
TẠP GHI
|
Nơi người chết mỉm cười
Ngày 1 tháng
Mười 1991, Leningrad chính thức trở lại với tên khởi thủy của nó,
Saint-Petersburg; chấm dứt cuộc tranh luận bắt đầu cùng với thời kỳ đổi
mới, glasnost. Những người hô hào chuyện đổi tên, bị buộc tội còn nuối
tiếc chế độ quân chủ, và thiếu lòng yêu nước (St. Petersburg đã ở trên
bản đồ hành quân của các tướng lãnh của Hitler, người muốn đổi tên
thành phố ngay khi chiếm được nó). A. Solzhenitsyn muốn thành phố mang
tên Svyato-Petrograd. Solomon Volkov, tác giả cuốn St. Petersburg: Một
Lịch Sử Văn Hóa (Antonina W. Bouis dịch, nhà xb Free Press, 598 trang,
1997), cho rằng nhiệt tình của dân Nga ở đây là do sự quan trọng mang
tính biểu tượng của Petersburg, một thành phố gắn liền với những thời
kỳ hỗn loạn nhất trong lịch sử Nga. Những người quốc gia coi Petersburg
là một toan tính Âu châu hóa, nhằm cắt nước Nga ra khỏi những giá trị
truyền thống. Những người chủ trương tự do, phe nhóm chính trị, coi đây
là biểu tượng quốc gia hồi phục, sẵn sàng tiến lên, đúng như mong ước
của những người đã xây dựng thành phố, "cửa sổ về phía Tây", "cánh cửa
độc nhất tới Âu-châu".
Đối với văn
nghệ sĩ, trí thức thời kỳ tiền-cách mạng, Petersburg phản ảnh những
chia cắt đau thương của linh hồn Nga. Việc đào xới những mâu thuẫn này
của Dostoevsky trong Ghi Chú Dưới Hầm đã ảnh hưởng sâu xa tới thế kỷ
chúng ta trong việc giải thích nỗi khó khăn, bối rối của con người, bị
vò xé giữa những giá trị đối nghịch và phải đối đầu với sự phi lý, ở
mỗi "bước ngoặt của lịch sử". Dưới chế độ Xô-viết, số phận của thành
phố đã là nguồn cảm hứng cho biết bao đề tài, nhưng chẳng mấy được xuất
bản, trưng bầy hoặc trình diễn. Sự trở lại với cái tên của nó có thể sẽ
tạo niềm hứng khởi cho những công trình văn học nhằm cảm thông, và
chuyển hóa nỗi kinh hoàng gây ra bởi chế độ độc tài Stalin.
Trong Chuyện
Nghề, Nguyễn Tuân sau khi ca ngợi những trang viết của Nguyễn Huy
Tưởng, trong Sống Mãi Với Thủ Đô, ông đã phàn nàn "chúng ta có quá ít
những trang sách viết về Hà-nội". Chúng ta ở đây phải được hiểu, những
nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến đấu của thành phố trong
thời gian chiến tranh, trong một trận đánh được coi như "Điện Biên Phủ
trên không" có thể là niềm tự hào, không phải của riêng những người
Hà-nội, nhưng cái cảnh "tôi nhét điếu thuốc lá vào mồm tên giặc lái" mà
Nguyễn Tuân tả trong Hà-nội ta đánh Mỹ giỏi chỉ có thể được "giải trừ"
bằng những tâm trạng, thí dụ như của một người dân bên hồ Trúc Bạch,
bao nhiêu năm sau, khi ôm hôn tên giặc lái mà ông đã từng nhào xuống hồ
để cứu thoát: "Tôi không hiểu tại sao tôi làm vậy, lúc đó, và bây giờ,
khi gặp lại ông, tôi đã hiểu ra rồi".
Theo một nghĩa
nào đó, Petersburg giống như những thành phố lớn khác. Xuyên qua lịch
sử văn hóa Tây-phương, thành phố đứng sừng sững, như để chứng thực nỗi
hoang mang của con người, về mối liên hệ giữa nó và cái thế giới do nó
tạo dựng nên: Babylon, Babel, Rome, Sodom, New Jerusalem đã đem đến cho
trí tưởng tượng của những người Thiên chúa giáo, những hình ảnh về
quyền lực và sự ung thối, sa đọa, thiên đàng và địa ngục. Sự hủy diệt
của những thành phố thường làm cho con người khiếp đảm.
Nhưng Paris
của Baudelaire, Prague của Kafka... là những thành phố không thực,
những thành phố của trí tưởng, những chuyển hóa mang tính thấu thị của
chuyện thường ngày. Trái lại, vẻ siêu thực của Petersburg đập ngay vào
mắt du khách, như Hầu tước Custine: Một cái gì không thể nào diễn tả
trọn vẹn bằng lời... Khu đất thấp của thành phố với những tòa nhà chạy
dọc theo hai bờ sông Neva hình như lơ lửng giữa trời và biển, và du
khách có lúc đã mong đợi nhìn thấy nó nhạt nhòa vào một cõi trống
không... Có thể vậy chăng, đây là thủ đô của một Đế Quốc rộng lớn, một
dúm đất chấp chới trên mặt nước, như bọt bèo bị cuốn theo cơn lũ; những
điểm đen nhỏ nhoi, lộn xộn, thật khó mà nhận ra giữa mầu trắng của trời
và của nước? Hay đây chỉ là một ảo tưởng thị giác? Đó là những cảm nhận
của ông, vào một trong những đêm trắng của mùa hè phương Bắc, năm 1939,
khi đứng trước "sự bí mật không thể hiểu được": sự hiện hữu của một
thành phố như để thách đố trật tự đạo đức và vật lý của sự vật. Ý nghĩa
biểu tượng của một thủ đô nước Nga tại bờ cõi phía Tây đã khiến cho
Peter Đại Đế chọn lựa một trong những khung cảnh không một chút hứa hẹn
mà còn là mồi ngon của ngoại xâm: Ông đã muốn thành phố mọc lên từ vùng
đất hoang vu sũng nước trước mặt ông, như thành quả của một cố gắng
nhằm biến đổi xứ sở thành một quốc gia hiện đại, Âu hóa. Trong một túp
lều ở miệng Vịnh Phần-lan, là ý nguyện của một con người chống lại sức
mạnh của thiên nhiên, kinh nghiệm lịch sử, và những hoài vọng của cả
một quốc gia. Thành phố đã được dựng lên không phải vì dân chúng mà là
để chống lại họ. Nếu Moscow là biểu tượng của truyền thống quốc gia,
tôn giáo, thủ đô mà người dân Nga hằng gắn bó, Petersburg vốn được
người dân Nga nhìn như một Phản-Ky tô, Antichrist. Nỗi nôn nóng hoàn
thành (thành phố đã được coi là tân thủ đô của Nga, 14 năm sau khi ngôi
nhà thứ nhất được xây dựng, vào năm 1703), đã lấy đi không biết bao
nhiêu mạng con người. Hàng chục ngàn công nhân chết vì đói, bệnh và
kiệt sức trong những công việc làm nền, đóng móng, nhằm chống lại nước,
trên đó, thành phố đã mọc lên.
Được thiết kế
bởi những kiến trúc sư Tây-phương, (một trong số họ bị Nga hoàng ra
lệnh đánh chết), thành phố ngày một đẹp thêm cùng những triều đại kế
tiếp. Kiến trúc sư Ý, Rastrelli, đã đem đến cho nó dáng dấp Baroque, và
sau đó, dưới thời nữ hoàng Catherine, là những công viên, hệ thống kênh
đào với những tòa nhà mang vẻ đẹp Tân-cổ điển. Custine viết, thành phố
đã đón chào ông bằng dáng dấp cao sang, đường bệ, và đây là một trong
những kỳ quan của thế giới. Nhưng du khách chỉ cần đi hết đại lộ
Nevsky, nối liền trung tâm thành phố với khu ngoại vi, họ sẽ nhìn thấy
những khu dân cư nghèo nàn, dơ dáy của một Nga-xô khác. Quá xa nữa là
hướng đi của những chuyến xe thư, về những vùng Siberia, Kamchatka, Sa
Mạc Muối (the Salt Desert), Bắc Băng Dương (the Glacial Sea).
Custine nhận
xét, trong thành phố đó, một thành phố không một gốc rễ với đất đai,
lịch sử, luôn luôn bị đe dọa bởi thiên tai, hoặc sự trả thù của con
người, "tình trạng vây hãm" là chuyện bình thường của nó. Kỷ luật nhà
binh đè nặng lên người dân là một "sự êm ả ép buộc, một trật tự bề
ngoài... khủng khiếp, đáng sợ hơn cả tình trạng vô chính phủ"... "Bạn
nghĩ coi, những gì tôi nhìn thấy lớn lao quá nên không thực, đây là một
giấc mơ của một gã khổng lồ tương tư, được kể lại bởi một tên thi sĩ
khùng." Và đây là cảm tưởng đầu tiên của du khách khi giáp mặt thành
phố: một dàn dựng tuyệt vời, "chỉ để làm sân khấu cho một bi kịch thực,
khủng khiếp."
Thành phố đã
từng chứng kiến những bi kịch như vậy. Năm 1824, nó trải qua một trận
lũ lụt tàn bạo. Ngày 14 tháng Mười, năm sau, một nhóm sĩ quan làm cách
mạng đã làm mồi cho pháo binh tại công trường Senate, nơi có bức tượng
khổng lồ Peter Đại Đế mà nữ hoàng Catherine đã đặt nhà điêu khắc Pháp,
Falconet, hoàn thành.
Đây là một
trong những "quái vật" của Petersburg. Bức tượng kỵ sĩ đồng đứng trên
một cái bệ đá nặng trên 15 ngàn tấn, hàng ngàn người đã mất 3 năm di
chuyển nó từ một nơi cách xa thành phố 12 dặm. Đám sĩ quan nổi loạn tin
tưởng khi bắt buộc nhà vua phải chia sẻ quyền lực, họ có thể làm cho
Peter từ bỏ ý định Âu hóa và để ý đến những vấn đề ở trong nước. Biến
cố này đã được Puskhin ghi lại trong trường thi Kỵ sĩ Đồng, 1833. Mở
đầu là một ngợi ca vì vua và thủ đô của ông, bài thơ đột nhiên chuyển
giọng, kể lại thảm kịch của một viên chức nghèo, Yevgeny, đã mất những
người thân yêu trong trận lụt 1824. Như phát khùng vì nỗi nhớ thương,
anh nắm chặt tay chỉ về phía bức tượng ông vua, người đã xây dựng thành
phố trên mặt nước rồi bỏ chạy, bị dượt đuổi bởi chính "thần tượng" là
mình! Cuộc dượt đuổi cứ tiếp tục hằng đêm, và tiếng vó ngựa khủng khiếp
vang rền khắp những con phố hoang vắng. Khi anh tự hỏi, phải chăng anh
đang mơ, giấc mơ kinh hoàng là trận lũ lụt tàn bạo, thi sĩ ngắt lời
nhân vật của mình: Phải chăng đời sống chỉ là một giấc mơ rỗng tuếch,
một màn kịch tiếu lâm, được trình diễn với phí tổn của trời và đất?
Theo một nghĩa
nào đó, Hà-nội và Petersburg có chung một (hay nhiều?) kẻ thù: Xuyên
qua lịch sử của Hà-nội, kẻ thù của nó là những cơn lũ lụt khủng khiếp
của sông Hồng. Vì đọc cũng đã lâu, lại không có văn bản trong tay,
nhưng hình như trong Hà-nội trong mắt tôi của Phạm Xuân Đài, khi tác
giả ngồi trên máy bay nhìn xuống, dòng sông đẫm mầu phù sa cho ông cảm
tưởng đây là một khai mở, ouverture, của một bản giao hưởng. Khi viết
như vậy, không hiểu tác giả có liên tưởng tới những đoạn nhạc hùng
tráng của một trường ca sông Lô, sông Hồng thời kháng chiến chống Pháp,
hoặc bản trường ca xuyên suốt lịch sử trong cuộc chiến chống lại thiên
nhiên và con người. Nhưng hy vọng chăng, đây là một khai mở cho một
trường ca, khởi từ tâm trạng "lúc đó, tôi không hiểu tại sao, nhưng bây
giờ, tôi đã hiểu ra rồi".
Phạm Xuân Đài
có trong ông tất cả những huyền thoại về Hà-nội, và ông rất tự hào về
nó. Hà-nội trong mắt tôi có thể coi như một nơi chốn, một không
gian-thời gian, khi huyền thoại bắt tay thực tại. Cuộc hội ngộ không
đến nỗi ngỡ ngàng, và cũng thật cảm động. Tôi nghĩ nếu Nguyễn Tuân còn
sống, có thể ông cũng có phần nào tự hào: Trong Hà-nội... có chút thăng
hoa của phở, của thể văn tùy bút.
Tatyana
Tolstaya, trong một bài người viết tình cờ đọc đã lâu, khi còn ở Trại
Cấm, và chỉ được đọc qua bản dịch, Những Thời Ăn Thịt Người (đăng trên
tờ Thế Kỷ 21), cho rằng, chủ nghĩa Cộng-sản không phải từ trên trời rớt
xuống, cái tư duy chuyên chế không phải do Xô-viết bịa đặt ra, mà đã
nhô lên từ những tầng sâu hoang vắng của lịch sử Nga. Người dân Nga,
dưới thời Ivan Bạo Chúa, đã từng bảo nhau, người Nga không ăn, mà ăn
thịt lẫn nhau. Chính cái phần Á-châu man rợ đó đã được đưa lên làm giai
cấp nồng cốt xây dựng xã hội chủ nghĩa. Bà khẳng định, nếu không có sự
yểm trợ của nhân dân Nga, chế độ Stalin không thể sống dai như thế.
Puskhin đã từng van vái: Lạy Trời đừng bao giờ phải chứng kiến một cuộc
cách mạng Nga!
Bây giờ
đọc lại Phan Khôi, liệu chúng ta có thể hiểu ông nhiều hơn, khi không
giản lược câu chuyện ông kể, về Cỏ Cụ Hồ, chỉ là một cách xả xú báp của
một vị thâm nho, trước chế độ độc tài, theo suy nghĩ châm biếm, hài
hước là khí giới của kẻ yếu thế. Trong Nhân Văn Giai Phẩm, ông kể
chuyện Điện Biên, và sự xuất hiện một thứ cỏ tại vùng này. Cỏ nở hoa,
"không thể ngửi được". Người Miền Bắc gọi là hoa cứt lợn (heo). Nhưng
người dân Điện Biên vì thấy cỏ xuất hiện cùng lúc với quân đội Cộng
Sản, nên gọi là Cỏ Cụ Hồ.
Petersburg là
một thai đố từ chối mọi soi sáng, từ bất cứ một chủ thuyết tiến bộ, cho
dù phổ cập, thuần lý tới đâu. Những chủ thuyết trấn ngự thế kỷ 19.
Chính vì vậy, nó hớp hồn hai trong số những nhà văn thuộc loại đả phá
nhất thời đại, Dostoevsky và Alexander Herzen.
Theo Herzen,
không có cách chi để giải mã sự hiện hữu kỳ bí của một thành phố được
xây dựng trên một phần tử, phần tử này chắc chắn một ngày nào sẽ nuốt
chửng nó. Ông là đứa con của Moscow, một thành phố bám rễ vào lịch sử,
chẳng bao giờ phải âu lo hay thắc mắc về căn cước và những hoài vọng
của nó. Petersburg, đứa con của một ông vua, người đã nhân danh văn
minh để mà kìm kẹp xứ sở. Đây là niềm bí ẩn bi đát và cũng là đức hạnh
của Petersburg: Không nơi nào hơn chốn này, để chìm đắm suy tư về tình
trạng dở sống dở chết của con người hiện đại, bị vò xé vì phải trung
thành với những lý tưởng không sao hòa nhập. Herzen tới để ôm lấy thành
phố, "như thể tôi ngừng yêu Moscow, bởi vì nó không thể tạo nên thú đau
thương, sự tra tấn, hành hạ".
"Thành phố
trừu tượng nhất trên toàn thế giới", đó là lời Người Dưới Hầm của
Dostoevsky. Thành phố không gốc rễ đã trở thành một miếng đất mầu mỡ
nuôi dưỡng đám trí thức không gốc rễ, và Dostoevsky tin rằng ông là
người đầu tiên cảm nhận được ý nghĩa này. Thành phố là nền cho rất
nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của ông. Những nhân vật của ông, thường
phải đối đầu với những cơn sốt mộng mị, ảo giác do cái không khí bệnh
hoạn của vùng đất sũng nước, và họ cố tìm kiếm một cách vô vọng những
lề luật mới cho hiện hữu đạo đức, xã hội, trong một thế giới mà những
giá trị cũ không còn có thể áp dụng. Sống trong một tình trạng mê sảng
cao độ như thế, họ bắt đầu thù ghét thành phố mà những mâu thuẫn kỳ cục
như tấm gương phản chiếu phần âm u bên trong con người họ. Trong một
buổi sáng đầy sương mù, nhân vật trong Đầu Xanh Tuổi Trẻ (A Raw Youth)
bị săn đuổi bởi một giấc mơ kỳ lạ:
Nếu cái đám
sương mù này bốc hơi rồi thoát đi về mãi trên cao, nếu cả thành phố hư
ruỗng này bốc lên theo với nó, rồi tan thành mây, thành khói, còn lại
chăng, chỉ là một vùng đất sũng nước vốn xưa kia của Phần-lan, và để tô
điểm cho khung cảnh đó, là gã kỵ sĩ đồng trên con ngựa mệt nhoài, hắt
ra những hơi thở nóng bỏng.
Những điều
quái dị thấm đậm chất tiên tri: Bi kịch cách mạng Nga sẽ diễn ra trên
đường phố Petersburg. Vào năm 1881, Nga Hoàng Alexander II bị bom khủng
bố sát hại khi chiếc xe ngựa của ông chạy qua thành phố. Ngày 22 tháng
Giêng 1905, trong lúc cả nước Nga đang mấp mé bên bờ cách mạng, một
cuộc biểu tình của công nhân nổ ra tại Cung Điện Mùa Đông. Binh sĩ đã
nổ súng vào họ.
Phong trào
Tượng Trưng, thịnh hành giữa những năm cách mạng 1905 và 1917, bị chế
ngự bởi tinh thần Slavic, và giọng khải huyền. Thi sĩ A. Blok, một đứa
con của Petersburg, trông chờ sự hủy diệt thành phố của ông và văn hóa
ngoại lai của nó, như một sự tẩy uế quyết liệt, một sự trừng phạt do
sức mạnh quần chúng đòi hỏi. Trong cuốn tiểu thuyết siêu thực của
Andrei Bely, Petersburg, tiếng tích tắc của trái bom khủng bố bao trùm
lên mọi động tác của cuốn truyện, và thành phố là một "chiều thứ tư"
không hiện diện trên bất cứ một bản đồ nào.
Thực tại vượt
sức tưởng tượng thi ca. Chỉ vài tháng sau khi cuốn tiểu thuyết của Bely
xuất hiện, Petersburg được đặt tên lại là Petrograd, để thỏa mãn tình
cảm ái quốc, khi Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ. Hai năm sau, nó hết còn là
thủ đô Nga. Thành phố đổi tên một lần nữa, cùng với cái chết của Lênin
vào năm 1924. Việc đổi tên lần thứ nhì này được tầng lớp trí thức coi
như là một toan tính nhằm xóa mọi hồi tưởng về sự độc lập mang tính
truyền thống của họ. Stalin thi hành mọi biện pháp để hoàn tất, biến
thành phố thành mục tiêu khủng bố số một của ông. Những người sống sót
sau những đợt xử bắn, trục xuất hàng loạt của những năm 1930, trở thành
nạn nhân của Đức Quốc Xã, trong cuộc vây hãm thành phố, dài nhất trong
lịch sử hiện đại. Khi thành phố được giải tỏa 900 ngày sau, 3 phần 4
dân số bị huỷ diệt. Thành phố gần như không thể hồi sinh, một phần là
do chính sách tiếp tục trả thù của Stalin, và do sự phản động của Đảng
bộ địa phương. Nhưng vào những năm 1960, thành phố nở rộ, phần lớn là
trong tình trạng dưới hầm, những hoạt động văn chương, nghệ thuật.
Không giản dị chỉ là nuối tiếc, hoài nhớ, nhưng mà là tìm kiếm những
cội rễ văn hóa, gần như biệt tăm, bởi chủ nghĩa Stalin. Cuộc tìm kiếm
vẫn tiếp tục, cho tới nay, trong những cuộc tranh luận về ý nghĩa của
quá khứ thành phố. Cố tìm ra một văn hóa thực của Petersburg, khác biệt
với những giá trị chỉ dính dáng tới chế độ quân chủ, nhiều nhà trí thức
thành phố hy vọng tái xây dựng một ý nghĩa cho sự liên tục lịch sử,
đồng nhất quốc gia, ý hướng đạo đức.
Năm 1918, Blok
xuất bản trường thi 12 Vệ Binh Đỏ, thô bạo và hung dữ, chỉ với một ước
muốn trả thù tụi trưởng giả, đi giữa cơn bão tuyết trên đường phố
Petrograd, cướp và giết, được dẫn dắt bởi một sức mạnh vô hình. Ở đoạn
thơ cuối, bóng dáng Jesus Christ xuất hiện trong bộ đồ trắng dẫn đầu
đám người hung bạo. Blok coi việc Bôn-sê-vích nắm quyền, được "chúc
phúc" bởi Chúa. Nhưng ông là người đầu tiên gục ngã vì thất vọng, chết
năm 1921, vì "cơn suyễn tinh thần", chữ của Andrei Bely. Cùng trong
tháng, thi sĩ Nicolai Gumilev bị bắt về tội âm mưu chống Xô-viết, bị xử
bắn cùng với 6 người khác, (bây giờ người ta được biết, hồ sơ vụ án
hoàn toàn nguỵ tạo). Trong thập kỷ hậu-cách mạng tiếp theo, thành phố,
đã từng hân hoan đón chào sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại Nga, lúc này
chứng kiến một cái chết kéo dài vì nghẹt thở, của nó. Mayakovsky, nhà
thơ, nhà tiền phong, người cổ võ lớn lao nhất cho chế độ mới, tự sát
bằng súng vào năm 1930. Năm trước đó, Bakhtin bị bắt, trong một toan
tính của cảnh sát nhằm huỷ diệt các nhóm văn nghệ, triết học, tôn giáo
dưới hầm tại Petrograd. Nhà văn trẻ Konstantin Vaginov, thuộc nhóm
Bakhtin, kết luận: Đây là lúc để hạ màn. Cuộc trình diễn như vậy là
xong. Trên sàn diễn chỉ còn sự lặng câm, ngu ngơ, và hoang vắng. Đâu là
tình yêu đã được hứa hẹn, chủ nghĩa anh hùng, nghệ thuật đất hứa?
Đây là tiếng
nói của tinh thần Petersburg. Vaginov là một thành viên, trong dòng thử
nghiệm văn xuôi, tác phẩm của ông đã xuất hiện vào đầu những năm 1920.
Hầu như cả đám họ đều biết và học hỏi lẫn nhau. Có người đã từng là
trại viên "Căn nhà Nghệ thuật" do Gorky thành lập để giúp cho họ khỏi
chết đói những năm đầu chế độ. Đề tài chủ yếu của họ là St. Petersburg
- Leningrad. Họ tự đo lường, trước những bậc thầy của quá khứ. Trong số
đó có cả "the Serapion Brothers", một nhóm được thành lập vào năm 1921,
một thành viên là nhà châm biếm Mikhail Zoshchenko, người thừa hưởng
được văn phong của Gogol và của Dostoevsky khi còn trẻ, đã dám mô tả
con người mới Xô-viết, không phải là một anh hùng vô sản theo như huyền
thoại học của nhà nước, mà chỉ là một gã phàm tục, vô học, ngang ngạnh,
và tham lam. Những người thuộc dòng văn thơ xuôi mới này không cho phép
những viễn ảnh hồng của tương lai che mờ nhận thức đạo đức của hiện
tại. Yevgeny Zamyatin, trong một bài viết Tôi Sợ in trên một tờ báo ở
Petrograd vào năm 1921, đã tuyên bố, cái chủ nghĩa hình thức bợ đỡ, xu
nịnh này chỉ đẩy nhà văn tới sự im lặng. Văn chương thực, chỉ hiện hữu,
khi không do mấy anh thư ký ăn lương nhà nước, sản xuất theo kiểu kỹ
nghệ nhà máy, mà do những người điên, những thần bí gia, những kẻ dị
giáo, những mơ mộng gia, những người nổi loạn, và những người bi quan
yếm thế. Sự phản đối của ông thật đáng kể, vì thế giá cách mạng của
ông, người đã từng là đảng viên Bôn-sê-vích. Trong cùng năm ông hoàn
thành tác phẩm chống-không tưởng, Chúng Tôi, cuốn này đã gợi hứng cho
1984 của Orwell. Tác phẩm chỉ lưu truyền qua dạng bản thảo, và khi nó
xuất hiện trên một đặc san lưu vong, tác giả không được phép in ấn gì
nữa, tại Nga. Năm 1931, ông viết thư cho Stalin xin phép xuất ngoại,
"như vậy tôi có thể trở về quê hương, sớm chừng nào tốt chừng đó, cho
văn chương, để phục vụ những tư tưởng lớn lao, mà không phải bò trước
những người nhỏ bé". Kỳ diệu thay, đơn của ông được chấp thuận.
Pho tượng
Peter, và trận lụt khủng khiếp thường được sử dụng như những ẩn dụ
trong văn xuôi những năm 1920. Trận lụt trước (1824) và trận lụt 100
năm sau đó, trùng với việc thành phố đổi tên cùng với cái chết của
Lênin (1924), Volkov, tác giả cuốn sách đã nói ở trên đưa ra nhận xét,
từ những mốc thời gian, biến cố lập lại như vậy, thành phố đã được miêu
tả như một con thuyền của những người chết, lang thang vất vưởng giữa
hai bờ tử sinh.
Herzen đưa ra
nhận xét, đại khái, Petersburg tẩm vào người dân của nó một "chất độc",
gây cơn sốt thường trực, về thể chất cũng như về tinh thần. Một hiện
hữu nóng bỏng, và cái giá của nó là một cái chết trẻ. Nhiều nhà văn của
Leningrad đã trả giá như vậy. Người thì chết trong tù. Tình trạng bỏ
chạy ra nước ngoài không rầm rộ nhưng âm ỉ kéo dài suốt những năm 20.
Những người ở lại đã phải đối diện với sự chọn lựa giữa sự nghẹt thở về
tinh thần hay huỷ diệt thân xác. Nhưng một số trong họ vẫn cố giữ nhân
cách, sự trung thực, và cố ghi lại thực tại quái đản là "Cuộc Khủng Bố
của Stalin". Chẳng có chi là trùng hợp, những người nổi tiếng nhất
trong số họ đều có gốc rễ văn hóa những năm tiền-cách mạng tại
Petersburg. Nữ thi sĩ Akhmatova, và nhà soạn nhạc Shostakovich, đã biến
đổi thành phố thành một biểu tượng cho số mệnh bi đát, và hy vọng hồi
sinh của nước Nga.
Shostakovich
vào Viện Âm Nhạc Petrograd năm 1919 khi ông 13 tuổi, và là một trong
những học trò xuất sắc nhất về soạn nhạc của trường Petersburg. Ông
cũng đam mê không khí văn chương của thành phố. Vở opera đầu tiên của
ông, Cái Mũi, dựa theo một chuyện kể phi lý của Gogol về cái mũi của
một nhân viên, rời chủ của nó để sống một cuộc sống tự lập, cuối cùng
bị cảnh sát bắt. Vở opera có thể được thưởng thức như là một câu chuyện
châm biếm về quyền lực và nỗi sợ do nó gây nên. Vào năm 1936, Stalin đi
dự một buổi trình diễn vở opera của ông Phu nhân Macbeth ở Quận
Mtsensk, và tỏ vẻ bực bội, dấu hiệu mở đầu chiến dịch dữ dội của Đảng
nhằm chống lại mọi hình thức nghệ thuật đi ra ngoài dòng hiện thực xã
hội chủ nghĩa. Leningrad trở thành mục tiêu đầu tiên của "Đại Khủng
Bố". Sau vụ ám sát Kirov, trùm đảng bộ Leningrad (1934), có thể là do
Stalin, nhằm có cớ cho cuộc thanh trừng những phần tử đối lập trong
thành phố, những cuộc bắt bớ hàng loạt đã diễn ra. Shostakovich đã khéo
léo lắm mới thoát khỏi, và vẫn giữ được sự trung thực. Trong một cuộc
phỏng vấn, ông tuyên bố Bản Giao Hưởng Thứ Năm, được trình diễn lần
đầu, tháng Mười Một 1937, là về "một người đàn ông với những cảm nghĩ
của anh ta", nhưng những khán thính giả cắt nghĩa, đây là một tác phẩm
về Khủng Bố. Tất cả đều biết rằng, chỉ lát nữa sau khi ra khỏi rạp, một
vài người trong số họ sẽ bị ném vào tù, hay bị xử tử. Bản Giao Hưởng
Thứ Bẩy, viết để tặng những người dân thành phố bị quân đội Đức vây
hãm, được trình diễn lần thứ nhất tại đây vào tháng Tám 1942, trước một
đám thính giả, lả vì đói và lạnh. Được truyền thanh khắp nước Nga và
được Stalin khôn khéo sử dụng, như một bằng chứng về tinh thần yêu nước
của người dân Leningrad, nhưng tác giả của nó đã tâm sự với một số bạn
thân, bản giao hưởng không chỉ là một cáo trạng đối với chủ nghĩa phát
xít, mà đối với mọi chủ nghĩa đàn áp. Âm nhạc của ông đã kết tinh hình
ảnh mới của thành phố, như là một nạn nhân. Đây là điều Akhmatova đã
làm, trong những vần thơ dưới hầm của bà.
Akhmatova đã
nhìn Petersburg như Nữ Thần Thi Ca của bà, "được yêu bởi tình yêu cay
đắng". Bà đã nhìn ra sự huỷ diệt văn hóa của nó sẽ dẫn tới sự man rợ.
Tuy nhiên bà không chấp nhận chạy ra nước ngoài sau cách mạng, và đã có
những lời lẽ thật cứng rắn đối với những người ra đi: "Tôi không về
phía những người đã rời bỏ đất này/ để cho kẻ thù tàn phá/ Tôi không
thèm để ý đến những lời ca ngợi giả dối nham nhúa của họ/ những bài ca
của tôi không phải để cho họ". Nhưng không như Mayakovsky, bà cũng
chẳng hề ngợi ca những người cầm quyền mới của nước Nga. Những Năm của
Chúa, Anno Domini, tập thơ của thời kỳ 1917-1921, ngoài những bài nói
về những biến cố lớn lao, còn đề cập tới những tình cảm riêng tư - thảm
kịch tình yêu, ghen tuông, và phản bội - được phô bầy trong khi cả
thành phố xôn xao vì những tin đồn ghê rợn, và thần chết có thể gõ cửa
từng nhà bất cứ lúc nào. Bị hằn học chỉ trích là thiếu niềm "lạc quan
xã hội chủ nghĩa", Akhmatova đã rút lui vào im lặng trong nhiều năm.
Theo đám phê bình gia độc miệng, bà sinh ra quá trễ, và chưa (đủ) chết
sớm. Nhưng bà cảm nhận, thời của bà chưa tới. Và bài thơ đầu của "thời
của bà" gửi cho Những Công Dân Bạn Bè Của Tôi đã tận cùng bằng những
dòng: Một Thời Gian Khác đang tới gần/ trận gió của cái chết làm lạnh
tim/ nhưng thành phố thiêng liêng của Peter/ sẽ là đài tưởng niệm không
mong muốn của chúng ta. Mười năm sau đó, bà phá vỡ sự im lặng bằng
những dòng Kinh Cầu Hồn. Đây là một tác phẩm nghệ thuật lớn lao vĩ đại
nhất về Khủng Bố. Đề tài của nó là những năm tháng Leningrad "treo như
một vật thừa thãi quanh nhà tù của nó", bên ngoài những bức tường nhà
tù, đàn bà xếp hàng dài mỗi ngày, hy vọng gửi đồ hoặc nhận được tin về
số phận của thân nhân. Akhmatova đã từng đứng đó, trong 17 tháng trời
khi con trai của bà bị bắt giữ và sau bị đầy đi trại cưỡng bức lao
động. Như một thi sĩ, qua cái miệng bị tra tấn của người đó, hàng trăm
triệu con người than khóc, bà đã ghi nhận chuyện từng ngày của những
năm tháng khủng khiếp. Thật nguy hiểm khi viết ra bài thơ. Trên 5 năm
trời, bài thơ được ghi vội vào những mẩu giấy nhỏ, được ghi vào ký ức
của những người bạn tin cẩn, rồi đốt bỏ những mẩu giấy. Trở thành mục
tiêu chiến dịch khủng bố mang tính ý thức hệ, do Stalin đề xướng vào
năm 1946, bà bị đối xử tàn tệ đến khi Stalin chết.
Như tất cả
những tác phẩm lớn của văn hóa Petersburg, Kinh Cầu là sáng tạo của một
nghệ sĩ mà sự đồng nhất với thành phố là tổng hợp của rất nhiều tình
cảm hỗn độn. Joseph Brodsky, một đứa con khác của thành phố, đã có lần
đưa ra nhận xét, Petersburg đẻ ra một nền văn chương được đánh dấu bởi
sự "âu lo, như thể nó được viết ra từ mép bờ trái đất. Và nếu có thể
đưa ra một quan niệm chung, một âm điệu nào đó, thì đó là sự vong
thân".
Tôi trở lại thành
phố của tôi, thân quen với những dòng lệ,
với cơn đau thịt thừa trong cổ họng thuở ấu thơ, và chứng chướng tĩnh
mạch
Bạn đã trở về đây - vậy thì hãy nuốt
dầu đèn phố Leningrad
Hãy nhận ra bây giờ ngày tháng Chạp mù sương...
Petersburg, tôi chưa muốn chết
Tôi có số điện thoại của bạn ở trong đầu
Petersburg, tôi vẫn có những địa chỉ, tại đó, tôi sẽ tìm ra tiếng nói
của những người đã chết...
(Osip Mandelstam, Leningrad)
Và Kinh Cầu
của Akhmatova tận cùng bằng những dòng:
...nơi tôi kéo lê
300 giờ đồng hồ
sắp hàng trước song sắt.
Và từ trong hốc mắt bất động của tôi, có thể tuyết đông, như những giọt
lệ,
từ từ nhỏ xuống,
một con chim bồ câu nhà tù gù gù đâu đó, gù gù,
gù gù
trong khi những con tầu từ từ xuôi dòng Neva.
Như một người
ghi lại Cuộc Khủng Bố, sự quan trọng của Akhmatova không phải chỉ vì bà
đã có khả năng tạo nên lòng xót thương đối với những nạn nhân, nhưng,
bằng sức mạnh mang chất Dostoevsky, bà đã sử dụng thực tại cụ thể của
thành phố để chuyên chở sự tầm phào của cái ác (the banality of evil),
một điều mà những bạn đường của bà cố gắng chứng thực, nhân danh những
thành quả lịch sử lớn lao. Trong một thành phố, nơi người chết mỉm
cười, sung sướng vì sau cùng đã được bình an, nơi người sống "hơi thở
thua người chết, hình hài thân xác thua đám sương mù trên thành phố...."
NQT
Một anh bạn văn, ít tuổi hơn,
ra đi từ Miền Bắc, đọc bài này, thú quá,
nói, bài viết nào của anh cũng có tí chính trị ở trong đó, và đều nhắm
gửi cho một nơi chốn nào đó, ở Việt Nam. Bài viết này là gửi cho những
người ở Hà Nội. Nơi người chết mỉm cười là... Hà Nội!
Một nhà văn,
cũng ra đi từ miền bắc, rất nổi tiếng tại khu vực Đông Âu, [Gấu không
tiện nêu tên ở đây], nhân một lần gọi điện thoại chúc Tết tờ Văn Học,
và ông chủ nhiệm của nó, NMG, đã khen Gấu, 'tay này làm được một cuộc
hôn phối giữa chính trị và văn chương'!
NMG kể lại cho Gấu nghe, còn xuýt xoa giùm cho ông bạn văn, về tiền
cước của cú điện thoại! Khoảng 1997, thời gian Gấu ở
Vancouver.
Nhân đây, xin gửi lời cảm tạ, tuy thật là muộn màng, về lời khen tặng
thật là quá cỡ
thợ mộc, như trên.
Thân kính, NQT
Một lần một nữ tác giả, cũng ra đi từ miền Bắc, mail, khen, sao chọn
được cái tít hay thế.
Gấu mail trả lời, cái tít đó đâu phải của Hai Lúa, mà là của Akhmatova.
Lạ một điều là, sau đó, bà cho ra lò một tác phẩm, tên tác phẩm, là
từ... Akhmatova mà ra. Chắc chắn bà không thể ngờ được điều này.
Rồi một nữ tác giả khác, giới thiệu truyện dài này, trên một trang net,
cũng nhắc tới, đúng ngay cái từ của Akhmatova!
Theo Gấu, đây là những đồng cảm, những đồng thanh tương ứng, những tri
âm tri kỷ.
Và có thể, những xúc động của nữ thi sĩ Nga, về thời của bà, cũng tương
tự như của "người nhà của mình"!
As
though, in
night's terrible mirror
Man,
raving, denied
his image
And
tried to disappear
[Như thể, trong tấm gương kinh hoàng của đêm đen
Con người, rồ dại, chối bỏ hình ảnh của mình
Và ráng sức biến mất]
Akhmatova
The
human face disappeared and also its divine
image. In the classical world a slave was called aprosopos, 'faceless'; litteraly,
one who cannot to be seen. The Bolsheviks gloried in facelessness.
[Mặt người
biến mất và hình ảnh thánh thiện của nó cũng mất theo. Cổ
xưa, kẻ nô lệ bị gọi là aprosopos,
'không mặt'; kẻ không thể bị nhìn thấy. Người CS hãnh diện, thời của
chúng tao là thời không mặt.]
D.M. Thomas: Alexander
Solzhenitsyn,
Một thế kỷ ở trong ta.
"Cái nước mình
nó thế"
Đèn đuốc ư,
dẹp mẹ nó đi! Đêm rồi.
And take away
the lanterns. Night.
Akhmatova:
Requiem, Kinh Cầu.
Thời Không
Mặt
Gió
Từ Thời Khuất Mặt
*
Faulkner
đi đâu cũng kè kè, chỉ hai thứ, Thánh Kinh và Shakespeare.
Viết xong cuốn
sách, không làm sao kiếm được cái tít. Và bất thình
lình, từ trong tiềm thức, bật ra một câu, của Shakespeare:
Đây là
một câu
chuyện được kể bởi một tên khùng,
Đầy âm
thanh cuồng
nộ và chẳng có nghĩa gì hết.
Thế là chàng
bèn chôm ngay lấy và đặt tên cho nó là Âm Thanh và Cuồng
Nộ.
|
|