến chống Pháp từ 1945 tới 1954? Nếu giai đoạn văn chương ấy là của cộng sản, tại sao cộng sản miền Bắc lại cấm phổ biến chính nền văn chương của mình? Có một tờ báo, một nhóm người nào ở miền Bắc công khai phổ biến thơ văn kháng chiến 1945-1954 chăng? Tôi không hề thấy. Trái lại, miền Nam tự do phổ biến văn chương kháng chiến chống Pháp, trong khi chính các tác giả của nó đang sống tại miền Bắc. Người miền Nam thuộc và đọc hầu hết thơ nhạc truyện của Văn Cao, Ðỗ Nhuận, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Thâm Tâm, Nguyễn Tuân,... Miền Bắc thì không. Anh đánh giá văn chương kháng chiến ra sao? Riêng tôi gọi đó là Văn chương Dân tộc.
Viên Linh trả lời Phan Nhiên Hạo, trên talawas
Nhật Ký Tin Văn 30.4.2005

Một khi thần thánh hóa Lịch Sử, bất tín nhiệm Thượng Đế, chủ nghĩa Marx chỉ thành công, là làm cho Thượng Đế trở nên xa lạ, và trở thành một ám ảnh khôn nguôi.
En divinisant l'Histoire pour discréditer Dieu, le marxisme n'a réussi qu'à rendre Dieu plus étrange et obsédant.
Cioran: Nga xô và con vi-rút tự do, La Russie et le virus de la liberté, trong Lịch sử và Không tưởng, Histoire et Utopie

Những 'lời phán' của nhà thơ VL như trên, hóa ra lại ứng với DTH!
Con sói cô đơn không chỉ bị cộng sản miền Bắc 'cấm phổ biến', mà còn bị cả một bầy chó thủ đô xúm lại toan tính làm thịt!
*
Nhân đọc lại Nhật Ký Tin Văn 30.4.2005, thấy câu sau đây, áp dụng vào trường hợp DTH thì thật là tuyệt cú mèo!

Tiểu thuyết tái dẫn nhập con người vào lịch sử. Trong thứ đại tiểu thuyết, thí dụ như Chốn Vắng chẳng hạn, con người được giới thiệu, với định mệnh của nó.
The novel is a reintroduction of the human being into history. In the greatest of novels, the subject is introduced to his destiny.

Khi ta chết hãy chôn theo ta một thằng phê bình. Nguyễn Tuân dặn lại đám em út.

Nhưng đâu là ranh giới, về cái quyền phạng nhà văn, của nhà phê bình.
Sau đây là đề nghị của một tác giả trên tờ TLS, số đề ngày April 28, 2006: Đâm, thọi, phạng... gì gì cũng được, nhưng chớ có tẩm thuốc độc vào ngòi viết của mi!
Xin chép lại câu trên, để tặng.... Gấu!


How can one go back
To a ravaged home?
Marina Tsvetaeva: My country
Làm sao trở về, căn nhà hoang?
Người xa vắng biết đâu, nấm nhà mồ?
*
Marina Tsvetaeva, Prague, 1924


« II existe une nostalgie sans rapport avec l'Histoire, que nous ressentons tous, la mémoire émotionnelle d'un temps où nous étions innocents. »
Kazuo Ishiguro: L'âge de la nostalgie.
Có một thứ hoài nhớ đấm buồi vào lịch sử...

Có lẽ phải mượn ngôn ngữ của DTH, hay của NHT, [dí l... vào ], hay của ĐMT [mặc áo mưa rách cho lịch sử... Đảng], thì mới diễn tả nổi, nỗi cay đắng của người Việt thời hậu-1975, khi phải hoài nhớ một thời Pháp Thuộc, một thời Mỹ Thuộc, khi chưa bị nhục, bị khổ, bị đau, vì phải sống dưới sự cai trị của Quỉ VC.
Một ngàn năm nô lệ thằng Tầu vậy mà còn đỡ nhục, vì Quỉ VC làm sao có được một... Sĩ Nhiếp, tên quan Tầu ngu đần dậy đám mọi An Nam nhân nghĩa lễ trí tín, đạo đức, văn hoá người của... Thiên Triều!
*
Hình đấu tố, 1955, Việt Nam,
của Dmitri Baltermants (1912-1990)

Bức hình đấu tố trên làm bật ra câu hỏi, sự cắt nghĩa giải thích một sự kiện lịch sử thay đổi như thế nào một khi chúng ta có thêm những dữ kiện, và khi những dữ kiện đó được đặt để trong mạch lịch sử. ['How the interpretation of an event can change when a wider range of sources is introduced' and when those sources are placed in historical context].
Đây là đề tài cuốn Somanatha: Rất nhiều tiếng nói của một lịch sử  [The many voices of a history], của Romila Thapar, nhà xb Verso, 25 Mỹ Kim, được Richard M. Eaton điểm trên TLS May 5, 2006, dưới nhan đề Gates of discord.
Sự kiện được đem ra mổ xẻ, là cú tấn công năm 1026 vào ngôi đền Somanatha, một sự kiện rất lớn lao trong lịch sử Ấn Độ, được coi như biểu tượng nói lên sự áp bức của nhà cầm quyền Hồi Giáo, châm ngòi cho rất nhiều biến động lịch sử sau đó, khiến lịch sử Ấn Độ thay đổi hẳn đi.
Tác giả cuốn sách không hề giải thích, thực sự, chuyện gì đã xẩy ra, và nó xẩy ra, thực sự ra sao, nhưng bà đưa ra khá nhiều câu hỏi thú vị, bổ ích, tại làm sao, một số hiểu biết đặc biệt về sự kiện trên, xuất hiện, trong khi một số khác bị chìm đi, những nhóm, cơ quan, đoàn thể xã hội nào giữ chúng lại, tại sao có một số dẫn giải sự kiện, lấn lướt, trong khi một số khác, bị đẩy ra bên lề, hay cho chìm xuồng.
Cố gắng của tác giả, nói gắn gọn, là liên văn bản hoá [contextualize], không chỉ lịch sử, mà sự làm ra lịch sử, not just history, but the making of history.
Đẩy đến tận cùng, việc làm của bà là nghiên cứu về hồi ức - nó được thừa hưởng ra làm sao, được xoá bỏ đi, hay được phịa ra như thế nào.


Faith & Reason are the slippery catch words (1)
TLS [số đề ngày May 5, 2006]
Niềm Tin  & Trí Tuệ: những con trạch.
Tin Văn post nguyên bản tiếng Anh, và sẽ dịch ra tiếng Việt, sau đó.
Hơn sáu chục cú Hoa Sơn luận chữ, về lưu vong, dịch thuật, tôn giáo, internet. Cú chính, tại Nhà Hội Thành Phố, thành phần tham dự toàn thứ dữ. Hơn một ngàn khán thính giả. Khi mấy ông nhà văn xuất hiện, họ được tưng bừng đón tiếp, cũng là một cách đồng tình với cố gắng của PEN, trong cái việc năn nỉ những nhà nước độc tài đừng bắt họ câm miệng, hãy cởi trói cho họ. Chúng ta muốn tay bắt mặt mừng với văn chương thế giới, và thế là chúng ta bèn lập tức bị bắt buộc.

(1) Niềm Tin & Trí Tuệ: Những từ hấp dẫn, nhưng quay quắt, khó xử lý.
Thú vị nữa là, trong cùng số báo, trong một bài điểm sách khác [cuốn Những ký hiệu của Thượng Đế], người điểm sách -  như biết được nỗi bối rối, không biết dịch 'faith' ra tiếng Việt ra 'nàm sao', 'liềm tin' hay 'niềm tin', 'xác tín' hay 'xác thịt'... - bèn đi một đường dẫn giải, khi móc nó với từ 'miracle', phép lạ....

Theo tôi, tất cả những cuốn tiểu thuyết của Dương Thu Hương, là được viết ra theo cùng một mạch như trên. Đề tài của bà là hồi ức - nó được thừa hưởng ra làm sao, được xoá bỏ đi, hay được phịa ra như thế nào. Và biến cố lịch sử mà DTH nhắm vào là sự kiện 30 Tháng Tư 1975.

*
Someone has to fight for people with no voice. I guess that person is me.
Một người nào đó phải chiến đấu cho những người không có tiếng nói.
Tôi nghĩ, tôi là người đó.

Câu nói dõng dạc nghe ra có vẻ của DTH!
Sự thực, của ChenGuangChen, một trong 100 người có ảnh hưởng nhất được tờ Time mới đây vinh danh.
Tuy mù từ nhỏ, nhưng cái nhìn 'legal' [về luật pháp] của anh đã giúp chiếu sáng số phận hàng ngàn dân làng Trung Quốc. Chen, con sói cô đơn, một mình đối đầu đám viên chức địa phương, khi đám này bắt phụ nữ phá thai hoặc triệt sản để đi đúng chủ trương của nhà nước, mỗi gia đình chỉ được quyền có một đứa con nít.

Tuy nhiên, câu của DTH, nếu có, bảnh hơn nhiều:
Nếu có một người nào đó phải lên tiếng cho hàng triệu hồn ma không làm sao còn tiếng nói, của cuộc chiến vừa qua, thì người đó hẳn là ... tui!

Coetzee, trong bài viết về Joseph Brodsky, đã nhắc tới một nhận định của nhà thơ Olga Sedakova, theo đó, thành tựu lớn lao nhất của Brodsky, là đã "đặt một cái dấu chấm hết ở cuối trào lưu văn học Xô Viết."
Ông làm được vậy, theo Coetzee, là do, đã lấy lại cho văn học Nga cái chất quí hiếm mà nền kỹ nghệ văn hóa Xô Viết, nhân danh chủ nghĩa lạc quan
, đã vứt vào thùng rác: Thân phận bi đát được làm người, hay, cảm nhận bi đát về đời sống, a tragic perception of life.
Nếu Brodsky là người đặt dấu chấm hết, Koestler là người gióng tiếng chuông báo tử đầu tiên cho đế quốc Cộng Sản, với Bóng Đêm Giữa Ban Ngày [1940], như David Cesarani, trong Athur Koestler: The Homeless Mind, viết:
"Hiệp cuối của đế quốc Xô viết, xẩy ra vào năm 1989-1990, đã bắt đầu cùng với sự xb của cuốn "Đêm hay Ngày" [Darkness at Noon, 1940. [The final rout of the Soviet imperium in 1989-1990 began with the publication of Darkness at Noon.]

Đêm hay Ngày  là tên bản tiếng Việt đầu tiên của nó, do Phòng Thông Tin Huê Kỳ ấn hành, thời điểm 1954, cùng với vụ di cư của đồng bào miền Bắc.
Đọc Đêm hay Ngày, ngay những ngày đầu vô Nam, Gấu chỉ còn giữ được một hình ảnh của nó. Đó là khi Rubachov bị đồng chí tống vô tù, trong phòng giam, nghĩ tới những cú tra tấn sắp sửa, anh "VC" nhiều tuổi Đảng hơn cả Đảng bèn dí cái đầu điếu thuốc đang cháy bỏng vô lòng bàn tay. Đang say sưa lịm người với thú đau thương, giật mình ngó lên, chàng thấy tên lính gác đang đăm đăm nhìn bằng con mắt cú vọ, qua lỗ đầu ruồi (?), ở cửa phòng giam. Tên gác bèn nhếch mép cười khinh bỉ, đóng sập đầu ruồi, và bỏ đi.
Milosz, trong cuốn sách ABC  của ông, dưới "đầu vào" [entry] Koestler, đã n
hắc tới nhà thơ Aleksander Wat, và cuộc trò chuyện của Wat với một tay cựu Bôn-sê-vích, the old Bolshevik Steklov, liền trước khi xẩy ra cái chết của tay cựu đảng viên đáng kính này, trong nhà tù Satarov.
Theo Steklov, những tay như Rubachov thú tội, ngay cả những tội mà họ không hề phạm, không phải do tra tấn, mà là do quá tởm quá khứ đầy ứ những tội ác của họ.
 Và cái chuyện tự làm nhục chính họ, một lần nữa, chẳng tốn kém gì, và tra tấn là không cần thiết.
[According to Steklov, they confessed out of disgust at their own past: they each had so many crimes on their account, that it cost them nothing to demean themselves once more and torture was not necessary].

Tác phẩm của DTH, theo Gấu, là phải được đọc trong cái dòng suy tưởng đó, trong cái nỗi bi đát được làm người, và trong cái ghê gớm tởm lợm, trước những con bọ VC.
Koestler: Đêm Hay Ngày

DTH tin rằng, cuộc chiến vừa qua, thậm xuẩn ngốc trong lịch sử Việt Nam.
Gấu tôi nghĩ ngược lại. Đó là một cuộc chiến bắt buộc phải xẩy ra, và đã xẩy ra một lần rồi, trong lịch sử.

Lần trước, may mắn cho Miền Nam, có một 'sĩ phu' Bắc Hà, một đứa con tư sinh [chữ của TTT] của miền Bắc, bị miền đất khốn kiếp đó hè nhau làm thịt, bèn chạy vào Miền Nam. Để trả ơn miền đất nuôi dưỡng cưu mang, ông ta bèn xây dựng lên...  hàng rào điện tử Mac Namara, Bức Tường, tiền đồn chống VC... nhưng hồi xưa gọi nôm na là Lũy Thầy, nhờ vậy mà Miền Nam còn, cho đến khi có những ông như Cao Bồi PXA, "Người của chúng ta ở Sài Gòn", "Người của chúng ta ở Paris"... đám khốn nạn này, thay vì nhớ ơn miền đất đã bảo bọc chúng, ngày ăn cơm gạo miền nam, đêm cặm cụi vẽ bản đồ chiến thuật chiến lược ăn cướp, đưa lên địa đạo Củ Chi, qua Moscow, qua Bắc Kinh, đến Bắc Bộ Phủ.
Giặc ngồi ngay đằng sau lưng Ngài kìa, là vậy!
Tolstaya tin rằng chủ nghĩa CS không phải ở trên trời rơi xuống, mà nằm ở những tầng sâu hoang vắng của lịch sử Nga, đợi thời cơ của nó, là cơn gió độc chủ nghĩa CS thổi bùng ra, mọc xum xuê như Cỏ Cụ Hồ mà Phan Khôi đã từng cảnh cáo!
Kafka thì coi con quỉ này nằm ở chuồng heo, đợi cô con dâu của ông Tướng Về Hưu mang thai nhi vỗ béo, vươn vai biến thành, không phải Phù Đổng Thiên Vương như anh nhà quê Trần Bạch Đằng gọi những ông lính VC, Bộ Đội Cụ Hồ, mà là những con bọ khổng lồ, bọ hiếp con nít, bọ cá độ đá banh, bọ tắm bùn, bọ dầu khí, nôm na ngắn gọn, bọ VC.