Chekhov và Kafka
I
Thất thu lớn lao:
Về đoạn mở đầu "Cây vĩ cầm của Rothschild", truyện ngắn của Chekhov
Trong những truyện
cực ngắn của Kafka, "Y sĩ Đồng quê" thật đơn giản, nên cũng thật khó
hiểu. Người viết còn nhớ, trên báo Văn số đặc biệt về Kafka, thời Trần
Phong Giao làm thư ký tòa soạn, Nguyễn Mạnh Côn đã dịch và giới thiệu
"Y sĩ Đồng quê"; ông cho biết: dịch thì dịch, nhưng chẳng hiểu tác giả
muốn nói gì! (Tôi viết theo trí nhớ).
Amoz
Oz *, trên báo Partisan Review, số Mùa Xuân 1999, khi đặt song song hai
truyện ngắn, một của Chekhov (Rothschild's Fiddle) và một của Kafka (A
Country Doctor), đã giải thích: thế giới truyện Chekhov - trải ra bằng
những nhận xét chi li mang tính xã hội, bằng nỗi sầu miên man, và bằng
sự diễu cợt vị tha, cảm thông - lẽ dĩ nhiên thật xa vời thế giới ác
mộng của Kafka, nhưng cái khế ước mở đầu hai truyện ngắn giống nhau. Nó
làm độc giả lầm đường: đầy những lỗ hổng ở trong đó.
Ngay
cái tên truyện, "(Cây vĩ cầm của) Rothschild's Fiddle" (xuất bản lần
đầu
năm 1894), làm cho độc giả lạc đường 4 lần: Nhân vật Rothschild ở trong
truyện không phải là nhà hảo tâm nổi tiếng. Ông ta không phải là một
người chơi đàn vĩ cầm. Vĩ cầm không thuộc về ông ta, cho tới mãi gần
cuối chuyện. Ông ta cũng không phải là nhân vật chính, mà là phụ, và là
một người thổi sáo trong những đám cưới nghèo, một người Do-thái khốn
khổ.
Cây vĩ cầm ở tên
truyện, thực ra là
của một tay Yakov Ivanov, được mọi người gọi bằng biệt hiệu đường phố,
Đồng (Bronze). Một ông già thù hận người Do-thái, tầm thường, vô tim,
sống bằng nghề làm quan tài, và đôi khi, vì một vài đồng kopecks, chơi
vĩ cầm trong những đám cưới cùng với đám nhạc sĩ rách rưới Do-thái.
Người
ta có thể nhận ra sự tương tự giữa đoạn mở đầu "Cây vĩ cầm..." và "Y sĩ
Đồng quê" của Kafka: giả thuyết cơ bản mở đầu, trong cả hai, bị bác bỏ,
theo dòng chuyện. Giả thuyết sau cùng sụp đổ, để lộ ra, qua nhìn lại,
một thứ giả thuyết khác biệt hẳn. Người đọc phải đọc lại, và phải lấy
lại sự tin cậy, mọi điều, mọi chuyện.
"Đó là một thành
phố nhỏ, thê thảm còn
hơn cả một làng quê. Toàn những người già, họa hoằn lắm mới chịu nằm
xuống, thế mới bực! Hơn nữa, ít khi người ta cần tới quan tài, dù là ở
nhà thương, hay ở nhà tù. Nói ngắn gọn, chẳng làm sao buôn bán làm ăn ở
đây. Nếu Yakov Ivanov làm nghề đóng hòm ở một chốn thị tứ, chắc là ông
đã có được một căn nhà, và được gọi là Ông Ivanov. Nhưng ở cái chốn tệ
mạt này, giản dị chỉ là Yakov. Vì một lý do nào đó, ngoài đường họ gọi
ông bằng biệt hiệu Đồng. Ông sống nghèo khổ như bất cứ một người dân
quê bình thường trong một túp lều, cùng với bà vợ Marfa, một cái bếp,
cái giường, mấy cái hòm... "
".... Viên cảnh sát
địa phương bịnh
dầm dề hai năm ròng, và đang chờ đi luôn. Yakov nóng ruột, đợi hoài đợi
hủy chuyến tầu suốt của ông này. Nhưng viên cảnh sát dời lên thành phố
chính để chữa trị, và chắc là phó thác linh hồn cho quỉ ma ở đó... thế
là mất toi ít nhất 10 rúp, bởi vì đây là thứ hòm đắt tiền. Cứ đêm đêm
Yakov lại bị nỗi mất mát lớn lao hành hạ. Ông để cây vĩ cầm kế bên
giường và những lúc không thể chịu đựng nổi cơn dầy vò, ông mân mê mấy
sợi dây. Cây vĩ cầm "tinh, tinh" trong đêm tối, và ông ta cảm thấy đỡ
đi."
Cái buồn dìu dịu,
cái
diễu ấm áp, nhân hậu, tha thứ... thật không ăn khớp gì với cách chọn
lọc thật lạnh lùng những chi tiết, cách nhìn thiên nhiên như một ông y
sĩ giải phẫu, cách đo đạc thật chi ly khoảng cách giữa nhân vật và sự
thực.
Nhưng nhân vật
thường chẳng để ý, hoặc
chẳng thừa nhận chân lý, sự thực, và độc giả được mời nhận ra nó,
giữa những dòng chữ. Ở đây cũng như ở trong những chuyện khác, Chekhov
tạo một sự cân bằng thật chính xác, như một nhà hóa học cân đo đong
đếm, giữa dị hợm (ridiculous) và nỗi đau xé ruột xé gan. Khế ước là sự
đồng cảm, giữa người đọc và người kể, qua những con chữ. Thường xuyên
người đọc phải nhận ra bằng cách đảo ngược. Thí dụ như những câu mở
đầu: nỗi khóc than ca cẩm, về chuyện "hiếm" người chết ở trong làng, về
chuyện người già "họa hoằn mới chết và chuyện này thật là bực". Khế ước
là từ người kể chuyện, không phải từ nhân vật, nhưng người đọc nhận ra,
sau khi đã hết ngỡ ngàng, đây chính là lời than van của người làm hòm,
do công việc ế ẩm. Cũng vậy, "Marfa, cái bếp, mấy cái hòm...", người để
kế bên vật; ở đây độc giả biết, người kể đã trộn giọng nói của mình với
giọng của "Đồng không tim".
Đồng ngần ngại làm hòm cho con nít,
"mất thì giờ vì chuyện không đâu", Chi tiết này, ngay ở đầu truyện, cho
thấy đây là một con người biển lận. Nhưng tới nửa truyện, người đọc
biết, Đồng cố xóa khỏi trí nhớ, cuộc đời và cái chết của bé gái độc
nhất của hai vợ chồng, 50 năm trước. Chỉ sau khi vợ chết, độc giả mới
hiểu, Đồng cố làm cho trái tim của ông trơ ra, để cho ông đỡ đau.
Khế ước khởi đầu
làm độc giả lầm lạc,
bởi vì người kể đã sử dụng thoải mái quan điểm, và luôn cả ngôn từ của
người làm hòm già. Làm như vậy, người kể bắt buộc người đọc làm một
công việc "chuyển dịch" cẩn trọng: biển lận còn là mật mã, để chỉ nỗi
cô đơn sâu thẳm. Ngần ngại làm hòm cho con nít là để giấu nỗi đau mất
con. Tiếng đàn "tinh tinh' trong đêm theo điệu sáo của Rothschild, là
để chống banh ra những vết thương. Dần dà theo dòng truyện, người đọc
nhận ra, những mất mát lớn lao Bronze than van, là về đời người phí
phạm, bỏ đi, về nỗi vô thường của vô thường (vanity of vanities), tức
phận người.
Cốt truyện giản
đơn, chỉ một tí, một
tẹo: chuyện một người làm hòm tại một làng quê cố gắng để đừng bị chết
đói, lâu lâu làm thêm: chơi vĩ cầm cho đám cưới mạt. Ông thật thảm,
thật tã, và cứ thế gầm gừ, với cả đời sống và cái chết, bằng một trái
tim cố tìm đủ mọi cách để đanh lại; ngày này qua ngày khác: chỉ là
triền miên mất mát thu nhập. Ngã bịnh, vui ngấm vui ngầm: bà vợ chấp
nhận cái chết sau cùng tới, như một giải thoát hằng mong đợi, để ra
khỏi giếng nước mắt. Thấy vợ vui, người chồng đau lòng vì suốt đời đối
sử chai đá. Ông kéo bà vợ bịnh tới nhà người y sĩ độc nhất trong làng
và lạy lục - đúng ra là mà cả - hãy cứu vợ tôi. Nhưng viên y sĩ già
nhẫn tâm lắc đầu, quay qua bịnh nhân khác. Hai vợ chồng về nhà, và
người chồng bắt đầu đo hòm cho vợ: ông đưa thất thu vào trong cuốn sổ
cái. Trong những giờ cuối cùng, bà vợ cố nhắc nhở ông chồng về đứa con
đã mất, nhưng ông chẳng thể nhớ. Sau đám tang, ông cũng ngã bịnh, và
hung hãn gây gổ với người thổi sáo Do-thái tới trò chuyện với ông. Ông
lang thang ra bờ sông, bị những đứa trẻ ngoài đường trêu ghẹo. Ông di
chúc cây vĩ cầm cho Rothschild. Sau khi ông chết, Rothschild sáng tác
những giai điệu buồn từ cây vĩ cầm này.
Bốn nỗi thất vọng,
lạc đường ở tên
truyện (Rothschild không phải là vị hầu tước; Rothschild không phải là
người chơi vĩ cầm; Rothschild không phải là nhân vật trong truyện; cây
vĩ cầm không phải của ông), sau cùng trở thành đúng, một cách không chờ
đợi, ở cuối truyện. Rothschild được thừa hưởng cây vĩ cầm trở thành
giầu có; ông không còn là một người thổi sáo mà là người chơi vĩ cầm,
"gieo nhạc buồn của Bronze đi khắp chốn". Người đọc lúc đầu đã tưởng
rằng những sự kiện ở tên truyện là sai, sau mới nhận ra giá trị của
chúng.
Có một nối kết thật
tinh tế giữa những
người Do-thái và âm nhạc, giữa âm nhạc và tâm hồn (linh hồn).
"Rothschild's Fiddle" gợi nhớ những câu chuyện kể Hassidic (1), và nhân
vật Bronze thuộc huyền thoại về một con người công chính tiềm ẩn (the
myth of the hiđen just man), của dân tộc Do-thái.
Độc giả phải chuyển
hai lần, những lời
ca cẩm, than van "thất thu" của Bronze: một chuyển hài, và một chuyển
bi. Trong chuyển bi, có những "thất thu không thực hiện" cũng được đưa
vào cuốn sổ cái:
"Sau chót, đây là
con sông thực, không
chỉ là một con suối nhỏ. Bạn có thể tới đó câu, rồi bán cá cho những
người mua, những viên thư ký, và người coi ga, và để tiền vào sổ. Bạn
có thể theo thuyền đi dọc con sông, ghé những nhà hàng quán nước chơi
vĩ cầm, và đủ thứ người sẽ trả tiền cho bạn. Bạn có thể lại có một công
việc làm ăn trên sông nước, khá hơn nghề làm hòm. Bạn có thể nuôi ngan
ngỗng, giết chúng và đưa đi Moscow làm thực phẩm mùa đông. Có thể chỉ
tiền cọc không thôi cũng tới 10 rúp một năm. Ôi đau đớn làm sao, ông ta
cứ để cho nước chẩy qua cầu, mà chẳng chịu động đậy chân tay. Ôi, bao
nhiêu tiền bạc đã theo dòng nước trôi đi! Nếu bạn cứ cộng mãi vào - câu
cá này, chơi vĩ cầm này, giữ tầu thuyền, giết ngỗng - ông ta đã làm ra
biết bao nhiêu là tiền!"
Chuyển bi là đổi
mới lớn lao của
Chekhov, cả trong chuyện và kịch: gỡ bỏ cái hàng rào thủ cựu giữa hài
kịch và bi kịch, cho về vườn (canceling) cái qui ước ngặt nghèo: rằng
những nhân vật "hạ tiện" (Chí Phèo?), cục cằn, vô học, bắt buộc thuộc
về cõi hài (comic realm), trong khi không gian bi là để dành riêng cho
những con người phong nhã. Chỉ những kẻ phong nhã, những kẻ được soi
sáng, là có thể đưa nạng chống trời, có quyền vác thánh giá, chống lại
những biển sầu, đại dương nước mắt, chống lại những trục trặc của thế
gian, rồi từ đó, đưa ra một kết luận cảm thông, có thể hiểu được, về số
mệnh, phận người, cõi nhân sinh phi lý, hay là cái phần dơ dáy giấu sâu
trong nhân vật, chính vì nó mà họ bị kết án phải đọa đầy.
Yakov Ivanov, biệt
hiệu Bronze, vào
lúc hấp hối đã vươn tới đỉnh cao của cảm nhận bi. Bằng con đường ngu si
đần độn, qua - hoặc quá - cuộc đời vô nghĩa của riêng ông, ông đã loáng
thoáng nhìn ra phận người:
"Đời cứ thế trôi,
không lợi nhuận,
không lạc thú, nó cứ thế qua đi, chẳng nhắm tới đâu, chẳng vì mục đích
gì. Chẳng có gì để nhìn tới, và nếu bạn ngoảnh lại, chỉ là một phí phạm
khủng khiếp tiền bạc, đủ để cho bạn làm một cuộc đổi đời tốt đẹp, mầu
mỡ. Làm sao con người có thể sống mà không có tổn thất, phí phạm?....
Ông kết luận chỉ có thể có lời bằng cách chết: sẽ không phải ăn, không
uống, không đóng thuế, không sỉ nhục người khác. Kể từ khi một người
nằm trong mồ, không chỉ một năm mà hàng trăm, hàng ngàn năm, lợi nhuận
thật bao la, vô cùng... Kết luận như vậy là đúng, lẽ dĩ nhiên, nhưng eo
ôi, thật không thể chịu nổi. Tại sao chuyện đời lại được sắp xếp một
cách kỳ quặc như vậy, một khi bạn chỉ có một đời để sống, và không có
gì để phô ra, cho đời?"
Khúc độc thoại thê
lương không thoát
ra từ cửa miệng một người hùng (nhân vật, a hero, so với nhân vật, a
character mà tác giả, Amos Oz dùng để chỉ Bronze), hay một hoàng
tử-triết gia nhưng từ cửa miệng một người nhà quê vô học, thiển cận,
biển lận, đã chiếu một tia sáng khác lạ cho phần đầu câu chuyện. Cái
biển lận, tham lam, sự tầm thường ti tiện không chỉ được coi như là cái
vỏ sò mỏng mảnh mà người đọc cứ lột bỏ đi là vớ được viên kim cương,
hột xoàn ở bên trong: Tham lam, biển lận, ti tiện, tầm phào, cái vỏ,
hột xoàn, tất cả "là một và chỉ một mà thôi". Với Chekhov, ở đây,
Bronze là Hoàng tử Hamlet. Nỗi đau thê lương, ý thức bi đát, và công
cuộc vác nạng chống trời, chống lại cái trật tự thế gian, là từ đáy sâu
của câu chuyện bật ra.
Sau cùng, ở đâu, và
bằng cách nào
Chekhov gieo những giác ngộ vô ngôn này (unspoken understandings), giữa
người viết và người đọc, ở đằng sau lưng nhân vật? Biết đâu đấy, chúng
ta có thể nghe thấy chúng, qua những dạ khúc của người làm hòm, khi, cố
dỗ giấc ngủ trên chiếc giường đời trơ trọi, ông ta đưa tay với cây vĩ
cầm. Vào những giây phút như thế, Bronze biến thành cả hai: Saul (2),
khật khừ với quỉ dữ; và David (3), người "sẽ chạm vào những sợi dây,
cây vĩ cầm lại tinh tinh trong đêm tối, và như vậy ông ta sẽ đỡ hơn"
(... David, who "would touch the strings, the fiđle would twang in the
dark and he would feel better").
Chú thích:
(1) Hassidim: một giáo phái thần bí
cực bảo thủ thuộc Do-thái Chính thống, thành lập vào thế kỷ 18, chủ yếu
dựa trên KABBALA (từ điển bách khoa Cassell, 1991 edition).
(2) Saul: Vị vua đầu tiên của Do-thái,
chống lại Samuel và sau cùng tự tử, khi cái đầu hết còn minh mẫn - as
his mind became unbalanced - (từ điển bách khoa Cassell).
(3) David: Vị vua thứ nhì của Do-thái,
người đã chơi đàn "harp" để xua đuổi nỗi buồn cho vua Saul.
* Amoz Oz, người Do-thái, viết văn
bằng tiếng Dothái Hebrew, sinh năm 1939 tại Jerusalem. Năm 14 tuổi ông
vào kibbutz (một làng, hoặc ấp Do-thái chuyên về canh nông. Ấp chiến
lược của Ngô Đình Nhu là được "gợi hứng" từ những kibbutz). Sau ông làm
thầy giáo dậy học tại đây. Ông viết về những chủ đề đương đại, nhắm vào
tội lỗi, sự bách hại, ngược đãi. Cuốn tiểu thuyết quan trọng làm ông
nổi tiếng, viết năm 1972: "Bikhá el Sheli", tên tiếng Anh: "My Michael"
("Michael của tôi"), được tờ New York Times đánh giá là một "Bà Bovary"
(1857, tác phẩm của nhà văn Pháp Flaubert), của văn chương Do-thái.
Những tác phẩm của ông gồm có: "Makom Aber" (1966), bản tiếng Anh:
"Elsewhere Perhaps" ("Một nơi nào đó, Có lẽ", 1973); "Har Ha-Etsah
Ha-Raah" (1976), bản tiếng Anh: "The Hill of Evil Council" ("Ngọn Đồi
Của Ác Hội", 1978); "Beor Hatkhelet Há aza", (1979), bản tiếng Anh năm
1995: "Under the blazing light", "Dưới ánh sáng chói chang"; "Israel"
(1983); "A Perfect Peace" ("Một Hòa bình Hoàn hảo"), 1984. Cuốn tiểu
thuyết "To Know a Woman" ("Để hiểu một người Đàn bà"), là chuyện một cô
gái Do-thái khi còn nhỏ có bạn trai người Ả Rập. Bị phân chia do chiến
tranh, lớn lên, cô gái lấy chồng, nhưng không làm sao quên được những
xúc động, tình cảm đầu đời, từ mối tình thơ dại với người bạn Ả Rập.
Đây vẫn là chủ đề cơ bản của thế kỷ 20, về một người đàn bà ngoại
tình...
II
Khúc gỗ trên
dòng suối ngập: Về đoạn mở đầu truyện ngắn "Y sĩ Đồng Quê", của Kafka
"... Xác thân ông nằm trong nghĩa địa
Do Thái Mới ở Zikov cùng với mẹ và cha. Nghĩa địa bỏ trống quá nửa, thế
hệ đúng ra sẽ làm đầy nơi chốn này, được chuyển tới những trại tử thần
vào những năm 1940, trong đó có ba chị em của Kafka."
Peter Haigh: "Kafka in Prague, Summer 1996" (Ghi chú nhân một chuyến du
lịch).
Strip his
clothes off, then he'll heal
us,
If he doesn't, kill him dead
Only a doctor, only a doctor
(Lột trần anh ta, rồi anh ta sẽ chữa chúng ta lành bịnh
Nếu anh ta không làm được, hãy giết anh ta
Chỉ là một y sĩ, chỉ là một y sĩ)
O be
joyful, all you patients
The doctor's laid in bed beside you
(Các bệnh nhân ơi, hãy vui lên đi,
Y sĩ nằm trên giường kế bên anh)
"Y sĩ Đồng quê"
"Y sĩ Đồng quê" (1919), là câu chuyện
một y sĩ vườn, bị đánh thức trong đêm bão tuyết, tới bên giường một
người bịnh nặng. Viên y sĩ đáp lời, vượt vài trở ngại kỳ cục, tới bên
giuờng, nhưng không thể giúp người bệnh. Sau cùng, ông thấy mình "với
cỗ xe trần thế, với cặp ngựa ngược đời, thân già lạc lõng". Ở cuối
chuyện, viên y sĩ nói: "Bị lừa! Bị lừa!" (1). Câu văn đóng chuyện đẩy
người đọc về phần mở đầu, để tìm cho ra, nơi đâu, chỗ nào, viên y sĩ đã
phạm lỗi lầm, một và chỉ một mà thôi; một lỗi lầm chẳng thể nào sửa
chữa. Nhìn bề ngoài, phần kết thúc câu chuyện chứa đựng một (ý hướng)
đạo đức nào đó. Có vẻ như, nếu viên y sĩ biết sớm điều này, ông có thể
tránh được lỗi lầm định mệnh (the fatal mistake).
Nhưng thực ra, viên y sĩ, hay người
đọc, biết được gì, ở phần cuối chuyện? Lỗi lầm nào, và đạo đức nào?
Liệu viên y sĩ có thể (chọn lựa giải pháp) không trả lời (cú gọi trong
đêm)? Liệu ông ta có thể biết ngay từ khởi đầu, đây chỉ là báo động
hoảng? Có cách nào (trong câu chuyện ở đây, hoặc có lẽ, vượt quá nó)
phân biệt giữa báo động hoảng và báo động thực? Riết ráo hơn nữa, viên
y sĩ thực sự đáp ứng lời gọi, hay cực chẳng đã, bị văng lên đường?
Nói cho cùng, làm gì có báo động,
chẳng có chuông réo trong đêm, ở ngay đầu câu chuyện - chẳng có báo
động hoảng, chẳng có bất cứ một thứ chi gọi là báo động. Ở đầu chuyện,
có: một báo cáo thật chi li về một chuyện xẩy ra (hoàn toàn mang tính
sự kiện, khả tín), theo đó, những sự cố hãi hùng xoắn xuýt vào nhau.
Người đọc thực sự gặp trở ngại khi tìm cách xác định vị trí khởi đầu
con xoắn. Như trong nhiều tác phẩm của Kafka, không hề có đột biến,
nhưng thực tại tự nó mù mờ, các hướng các chiều chao đảo; một cuộc biến
hóa (a metamorphosis), mọi vật dần dần mang những bóng dáng cơn ác mộng.
"Tôi thật quá bối rối; tôi phải bắt
đầu một chuyến đi khẩn cấp; một con bệnh ngặt nghèo đang đợi tôi, tại
một làng cách mười dặm đường; giữa con bệnh và tôi, là cơn bão tuyết
dầy đặc; tôi có một chiếc xe ngựa, loại nhẹ, bánh xe lớn, đúng thứ xe
dùng nơi đường quê; người choàng áo lông, túi dụng cụ cầm tay, tôi ở
sân, sẵn sàng cho cuộc hành trình; nhưng không có ngựa để mà có, không
có ngựa. Ngựa của tôi đã chết trong đêm, do kiệt lực vì những mệt mỏi
của mùa đông băng giá này; người tớ gái đang đầu làng cuối xóm, cố mượn
một con ngựa; nhưng chỉ là tuyệt vọng, tôi biết, và tôi bơ vơ đứng đó,
tuyết dầy thêm trên người, mỗi lúc thêm khó khăn cử động. Người tớ gái
xuất hiện tại cổng, một mình, và vẫy vẫy cây đèn; lẽ dĩ nhiên, làm sao
có người cho mượn ngựa cho một cuộc hành trình như thế? Một lần nữa,
tôi đi quanh sân; không có lối ra; trong cơn bối rối ngán ngẩm, tôi đá
cái cửa ọp ẹp khu chuồng heo đã bỏ hoang từ lâu. Cửa bật tung, đập qua
đập lại quanh bản lề. Một luồng hơi có mùi ngựa tỏa ra. Bên trong, một
cây đèn chuồng le lói đong đưa trên một sợi dây. Một người đàn ông co
rúm người ở khu đất thấp, đưa bộ mặt ngây ngô, thực tình. "Tôi sẽ đóng
ngựa?", anh ta hỏi, và bò bốn chân ra phía ngoài. Tôi không biết nói
sao, và khom người nhìn coi còn có gì trong chuồng. Người tớ gái đứng
kế bên tôi. "Ông chủ không bao giờ biết, sẽ kiếm thấy gì, ở trong chính
căn nhà của mình," cô nói và cả hai chúng tôi đều cười. "Ơ này, Anh ơi,
ơ này, Chị ơi!" người giữ ngựa gọi, và hai con ngựa, những con vật lớn
lao, hông hùng dũng, chân lẳn vào mình, đầu con nào cũng thật cân đối,
thâm thấp như đầu lạc đà, con này tới con kia, chỉ mấy cú lắc mông đã
chiếm trọn lỗ cửa mở rộng. Nhưng ngay khi đứng thẳng, những cái cẳng
dài và thân hình của chúng tỏa hơi nồng nặc. "Hãy giúp anh ta một tay,"
tôi nói, và người tớ gái sốt sắng lo việc thắng ngựa vào xe. Nhưng cô
gái vừa tới gần, người chăn ngựa túm lấy, đè mặt anh lên mặt cô. Cô kêu
lên và chạy trở lại phía tôi. Hai hàm răng anh ta hằn dấu máu trên mặt
cô gái. "Đồ súc vật," tôi giận dữ la lên, "anh có muốn ăn roi không?",
nhưng chợt nghĩ ra, đây là một người lạ, tôi không biết anh ta từ đâu
tới, lại tự ý giúp đỡ tôi trong khi mọi người khác đã làm tôi hụt hẫng.
Như biết được ý nghĩ của tôi, anh không coi lời hăm dọa là trọng, lại
bận rộn với mấy con ngựa, hài lòng xoay lưng về phía tôi. "Hãy lên
xe!", anh ta nói sau đó, và quả đúng như vậy, tất cả đã sẵn sàng. Một
cặp ngựa tuyệt vời, tôi quan sát, đúng là chưa bao giờ được ngồi đằng
sau một chiếc xe như vậy, và vui vẻ trèo lên. "Nhưng tôi là người cầm
cương, anh đâu biết đường", tôi nói. "Lẽ dĩ nhiên" anh ta nói, "vả
chăng, tôi không đi với ông, mà ở lại với Rose." "Không", Rose la lên,
chạy trốn vô nhà, linh cảm sẽ chẳng thoát khỏi số; tôi nghe tiếng dây
xích cửa, tôi nghe tiếng cài then, tôi còn nhìn thấy cô gái tắt đèn nơi
hành lang và tất cả các phòng, mong sao không bị phát hiện. "Anh đi với
tôi," tôi nói với người chăn ngựa, "nếu không tôi sẽ không đi, dù khẩn
cấp cỡ nào. Tôi sẽ không đổi cuộc hành trình với giá cô gái". "Đi nào!"
anh ta nói; anh ta vỗ tay; cỗ xe bật lên như một khúc gỗ trên dòng suối
ngập; tôi còn nghe tiếng cánh cửa chịu thua, vỡ từng mảnh dưới những cú
đập của người chăn ngựa, rồi mắt mù tai điếc vì cơn bão, tôi không còn
bất cứ cảm giác."
Cái tên truyện giới thiệu với chúng
ta, người kể chuyện xưng tôi, mặc dù anh chưa hề nói một lời: một y sĩ
đồng quê. Rồi anh trình bầy tất cả mọi chi tiết khởi đầu, theo giọng
"đây chỉ là sự kiện" (a matter-of-fact tone), y hệt một báo cáo cảnh
sát; như thể anh đang xác minh trước quan tòa, như thể anh phải tự bào
chữa, bảo vệ, trước những cáo buộc hình sự.
Tình cảnh của anh: hết sức bối rối.
Vấn đề của anh: một chuyến đi khẩn, một người bịnh nặng, một làng cách
mười dặm đường, một cơn bão tuyết, không ngựa, không hy vọng có được
một con ngựa. Những biện pháp anh đề ra: 1- Cho người làm đi mượn ngựa,
mặc dù chẳng một chút cơ may. 2- Đứng ở sân nhà, trong tuyết, sẵn sàng,
đợi chờ chuyến đi; để, nếu người làm mượn được ngựa, sẽ chẳng mất đi
đâu một phút, một giây. 3- Lại đi lòng vòng quanh sân. 4- Đá bung cửa
chuồng heo bỏ hoang, biết đâu tìm thấy gì ở đó. 5. Khi ngựa và người
xuất hiện, chẳng mất thì giờ hỏi tra về sự xuất hiện lạ thường này. 5-
Tỏ thái độ khi cô đầy tớ gái bị xúc phạm, nhưng không trì hoãn chuyến
đi, người bịnh nặng mới là quan tâm hàng đầu. 6- Thay đổi mối quan tâm
hàng đầu, khi nhận ra người giữ ngựa sẽ làm nhục Rose, quyết định không
bỏ mặc cô gái. 8- Khi người giữ ngựa làm cho hai con vật lồng lên,
không điều khiển được chúng, và chiếc xe bị kéo đi "như một khúc gỗ
trên dòng suối ngập" ("like a log in a freshet").
Không
một phiên tòa nào có thể kết tội viên y sĩ, về hành vi, cách xử sự của
ông, trong bất cứ tình huống, biến động. Tuy nhiên, ngay từ khởi đầu,
cho tới cuối câu chuyện, những câu hỏi trung tâm vẫn chưa được trả lời.
Hơn thế nữa, chúng chưa từng được hỏi.
Thực
sự, viên y sĩ bị cáo buộc vì cái gì? Đâu là những lời tố giác, buộc tội
ông phải chiến đấu trong tuyệt vọng để phản bác? Chúng từ đâu mà ra? Ai
buộc tội ông? Ai kết án ông, ở cuối chuyện (phải): "Trần trụi, phơi
người ra trong giá lạnh vào cái thời bất hạnh nhất, với cỗ xe trần thế,
với cặp ngựa ngược đời, già như tôi, tôi bơ vơ lạc lõng" ("Naked,
exposed to the frost of this most unhappy of ages, with an earthly
vehicle, unearthly horses, old man that I am, I wander astray.") Và vì
tội (sin) gì?
Chừng 1/3 chuyện, là về những toan
tính của viên y sĩ nhằm tự chống đỡ trước cáo buộc, vốn chẳng có, trước
một bên nguyên chẳng hề xuất hiện ở trong chuyện. Thêm vào "lời xin
lỗi" (apology) ở đầu chuyện, thật hữu lý, và cũng thật vững vàng, một
"biện hộ khác" xuất hiện sau đó như một lời than van, tự thương thân,
khác biệt hẳn biện hộ khởi đầu.
"Tôi là y sĩ quận lỵ, làm bổn phận của
tôi tới cùng, gần như quá sức tôi. Tôi được trả lương tồi, nhưng tôi
rộng lượng, giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên tôi còn phải lo cho Rose, và
sau cùng tên chăn ngựa có thể không có lỗi; tôi cũng vậy, tôi chỉ muốn
chết. Tôi làm gì ở đây trong cái mùa đông vô tận này! Ngựa của tôi thì
chết, vậy mà chẳng một người nào trong làng cho tôi mượn một con khác.
Tôi phải lấy ngựa từ nơi nuôi heo; nếu sự tình cờ không để đôi ngựa ở
đó, chắc là tôi phải đóng xe bằng mấy con heo... Đâu phải đây là lần
đầu tôi bị kêu ra khỏi nhà vì một chuyện vô ích, tôi đã quen với nó
rồi, cả cái quận lỵ biến cuộc đời tôi trở thành khốn khổ khốn nạn với
cú gọi đêm, nhưng lần này có lẽ tôi phải hy sinh Rose... thật là đòi
hỏi quá đáng..."
Trái ngược với biện hộ ngắn ngủi ở đầu
chuyện, khúc độc thoại ở đây cho thấy, không phải toan tính nhằm thuyết
phục, mà là cố gắng làm mủi lòng. Có lẽ, một độc thoại vượt quá cơn
tuyệt vọng, chán ngán, kể từ lúc người nói, ở đoạn đầu, đã tỏ ra mong
ước được chết (ngay sau khi Rose được an toàn), ở đoạn cuối, anh nhìn
lại chuyến đi thăm người bịnh - và cả đời mình - như là một thất bại vô
phương sửa chữa.
Đoạn mở đầu là một biện hộ, vững vàng,
không thể chê trách được, ít ra ở bề ngoài. Một biện hộ bi thảm: nó hầu
như là một câu dài, với nhiều mệnh đề, xác định bằng dấu chấm phẩy. Lời
khai của viên y sĩ, là thì hiện tại, như một buổi phát thanh trực tiếp
("at the moment she went to him and here, yes, the groom grabs her and
knocks his face against hers. The girl lets out a shriek and flees
toward me."), có vài chuyển tiếp giữa dòng (mid-sentence transitions)
từ quá khứ qua hiện tại như thế.
Viên y sĩ đá cánh cửa bật tung, và
"giải thoát" (deliver: sinh nở, giải thoát) - trước sự sững sờ của ông
- người chăn và hai con ngựa, từ nơi chuồng heo. Như sự xuất hiện của
cái mũi, từ ổ bánh mì, trong chuyện của Gogol, sự xuất hiện của người
chăn và hai con ngựa trong "Y sĩ Đồng quê" đã được miêu tả hầu như là
một cơn đẻ (as a birth): người chăn ngựa bò ra "bằng bốn chân", hai con
ngựa, "con nọ tiếp con kia, bốn chân lẳn vào mình..." Cắn vào má Rose
là hành động đầu tiên của người chăn ngựa, vì vậy mà viên y sĩ gọi anh
là "đồ súc vật". Tính dâm tà của anh, và vụ xâm phạm cô gái thực sự
mang tính thú vật. Viên y sĩ có thể nghe "cánh cửa nhà tôi long ra từng
mảnh dưới những cú đập của tên chăn ngựa". Cùng lúc, tên chăn ngựa đóng
vai quen thuộc của quỉ dữ, trong chuyện dân gian, đề nghị một chuyện
trao đổi ma quái. Tên giữ ngựa/con quỉ như từ dưng không trồi lên, dụ
khị (offering) thân chủ của nó: mày muốn được cái đó hả, thì đây này;
nhưng, cái mà con quỉ lấy đi còn quí giá, còn ý nghĩa hơn nhiều. Viên y
sĩ nói: ta sẽ không đổi chuyến đi với cái giá cô gái. Nhưng một khi ông
chấp nhận đôi ngựa, "định mệnh đã an bài"!
Ở đầu chuyện, là một số gắng nhằm giải
quyết vấn đề di chuyển - làm sao tới bên giường một người bệnh ngặt
nghèo, tại một làng cách đó mười dặm đường, một cơn bão tuyết trong đêm
- cuối cùng hóa ra là một "vụ việc" (affair), với đầy tủi hổ, nhục nhã,
và tội lỗi: ngựa của viên y sĩ chết vì bị hành quá mức, ông ta không
thể bảo vệ cô gái, ông ta cũng thất bại không cứu nổi người bịnh. Có lẽ
chính vì vậy mà đoạn mở đầu mang cái vỏ một lời xin lỗi (sự thực, cả
câu chuyện là một lời xin lỗi). Hỡi ơi, đây chỉ là một lời xin lỗi phi
lý, xin lỗi theo kiểu vòng vo Tam quốc, giống như trong chuyện dân
gian: "Có một lỗ hổng ở trong cái xô của tôi": điều thứ nhất không thể
thực hiện vì thiếu điều thứ hai, điều thứ hai bị ngăn chặn (thực hiện)
vì những trói buộc ở điều thứ ba... và cứ như thế. Đạt được điều thứ
nhất là đạt được tất cả, khốn nỗi...
Hãy thử thực hiện câu chuyện "Y sĩ
Đồng quê" theo kiểu trên, xem sao:
-Nếu mọi chuyện đều sẵn sàng cho
chuyến đi - bao gồm cả chuyện "một chiếc xe nhẹ với những bánh xe lớn"
- tại sao ông không đi?
Bởi vì không có ngựa.
-Ngựa đâu?
Chết đêm hôm qua.
-Tại sao ngựa chết?
Vì những mệt mỏi mùa đông băng giá.
-Tại sao ngựa mệt mỏi trong mùa đông
băng giá?
Bởi vì cả quận lỵ biến đời tôi trở thành khốn khổ khốn nạn với cú gọi
đêm.
-Tại sao cú gọi này lại nặng nề đối
với ông, hơn là những cú khác?
Lần này "chắc tôi phải hy sinh Rose"
-Như vậy tại sao ông bỏ mặc cô gái?
Tại sao ông để tên chăn ngựa cắn cô ta?
Tôi đã trách anh ta, tôi dọa quất roi anh ta.
-Tại sao ông không quất?
Bởi vì ngay lập tức tôi nhớ ra "người đàn ông này là người lạ; tôi
không biết anh ta từ đâu tới".
-Tại sao ông nhận sự giúp đỡ từ một
người lạ khi ông không biết gốc gác người đó?
Bởi vì anh tự ý giúp tôi thoát ra khỏi khó khăn trong khi tất cả mọi
người làm tôi hỏng cẳng.
Tại sao những người khác làm ông hỏng
cẳng?
"Cả quận lỵ biến đời tôi thành khốn nạn".
-Tại sao ông không ngăn tên giữ ngựa
phá cửa, và rồi xâm phạm cô gái?
Tôi đã cố. Tôi ra lệnh cho anh ta đi với tôi, nếu không "tôi sẽ không
đi, dù khẩn cấp cỡ nào".
-Nếu vậy, tại sao ông không huỷ chuyến
đi?
Bởi vì tên giữ ngựa bất thình lình vỗ tay ra hiệu cho ngựa vùng lên,
chiếc xe bị kéo đi, "như khúc gỗ trên dòng thác".
-Tại sao ông phó mặc tính mạng của ông
vào một tên chăn ngựa?
Bởi vì có một người bịnh ngặt nghèo đang đợi tôi, tôi lại không có ngựa.
Ở đây có bóng dáng vòng vo câu chuyện
"bà già đi chợ đàng trong, mua năm cây mía vừa cong vừa dài; bà già đi
chợ đàng ngoài, mua năm cây mía vừa dài vừa cong" (còn được truyền tụng
như sau: Mẹ em đi chợ đường trong, mua em cây mía vừa cong vừa dài; mẹ
em đi chợ đường ngoài, mua em cây mía vừa dài vừa cong).
Cũng vẫn một "mẫu mã" như trên, là
đoạn viên y sĩ gặp người bịnh, đoán bịnh lầm. Thoạt đầu, ông không nhận
ra vết thương của cậu bé, rồi không thể giúp nó...
Vậy thì đâu là "khế ước mở đầu", người
đọc được yêu cầu chấp nhận?
Thoạt kỳ thuỷ, là mong ước người đọc:
tin tưởng người kể chuyện-y sĩ, tỏ ra có cảm tình với con người đạo
hạnh đã đáp ứng lời gọi trong đêm bão tuyết, đi chữa một bịnh nhân...
Những đòi hỏi khẩn cấp, hình huống ngặt nghèo, lời khai, lời xin lỗi...
của viên y sĩ khiến người đọc nhận ra ý nghĩa việc viên y sĩ quyết định
sử dụng đôi ngựa. Ngay cả vụ tấn công cô gái cũng không đủ để hoãn cuộc
hành trình, và độc giả hài lòng với việc trách móc "qua loa" của viên y
sĩ.
Chỉ tới khi đôi ngựa lồng lên (bi kịch
bắt đầu!), người đọc mới băn khoăn tự hỏi, phải chăng hoàn cảnh (thực
sự) ở trong tầm tay, ngay từ khởi đầu. Những quyết định của viên y sĩ
có thực sự là những quyết định? Cả một chuỗi lo toan tính toán, quyết
định như thế, cuối cùng hóa ra chỉ là một cơn "hoang tưởng" hãi hùng
của viên y sĩ: ông ta đã bị lừa. Ông ta đã đáp ứng một báo động hoảng.
Không phải chỉ viên y sĩ bị lạc đường, mà luôn cả độc giả cũng bị "văng
lên đường", theo với ông!
Bởi vì nói cho cùng, chẳng có báo động
hoảng, ông ta đã "bị" lên đường, ngược lại ý muốn của ông.
"Y sĩ Đồng quê", dù hiểu thế nào đi
chăng nữa, không phải là câu chuyện của tội lỗi và trừng phạt. Càng
chẳng phải một câu chuyện ngụ ngôn về chuyện chuyển hướng lầm, chọn lầm
(taking the wrong turn, making the wrong choice). Thảm kịch của viên y
sĩ không phải là do hậu quả của những hành động, và thất bại của ông.
Chuyện "xin lỗi" chỉ là nói cho vui. Khế ước mở đầu chỉ là đối tượng
của một khế ước thực, khế ước ngầm. Theo những điều kiện của khế ước
ngầm này, viên y sĩ đã có tội, "ngay từ tiên thiên, tiên nghiệm" (à
priori). Ông ta đã bị kết tội, kết án ngay từ khởi đầu, mặc dù sự vô
tội của ông. Ông ta có tội ngay cả trước khi bắt đầu những lời than
van, xin lỗi, tự kiểm thảo bản thân. Ngay từ "thoạt kỳ thuỷ", ông ta
chẳng khác nào "một khúc gỗ trên dòng thác". Ông ta có tội, bởi vì "tội
lỗi của người đàn ông" (a man's guilt) luôn luôn nằm sẵn đó, đợi ông.
Cô gái Rose hình như đã nói ra những
điều kiện thực sự của tờ khế ước, của Kafka: "Bạn chẳng thể nào biết
điều bạn đang tìm, trong chính căn nhà của mình".
Tội lỗi ngồi thu lu đằng sau "cánh cửa
ọp ẹp của cái chuồng heo đã bỏ hoang từ bao nhiêu năm tháng..."
Nguyễn Quốc Trụ
(Theo bài viết của Amos Oz trên
Partisan Review, số Mùa Xuân, 1999).
Chú thích:
(1). Bản tiếng Anh: "Betrayed!
Betrayed!" (Bị phản bội); bản tiếng Pháp của Claude David, (nhà xb
Gallimard, tủ sách Folio, 1990: "Dupé! Je suis dupé!" (Bị lừa! Tôi bị
lừa!).