Exile 1
Who
Would Dare ?
Exile 2
Ký:
Bolano
Ai Ðiếu: Bolano
Bolano by Bomb
by Playboy
Scholars of Sodom
|
Sven
Birkerts
reviews
Roberto Bolaño's
Between Parentheses
Elsewhere,
taking a brash swipe at Isabel Allende, darling of Latin American
literature,
Bolaño writes: "Asked to choose between the frying pan and the fire, I
choose Isabel Allende. The glamour of her life as a South American in
California, her imitations of Garcia Marquez, her unquestionable
courage, the
way her writing ranges from the kitsch to the pathetic and reveals her
as a
kind of Latin American and politically correct version of the author of
The
Valley of the Dolls..." (110) I hear the hiss of that frying pan.
Finally—hard
to resist this—is the very last bit from an interview Bolaño gave to
Monica
Maristain for the Mexican edition of Playboy near the end of his life,
while he
was awaiting a liver transplant. Maristain asks, "What would you have
liked to be instead of a writer?"
Bolaño: I
would much rather have been a homicide detective than a writer. That's
the one
thing I'm absolutely sure of. A homicide cop, someone who returns alone
at
night to the scene of the crime and isn't afraid of ghosts. Maybe then
I really
would have gone crazy, but when you're a policeman, you solve that by
shooting
yourself in the mouth.
Bolano
"LITERATURE
IS NOT MADE FROM WORDS ALONE"
INTERVIEW BY HECTOR SOTO AND MATIAS BRAVO
FIRST PUBLISHED IN CAPITAL, SANTIAGO, DECEMBER 1999
Thật
là bực mình khi nghĩ rằng chúng ta đọc rất
nhiều những vị thần của chúng ta (James, Stendhal, Proust), qua bản
dịch, qua những... xái xảm? Ðó là văn chương ư? Nếu chúng ta lèm bèm
hoài về vấn đề
này, liệu có thể đưa đến kết luận: từ ngữ không có một đồng đẳng, ngang
hàng?
Tôi
nghĩ, có. Hơn nữa, văn chương đâu chỉ làm
bằng từ ngữ không thôi. Borges phán, có những nhà văn không thể dịch
được. Tôi
nghĩ ông ta coi Quevedo như là 1 thí dụ. Chúng ta có thể thêm vô
Garcia
Lorca và những người khác. Tuy nhiên, Don Quixote có thể cưỡng
lại ngay
cả những đấng dịch giả tồi tệ nhất. Như là 1 sự kiện, nó có thể cưỡng
lại tùng
xẻo, mất mát nhiều trang, và ngay cả một trận bão khốn kiếp. Nghĩa là,
nó cưỡng
lại mọi thứ ở trên đời chống lại nó - dịch dở, không đầy đủ, hay huỷ
diệt - bất
cứ một bản văn Don Quixote nào vẫn có nhiều điều để mà nói ra,
với một độc
giả Trung Hoa, hay Phi Châu. Và đó là văn chương. Chúng ta có thể mất
mát rất
nhiều ở dọc đường, chắc chắn như thế, nhưng đó là định mệnh của nó. Có
còn hơn không,
thì cứ nói như vậy có tiện việc sổ sách.
Khi
đọc tôi hạnh phúc hơn rất nhiều khi viết.
Blog
NL
Với
ý này, “Bô Na Nô” đi cả 1 bài, trả lời phỏng vấn: Ðọc thì luôn quan
trọng hơn nhiều, so với viết, "Reading is always more important than
writing”
Bolano
by Playboy
MORE CLUES
FOR DETECTIVES
'Experience
at full speed'
Tiểu thuyết 2666,
xb sau
khi ông mất, được thổi, “cuốn bảnh nhất của thế kỷ hiện thời”, nhưng
cho tới nay thế
giới văn học tiếng Anh biết tí tí về ông, Roberto Bolaño. Cuộc đời mầu
sắc và
cái chết sớm sủa của nhà văn Chilean, sống cực, ưa nổi loạn, quả là
chất liệu
cho giai thoại văn học, nhưng liệu tác phẩm của ông có xứng với sự thổi
phồng đó?
Quá đi chứ! Christopher Tayler viết
Bolano đau khổ cái số phận, còn
tệ hại cả “bị người đời rẻ rúng một
cách bất công”: ông bị thổi bất công! Một hay hai tiểu thuyết của ông
là những
trải nghiệm đáng nhớ, nhưng hầu hết độc giả, tìm đọc tác phẩm vì cái
chất thiên
tài cách mạng mà đám đệ tử cà chớn của ông ta hít hà, và nghĩ rằng họ
đã khám
phá ra ở Thầy của họ, thì sẽ thất vọng. Một sư phụ được chọn lựa không
bắt buộc
tự coi mình là sư phụ, và chúng ta có thể hy vọng là đám đệ tử này sẽ
thành công,
ở cái chỗ mà vị thầy được bổ nhiệm sau khi chết này, thất bại.
Alberto Manguel
Bolano là 1 trong những nhà văn
hiếm, lạ, viết cho tương lai, và
chúng ta, đặc biệt là cái đám thuộc thế giới tiếng Anh, chỉ mới bắt đầu
ngửi ra
ông, ngửi ra cái thiên tài kỳ lạ, xiên xéo này. Bằng nhận thức muộn, thêm vào đó, là cái chết
sớm của ông, một người đọc
như chúng ta có thể nhận ra một cái bóng u sầu, đọa đầy phủ lên tác
phẩm của ông,
nhưng phẩm chất đặc dị nhất thì là 1 thứ vui nhộn, tếu tếu, chúng ta có
thể tưởng
tượng ra một đấng đàn ông thung thăng tản bộ trong Thung Lũng Tử Thần,
tay thọc
túi quần, miệng huýt sáo.
John
Banville
Trang Bolano
HS/MB: Like
Borges, you have lived through your reading.
RB: In one
way or another, we're all anchored to the book. A library is a metaphor
for
human beings or what's best about human beings, the same way a
concentration
camp can be a metaphor for what is worst about them. A library is total
generosity.
HS/MB:
Nevertheless, literature is not purely a sanctuary for good sentiment.
It is
also a refuge for hatefulness and resentment.
RB: I accept
that. But it's indisputable that there are good sentiments in it. I
think
Borges said that a good writer is normally a good person. It must have
been
Borges because he said practically everything. Good writers who are bad
people
are the exception. I can think only of one.
HS/MB: Who?
RB:
Louis-
Ferdinand Céline, a great writer and son of a bitch. Just an abject
human
being. It's incredible that the coldest moments of his abjection are
covered
under an aura of nobility, which is only attributable to the power of
words.
Như Borges, ông sống qua
đọc.
Cách này
hoặc
cách nọ, tất cả chúng ta đều “cắm thuyền sông lạ một đêm mơ”, và “sông
lạ đêm
mơ”, ở đây, là 1 cuốn sách. Thư viện là một ẩn dụ về con người, hay về
điều đẹp
nhất về con người; cũng một đường hướng như thế, trại tập trung cải tạo
là ẩn dụ
về điều tệ hại nhất về con người. Một thư viện là một sự rộng lượng
toàn thể.
Tuy nhiên, văn chương đâu
thuần là một
ngôi giáo đường cho tình cảm tốt. Nó còn là nơi ẩn náu của oán thù .
Tôi chấp
nhận
điều đó. Nhưng có những tình cảm tốt đẹp ở trong đó, và điều này thì
khỏi bàn.
Borges phán, một nhà văn tốt là 1 con người tốt, và ông này thì chuyện
gì cũng
phán hết. Nhà văn tốt/con người không tốt, là ngoại lệ. Và tôi biết “1
trong 1”
ngoại lệ như thế. Có lẽ đây là 1 thằng cha độc nhất vô nhị.
Ai vậy cà?
Louis-
Ferdinand Céline. Một nhà văn tốt và 1 tên khốn kiếp. Đúng là 1 tên vô
lại, đê
tiện. Quái đản nhất là những khoảnh khắc lạnh lùng nhất của sự vô lại,
đê tiện
của ông ta thì lại được bao phủ bằng hào quang của sự phong nhã, cao
cả, một thứ
phong nhã gắn liền với quyền năng của ngôn từ.
…
"LITERATURE
IS NOT MADE FROM WORDS ALONE"
INTERVIEW BY HECTOR SOTO AND MATIAS BRAVO
FIRST PUBLISHED IN CAPITAL, SANTIAGO, DECEMBER 1999
HS/MB: Is it
disturbing to think we have read many of our gods (James, Stendhal,
Proust) in
translation, in second-hand versions? Is that literature? If we
spin
the matter
around, it's possible we might end up concluding that words don't have
an
equivalent.
RB: I think
they do. Furthermore, literature is not made from words alone. Borges
says that
there are untranslatable writers. I think he uses Quevedo as an
example. We
could add Garcia Lorca and others. Notwithstanding that, a work like Don Quijote can resist even the worst
translator. As a matter of fact, it can resist mutilation, the loss of
numerous
pages and even a shit storm. Thus, with everything against it-bad
translation,
incomplete and ruined-any version of Quijote
would still have very much to say to a Chinese or an African reader.
And that
is literature. We may lose a lot along the way. Without a doubt. But
perhaps
that was its destiny. Come what may.
Thật
là bực mình khi nghĩ rằng chúng ta đọc rất
nhiều những vị thần của chúng ta (James, Stendhal, Proust), qua bản
dịch, qua những... xái xảm? Ðó là văn chương ư? Nếu chúng ta lèm bèm
hoài về vấn đề
này, liệu có thể đưa đến kết luận: từ ngữ không có một đồng đẳng, ngang
hàng?
Tôi
nghĩ, có. Hơn nữa, văn chương đâu chỉ làm
bằng từ ngữ không thôi. Borges phán, có những nhà văn không thể dịch
được. Tôi
nghĩ ông ta coi Quevedo như là 1 thí dụ. Chúng ta có thể thêm vô
Garcia
Lorca và những người khác. Tuy nhiên, Don Quixote có thể cưỡng
lại ngay
cả những đấng dịch giả tồi tệ nhất. Như là 1 sự kiện, nó có thể cưỡng
lại tùng
xẻo, mất mát nhiều trang, và ngay cả một trận bão khốn kiếp. Nghĩa là,
nó cưỡng
lại mọi thứ ở trên đời chống lại nó - dịch dở, không đầy đủ, hay huỷ
diệt - bất
cứ một bản văn Don Quixote nào vẫn có nhiều điều để mà nói ra,
với một độc
giả Trung Hoa, hay Phi Châu. Và đó là văn chương. Chúng ta có thể mất
mát rất
nhiều ở dọc đường, chắc chắn như thế, nhưng đó là định mệnh của nó. Có
còn hơn không,
thì cứ nói như vậy có tiện việc sổ sách.
Tưởng Niệm Bolano
Roberto
Bolaño, who has died at Blanes in northern Spain of liver failure, aged
50, was
one of the most talented and surprising of a new generation of Latin
American
writers.
Born in the
Chilean capital of Santiago, Bolaño was typical of a generation of
Latin
American writers who had to cope with exile and a difficult
relationship with
their home country, its values and its ways of seeking accommodation
with a
turbulent history. Bolaño turned to literature to express these
experiences,
mixing autobiography, a profound knowledge of literature, and a wicked
sense of
humour in several novels and books of short stories that won him
admirers
throughout Latin America and Spain.
Bolaño spent
much of his adolescence with his parents in Mexico. He returned to
Chile in
1972, to take part in President Allende's attempts to bringing
revolutionary
change to the country. Arrested for a week after the September 1973
Pinochet
coup, Bolaño eventually made his way once more to Mexico, where he
embarked on
his literary career. At first he wrote poetry, strongly marked by
Chilean
surrealism and experimentalism, but after moving to Spain in 1977 he
turned to
prose, first in short-story form and then more ambitious novels.
His
mischievous spirit upset many fellow writers, who often bore the brunt
of his
attacks. Fed up with the pious sentimentalism of the kind of socially
committed
literature he felt was expected of Chilean writers, he aimed to subvert
good
taste, revolutionary or conservative. This iconoclasm led to books such
as the
History Of Nazi Literature In Latin America, an invented genealogy of
writers.
In 1998,
Bolaño published his best-known work, the sprawling novel Los
Detectives
Salvajes (The Wild Detectives), a challenging mixture of thriller,
philosophical and literary reflections, pastiche and autobiography,
which he
baptised "infrarealism". The novel won him the Herralde and Romulo
Gallegos prizes, and established Bolaño as one of the foremost writers
in the
Hispanic world.
English
readers so far have only been able to read By Night In Chile, published
by
Harvill this year. This is the most straightforward of his books,
looking back
as it does to the Pinochet days in Chile and the coexistence of evil,
compromise and literature in extreme situations.
When Bolaño
came to London early this year for the English publication of By Night
in
Chile, he was already very ill from a longstanding liver complaint.
Despite
this, he was still talking non-stop of the many projects he was
involved in,
including a mammoth novel provisionally entitled 2666, already more
than 1,000
pages long, that dealt with the murders of more than 300 young women in
the
Mexican border town of Ciudad Juarez, another novel, and a new
collection of
poetry.
But what
most delighted him during his London visit was the fact that he was
already
becoming better known in Spain as a fictional character than as his
"real" self. This is because he is one of the main characters in the
Spanish bestseller by Javier Cercas, The Soldiers Of Salamis, where
"Roberto
Bolaño" helps the author to successfully complete his novel.
This
mingling of reality and fiction seemed to Bolaño a confirmation that
life and
literature are of equal importance. As he said at the time, "You never
finish reading, even if you finish all your books, just as you never
finish
living, even though death is certain."
Bolaño had
faced this certainty for years, as his liver deteriorated. He died in
hospital
while awaiting a liver transplant, and is survived by his wife Carolina
and two
children, Alexandra and Lautaro.
· Roberto
Bolaño, writer, born April 28 1953; died July 15 2003.
*
"A writer's
patria or country, as someone said, is his language. That sounds pretty
demagogic, but I completely agree with him..."
Roberto Bolano. Francisco Goldman trích dẫn,
trong bài điểm sách của nhà văn này, trên NYRB July 19, 2007. Nguyên
trong bài cảm tạ khi nhận giải thưởng văn học 1999 Romulo Gallegos
Prize. Đoạn văn như sau:
(1) "A
writer's patria or country, as someone said, is his language. That
sounds pretty demagogic, but I completely agree with him.... that
it's true that a writer's country isn't his language or isn't only
his language.... There can be many countries, it occurs to me
now, but only one passport, and obviously that passport is the quality
of the writing. Which doesn't mean just to write well, because
anybody can do that, but to write marvelously well, though not even
that, because anybody can do that too. Then what is writing of quality?
Well, what it's always been: to know how to thrust your head into the
darkness, know how to leap into the void, and to understand that
literature is basically a dangerous calling."
Gấu tôi tin
rằng, cái ông, sách xin được tự thu hồi, đã hiểu rõ câu văn trên, dù
chưa từng đọc: Phẩm chất của cái việc viết là đâm đầu vào bóng đen, là
lao vào chỗ trống không, là hiểu ra rằng, văn chương là một tiếng gọi
nguy hiểm.
*
Obituary Ai
Điếu
Roberto
Bolaño
The Great Bolano
Bolano vĩ đại.
Francissco Goldman đọc
The Savage Detectives
Last Evenings on Earth
Distant Star
2666
[NYRB July, 19, 2007]

Roberto Bolano & Borges
I could live under a table reading Borges.
Tôi có thể sống, ở bên dưới một cái bàn, và đọc Borges.
My life has been infinitely more savage than Borges's.
Đời tôi hẳn nhiên là hung bạo hơn đời của Borges nhiều.
Mỹ châu La tinh là nơi chốn
nương thân cho đám tâm thần, the insane asylum, của Âu Châu. Có thể,
thoạt đầu, người ta nghĩ rằng, Mỹ châu La tinh sẽ là bệnh viện của Âu
Châu, hay một cái kho hạt giống của Âu châu.
Nhưng bây giờ, thì đúng là nhà thương tâm thần. Một nơi nương náu tang
thương, tàn bạo, nghèo đói, hung hãn, nơi, mặc dù hỗn loạn, tham nhũng,
hư ruỗng, nếu bạn mở thật lớn mắt, bạn có thể nhìn cái bóng của điện
Louvre.
Roberto Bolano
Ui chao, đọc, và Gấu cứ nghĩ, đây là một ông đại quan VC, [hay con hay
cháu ông ta, bà ta, hay bất cứ một nhà văn, nhà thơ thuộc thế hệ thứ
nhì, thứ ba, sau khi lấy được Miền Nam], đi Paris du
học, hoặc tham quan, hoặc tham dự hội nghị văn học, hoặc đọc thơ....
khi trở về lại Việt Nam, và phán, trong nỗi nhớ hoài một Paris mà đại
quan VC
vừa phải rời bỏ!
Giá chuyến đi cho đủ chất liệu để chơi cả một cuốn tiểu thuyết như ông
đại quan VC họ Hồ đi Ấn về, đã từng trước tác, thì thật là tuyệt!
*
Bolano thường được hỏi, ông có tự coi ông là nhà văn Chile, do sinh ra
tại Santiago vào năm 1953, hay nhà văn Tây Ban Nha, vì đã sống ở đó hai
thập niên cuối đời cho tới khi mất vào năm 2003, hay nhà văn Mễ Tây Cơ,
do sống ở Mexico tuy không thường trực, nhưng cũng đực cái, chừng 10
năm, và ông trả lời, có lần, tôi là nhà văn Mỹ La Tinh, Latin American.
Những lần khác, ông nói, ngôn ngữ Tây Ban Nha là nhà của tôi.
*
Những nguy hiểm không thể nào tách rời của đời sống và văn chương, và
những liên hệ của đời sống vào văn chương, là những đề tài liên luỷ của
những gì ông viết ra, và cũng còn là của cuộc đời ông. như ông hách xì
xằng, và thật thách đố, chọn sống như thế. Cuối đời nhìn lại, ông có ba
tuyển tập, và 10 cuốn tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng, 2666, chưa hoàn tất, khi ông mất vì
bịnh gan, vào năm 2003, vậy mà không ngăn được những nhà phê bình, khi
coi đây là
một đại tác phẩm.
*
Roberto Bolano and the visceral realists
The contraband of
literature:
Hàng lậu văn chương
If we had to speculate about
the characteristics of a literary movement called "visceral realism",
we might assume it involved a gritty description of life. It is a
forensic style, we could say, where the writer wields pen or computer
cursor as a scalpel, producing literature that lies on the page like
viscera on a laboratory table. In its sentences and paragraphs, we read
flesh and bone, organs and blood; we see the inner workings of
corporeal existence.
Siddhartha Deb, trên tờ TLS số 16 Tháng Sáu, đọc Bolano [ The Savage Detectives và Last Evenings on
Earth], đã so sánh văn phong của ông với của những nhà "visceral
realists": hiện thực
lục phủ ngũ tạng. Hiện thực tim gan phèo phổi, với những đoạn văn, gồm,
khúc này thì là
thịt xương, khúc kia, tí phèo, tí phổi, và máu. Đây là thứ tác phẩm
nội về sự hiện hữu của cơ thể, we see the inner workings of corporeal
existence.
Tuy nhiên, cứ coi trên đây, là diễn tả đúng, xác thực, về chủ nghĩa
hiện thực lục phủ ngũ tạng, nó cũng chẳng giúp gì chúng ta nhiều, khi
đọc cuốn tiểu thuyết "thất thường một cách ấn tượng, khi thì thực vui,
lúc thì buồn quá", impressively manic novel, với một thứ văn phong, mặc
dù làm ra vẻ "hiện thực lục phủ ngũ tạng", nhưng độc giả không
thể nào tìm ra thứ nghệ thuật này ở trong 600 trang sách. Thay vì vậy,
chúng ta lại được biết, về những kẻ thực hành thứ chủ nghĩa hiện thực
nội tạng đó, những kẻ đã từng nắm giữ làm con tin, sinh hoạt văn học
Mexico City giữa thập niên 1970. Một thứ băng đảng văn học, chứ không
phải là một trào lưu, một vận động nghệ thuật. Chúng cướp đoạt, trấn
lột sách vở, ăn nhậu, cãi lộn, làm tình, bán ma túy, và sau cùng biến
mất, không làm sao giải thích được, và để lại, không phải một thứ văn
học hiện thực nội tạng mà là những bóng ma của những gì thái quá, của
thứ nghệ thuật này.
Giả tưởng của Bolano, liêu trai, ma quái, ám ảnh, và có tính kinh
nghiệm, experimental, nhưng không phải thứ hiện thực huyền ảo
của Garcia Marquez, Carlos Fuentes, và Mario Vargas Llosa.
Roberto
Bolaño
Who Would Dare?
Roberto Bolaño
Ai Dám?
The
books that I remember best are the ones I stole in Mexico City, between
the
ages of sixteen and nineteen....
Ðọc,
là GNV nhớ những lần chôm sách ở 1 tiệm cho thuê truyện ở Chợ Hôm, Hà
Nội....
Tính
dịch bài này, nhân tiện đi một đường thú tội trước bàn thờ nhưng bạn NL
đã
nhanh tay lẹ chân hơn.
Thế là lại cất cái vụ thú tội đi, để khi nào
rảnh vậy!
Bản tiếng Việt
của NL.
Post ở đây,
để kiểm tra coi, loạn hay không loạn!
Biết đâu lại kiếm ra thêm 1 cái tử cung nữa!
Hà, hà!
Những quyển
sách tôi còn nhớ rõ nhất là những quyển tôi ăn cắp ở Mexico City, từ
tuổi mười
sáu đến tuổi mười chín, cùng những quyển tôi mua ở Chilê khi tôi hai
mươi,
trong những tháng đầu tiên của cuộc đảo chính. Tại Mexico hồi ấy có một
hiệu
sách choáng lắm. Nó tên là Hiệu Sách Kính, nằm trên phố Alameda. Tường,
rồi cả
trần nữa, đều bằng kính cả. Kính và rầm sắt. Nhìn từ ngoài, trông nó
như là một
nơi không thể ăn cắp được. Thế nhưng sự thận trọng chẳng là gì so với
cám dỗ thử
thách và sau một thời gian thì tôi bắt đầu thử xem sao.
Quyển sách đầu
tiên rơi vào tay tôi là một tập sách mỏng của Pierre Louÿs [nhà thơ huê
tình thế
kỷ XIX], có những trang giấy mỏng như giấy Kinh Thánh, giờ thì tôi
không nhớ nổi
là tập Aphrodite hay tập Les Chansons de Bil trở thành người hướng lối
cho tôi.
Rồi tôi trộm sách của Max Beerbohm (The Happy Hypocrite), Champfleury,
Samuel
Pepys, anh em Goncourt, Alphonse Daudet, của Rulfo và Arreola, các nhà
văn
Mexico hồi ấy vẫn còn viết ít nhiều, những người hẳn tôi từng gặp vào
buổi sáng
nào đó trên Avenida Niño Perdido, một phố đông chật người mà ngày nay
tôi không
sao tìm lại được trên các bản đồ Mexico City nữa, cứ như thể Niño
Perdido chỉ
có thể tồn tại trong trí tưởng tượng của tôi, hoặc giả cái phố ấy, với
những cửa
hàng ngầm dưới đất và những người trình diễn trên đường đã thực sự lạc
mất, giống
y như tôi từng lạc lối ở tuổi mười sáu.
Từ sương mù
của những năm tháng đó, từ những vụ đột kích trộm cắp đó, tôi còn nhớ
nhiều tập
thơ. Của Amado Nervo, Alfonso Reyes, Renato Leduc, Gilberto Owen,
Heruta và
Tablada, rồi các nhà thơ Mỹ, chẳng hạn General William Booth Enters
Into
Heaven, của Vachel Lindsay vĩ đại. Nhưng cứu tôi khỏi địa ngục và chỉnh
đốn tôi
trở lại nghiêm chỉnh lại là một tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết ấy là Sa
đọa của Camus,
và mọi thứ liên quan đến nó tôi còn nhớ như thể bị đông cứng lại trong
một ánh
sáng ma quái, ánh sáng tĩnh của buổi tối, mặc dù tôi đã đọc nó, ngốn
ngấu nó
trong ánh sáng của những buổi sáng đặc biệt của Mexico City, cái ánh
sáng chiếu
tỏa - hoặc từng chiếu tỏa - bằng sự huy hoàng đỏ và xanh lục trộn lẫn
tiếng ồn,
trên một cái ghế băng trên Alameda, không tiền tiêu và cả một ngày
trước mặt,
mà thật ra thì là cả cuộc đời trước mặt. Sau Camus, mọi thứ đã thay đổi.
Tôi còn nhớ
bản in đó: một quyển sách in chữ rất to, như là cho học sinh tiểu học,
mảnh, bọc
vải, bìa ngoài in một hình vẽ đáng sợ, quyển sách rất khó ăn trộm, tôi
không biết
nên kẹp nó dưới nách hay nhét vào thắt lưng, vì nó cộm lên bên dưới cái
áo đồng
phục học sinh trốn học của tôi, và rốt cuộc tôi đã cầm nó ra ngay dưới
cái nhìn
của mọi nhân viên Hiệu Sách Kính, đó là cách ăn cắp tốt nhất, mà tôi
học được từ
một truyện ngắn của Edgar Allan Poe.
Sau đó, sau
khi trộm quyển sách rồi đọc nó, tôi chuyển từ một độc giả thận trọng
sang thành
một độc giả phàm ăn và từ một tay trộm sách sang một tay bắt cóc sách.
Tôi muốn
đọc mọi thứ, trong sự ngây thơ của mình tôi cứ ngỡ như vậy là tương
đương với
việc muốn lật ra hay thử lật ra những cơ cấu tình cờ bị che giấu đã dẫn
nhân vật
của Camus tới chỗ chấp nhận số phận tồi tệ của mình. Mặc cho mọi thứ có
thể dự
đoán, sự nghiệp bắt cóc sách của tôi kéo rất dài và đầy thành quả,
nhưng đến một
ngày thì tôi bị tóm. Thật may vì không phải tại Hiệu Sách Kính, mà là
Hiệu Sách
Hầm, nó nằm - từng nằm - bên kia Alameda, trên Avenida Juárez, là nơi,
như cái
tên của nó đã chỉ rõ, giống như một cái hầm lớn chất hàng đống sách mới
nhất từ
Buenos Aires và Barcelona trên những cái giá bóng loáng. Vụ bắt giữ tôi
thật là
đáng tởm. Cứ như thể các samurai của những hiệu sách đã ra giá cho cái
đầu của
tôi. Bọn họ dọa đuổi tôi ra khỏi đất nước, dần cho tôi một trận nhừ tử
trong hầm
Hiệu Sách Hầm, điều này với tôi nghe chẳng khác gì một cuộc tranh luận
giữa các
triết gia mới về sự phá hủy sự phá hủy, và rồi rốt cuộc, sau những suy
tính dài
lâu, họ để tôi đi, nhưng trước đó đã tịch thu mọi quyển sách tôi có
trên người,
trong đó có Sa đọa, mà trong số đấy có quyển nào tôi ăn cắp ở chỗ họ
đâu.
Không lâu
sau đó tôi về Chilê. Nếu ở Mexico tôi rơi trúng vào Rulfo và Arreola
thì tại
Chilê tình hình tương tự với Nicanor Parra và Enrique Lihn, nhưng tôi
nghĩa nhà
văn duy nhất mà tôi từng nhìn thấy là Rodrigo Lira, khi ông bước đi
thật vội vã
vào một cái đêm phảng phất mùi khí ga. Rồi xảy tới vụ đảo chính, sau đó
tôi bỏ
thời gian thăm viếng các hiệu sách ở Santiago, lấy đó làm một phương
cách rẻ tiền
để tiêu hủy buồn chán và điên rồ. Không giống những hiệu sách Mexico,
các hiệu
sách ở Santiago không có nhân viên, mà chỉ có một người duy nhất, gần
như lúc
nào cũng đồng thời là ông chủ luôn. Tại đó tôi đã mua Obra gruesa [Toàn
tập] và
Artefactos của Nicanor Parra, rồi các sách của Enrique Lihn và Jorge
Teillier
mà tôi sẽ nhanh chóng đánh mất, chúng là những sự đọc cốt yếu với tôi;
mặc dù
“cốt yếu” chưa phải từ chuẩn: những cuốn sách ấy giúp tôi thở. Nhưng
“thở” vẫn
chưa phải từ chuẩn.
Cái tôi nhớ
nhất ở những chuyến thăm hiệu sách là mắt những người bán sách, đôi khi
trông cứ
như là mắt một người bị treo cổ và đôi khi lại bị che lên một kiểu màng
cơn ngủ,
mà giờ đây tôi đã biết là một cái khác. Tôi không nhớ mình từng bao giờ
nhìn thấy
những hiệu sách cô độc hơn không. Tôi không ăn cắp quyển sách nào ở
Santiago.
Chúng rất rẻ nên tôi mua chúng. Tại hiệu sách cuối cùng mà tôi đến, tôi
đang
ngó dọc một hàng tiểu thuyết Pháp cổ thì người bán hàng, một người đàn
ông cao,
gầy trạc tứ tuần, đột nhiên hỏi tôi có nghĩ là đúng hay không khi một
tác giả tự
giới thiệu tác phẩm của mình cho một người đã bị kết án tử hình.
Người bán
hàng đứng ở một góc nhà, mặc một cái áo sơ mi trắng tay áo vén lên đến
khuỷu,
cái yết hầu nhô hẳn ra cứ nhúc nhắc khi ông ta nói. Tôi đáp có vẻ không
được
đúng đắn cho lắm. Mà ta đang nói đến những người bị kết án nào đây? Tôi
hỏi.
Người bán hàng nhìn tôi mà nói ông biết một số, hoặc hơn một, tiểu
thuyết gia
có khả năng tự giới thiệu sách của mình cho một người đang ở bờ vực cái
chết. Rồi
ông bảo chúng ta đang nói tới các độc giả tuyệt vọng. Tôi thì tôi không
đủ sức
đánh giá đâu, ông nói, nhưng nếu không phải tôi, thì chẳng ai khác làm
được cả.
Anh sẽ giới
thiệu cuốn sách nào cho một người bị kết án? ông hỏi tôi. Tôi không
biết, tôi
đáp. Tôi cũng không biết, người bán hàng nói, và tôi nghĩ chuyện ấy
kinh khủng
lắm. Những người tuyệt vọng thì đọc sách gì? Họ thích những sách gì?
Anh hình
dung như thế nào về phòng đọc sách của một người bị kết án? ông hỏi.
Tôi chẳng
biết, tôi đáp. Anh còn trẻ, tôi không thấy ngạc nhiên, ông bảo. Rồi:
giống Nam
Cực ấy. Không giống Bắc Cực, mà giống Nam Cực. Tôi nhớ đến những ngày
cuối cùng
của Arthur Gordon Pym [của Edgar Allan Poe], nhưng quyết định không nói
gì. Để
xem nào, người bán hàng nói, con người can đảm nào dám đặt quyển tiểu
thuyết
này vào lòng một người bị kết án tử hình đây? Ông rút ra một quyển sách
khá là
thích hợp rồi đặt nó lên một chồng sách. Tôi trả tiền rồi đi khỏi. Khi
tôi đi
khỏi, người bán hàng hẳn đã cười hoặc khóc thổn thức. Khi bước chân ra
tôi nghe
thấy ông nói: Thằng khốn cao ngạo nào dám làm điều đó cơ chứ? Rồi ông
còn nói
gì đó nữa, nhưng tôi không nghe ra.
Nhị Linh
dịch
từ The New York Review of Books
The books that I remember
best are the ones I stole in Mexico City, between the ages of sixteen
and
nineteen, and the ones I bought in Chile when I was twenty, during the
first
few months of the coup. In Mexico there was an incredible bookstore. It
was
called the Glass Bookstore and it was on the Alameda. Its walls, even
the
ceiling, were glass. Glass and iron beams. From the outside, it seemed
an
impossible place to steal from. And yet prudence was overcome by the
temptation
to try and after a while I made the attempt.
The first book to fall into
my hands was a small volume by [the nineteenth century erotic poet]
Pierre
Louÿs, with pages as thin as Bible paper, I can’t remember now whether
it was
Aphrodite or Songs of Bilitis. I know that I was sixteen and that for a
while
Louÿs became my guide. Then I stole books by Max Beerbohm (The Happy
Hypocrite), Champfleury, Samuel Pepys, the Goncourt brothers, Alphonse
Daudet,
and Rulfo and Areola, Mexican writers who at the time were still more
or less practicing,
and whom I might therefore meet some morning on Avenida Niño Perdido, a
teeming
street that my maps of Mexico City hide from me today, as if Niño
Perdido could
only have existed in my imagination, or as if the street, with its
underground
stores and street performers had really been lost, just as I got lost
at the
age of sixteen.
From the mists of that era,
from those stealthy assaults, I remember many books of poetry. Books by
Amado
Nervo, Alfonso Reyes, Renato Leduc, Gilberto Owen, Heruta and Tablada,
and by
American poets, like General William Booth Enters Into Heaven, by the
great
Vachel Lindsay. But it was a novel that saved me from hell and
plummeted me
straight back down again. The novel was The Fall, by Camus, and
everything that
has to do with it I remember as if frozen in a ghostly light, the still
light
of evening, although I read it, devoured it, by the light of those
exceptional
Mexico City mornings that shine—or shone—with a red and green radiance
ringed
by noise, on a bench in the Alameda, with no money and the whole day
ahead of
me, in fact my whole life ahead of me. After Camus, everything changed.
I remember the edition: it
was a book with very large print, like a primary school reader, slim,
cloth-covered, with a horrendous drawing on the jacket, a hard book to
steal
and one that I didn’t know whether to hide under my arm or in my belt,
because
it showed under my truant student blazer, and in the end I carried it
out in
plain sight of all the clerks at the Glass Bookstore, which is one of
the best
ways to steal and which I had learned from an Edgar Allan Poe story.
After that, after I stole
that book and read it, I went from being a prudent reader to being a
voracious
reader and from being a book thief to being a book hijacker. I wanted
to read
everything, which in my innocence was the same as wanting to uncover or
trying
to uncover the hidden workings of chance that had induced Camus’s
character to
accept his hideous fate. Despite what might have been predicted, my
career as a
book hijacker was long and fruitful, but one day I was caught. Luckily,
it
wasn’t at the Glass Bookstore but at the Cellar Bookstore, which is—or
was—across from the Alameda, on Avenida Juárez, and which, as its name
indicates, was a big cellar where the latest books from Buenos Aires
and
Barcelona sat piled in gleaming stacks. My arrest was ignominious. It
was as if
the bookstore samurais had put a price on my head. They threatened to
have me
thrown out of the country, to give me a beating in the cellar of the
Cellar
Bookstore, which to me sounded like a discussion among neo-philosophers
about
the destruction of destruction, and in the end, after lengthy
deliberations,
they let me go, though not before confiscating all the books I had on
me, among
them The Fall, none of which I’d stolen there.
Soon afterwards I left for
Chile. If in Mexico I might have bumped into Rulfo and Arreola, in
Chile the
same was true of Nicanor Parra and Enrique Lihn, but I think the only
writer I
saw was Rodrigo Lira, walking fast on a night that smelled of tear gas.
Then
came the coup and after that I spent my time visiting the bookstores of
Santiago as a cheap way of staving off boredom and madness. Unlike the
Mexican
bookstores, the bookstores of Santiago had no clerks and were run by a
single
person, almost always the owner. There I bought Nicanor Parra’s Obra
gruesa
[Complete Works] and the Artefactos, and books by Enrique Lihn and
Jorge
Teillier that I would soon lose and that were essential reading for me;
although essential isn’t the word: those books helped me breathe. But
breathe
isn’t the right word either.
What I remember best about
my visits to those bookstores are the eyes of the booksellers, which
sometimes
looked like the eyes of a hanged man and sometimes were veiled by a
kind of
film of sleep, which I now know was something else. I don’t remember
ever
seeing lonelier bookstores. I didn’t steal any books in Santiago. They
were
cheap and I bought them. At the last bookstore I visited, as I was
going
through a row of old French novels, the bookseller, a tall, thin man of
about
forty, suddenly asked whether I thought it was right for an author to
recommend
his own works to a man who’s been sentenced to death.
The bookseller was standing
in a corner, wearing a white shirt with the sleeves rolled up to the
elbows and
he had a prominent Adam’s apple that quivered as he spoke. I said it
didn’t
seem right. What condemned men are we talking about? I asked. The
bookseller
looked at me and said that he knew for certain of more than one
novelist
capable of recommending his own books to a man on the verge of death.
Then he
said that we were talking about desperate readers. I’m hardly qualified
to
judge, he said, but if I don’t, no one will.
What book would you give to
a condemned man? he asked me. I don’t know, I said. I don’t know
either, said
the bookseller, and I think it’s terrible. What books do desperate men
read?
What books do they like? How do you imagine the reading room of a
condemned
man? he asked. I have no idea, I said. You’re young, I’m not surprised,
he
said. And then: it’s like Antarctica. Not like the North Pole, but like
Antarctica. I was reminded of the last days of [Edgar Allan Poe’s]
Arthur
Gordon Pym, but I decided not to say anything. Let’s see, said the
bookseller,
what brave man would drop this novel on the lap of a man sentenced to
death? He
picked up a book that had done fairly well and then he tossed it on a
pile. I
paid him and left. When I turned to leave, the bookseller might have
laughed or
sobbed. As I stepped out I heard him say: What kind of arrogant bastard
would
dare to do such a thing? And then he said something else, but I
couldn’t hear
what it was.
This essay is drawn from
Between Parentheses: Essays, Articles and Speeches (1998–2003) by
Roberto Bolaño,
translated by Natasha Wimmer, forthcoming from New Directions on May
30.
March 22, 2011 12:15 p.m.
Source
|