Nhân
80 năm ngày sinh của Văn Cao
[15
tháng 11 năm 1923]
Trước
một
đứa trẻ chết đói, cuốn Buồn Nôn của tôi chẳng là
cái thá gì [Sartre].
Bài Tiến Quân Ca, với sự căm giận của nó, "thề phanh
thây uống máu quân thù",
đã được phát sinh ra như thế đó, nghĩa là từ cái chết của
một đứa trẻ.
Một lời kinh cầu đầy phẫn nộ dành cho một đứa trẻ đã chết.
Một cách nào, nó là nửa số phận một dân tộc.
Nửa
còn lại kia, Trần Dần nhìn ra:
Tôi bước đi, không thấy
phố, không thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên mầu
cờ đỏ.
Thân gửi bạn…
Lâu
quá không liên lạc, mong bạn vẫn thường luôn. Gần hết
năm, chuẩn bị báo Xuân, ‘bèn’ viết ‘mail’ này.
Tết
năm nay tới sớm, bạn cho bài vào đầu tháng 12, là tốt
nhất.
Mỗi
năm gặp nhau một lần, lúc xuân về, cũng hay chứ, phải
không bạn?
Lạ
lùng thật, cái ‘duyên’ của tôi với tờ TK21, và với tờ báo
‘mẹ’ của nó, tức tờ NV, đúng như M. viết ở trên, “mỗi năm hoa đào nở,
lại thấy
ông đồ già…”
Vả
chăng, nói cho cùng, những người như anh bạn như tôi, cố
bám vào thứ chữ quốc ngữ chữ nước ta, thì có khác chi ông đồ già của Vũ
Đình
Liên cố bám vào ba chữ “thánh hiền”?
Bài
viết đầu tiên của tôi cho tờ TK21, năm nảo năm nào đó,
lạ thay, cũng về đề tài mỗi năm một lần gặp, đúng hơn, về cái ‘tận
cùng_bắt
đầu” là cái “bắt đầu_tận cùng”, gợi từ ý thơ của Eliot, như bật ra từ
‘tiềm
thức” nhân gặp lại người bạn cũ, ở cuối nẻo đường đời, đường người, và
cuối nẻo
trái đất, tức cái xứ cà-na-điên cận kề Bắc cực:
In
my beginning is my end.
Giấc
Mộng Cuối [phải chăng] là Giấc Mộng Cũ? [1].
Đó là bài Ký Ức Còn
Mãi, viết về Sài Gòn, trong những ngày mới tới xứ lạnh. Một bài viết
rông rài,
tản mạn, bị “bỏ quên” trong đống bụi của tờ báo. NXH sau đó đem ra
đăng. Nhân
đó, anh bảo tôi viết bài cho số Xuân của tờ NV. Đó là năm Mậu Thân.
Gửi.
Không biết vì lý do nào, bài không đăng số Xuân, mà là
một số thường, tôi chỉ được biết, qua một người bạn, cư dân của Tiểu
Sài Gòn.
Anh bạn NXH cũng quên không gửi, không phải tiền nhuận bút, mà là tờ
báo có
đăng bài.
Có
thể vì vậy mà sau này, tôi lại trở lại với đề tài đã
viết, và đây là một bài viết “đầy hoạn nạn” [chữ của một nhà thơ nữ ở
trong
nước, về tập thơ đầu tay, và nghiệp thơ trẻ của bà], số phận của nó còn
hẩm hiu
hơn lần trước: bị tất cả các tờ báo văn học của Cali, từ chối.
Lý
do, nói thẳng ra ở đây, là: bài đụng tới một “thần tượng”
ở trong nước: Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Cho
phép tôi đăng lại bài viết ở đây, ở phần phụ lục, bởi vì
nó liên can đến bài viết mới này, được gợi hứng từ bài viết của Phạm
Phú Minh
trên tờ TK21, về trường hợp một cựu sĩ quan quân lực VNCH, hiện ở Hoa
Kỳ, có
nguy cơ bị trả về VN.
Bài víết của Phạm Phú
Minh, tôi đọc nhân lần ghé Cali, sau cái “mail” nói trên, tại nhà một
người bạn
mà tôi vẫn thường tá túc, mỗi dịp ghé Tiểu Sài Gòn.
Đây là lần ghé thứ tư
của tôi.
Lần
đầu, nhân xb cuốn sách đầu tay của tôi ở hải ngoại, cuốn
Lần Cuối Sài Gòn.
Sau
đó, là bài viết, Một Chuyến Đi, cũng vẫn luẩn quẩn với
vụ Mậu Thân, nhân đọc bài viết của Trúc Chi, trên tờ Văn Học, về một
tiếng đàn
của Huế. Trong bài viết, tôi đã so sánh tiếng đàn của người kỹ nữ trên
bến Tầm
Dương, “thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt”, dẫu sao cũng còn may mắn hơn
tiếng
đàn xứ thần kinh, bặt tiếng sau Mậu Thân.
Lần thứ nhì, đúng vào
dịp Trần Trường.
Cũng
vấn đề, về một kẻ “Đại Ác”?
Bài viết của Phạm Phú
Minh, như bây giờ tôi còn nhớ lại được, là một câu hỏi, một con người
vốn bình
thường, sống một cuộc đời bình thường, một người chồng, người cha biết
thương
yêu gia đình, vợ con, lối xóm… cũng vẫn con người đó, khi bị bắt đi lao
động
cải tạo bỗng trở nên xấu, làm những hành vi ác…, như vậy phải chăng là
do hoàn
cảnh, chứ không phải do bản chất của một con người. Và liệu con người -
hoặc
chính cá nhân người đó - có thể… bỏ qua cái ác đã phạm phải trong quá
khứ?
Đây
chính là câu hỏi mà 40 năm sau vụ sát hại một tổng thống
Mỹ, tờ Paris Match số đề ngày 16-22 tháng Mười, 2003, bằng một phóng sự
đặc
biệt + hình ảnh, gồm 16 trang, cho biết, một cuộc điều tra của đài
Canal+ của
Pháp, và một cuốn sách, Người Chứng Cuối Cùng, tác giả Billie Sol
Estes, nhân
chứng độc nhất còn sống trong vụ mưu sát, xác nhận: Phó Tổng Thống Mỹ,
Johnson,
là người chủ mưu vụ giết Kennedy. Nguyên nhân: vàng đen Texas.
Theo
tờ báo, phải luôn luôn đánh thức lịch sử, đọc đi đọc
lại những trang đen tối nhất của nó, nêu đích danh thủ phạm, cho dù
chúng biến
mất từ đời tám hoánh nào rồi.
Hơn
nữa, người ta cũng không thể biện minh cho cái ác, bằng…
hậu quả tốt đẹp của nó. Đây là đề tài của một cuốn tiểu thuyết của G.
Steiner,
trong đó, ông để cho nhân vật giả tưởng của ông là Hitler biện minh
trước lịch
sử: Nếu không có… tui, và vụ Lò Thiêu,
làm sao có quốc gia Do Thái như hiện nay ?
[Liệu
sẽ có một ông nào đó, biện minh: Nếu không có “tội
ác.. 1975”, làm sao có quốc gia có tên là Thuyền Nhân, hay Việt Kiều
Yêu
Nước?].
Tờ Paris Match nêu
trên, khi khui lại vụ giết Kennedy, đã lên án cái gọi là dối trá chính
trị,
theo tờ báo, nó giống như gỉ sắt, làm đắm tầu, làm mất niềm tin của dân
chúng.
Mới đây, tôi được
đọc trên net, một bài viết “Nhân kỷ niệm 80 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn
Cao” [ông
sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923]:
“…
Văn Cao nổi danh sớm với thiên hướng nghệ thuật độc đáo.
Ông làm thơ, sáng tác nhạc từ năm 16 tuổi, sau tham gia hướng đạo sinh
với
những bài hát yêu nước như "Đống Đa -Thăng Long hành khúc". Từ năm
1943, vừa sáng tác, ông vừa trực tiếp tham gia hoạt động Cách mạng. Văn
Cao vào
hàng ngũ chiến sĩ cảm tử mở kế hoạch truy lùng ám sát bọn Việt gian
phản động
từ Hải Phòng đến Hà Nội. Khí chất của ông là gương sáng cho lớp thanh
niên trí
thức lúc bấy giờ.”
“Nửa sự thực chỉ là
dối trá”, chuyện Văn Cao vào hàng ngũ chiến sĩ cảm tử, và sau đó, sáng
tác quốc
ca, và giết người, như chính ông kể lại, qua bài viết Tại sao tôi viết
Tiến
Quân Ca, là do.. đói quá. Thê thảm hơn, người mà ông giết, Đỗ Đức Phin,
là một
trong những lãnh tụ của Đại Việt Quốc Gia Liên Minh, lúc đó đang nhận
lại chính
quyền do người Nhật chuyển giao. Nên nhớ vụ giết người xẩy ra vào tháng
Năm
1945, là lúc Nhật đã thua, và họ muốn làm một việc tốt, theo người
viết, là
chuyển giao chính quyền cho người Việt Nam, chứ không phải trả lại cho
người
Pháp. Họ đã không nói chuyện với những người mà họ tin là cộng sản, tức
một tổ
chức quốc tế, có thể như vậy. Và vì vậy, mà Cộng Sản ra lệnh thủ tiêu
Đỗ Đức
Phin?
[Bùi
Ngọc Tấn, trong bài viết Rừng Xưa Xanh Lá, đăng trên
diễn đàn Talawas, cho biết thêm chi tiết, ĐĐP là bạn của Văn Cao].
Ông
rất ân hận về vụ này, như trong lần nói chuyện với Hoàng
Phủ Ngọc Tường, sau được đăng trên tờ Hợp Lưu, trích đoạn sau đây.
“Đêm
ấy, trong cuộc tâm tình nghệ sĩ của Văn Cao với những
ngư phủ trên Phá Tam Giang, tôi muốn biết một điều mà với tôi là một bí
ẩn
thuộc về đời ông:
-Tại
sao kháng chiến chống Pháp anh vẫn vẽ vẫn làm thơ nhưng
người ta không nghe anh hát nữa?
-Hồi
nhận viết Tiến Quân Ca tôi không hề chuẩn bị trước để
làm một bài hát mà một đặc nhiệm nguy hiểm của đội biệt động. Tôi là
đội viên
biệt động vũ trang. Nhiệm vụ của tôi là trong một đêm, cầm một khẩu
súng vào
một thành phố để giết một người. Tôi đã làm xong việc ấy. Đó là chiến
tranh và
căm thù, đơn giản thôi. Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi đã trở lại
căn nhà
ấy. Thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói
điều cần
thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công
hay phải
nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng và chỉ viết nhạc không lời.
Khi
Văn Cao mất, tuần báo Thời Báo, Time, của Mỹ, có loan
tin, và trích dẫn một câu trong bài Tiến Quân Ca.
“Bài
hát nổ ra như một tiếng bom”: Hơn ai hết, Văn Cao biết
và ông giải thích, không phải “trong trường hợp nào,” “như thế nào”
[how], tôi
viết TQC, nhưng mà thật rõ rệt: Tại sao tôi viết TQC?
Lý
do đầu tiên: Tại vì đói quá.
Chúng
ta hãy cùng đói với ông, cơn đói đó:
“Năm
ấy rét hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi
phải đốt dần bản thảo và ký họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn mọi
năm. Những
ngày đói của tôi bắt đầu.”
“Tôi
đã gặp lại đồng chí Vũ Quí. Anh là người vẫn theo dõi
những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến
khích tôi
sáng tác những bài hát yêu nước, như Đống Đa, Thăng Long Hành Khúc,
Tiếng Rừng,
và một số ca khúc khác.
Chúng
tôi gặp nhau trước ga Hàng Cỏ. Chúng tôi vào một hiệu
ăn. Ở đây quyết định một cuộc đời mới của tôi.
Câu
chuyện giữa chúng tôi thật hết sức đơn giản.
-Văn
có thể thoát ly hoạt động đuợc chưa?
-Được!”
Đọc,
có cảm tưởng như đồng chí Vũ Quí vẫn thường xuyên theo
dõi con mồi, chờ đến đúng lúc nó đói lả, bèn xuất hiện!
[19
tháng Tám “cách mạng” thành công, thì tháng Chín đồng
chí Vũ Quí bị làm thịt - thực sự, bị chết một cái chết khó hiểu: bị tai
nạn
trên đường đi công tác. Có thể vì biết quá nhiều?]
“Tháng
11 năm 1944, tôi tự tay viết bài Tiến Quân Ca lên đá
in, trong trang văn nghệ đầu tiên của tờ báo Độc Lập” (Tại sao tôi viết
TQC?]
Bài
TQC lần đầu in, ghi là: Nhạc Anh Thọ [bí danh của Văn
Cao] Lời: Anh Dũng. Anh Dũng là bí danh của Đỗ Hữu Ích, ông chủ nhà mà
Văn Cao
đã nhắc tới [Anh bạn nhường cho tôi căn gác ấy, là người đã xuất bản
mấy bản
nhạc đầu tiên của tôi, cũng không thấy nói đến việc trả tiền nhuận
bút]. Vào
năm 1983, ông này kiện Văn Cao. Văn Cao cho biết rõ chi tiết: Đề tên
Anh Dũng,
là do lý do bảo vệ “cách mạng”: Anh Dũng lúc đó là người có liên hệ mật
thiết
với hiến binh Nhật. Đề tên anh ta vô, như vậy là bảo đảm trăm phần
trăm! Và Văn
Cao đã kiện lại tờ báo tung tin “nhảm”, là tờ Tiền Phong chủ nhật. Khi
có người
trách ông: Quốc Hội đã công nhận bài hát là của ông, tại sao còn kiện?
Văn Cao
trả lời, đại để: cái thằng Văn Cao kiện, là thằng Văn Cao ở ngoài đời:
Tôi không
muốn, vợ con tôi, cháu tôi, nghĩ, tôi là một thằng đạo văn. Còn thằng
Văn Cao
nghệ sĩ thì nó đếch cần kiện!
Họa
sĩ Tạ Tỵ, trong hồi ký, viết về Văn Cao, có kể chuyện
ông đã từng vẽ tiền giả, đem đi tiêu xài, bị lộ, rút súng, bắt mọi
người ngồi
yên để ông chuồn. Sau cách mạng, tức là sau khi đã được đồng chí Vũ Quí
chiếu
cố, ông có tới gặp khổ chủ, và đưa lại tiền thiệt.
Còn
một giai thoại nữa về ông, là Văn Cao có cô bồ, là vợ
một tay hiến binh Nhật. Mỗi lần tay này trực đêm, là ông mò tới. Một
lần ngủ
quên tới sáng, chút xíu nữa là ăn đạn Nhựt!
"Tin
từ Hải Phòng lên cho biết mẹ tôi, các em và các
cháu tôi đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Phòng,
dọc
đường đã để lạc mất đứa cháu gái con anh cả tôi. Nó mới lên 3. Đôi mắt
nó giống
như mắt con mèo con. Có thể nó nằm ở dọc đường trong đám người chết đói
năm ấy.
Chiều
hôm ấy tôi đi dọc theo đường Phố Ga, đường Hàng Bông,
đường Bờ Hồ theo thói quen, tôi cố tìm một cái gì để nói. Tìm một âm
thanh đầu
tiên. Những đường phố quen thuộc ấy thường không vang một âm thanh nào
hơn
những tiếng nghe buồn bã hàng ngày. Hôm nay phố đông người hơn, và lòng
tôi
thấy vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội
vũ
trang. Tôi đang chuẩn bị một hành động gì có thể là mạo hiểm hy sinh,
chứ không
chuẩn bị để quay lại làm bài hát. Thật khó nghĩ tới nghệ thuật lúc này.
Tôi đi
mãi tới lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói
khổ trần
truồng loang trên hồ lạnh. Họ đang đun một thứ gì trong một ống bơ sữa
bò. Ngọn
lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái. Nó khoảng
lên ba.
Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt mèo con.
Cháu bé
không có mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nhìn mấy người lớn sưởi lửa.
Hình như
nó không phải là con cái số người đó. Hình như nó là đứa trẻ bị lạc,
cũng không
phải là cháu tôi. Nó đã chết thật rồi. Có thể nó đã nằm trong đám người
chết
đói dọc đường Nam Định - Hải Phòng. Tôi bỗng trào nước mắt, và quay đi.
Đêm
ấy, về căn gác tôi đã viết được nét nhạc đầu tiên của
bài Tiến Quân Ca."
[Tại
sao tôi viết Tiến Quân Ca].
Như
thế, bài Tiến Quân Ca đã được viết ra từ một đứa trẻ bị
thất lạc, và bị chết đói, đứa cháu gái đôi mắt như mắt mèo con... .chứ
không
phải từ một anh biệt động vũ trang, đúng như Văn Cao nhấn mạnh sau đó:
"Tôi
chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia
nhập đội vũ trang nào. Tôi
chỉ đang làm một bài
hát...."
Hay
như bài thơ dưới đây, làm tháng 9 năm 1988, như để giải
thích thêm về trường hợp giết người của ông:
Ba
Biến Khúc tuổi 65
Những
ngày buồn không nói được
Tôi
chỉ tìm ra sự sống của tôi.
Biến Khúc 1
Một
người cho tôi con dao găm
không
biết dùng làm gì
đêm
nhìn qua cửa sổ
một
khoảng trống đen
Tôi
ném vào khoảng trống
con
dao găm ấy
có
phải đấy là sự nghịch ngợm
bỗng
nhiên có tiếng ngã ngoài sân
một
người trúng tim đã chết
Tôi
không hề biết người ấy
Tôi
là kẻ không muốn giết người
chỉ
biết bóng tối
mà
tôi đã ném dao
Biến
Khúc 2
Tôi
đi trên phố
Bỗng
nhiên mọi người cùng nhìn tôi
Một
ai đó kêu lên:
Thằng
ăn cắp
Tôi
chạy
Tôi
chạy
Tại
sao tôi chạy?
Tôi
không hiểu tôi
Cả
phố đuổi theo tôi
Xe
cộ đuổi theo tôi
Tôi
chạy bạt mạng
Gần
hết đời
Tới
chỗ chỉ còn gục xuống
Tỉnh
dậy mồ hôi chảy
Tôi
lại thấy tôi là người chưa phạm tội.
Biến
Khúc 3
Tôi
rơi vào mạng nhện
Mạng
nhện quấn lấy tôi
Không
còn cách chi gỡ được
Tôi
như con sâu tằm
Cuộc
đời cứ như thế
Muốn
phá cái mạng nhện
Tôi
không đủ tay
Văn
Cao
Đọc
“Tại sao tôi viết Tiến Quân Ca”, có cảm giác đây là một
lời thú tội, một lời trần tình. Đứa cháu bị thất lạc, và chắc chắn sau
đó bị
chết đói trên con đường đi từ Nam Định tói Hải Phòng, đôi mắt cháu
giống như
đôi mắt mèo con, và sau đó, đứa bé ngồi ở phiá bên kia hơi ấm của ngọn
lửa, đã
làm bật ra nốt nhạc đầu tiên…
Tôi
bỗng nhớ tới câu của Sartre, “Trước một đứa trẻ chết
đói, cuốn Buồn Nôn [của tôi] chẳng là cái quái gì.”
Nhớ
tới Đứa Trẻ của Kertesz trong [the] Unborn Child, [hoặc
Kaddish For a Child Not Born (1990), một cuốn tiểu thuyết ngắn, thoát
thai từ
một lời kinh cầu dành cho người chết (the kaddish), của dân Do Thái.
Kertesz
diễn tả kaddish của ông: dành cho một đứa trẻ mà ông ta từ chối mang nó
vào
đời, một cuộc đời đã dám để xẩy ra một chuyện dã man, là sự hiện hữu
của lò
thiêu Auschwitz].
Bài
Tiến Quân Ca cũng là một thứ kaddish dành cho những đứa
trẻ có ra đời nhưng để mà chết đói, hoặc để mà chết trong cuộc chiến
tiếp theo
sau…
NQT
[Kỳ
tiếp: Văn Cao và vấn nạn: Kẻ sát nhân và thánh tử đạo]
Chú thích [1]
Hát
ở đâu đâu...
Ngoảnh
nhìn lại quãng nửa nhà nửa chợ
Nỗi
buồn vạch một nét dài (1)
Không
phải tiếc cuộc đời đã sống
Mà
một đời bỏ lỡ
Nhớ
hoài.
Đêm mở ra giấc mộng
cũ
Chỉ
có tôi, tôi, và tôi
Cô
bạn thân ơi, nẻo về tuyệt lối
Hồn
tôi điên cuồng réo gọi.
Mùa
thu ở đây đẹp não nùng
Rừng
dưng không đỏ rực
Lá
rũ rượi
Rủ
nhau cùng chết
Sực
nhớ chữ:
Chiêu
như thanh ty
Mộ
thành tuyết
Giấc
mộng cũ vậy là giấc mộng cuối
Hát
ở đâu đâu...
Cô bạn thân ơi, những
ngày tháng đó
Chạy
xe như điên trên đường phố
Cho
kịp giờ giới nghiêm
Suốt
Chợlớn-Sàigòn
Chỉ
mong kịp chuyện trò cùng những hồn ma Mậu Thân
Trong
nhà xe Đài Phát Thanh
Người
lính Dù dùng làm nơi chất thây những người chết
Những
hồn ma từ đó thức dậy
Quẳng
bỏ súng
Vẫy
tay cho tôi đi
Trong vương quốc của
những người đã chết
Tôi
vẫn thường thơ thẩn đi về...
Hát
ở đâu đâu giấc mộng cuối (2)
NQT
(1)...
that lonely halfway house which we call life
André
Malraux (Anti-Memoirs)
(2) thơ Thanh
Tâm Tuyền