Lê Minh Hà
Gió
tự
thời khuất mặt
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em
không đi hết những ngày đắm say
Thời hoa đỏ - Thanh Tùng
Cho một Hà Nội nhọc nhằn mà dịu dàng, một Hà Nội
thiếu mà vẫn đủ,
những mùa xanh xưa chúng ta
Anh có thấy trẻ con chạy sau buổi tan
trường trên phố ngập
nắng?
Buổi chiều đông hết lạnh
Những chiếc bóng nhỏ bé chạy xôn xao
trên đường
Bụi bợn lên từ những gót chân ríu rít
Tôi có cảm tưởng chúng đang chuyển
động trong một nhịp trống
vô hình
một nhịp trống náo nức
Một ý nghĩ về hạnh phúc le lói rồi
sáng bừng
Bầy trẻ nhỏ vô tư
Anh có thấy trẻ con chạy sau buổi
trường trên phố ngập nắng?
Nghĩa
- 1983
1.
Nơi ấy,
con bé con trở thành thiếu nữ. Qua
những tháng ngày đứt đoạn. Rồi thành đàn bà.
Nơi ấy xa
rồi và người đàn bà trẻ con nhớ
mãi. Nhớ. Và biết rằng mình sẽ không tìm về. Nơi chốn là để đi xa quay
về trong
hồi ức. Nếu tìm về bằng bước mỏi, nơi chốn có còn thân thuộc nữa không?
Nơi ấy
ngày xưa thơm mùi sen ổi là một ngõ
vắng dẫn thẳng vào khu tập thể gồm phần lớn gia đình văn hóa mới, có
chứng nhận
đóng dấu phát hàng năm. Một cái cổng đồ sộ bằng sắt hàn hoa lá cành
thường
xuyên được gia cố, cánh nhỏ mở, ra vào tự do không kiểm soát, cánh lớn
luôn
khóa chặt giống như mọi cánh cổng liên quan tới những nơi quyền chức từ
bấy đến
giờ. Cư dân trong khu thì ra vào qua cánh cổng nhỏ luôn luôn mở. Đã có
lần một
ông cán bộ cao cấp có tiêu chuẩn Volga
hứng
chí cho anh lái xe nghỉ, tự mình ngồi sau tay lái đưa vợ tới thăm một
người bà
con sống ở đó. Anh thường trực cung kính nép bên cánh cổng nhỏ mời bà
vợ oai
phong lẫm lẫm vào, còn ông chồng cao cấp của bà thì được đá mắt hừm hừm
kèm lời
dặn: 'Anh ngồi ngoài trông xe chờ đồng chí đây không nhỡ trẻ con nó tắt
mắt thì
chúng tôi không chịu trách nhiệm.' Cuộc viếng thăm đó đã trở thành một
huyền
thoại của ngõ, được kể tới tận bây giờ, khi mà cánh cổng cũ đã được
tháo bỏ (có
lệnh hay tự động thì cư dân không một ai biết). Ngày gặp mặt cán bộ
công nhân
hưu trí, ông thường trực cũ mắt đã đục đục, bộ còm lê si đa mua đâu đó
trên mạn
Quốc Tử Giám, giật giật mấy ngón tay ông bạn già hỏi thăm về ông khách
cốp dạo
nào. 'Khổ. Nào tôi có biết. Thấy bà ấy bảo gì ông ấy cũng nghe, lại nữa
là ông
ấy tự lái xe... May gặp ông ấy không để bụng chứ hôm ấy thì tôi hoảng
quá...
ông ấy mất rồi à... Khổ...'
*.
Huyền thoại dĩ
nhiên để nghe mà nửa tin nửa
ngờ. Bọn trẻ bây giờ phóng xe ào ào vào ra cái ngõ chật hàng ngày theo
châm
ngôn 'đi xe xịn là để người tránh chứ đâu phải để tránh người' không
hoài hơi
tìm hiểu những huyền thoại kiểu như thế, cũng như những điều kiện tinh
thần vật
chất làm nảy sinh huyền thoại, chẳng hạn sự tồn tại (không biết để làm
gì) của
một cái cổng có thật và một ông thường trực có thật một thời. Cũng có
thật một
thời: vườn hoa giữa khu tập thể, tiếng bóng chuyền vang rất xa những
chiều hè
đầy nắng, những bông sen với mùi hương có thể làm người ta đêm về bay
lên được
trong bóng tối dày đặc đầy hăm dọa bởi tiếng còi báo động quen thuộc mà
bao giờ
cũng đột ngột.
Không có ai từ
nơi đó thúc nhau 'đi đi đi
đi'. Không có ai từ nơi đó gọi nhau 'về đi về đi'. Người ra ra vào vào
cánh
cổng vô hình xưa, thân yêu thì hồ hởi chào nhau, hỏi giá mớ rau con cá
vừa mua.
Mà ghét nhau, vừa cãi chửi nhau thì cũng cố làm sao để 'con mặt ... kia
...
thằng mặt ... kia' biết nỗi khinh bỉ đang chực bục ra, nhưng nếu có bục
ra ở
đây thì cũng không bị lên án là kẻ chấp nhặt và gây sự...
Người
đàn bà trẻ con đã đi đi về về bao
nhiêu năm qua cái ngõ nhỏ đầy ứ chuyện vặt vãnh của thế gian này. Bên
kia
đường, trấn ngay trước cửa một nhà hộ sinh, cây đa già tỏa bóng xuống
những bà
ộ ệ đi vào và khép nép đi ra, nào khăn nào nón, đùm đùm gói gói, mặt
mũi vừa võ
vàng vừa bủng beo, nhưng mắt thì cứ sáng rực. Tia sáng đó thường chỉ
thấy ở mắt
người vừa sống lại. Không phải lúc nào họ cũng hớn ha hớn hở cái vẻ đàn
bà ấy.
Có những người đi vào một mình, đi ra một mình, mặt cúi gầm, bước dấn
về phía
phố và tia nhìn của họ không hòa được vào ánh ngày rất rực rỡ nơi này,
khoan
thủng mặt đất lầm lỳ, làm tim người đàn bà trẻ con buốt nhói. Khi đó
Ngân
thường thu mình nhìn lên vòm đa cổ thụ, lắng nghe tiếng gió, giống như
tiếng
thở dài an ủi mà người đời có thể cho nhau.
Đã một lần, Ngân đã nhìn, đã ngóng một
người con gái từ nơi
ấy. Người con gái gầy guộc, mặt vàng như nghệ, ôm một bọc nhỏ cúi đầu
bước ra
khỏi cổng nhà hộ sinh. Cây đa già chao cả vòm lá trên đầu gọi gió.
Tiếng gió lá
rì rào, như một hơi thở nhẹ, êm dịu, bất thường vào cái ngày tháng bảy
vừa sáng
đã hầm hập. Cô gái ngửa mặt. Đôi mắt cô ứ đầy nước và cô mỉm cười. Từ
bên đường
bước vội sang một cô gái khác. Họ trao nhau cái bọc, từ đó thoát ra
tiếng oe oe
non dại. Họ dìu nhau đi vào ngõ, đầu ngẩng cao, bất chấp những đôi mắt
từ các
hàng quán hai bên ngõ chú mục. Có một bà nạ dòng từ trong đó lao ra
giằng lấy
cái bọc đùm đứa bé, chửi bới cô gái ầm ỹ. Một bà khác cũng lao ra. Hai
người
đàn bà trẻ chỉ né người, bình thản đi tiếp. Tại sao lúc đó người đàn bà
trẻ con
lại nghĩ rằng con đường dẫn từ cái cổng chỗ mình đang đứng sang cái
cổng bên
đường rất dài, dài sang tới kiếp sau của mình và của họ.
*.
Sống
hết nửa đời, người đàn bà trẻ con vẫn
không tin hẳn được vào những điều linh thiêng vốn mờ mịt với con người.
Cũng vì
thế mà Ngân thường chả mấy khi để ý tới mùi hương khói xộc sực nức
quanh gốc đa
già. Xứ sở này vốn chuộng những điều bí hiểm. Nếu không có thì người ta
sẽ tự
tạo. Nên đền miễu bị triệt từ năm này qua năm khác mà còn nguyên đó. '
Thần cây
đa ma cây gạo.' Bao nhiêu chiều hè đi rông ngoài phố, bọn Ngân đã lẻn
ra sau
gốc đa, tụt quần tè tồ tồ, rồi sau đó sợ mất mật khi bị bọn lớn hơn
khuyên bảo
một cách đầy nghiêm trọng. Nhưng ngay cả trong giấc mơ dễ bị hù dọa của
con trẻ
khi đó Ngân cũng chưa từng yết kiến vị thần đã lấy thân cây đa già làm
nơi trú
ngụ. Mà ma, có thật sao? Chỉ nhớ lâu lắm lắm rồi, năm sáu kế hoạch năm
năm rồi,
một đêm kia có người đàn bà mang đến đặt giữa rễ cái rễ con của cây đa
già một
bọc nhỏ chỉ còn hơi âm ấm và hoàn toàn câm lặng. Nếu tính thời khắc
theo giờ
làm việc của rất đông người khi đó thì đấy là giữa ca ba. Những người
quét
đường còn đang rê chổi đoạn đầu phố, phải tảng sáng hoặc muộn hơn họ
mới tới
được nơi này. Người đàn bà ra đi không dùng dằng. Nhưng chị ta đã khóc,
khóc
nhiều lắm, trước và sau khi từ bỏ cơ quan mà chị ta đã làm việc mấy năm
trời,
khóc khi một mình lăn lộn bên rệ đê làng Thanh Nhàn, cái làng mà dân cư
của nó
khi đó toàn những kẻ cả đời không biết tới chữ thanh nhàn, khóc lúc
tỉnh dậy
thấy bên cạnh mình là đứa bé vẫn dính với mình bằng một sợi thịt da
định mệnh.
Chị ta sẽ còn phải khóc nhiều nữa, khi đã trở thành một bà lão bệ vệ và
lắm của
chìm, rất được ông chồng đang lên như diều thì bị hất về hưu sớm và
những đứa
con ngoan ngoãn giỏi làm ăn kính yêu. Nhưng đấy là chuyện của bây giờ.
Còn lúc
đó...
Ngân vừa
nói chuyện ma. Đấy là một sự kiện
trọng đại của cư dân trong và quanh quanh cái ngõ Ngân sống. Phải, nếu
có thì
con ma nhỏ đó nay cũng đã thành một ma luống tuổi. Đứa bé đó cứ lạnh
buốt dần
đi giữa những rễ cái và rễ con của cây đa già. Tảng sáng, lúc bà lão
bán xôi
thường ngồi sát tường nhà hộ sinh phát hiện ra thì đứa bé chỉ còn là
một hình
người bé bỏng bầm tím. Cái linh hồn bé nhỏ đó nấn ná hồi lâu quanh mấy
cái tã
cái chăn cũ cũ rồi bay lên lẩn vào vòm lá, nhìn xuống đám người đang
lao xao
thương cảm và chì chiết, buồn bã thở dài. Đấy là một tiếng thở dài kỳ
dị, rất
kỳ dị, không chứa ẩn một chút nào sự thoả mãn bé thơ. Đau đớn. Rồi nó
bay đi.
Không bao giờ nó trở về.
Nhưng mà
từ đó dưới gốc đa bắt đầu một cuộc
sống khác. Bà lão bán xôi đặt nơi thằng bé bị lỗi giờ sinh một bát
hương. Những
buổi sáng tiếp theo bà đều cắm vào đó một nén hương và đặt bên cạnh một
bát
xôi. Bát xôi đó, khi đã hết hàng, bà sẽ nhẩn nha gảy gảy tàn than và
ngồi nhai
chậm rãi cho đến hết trước khi cất gánh lên vai về nhà. Có vẻ như từ
hôm đó bà
thường bán hết hàng sớm. Không biết vì sao, một sớm kia bà thôi bán
xôi, chuyển
sang bán vàng hương, cũng ở chỗ đó, và bảo rằng thánh khiến bà. Thánh,
theo
cách giải thích rối mù mà hết sức đơn giản của bà, chính là đứa bé, nay
đã được
sung vào đội ngũ những ông hoàng.
Bà lão sai một
thằng cháu đóng cái hòm gỗ,
sơn đúng màu sơn quan tài loại ba mậu dịch bán căn cứ vào giấy chứng
tử, chất
đầy ở một cái phố nhỏ gần gần đó. Thằng cháu phát huy trí tuệ cho xứng
với đồng
bạc tương đương năm bát phở gà của bà, đóng đinh treo cái hòm lên thân
cây, chỗ
có cái chạc ba đầu tiên, thỉnh bát hương đã ấm chân vào đó rồi dùng vôi
ăn cắp
ở công trường gần nhà quét một vệt trắng lốp từ đó xuống tới gốc. Thật
không
ngờ rằng chỉ một cái hòm đỏ nhỉnh nhỉnh hơn tổ chim bồ câu như thế đủ
để đánh
thức lại cả một niềm tin tưởng ngỡ đã chết từ lâu lắm trong lòng dân
chúng.
Người ta đổ xô tới khấn vái, bát hương đặt cao quá không cắm được thì
họ cắm
hương thẳng vào mặt đất, giữa rễ cái rễ con. Những bà chửa đi đẻ thắp
hương
trước lúc còn chưa khóc mếu vì đau. Người nhà họ hớt hải chạy ra thắp
hương khi
những cơn đau kia đã tới mức bất bình thường. Những bà bán hàng trong
cái chợ
gần đó đều đặn khấn vái nhoay nhoáy trước lúc mở hàng. Những ông mặc
thế sự
xoay vần, cứ tiếp tục các lễ nghi cúng quảy để xin thánh thần đừng rời
bỏ đất
nước này mà đi hết. Người ta xin phù hộ và người ta lễ tạ, đông nhất là
vào rằm
mồng một, chen chúc nhau, huých mông thụi ngực nhau, lườm nguýt nhau
trong
khoảng cách từ gốc cây cho tới bờ tường nhà hộ sinh. Hoàn toàn công
khai, bởi
ngôi nhà sát nhà hộ sinh khi đó là một xưởng chế biến mì sợi và mỗi
sáng bà chủ
xưởng cũng rất thành tâm vái gốc đa đều đều. Sau này, khi hết chiến
tranh, bột
mì viện trợ không còn và xưởng chế biến mì sợi phải đóng cửa, nhà xưởng
trở
thành trụ sở công an phường thì mọi sự cũng có khác đi. Nhưng còn lâu
mới tới
khoảng thời gian đó...
*.
Một
cách ngẫu nhiên, người đàn bà trẻ con
phát hiện ra mình luôn luôn khai không đúng địa chỉ. Cứ như trời xui,
tất cả cư
dân trong ngõ ai cũng như ai đều một mực nói mình ở Cây đa nhà bò.
Nghĩa là bên
này đường. Nghĩa là ở trong nhà hộ sinh. Hình như Ngân đã đỏ hết mức có
thể đỏ
khuôn mặt mình khi đọc trong cái cười của anh bạn mới quen một sự nghi
ngờ đùa
cợt không xứng đáng. Đấy chính là dấu hiệu đầu tiên cho thấy mối quan
hệ của họ
không thể khai thông được, mặc dù cả hai đều trẻ, đều vân vân và nói
tóm lại là
đẹp đôi. Vào những năm tháng ấy không thể có chuyện một cô gái chưa
chồng điềm
nhiên đi qua gốc đa bước vào cổng nhà hộ sinh nếu không có một lý do
chính đáng
liên quan tới một người khác có lý do chính đáng để vào ra nơi đó: một
bà chị
ruột của mình hoặc của bạn, một bà chị họ, một cô em, hay bà mẹ (ví dụ
thế) đi
đẻ.
Thực ra
thì cả khu tập thể của Ngân có cùng
một số nhà, như mọi số nhà khác. Đấy là một trong những khu tập thể đầu
tiên
được xây dựng sau ngày hoà bình lập lại ở Hà Nội. Không phải là một khu
dân cư
chung chung mà là khu tập thể của một nhà máy. Ba dãy nhà cao tầng cách
nhau
những khoảng sân rộng thênh thang và những vườn hoa to như một góc công
viên.
Tất cả các căn phòng đầu tầng đều rộng gấp đôi các căn phòng khác. Theo
như
cách người ta hình dung về một cuộc sống chung đầy lý thú thì đó sẽ là
nơi sinh
hoạt văn hóa của cư dân trong tầng, đọc sách chẳng hạn, đánh bóng bàn
chẳng
hạn. Trong những tiểu thuyết Liên Xô được hào hứng dịch và đọc thời ấy
thì căn
phòng đó sẽ được gọi là Góc đỏ. Những cái cống lộ thiên chạy xung quanh
mỗi
ngôi nhà bao giờ cũng khô rang và không một cọng rác vào ngày nắng ráo.
Ngày
mưa, nước theo đó chảy ồ ồ xuống cống cái. Không bao giờ khu tập thể bị
ngập,
ngay cả lúc đầu kia thành phố dân chúng bì bõm lội trong nước dâng như
lũ trên
phố. Những cái ghế cho trọng tài ngồi thổi còi cầm chịch mỗi trận đấu
bóng giao
hữu giữa cư dân trong khu hay giữa đội bóng của nhà máy với các đội
bóng khác
trong thành phố luôn được gia cố. Hầu hết mọi nhà đều sống gần như cùng
một
nhịp ăn, làm, chơi. Cũng có đôi ba gia đình có một nhịp sống khác khiến
mọi
người vừa nghi ngại vừa ganh tị. Nhưng họ là thiểu số, một thiểu số
hãnh diện
song vẫn phải tìm mọi cách che giấu mình.
*.
Cô gái mới vượt cạn
một mình kia không
thuộc thế hệ những
đứa trẻ đầu tiên có mặt trong khu tập thể. Những đứa trẻ đó, sinh sau
ngày hòa
bình lập lại, lúc bố mẹ đang phấn chấn vì căn phòng tập thể mới được
phân và
tất cả có một đặc điểm chung: thường mang những cái tên trùng lặp và
người ta
phải phân biệt lũ trẻ bằng cách gọi ghép tên người sinh thành ra chúng.
Rất
nhiều Quyết; Chiến; Thắng; Hòa; Bình; Hồng; Hà; Quang; Minh; Nam;
Trường;
Sơn... Những cái tên không hề luôm nhuôm, còn nhuốm chút gì đó quê quê,
song
buổi chiều khi các ông bố bà mẹ cao giọng gọi con về tắm táp cơm nước
là thấy đã
hừng hực tinh thần thời đại.
Người đàn bà thuộc
thế hệ trẻ con đó,
thế hệ đã từng chứng
kiến mà không hề biết cái phút quyết định sinh tử của cuộc đời cô gái
vừa vượt
cạn. Lúc cô mới chỉ là một mầm sống...
*.
Buổi sáng -
trong
sương mù hiện ra những lá vàng non
đầu tiên
Em có nhớ tình thu
ngày xưa?
Ta vẫn nhớ tình thu ngày xưa
Không ai biết tình thu ngày sau
Trong không khí
Một chiếc lá vàng non nhói sáng.
2.
Đêm đã thở
một hơi dài mát mẻ vào buổi chiều hè ít gió. Phố lên đèn. Những bóng
đèn không
có chụp lung lay trên những sợi dây điện chăng dọc ngang thành phố như
một tấm
mạng nhện khổng lồ. Thế nhưng khu tập thể vẫn âm thầm tối. Vẫn chưa có
điện.
Những người đàn bà đang chầu hẫu chờ đợi bên mấy cái máy nước công cộng
nước
chảy bé như đầu đũa rên rỉ. Thỉnh thoảng lại có tiếng ré lên của một bà
nào đấy
khi bị mấy ông tắm gần đó dội bắn nước vào. Bà gầy nhăng nhẳng than thở:
- Nóng bức thế này mà nhà ăn hôm nay
không làm cho chảo nước
rau muống luộc cho mát ruột. Cơm chiều mấy đứa nhỏ tha về, nhìn thấy
bát canh
bí đỏ đã bứ cả cổ. Chan húp trệu trạo được vài ba miếng là buông đũa.
Bóng tối chụp lấy mấy người đàn bà.
Tiếng một cô tre trẻ:
- Em dặn con bé đặt nồi chè đỗ đen. Mà
quên không đóng lò
mùn cưa trước. Cháu nó tự làm, lỏng tay, nồi chè chưa nhừ lò đã sụp. Nó
không
biết tương ngay đường vào, thế là đỗ bị lại.. Còn lạng đường ướt mua
vội vàng
hôm rồi sợ hết hạn. Đỗ một nơi đường một nẻo. Bỏ thương vương tội...
cũng cố
húp cho khỏi phí của trời
- Còn không?
Nhà này còn khúc đá. Tôi ủ mùn cưa chưa chảy hết đâu. Bảo nó sang lấy
về mà ăn
chè. Mùa này chỉ nước chanh hay đỗ đen đá là chơi được. Nóng thế này ăn
gì cũng
như nhai trấu.
- Không ăn
được thì phải nằm. Nằm một lúc chiếu sũng mồ hôi. Bọn trẻ con thì thích
lăn
trên sàn đá. Nhưng mà chỉ mát được vài ba phút, xong rồi là có thoát
được mồ
hôi đi đâu đâu. Em bảo chúng nó rải cái chiếu mà không đứa nào chịu
nghe...
Lại
tiếng bà gầy nhăng nhẳng:
- Ừ,
nhà này cũng thế. Chúng nó lăn khắp
nhà chẳng màn chẳng chiếu. May mà nóng thế này muỗi cũng sơ tán đi đâu
tiệt cả.
Sáng dậy bước chỗ nào cũng rin rít bàn chân vì mồ hôi. Ngồi quạt cho
con rã cả
tay. Vừa đặt lưng nằm thì chồng lại...
*.
Tiếng
cười vừa phá ra bị ngắt nửa chừng bởi
tiếng trẻ con bỏ dở cuộc chơi trốn tìm, ùa ra từ những miệng hầm công
cộng chưa
được lấp, chạy rình rịch, hố hố há há: 'Ra xem bà điên hát. Bà Tam bị
điên
chúng mày ơi'. Lũ đàn bà buông những cái chậu đầy ụ quần áo đương giặt
dở, nhìn
nhau trong bóng tối mờ mờ, vặn lưng đứng dậy buông tất cả xoong nồi xô
chậu rảo
chân theo lũ trẻ về phía cổng. Đám đàn ông quăng gầu, độc quần đùi ướt
huỳnh
huỵch rẽ đám đàn bà xô nhau chạy trước. Phía ấy, phía cây đa già, vẳng
lại một
điệu ngâm, rồi làn thảm, rồi sa mạc chênh, rồi lại cả 'Đường cày đảm
đang'(*)
và quan họ. Loạn xà ngầu. Rõ là cuộc biểu diễn của người hóa dại. Người
đàn bà
điên vắt vẻo trên chót vót, cười khanh khách, chới với gọi xuống: 'Này
chị em
ơi...'. Điện bật sáng đột ngột. Những người đàn bà vội vã băng ngang
phố, tụ
lại dưới gốc đa già rướn cổ nhìn, tò mò, kinh ngạc và âu lo. 'Đúng là
chị Tam.
Sao lại thế này trời ơi.' Tiếng người
đàn bà trẻ. Tiếng người đàn bà sồn sồn: 'Vừa hồi chiều cô ấy còn đứng
chia cơm
ở nhà ăn tập thể cơ mà'. Những tiếng xì xào nửa thương cảm nửa ơ hờ lan
trong
đám người dở quen dở lạ đang phình dần ra dưới gốc cây. ''Thiếu vi ta
min A đấy
mà. Tôi nói đố có sai. Bây giờ có ông nào trèo được lên sờ nhẹ vào
người bà ấy
một cái là yên cả.' Tiếng cười ùng ục
vang lên như tiếng nước mới đùn ra khỏi ống sau một thời gian dài bị
mất. 'Thì
ông thử trèo lên. Nói thế là đầy mình kinh nghiệm rồi.' '...Mẹ mấy ông
này. Nói
thật lại tưởng là đùa nhả. Hồi tôi ở bộ đội, đàn bà con gái bị đầy. Tự
dưng
khanh khách cười nửa ngày không dứt. Tự dưng khóc rũ rượi như bị ma
làm. Nằm co
quắp cứng đơ. Cứ ông chính trị viên vào đặt tay lên người một cái là
thở bình
thường, ngủ dậy lại đâm đầu đào bới gỡ bom phá đá như điên...' Đám
người cứ
đông dần lên, nhưng dần dần lặng phắc. Chỉ thỉnh thoảng mới có tiếng
thì thào:
'Đừng làm cô ấy sợ nhỡ nhào xuống thì chết'. Một cô gái trẻ nói với lên
như
khóc: 'Xuống đi chị Tam ơi. Về nhà đi tắm đi... em hứng cho chị hai xô
nước đầy
rồi. Về nhà hát. Về em quạt tóc khô cho. Về nhà đi mai còn đi làm...'
Người đàn
bà vẫn khanh khách cười vẫn vẽo vọt hát từ cái chạc ba cao chót vót,
tóc đổ dài
bay rờn rợn trong cơn gió đêm vừa mới nổi. Bài hát về một cây trúc xinh
đứng
một mình vẫn xinh. Bài hát về bèo dạt mây trôi và những nỗi lòng dang
dở.
'...Đôi ta thương nhớ í i ... biết bao giờ... lại nhớ tới người... ra
sông lại
nhớ tới người chứ xuống sông... xuống sông gánh nước.. í i...' Đám đông
chợt mê
đi. Chưa bao giờ họ nghe người đàn bà nhỡ thì này hát. Sâu lắng. Vời
vợi. Đượm
một nỗi gì giống như là hạnh phúc. Và cảm giác ấy thành quái gở khi
người đàn
bà thốt nhiên ngưng giữa lời ca, khóc khóc cười cười. Không ai để ý
người đàn
ông vừa tới cùng đồng chí trưởng công an khối.
- Nào bà
con ta giải tán. Giải tán! Khẩn
trương! Về ngủ mai còn đi làm. Mấy đứa nhóc này... đằng sau quay...
chạy!...
Nào bà con mình rẽ ra cho chúng tôi làm việc...
*.
Đám đông
ồn ào trở lại. Người đàn bà hoá dở
lại hát váng lên. Trẻ con cứ như cóc nhảy ra rồi lại nhảy vào. Cái
giọng Nghệ
của anh công an nói bình thường nghe cũng ra khẩn cấp mà chẳng có tác
động gì.
Thế mà người đàn ông vừa cất tiếng là mọi người xì xào nhỏ dần rồi theo
nhau
rời gốc cây. Người đàn bà trên cành cao cũng ngần ngừ im tiếng.
Người
đàn ông nói giọng Nam bộ nghe nhỏ
nhẹ. Mọi người ai cũng biết ông. Độc thân. Phó giám đốc nhà máy. Ở một
mình một
phòng nhỏ sửa lại từ cái nhà tắm ở tầng một. Dân tập kết mà không bia
rượu,
không ăn mắm sống. Nhiều khách và nghe nói vợ con còn trong kia. Mấy
anh cán bộ
tổ chức hành chính, ông bác sĩ rể của nhà máy, mấy người đàn ông năng
nổ và
đồng chí công an xúm vào nhau, vung tay vung chân rồi đồng loạt quay
sang ông
Thản;
-
Làm thế nào bây giờ anh? Trèo lên thì
trèo được. Nhưng sợ nhỡ ra chị ấy hoảng nhảy thẳng xuống đất thì...
Anh
công an hộ khẩu khum hai bàn tay làm
loa hướng lên người đàn bà dở tính:
-
Chị Tam ơi xuống đi, xuống rồi có chuyện
gì thì đề đạt với các đồng chí có trách nhiệm. Xuống đi chị... Có gì mà
phẫn...
Anh
cán bộ tổ chức của nhà máy gạt ngang:
-
Sao đồng chí lại nói vậy. Ai làm gì mà
chị ấy phẫn. Chị Tam xuống ngay. Có gì thì phản ánh chúng tôi giải
quyết!
Người
đàn bà điên đung đưa đôi chân, vuốt
mớ tóc dài về đằng trước, khe khẽ cười, khe khẽ khóc, rồi lại hát váng
lên.
Tiếng hát giờ khản đặc. Ông bác sĩ đứng nghiêng người nhìn xuống bàn
chân lắng
nghe...
*.
Ông
bác sĩ đến gần ông Thản:
-
Anh Thản này! Tôi nghe như chị này giả
dại đấy thôi. Nhưng cũng là vì đầu óc căng thẳng lắm. Không biết chuyện
gì.
Thường ngày ở cơ quan anh chị ấy làm gì... Làm nhà ăn à? Hay là có
chuyện chấm
mút gì bị vỡ lở...
Người
đàn bà điên đã chuyền cành xuống gần
chỗ hai người đàn ông đứng, bất chợt cười phè phè, và lại tiếp tục vẽo
vọt
những lời ca vờn quyến thê thảm. Ông Thản lắng nghe, cố đè nén xuống
đáy lòng
một nỗi xót thương sâu xa. Ông không biết vì sao người đàn bà lại dở ra
như
vậy. Chỉ mới chiều nay chị ta còn đứng chia cơm trong nhà ăn. Chị ta
bao giờ
cũng ý tứ xới cho ông một gà mèn cơm vơi vơi, nhưng lại gia thêm thức
ăn hay
chút nước thịt kho vào cái nắp gà mèn. Chị ta không mấy lúc bắt chuyện
với ai.
Nhưng chăm làm đúng kiểu một cô nhà quê vừa được thoát li. Suốt mấy năm
rồi chị
ta là chiến sĩ thi đua của nhà máy. Cũng cảnh cơm tập thể như ông. Có
lần bên
bể nước, ông thấy chị ta nhặt mớ rau và vo một rá gạo con, cười ngượng
nghịu
lúc mọi người trêu chọc về nỗi người làm bếp ăn tập thể lại chê cơm tập
thể.
-
Dạ... em.. nhà có ông anh họ...
-
Thế không phải là ông anh ruột à? Anh
liền ruột ấy mà. Nghe phong phanh cô có... Này, cứ tìm cha nào xa vợ mà
tấn
công áp sát. Tiếc gì cái mác chiến sĩ thi đua. Gỡ gạc lấy đứa con cho
cửa nhà
đỡ quạnh em ạ. Mới lại phòng khi về già...
Bà
có tiếng bỗ bã nhất cười hơ hơ nửa châm
chọc nửa thành tâm khuyên bảo... Khi đó ông Thản đã lặng lẽ xách xô
nước rút
dù. Lòng ông đau nhói. 'Có hẳn đàn bà cứ phải tầm ruồng đàn ông chỉ để
kiếm một
đứa con?' Về phòng, ông Thản buông phịch xô nước ngoài cửa, ngồi chết
lặng như
một gốc cây khô. Ông nhớ đôi môi mềm ấy, làn da nóng ấy, đôi mắt ấy.
Hừng hực
và lấp lánh trong bóng mờ căn phòng không bao giờ tối hẳn bởi ánh sáng
của ngọn
đèn đầu đường hắt chéo vào. Người đàn bà ấy ông đã bao năm theo đuổi,
đã cưới
về, đã có với ông hai mặt con trước ngày ông ra đi, đã chỉ nhìn ông ứa
nước
mắt. Vợ chồng ông buổi đó không nói lời hẹn thề. Nhưng mà ông tin cậy
vào những
năm chung sống. Sự ngu ngốc của đàn ông! Nhưng có hẳn là như thế! Khi
mà khoảng
thời gian chia xa đã không phải là hai năm, đã là mười hai năm...
*.
...Những
người đàn ông đứng bối rối và bất
lực dưới gốc đa. Ông Thản lên tiếng, quả quyết và điềm đạm:
-
Thôi các anh cứ về ngủ mai còn công việc,
để tôi đứng đây chờ chị ấy xuống.
Anh
công an hộ khẩu trẻ mừng rỡ vì được
giải thoát ra khỏi công việc bó tay bó chân này, nhưng cũng có phần
lúng túng:
-
Vậy thì hay rồi. Tôi về qua đồn một chốc
rồi lại chạy ra. Mà có điều gì gấp rút thì đồng chí chạy qua chỗ tôi...
Phố vắng dần. Vào khuya. Ông xích lô
vẫn chực khách trước
cổng nhà hộ sinh cũng đã vắt mình lên yên kẽo kẹt đạp đi. Ông Thản đứng
lặng lẽ
dưới gốc cây, tiếc đã không hỏi ông xích lô hút nhờ một điếu thuốc lào
cho bớt
cơn thèm một hơi thuốc lá bất chợt khô ran lồng ngực. Gió đêm rờn rợn
quẩn
trong vòm lá. Người đàn bà điên im lặng, lầm lũi tuột dần xuống. Ông
Thản lặng
lẽ giơ tay. Người đàn bà đổ nhào vào ngực ông, nức một hơi khan, âm
thanh khản
đặc:
- Em khổ
quá.
Không biết
vì sao ông Thản lại nói như mình
biết cả:
-
Đừng dại dột em ạ. Em không tội tình
gì....'
*.
...
- Anh bảo
em làm sao bây giờ? Không chồng mà
chửa. Nhục nhã thân em đã đành. Còn mang tiếng cả nhà máy. Biết làm sao
bây
giờ.
-
Đừng oán hận người ta cô ạ. Có phải là
lúc ấy cô cũng đã hạnh phúc rồi không? Đừng băn khoăn miệng tiếng người
đời.
Trẻ con không có tội gì. Mà nếu cô quyết... thì tôi sẽ trao đổi với ban
phụ nữ
nhà máy xem có cách nào... Chỉ có điều ta phải cùng nghĩ cho kĩ. Biết
đâu đứa
trẻ không phải là nguồn cơn khổ sở...
Người đàn bà đổi
thế ngồi, vén gọn mái tóc
rồi chậm chạp búi lại:
- Anh nói phải.
Nếu em bỏ cháu, miệng tiếng
người đời em cũng vẫn không ngăn được. Đã chắc gì để mà trông đợi vào
duyên
muộn. Chỉ có điều em sợ... Nhà máy sẽ không kỷ luật em chứ anh? Anh nói
hộ em
một câu. Tội nghiệp. Giờ mà em bị đuổi... Đã thoát ly rồi mà phải đâm
đầu về
quê, ruộng đất vườn tược không, nhục thân em đã đành, cả nhà em nhục.
Sinh cháu
ra để cháu bị sỉ vả bêu riếu từ trong nhà ra ngoài làng, thà rằng em
lại trèo
lên cây đâm đầu xuống...
Người đàn
bà cố trấn áp nỗi sợ trước cái
nhục thứ hai, nếu tính cách trục mầm sống ấy ra khỏi thân mình. Sẽ còn
phải lâu
lắm kể từ ngày ấy những phụ nữ lỡ làng như chị mới có thể tự do đi vào
phòng
sinh đẻ có kế hoạch ở các bệnh viện phụ sản, đóng tiền, nhận một cái
tích kê,
rồi mấy tiếng sau yên tâm ra về trong cảm giác vừa nhẹ nhõm vừa đau đớn
vừa cắn
rứt. Không có một tờ giấy cam đoan của một người chồng cho phép chị làm
điều
ấy, chị sẽ phải xin giấy chứng nhận ở cơ quan, sẽ phải chịu đựng đủ
kiểu nhìn
như muốn lột da rút xương của những người quen người lạ. Chị đã từng
biết điều
đó, không hẳn là người trong cuộc. Nhưng tuyệt nhiên không phải là kẻ
đứng ngoài.
Mãi mãi chị không quên nổi buổi chiều ấy, buổi chiều chị vừa tròn mười
tám
tuổi, buổi chiều chị rơi tõm vào trong nỗi đau đớn không cùng tận của
đời đàn
bà.
Vì đã nở mấy hôm
vì mưa xuân
và gió xuân
những cánh đào phai
nhẹ nhàng rơi xuống đất
Bên những gốc đào xưa
dòng - sông -
thời - gian
đi qua đời thật chậm,
như ngừng
trôi
3.
- Ối giời
chị Phận. Tưởng chị hôm nay đi chợ
Thá. Em đang dở tay làm cỏ. Chị vào nhà... U em trong buồng. U ơi, chị
Phận đến
chơi đây này...
Người
đàn bà kéo nón, múc nắng tạt mặt. Đuôi mắt dài giấu cái nhìn rừng rực
và làn
môi nhợt nhạt. Thời mỏng mày hay hạt, thời má đỏ môi hồng, thời ngồi
trên hè
chằm nón thỉnh thoảng nhìn ra sân nắng cười một mình của chị đã tàn héo
từ lâu,
từ lúc tiễn chồng đi B rồi suýt chết vì đẻ non ngay buổi tối xã làm lễ
báo tử
một loạt chín anh trai làng. Từ ngày đó, Phận quần quật làm, thôi không
chằm
nón nữa mà đi buôn nón những ngày việc đồng áng vãn. Chị hay qua nhà
Tam, nhìn
con em họ vai cứ tròn dần, má cứ ửng dần, tóc cứ bóng dần, thở dài bảo
bà Nhị:
- Thím đừng
bắt nó lấy chồng sớm. Chả giai làng thì giai thiên hạ. Hiếm gì. Như
cháu đây,
nói thím đừng cười, đến cái hơi chồng có muốn nhớ cũng không nhớ nổi.
Thì thím
bảo cưới được có mấy ngày. Người làng người nước cả. Bố mẹ cháu nhận
lời thì
cháu cũng gật. Biết gì đâu. Chúng cháu chả được như chú thím...'
Bà Nhị cười. Bà
cũng cảnh vợ liệt sĩ từ khi
còn trẻ. Cũng bao đêm nghiến răng nằm không dám mộng, không dám đặt bàn
tay lên
chính thịt da mình, từ chập tối đã thu vén con dao bầu đặt đầu giường.
Nào phải
để phòng ai. Phòng chính mình thôi. Nhưng bà biết mình khổ ít hơn người
cháu họ
của chồng. Ông bà mê nhau thật. Lại nữa bà không vướng bận gì nhiều với
gia
đình nhà chồng. Ông Nhị con độc, các cụ qua đời sớm cả. Đến tuổi này,
nghe cô
cháu họ của chồng than vãn, bà Nhị mới giật mình. Giá không thương nhau
đến
vậy, giá không từng mê nhau đến vậy, đến nỗi sự vui vẻ trang nghiêm goá
phụ của
bà đã làm nhụt tất cả ý chí tán tỉnh của đàn ông thì chẳng biết bà có
giữ mình
khó hơn không?
*.
...Bà Nhị cầm
con dao bài rọc lá trầu mà tay
cứ run bần bật:
- Việc đến
thế rồi hả cháu. Mày định sao bây
giờ. Mà sao dại thế, đã chồng đã con rồi, cũng phải biết giữ thân. Nhẽ
nào... Ai
lại để tới tận giờ mới tính. Vỡ chuyện ra thì mày chỉ có nước chết với
nhà nó.
- Cháu chả
sợ thím ạ. Ông Trác ông ấy đang
ngõi ghế chủ tịch xã, đố dám làm ầm lên. Xấu mặt cháu thì hổ mặt ông ấy
thôi
mà. Ông ấy rên ầm ầm. Những là tôi tưởng thím lòng gang dạ sắt thờ
chồng. Bao
nhiêu đàn bà góa đàn bà ế, được cái danh vợ liệt sĩ là hơn thiên hạ đủ
đường.
Cháu mới bảo thế này, thế thì bác gái có lẽ cũng mong cái danh ấy lắm.
Sao ngày
ấy bác đẩy nhà em nhập ngũ ở nhà làm ông xã đội trưởng quèn. Bây giờ
bác làm
phó chủ tịch xã rồi, to chuyện rồi, em mới đến thưa chuyện với bác. Chứ
bác vẫn
chỉ là ông xã đội, em chẳng dám. Bà vợ ông Trác phủi đít đứng dậy bảo
cháu gái
đĩ già mồm. Thím xem, cơm no bò cưỡi người ta chửi thiên hạ dễ thế đấy.
- Thế
thằng Trác bảo sao?
- Ông ấy
đi ngay ra ủy ban, cấp giấy cho
cháu đi phá. Cháu đã định liều... Lớn bé gì thì nó cũng là người...
Cháu sợ
mang tội với giời thím ạ. Nhưng ông ấy nói như van thím ơi thím làm thế
chết
tôi chết cả họ nhà này không ai ngẩng mặt lên được thím nghe tôi thì
thôi tôi
coi thím vẫn là người trong nhà trong cửa...Cháu ngồi cười thím ạ. Thím
xem
thời buổi... Giời xa cũng không dám sợ hơn sợ người gần...Chả hiểu ông
ấy đả
thông bà vợ thế nào mà bà ấy mang ra cho cháu gần trăm bạc với hai
thúng gạo
nếp với lủng củng những gì gì nữa cháu cũng chả nhòm. Cháu bảo phắt bà
ấy mang
về.
- Mày định
thế thật hả Phận. Cháu ơi người
chửa cửa mả. Không dưng động dao động kéo vào người. Mà cái thằng mặt
dày ấy là
thằng nào?
Chị Phận
cười nhợt nhạt:
-
Thằng nào mà chả như thằng nào hả thím.
Thằng nào lúc ấy mà chả luồn chả cúi chả như trâu húc mả. Thím bảo thời
buổi
loạn này, thằng nào ở nhà không đui què mẻ sứt chân tay thì bụng dạ
cũng toàn
rắn rết. Lúc ấy cháu chỉ nắm độc cái ý của nó thôi mà. Có khác gì nhau
đâu.
*.
...Tam
không nghe được câu chuyện buồn thảm
của mẹ và chị. Bà Nhị gọi cô gái vào, chẳng nói gì nhiều, chỉ dặn dò:
-
Chị Phận phải đi bệnh viện. Mày để tất cả
đấy cho u. Đi thu xếp quần áo theo chị lên viện xem có đỡ gì được nhau
không.
Cầm lấy chục bạc này, vài hôm nữa làm xong cỏ vườn thì u lên nếu chị em
chưa về
được. Có lọ vừng u mới giã hôm kia cũng cầm luôn theo. Mà chị có thèm
ăn gì
cũng không được mua bán lung tung, chỉ được cơm với thịt rang, cùng lắm
thì mua
cái bánh giò.
Người con
gái vô tư:
- U buồn
cười, người ốm mà lại bắt ăn kiêng
thế thì nóng ruột chết. Cũng phải tấm mía múi bưởi chứ lại, rồi bát
canh khúc
cá. Em sẽ mua cho chị. Em có tiền riêng, không cần tiền u em. Mà chị bị
bệnh gì
phải đi viện gấp thế, sao em chả nghe nói trước gì.
Bà Nhị nạt
'mày biết cái gì' rồi quay sang
cô cháu, nghẹn lời:
-
Phải giữ mình con ạ. Sao tao lo quá, lo
còn hơn hồi mày đẻ con Ngần. Cố chịu đau chịu đớn kiêng khem cho kĩ rồi
về chừa
đi cháu ạ.
Phận cúi
mặt, nghẹn ngào:
-
Thôi nói làm gì trước hả bà. Con đi
chuyến này, chả nghĩ đến mình, chỉ những thương con Ngần. Nó quặt quẹo
từ ngày
mới đẻ. Đã nhà quê, đã mồ côi, lại không xốc vác, mai sau biết làm gì
đút
miệng.
Tam
là người duy nhất trong ba người phụ nữ
không nghĩ rằng những lời đó sao mà sái. Nhưng cả bà mẹ và người chị họ
cũng
không hề nghĩ rằng chỉ hôm sau đã phải để tang nhau.
Người rằng
con nhện giăng mùng
Ta biết
nói sao
Đêm ta mơ
Dòng sông
thành đường Autobahn (*)
Những
chiếc ô tô lao điên cuồng trong tối
Người rằng
đò đầy chớ qua
Ta biết
nói sao
Thăm thẳm
trời xanh, ngày mây trắng
Tuyệt vọng
đường về
4.
Ông Thản ôm
người đàn bà đang run bần bật
trong cơn nức nở khan, buồn bã. Ông không nghĩ tới việc trách cứ Tam.
Có thể
làm điều ấy được chăng khi trong trí ông lần lượt diễu lại những con
chữ tai
ác. Những con chữ làm ông đau đớn vì nỗi bất lực của mình khi nghĩ tới
hai đứa
con gái còn nhỏ dại và người vợ đã bỏ nhà đi. Vợ ông có khổ sở như thế
này
không? Có tủi hổ như thế này không? Có tuyệt vọng như thế này không?
Đối diện
với nỗi đau khổ của Tam, ông chợt hiểu ra rằng ông không được quyền căm
hận.
Nỗi đau khổ cùng cực suốt mấy tháng qua đã làm ông lầm tưởng. Còn lại trong ông, nguyên vẹn, vẫn là những
yêu thương ấy, những yêu thương sâu nặng, sâu nặng đến độ trở thành đảm
bảo cho
lòng chung thủy nơi ông.
Thế cho nên
ông Thản đã không ngần ngại buông bát cơm chiều vào thẳng nhà hộ sinh
thăm Tam
vừa qua cơn đẻ khó. Chị thư ký công đoàn nhà ăn e dè:
- Thì anh cứ ăn
cho xong bữa hẵng nào. Trong
ấy giờ có chị tổ trưởng phụ nữ rồi. Lẽ ra phải báo cho phòng hành
chính. Nhưng
giờ này thì còn có ai ở nhà máy nữa đâu. Vả lại không hiểu sao cô Tam
cứ một
mực xin được gặp anh... Cô ấy nói gở lắm...'
*.
Ngân không bao
giờ thấu được nỗi đau đớn của
người đàn bà tội nghiệp ấy. Mà liệu có ai tận tường điều đó ngoài chính
bản
thân người trong cuộc đang khổ sở thu vén đời mình. Chị ta nằm như dán
vào cái
giường trải tấm chiếu không còn biết màu gì của nhà hộ sinh. Khuôn mặt
mà tất cả đường nét đều vạc xuống gầy guộc
qua cơn mất
máu vì đẻ khó bừng bừng đỏ trong cơn sốt. Trên cái tủ con đặt sát
giường Tam,
chỏng chơ nải chuối và hộp sữa. Chị tổ trưởng phụ nữ nhà ăn - người vẫn
thường
đứng bếp với Tam - sốt ruột đứng đổi chân ở đầu giường, dáng vẻ vừa
thương hại
vừa dè bỉu, diễn đạt trọn vẹn lòng tốt bất đắc dĩ với mấy sản phụ tươi
tỉnh
cùng phòng. Chị ta thấy ông Thản, tươi cười:
- May quá,
phó giám đốc có đây rồi. Bác sĩ
vừa lại phòng báo chuẩn bị chuyển cô ấy lên viện C anh ạ. Giờ cô ấy mới
ngủ có
vẻ yên yên. Trước cứ mê, khóc gọi ai mãi...
Người đàn
bà ngừng lại, thăm dò:
- Với lại
cứ gọi anh...
Ông Thản
bình tĩnh:
- Được rồi,
chị về qua nhà chị thư kí công đoàn nói tôi nhắn công đoàn xem thế nào
trích
qũy
trợ cấp đột xuất cho cô Tam, mức cao
nhất. Cô ấy chưa lo
được cho đứa nhỏ. Mà thế này thì chưa biết nằm tới bao giờ...
- Cô ấy may mắn quá, được phó giám đốc
quan tâm trực tiếp
thế này...
Không có
một chút ác ý nào, dường như thế,
ẩn sau câu nói. Nhưng hình như mọi lời đồn thổi tai vạ thiên hạ vung
vãi làm
cho người đời điêu đứng đều bắt đầu như thế chăng? Không như thế, người
ta sẽ
không thể chịu đựng nổi ngày sống khó nhọc, buồn chán mà tưng bừng của
những
năm tháng ấy. Không ai biết, trong cơn sốt khô rốc, Tam đã gặp lại
người chị họ
chết đã bao lâu rồi. Đã nhìn thấy mình trong tấm thân dường như mỏng
hẳn đi của
Phận sau cơn băng huyết, không động cựa giữa căn phòng bệnh viện huyện
âm u cơn
gió đồng chiều. Đã thấy lại mình, mười tám tuổi, đưa ngang cánh tay gạt
nước
mắt ròng ròng, lếch thếch xách gói đồ hai chị em hôm trước tha đi, chạy
theo
hai người đàn ông bà con hàng huyện đã thuê giúp để võng xác Phận về.
Cô gái
mười tám tuổi chẳng biết tục lệ làng nước là gì, đã suýt làm cả làng
náo
loạn...
*.
Chiều ấy bà Nhị
không hiểu làm sao mà cứ như
giẫm phải tổ kiến. Bụng dạ tơ vò. Bà không nói được với ai về nỗi sợ
thất đảm
đang nghiến lấy tâm can mình. Nắng chiều còn như chan lửa, bà đùng đùng
đội
nón, vác sào ra thu rơm đang phơi lại, rồi chạy ra chạy vào, luấn quấn
với đàn
gà và đám thúng mủng, bụng bảo dạ phải nấu nướng rồi sáng mai đùm lên
với hai
chị em nó.
Buổi tối. Trăng
quầng. Bức bối. Bà Nhị chặn
cửa chuồng gà xong, ra ngõ, nép dậu cúc tần, thấp thỏm nhìn ngược về
phía đầu
làng. Thì Tam về tới, giọng khản đặc:
- Mẹ ơi, con đưa
chị Phận về. Bây giờ võng
chị ấy vào đâu?
- Giời ơi! Chị
ấy chết rồi ư? - Bà Nhị nghe
hai hàm răng lách cách trong miệng như vào những ngày rét ngọt đi làm
bùn cấy
cần, hay sang đò sớm đem nón mới chằm đi chợ xa - Nó đâu?
- Chúng cháu
đứng đây bà ạ.
Tiếng đàn ông
đục đục. Hai bóng người nhô ra
khỏi hàng rào ô rô nhà bên, trải dài trong trăng mờ cùng cái võng treo
giữa hai
đầu đòn xóc, phủ tấm chiếu im lìm. Bà Nhị run giọng, nói như rên:
- Các ông làm
phúc... Giời ơi... Đây không
phải là nhà chị ấy. Nhà chị ấy chỉ có độc con bé cháu hơn mười tuổi.
Con tôi
không biết... Tam ơi, con nhờ hai bác võng chị trở lại chỗ cây gạo đầu
làng. U đi
báo cho bên nhà chị ấy. Giời ơi... ối Phận ơi...
Bà Nhị khóc suốt
đêm ấy, khóc khi mắng thẳng
mặt thằng cháu chồng phó chủ tịch xã và con vợ chỏng lỏn của nó, khóc
khi lẩy
bẩy liệm đứa cháu dưới gốc đa đầu làng và chôn nó trong đêm, khóc khi
ôm đứa
con dại của Phận vào lòng cố dỗ cho nó ngủ. Nhưng sáng ra thì bà không
khóc
được nữa khi nhìn mặt con gái. Mặt Tam trắng như người nằm ổ, nhưng cô
không có
cái vẻ yếu lướt tự hào của họ. Cô như người đi lạc, dúi vào đâu ngủ đỗ,
rồi đột
nhiên bừng tỉnh. Bà Nhị biết thế là vĩnh viễn con mình không còn có thể
vô tư.
Chỉ một sớm một chiều, cô đã chạm tới nỗi đau đâm suốt đời đàn bà, thuở
đó.
Nhưng Tam, dù
thế, không tự miễn dịch được
cho mình. Nếu những người đàn bà biết bước lùi trước những khao khát
hạnh phúc
của mình, có lẽ họ đã không đau khổ nhiều như thế. Nhưng như thế, thế
giới này
còn gì?
Có những lúc niềm cay đắng ngấm trong
từng ánh mắt
Có những lúc khói thuốc bay
như
khói hương
nguyện
cho những đời vẫn sống
Có những lúc nuốt máu trong mồm cho
khỏi rớt xuống cống
Có những lúc máu nhỏ xuống thảm cùn
chỉ có con gián biết
Có những lúc máu nhỏ xuống lá mục
chỉ
có con sâu biết
Có những lúc thân cát bụi bị hất về
cát bụi
bằng một phát súng giảm thanh
Có những cô hồn...
Đồng hương - Berlin 1996
5.
Thế giới
này còn gì? Thật là một câu hỏi đàn
bà. Chỉ có đàn bà hay những người trẻ tuổi mới băn khoăn và đặt những
câu hỏi
chẳng để làm gì như thế. Sẽ đến ngày người đàn bà trẻ con này nhìn đời
nhẹ nhõm
hơn, ân cần hơn, bớt thiết tha hơn. Và sẽ hiểu dần ra rằng phải học cho
bằng
được, để mà biết, không phải là đòi hỏi hay chối từ, mà là chấp nhận,
chấp nhận
tất cả.
Và cũng sẽ
đến cái ngày Ngân hiểu ra rằng
dính vào chữ nghĩa là dính vào một trò chơi nguy hiểm, mà kẻ đặt cược
vào chữ
nghĩa thường là kẻ thua. Chữ nghĩa không phải là nơi ẩn giấu của con
người khi
trốn chạy chính mình. Dính vào chữ nghĩa là sẽ chuốc lấy cho mình những
băn
khoăn day dứt không có kết thúc. Sẽ tự làm mình rủi ro khi cứ cố phân
tích bản
thân, cố đi tìm mình trong bóng đời. Điều ấy rồi sẽ được hiểu ra thôi,
rất
nhanh. Chỉ cần một cơn bệnh trọng. Chỉ cần một lần mấp mé bên bờ sống
chết.
Gượng dậy được
sau những lần như thế, người
đàn bà trẻ con luôn luôn muốn ra phố lúc bình minh, lúc còn vắng tiếng
người
xe. Chỉ có tiếng gió chuyển trên vòm đa cổ thụ. Những bình minh êm ả,
tiếng gió
xôn xao. Những bình minh u ám, tiếng gió dằn dọc. Như trong gió có linh
hồn.
Của nắng sương. Của đất. Của nước.
*.
Cây đa đã đứng
đó bao năm nhìn ngó cuộc đời,
không biết. Nhưng Ngân thích cây đa già từ khi còn bé tí, nắm chặt ngón
tay mẹ,
chập chững trên mấy đầu ngón chân những bước đầu tiên ra với phố. Ngày
hôm đó
cây đa trút lá ra lộc mới. Nắng. Và gió. Vòm đa đón từng cơn gió thả lá
rào
rào. Con bé con lúc đó mặc cái váy trắng, cổ trễ một bên vai và gấu lại
hếch
lên một bên, để lộ cặp đùi gầy. Đứa bé ấy ngước nhìn mưa lá, reo vui:
'Mẹ...
Lá...' Từ buổi ấy, cây đa bên kia ngõ nhỏ đã là người bạn của Ngân, để
chia tay
và gặp lại. Trong bao nhiêu năm tháng ấu thơ đứt đoạn. Vì chiến tranh.
Cây đa
đã trút lá theo Ngân ngày Ngân còn là một đứa bé ba tuổi, ôm con búp bê
nhựa
mậu dịch nhem nhuốc, nhăn nhó để mẹ nhét vào cái ghế ngồi bằng gỗ đã
bắt đầu
chật chằng sau xe đạp cùng đủ thứ đồ lỉnh kỉnh. Cây đa đã nổi gió theo
cái xe
mẹ chở Ngân đi dọc thành phố, đã thấy Ngân gà gật trên con đường dẫn ra
ngoại thành
về nơi sơ tán, nơi Ngân đã học những bài hát đầu tiên và những chữ cái
đầu
tiên. 'Be bé bằng bông - hai má hồng hồng - bé đi sơ tán bế em theo
cùng... Mẹ
mua xe gỗ - cho bé ngồi trong - bao giờ chiến thắng đưa bé về phố đông'. 'Bố ơi bố mũ bố có sao vàng - sao vuông mũ mẹ
mũ con sao gì? Bố cười con cứ ngoan đi - Măng non sao đỏ thiếu nhi Bác
Hồ'. Toàn những bài hát lên thời đó nghe
vui mà sau này nhớ lại thì sao mà buồn bã. Đã
bao trưa Ngân dừng chân dưới bóng đa ngày về lại
phố đi học còn phải
mang theo cái bàn gấp bố kì cạch đóng từ gỗ tạp cùng nửa cục gạch thay
cho ghế
ngồi. Từ bao giờ, người đàn bà trẻ con không tự biết, chu kì sống của
cây đa
già đã trở thành một phần vui buồn trong đời. Cây đa biết tất về Ngân,
biết kẻ
đầu tiên thành tâm ôm ấp đứa bé người đàn bà giả điên sinh ra là Ngân.
Không
phải là mẹ đứa bé, không phải bà nó, cũng không phải ông Thản, người
đàn ông đã
tự hứng lấy bao nhiêu đồn thổi và nghi kị độc địa, không hề được một
lần nói
lại rằng không phải ông thương đứa con của người đàn bà lỡ dở vì tình ý
với chị
ta, mà chỉ vì...
*.
- Cô Tam này! Em
bé đói rồi này. Nó cứ mút
mãi ngón tay của cháu.
- à úi chao ôi
con bống. Em tè sũng sĩnh ra
rồi đây chị Ngân này. Em tè hết nên rỗng bụng đấy mà.
- Cô cho em bé
bú đi. Rồi để cháu trông em
cho. Máy nước đang vắng, cô đi giặt cho em đi cô ạ.
- Ừ. Ngân giúp
cô thế này thì học vào lúc
nào? Rồi mẹ có mắng cho không? Độ vài ba hôm nữa bà nhà cô từ trong quê
ra đỡ
cho cô, cháu sang chỉ việc chơi với em thôi. Rồi chị Ngân dạy em học
nhé. Con
mẹ nằm đây với chị nhé, để mẹ đi vò ù cái đống tã khai mù khai mịt
này...
...Lúc ấy con bé
lên mấy nhỉ? Con bé đâu đã
cạn nghĩa chữ thương người. Cứ xong bài vở là nó kiếm cớ qua nhà cô
Tam, để
được nắm hai bàn chân nhăn nheo mỏng hơn cả chân búp bê của em bé, để
được ngửi
cái mùi sữa chua chua phảng phất quanh giường, và chơi trò ra vẻ mình
là chị
lớn cho thoả ao ước có em. Ao ước ấy, con bé đã bao nhiêu lần kèo nèo
mẹ. Nhưng
mẹ và bố chỉ cười, bảo có hai chị em nó là đủ rồi, cứ đứa nào cãi nhau
thì đứa
kia bênh và sau này cúng giỗ thì hai chị em chia nhau việc. Bố bảo
thích em thì
sang mà chơi với em nhà cô Tam. Mẹ dặn thêm có sang thì trông em đỡ cho
cô giặt
giũ cơm nước. 'Đang chân son mình rồi giờ con bận con mọn một mình ra
ra vào
vào cái chái đó, rõ tội. Nhà ở quê nghe đâu cũng neo người, có mỗi bà
cụ lụi
cụi với mấy con gà con qué giờ cũng phải thu xếp ra trông cháu lâu
dài... May
mà có ông Thản... Người ta bảo...'
- Bảo bảo cái
gì? Toàn những bọn rỗi hơi rách
việc. Chuyện chả có gì cứ úp úp mở mở nói qua tai nhau. Thật có muốn
tốt cũng
phải nhìn quanh.
- Anh thì chỉ
được cái... - Mẹ dè dặt mỉm
cười trước cơn cáu kỉnh vô cớ của bố, đưa mắt về phía hai đứa con đang
hào hứng
gắp gắp và và.
Khi đó con bé
đâu đã hiểu hết sự độc địa của
người đời. Bác Thản nó vẫn gặp chiều chiều ở nhà cô Tam. Bác ngồi yên
lặng nhìn
hai đứa bé, rất ít khi cười. Không có con bé ở đó thì bác sẽ thay nó
trông đứa
nhỏ cho cô Tam đi chợ, giặt giũ hay chạy ra tổ phục vụ nước sôi năm xu
một
phích đầu ngõ. Mấy hôm trước con bé mới thấy cô ngồi nán lại nói chuyện
với
bác:
- Em nghe
bác thôi ăn cơm tập thể. Thế là
thế nào ạ? Chị em giờ nấu không ngon hay sao ạ?
- Có gì
đâu cô. Ăn tập thể thì cứ phải đúng
giờ đúng giấc. Tôi công kia việc nọ hay đến muộn, phiền các chị các bà
xong
việc ngồi chầu phục vụ nốt tôi. Với lại tự túc thì mới thấy hóa ra mình
không
ăn hết tiêu chuẩn. Tháng này tôi còn dư ba lạng phiếu thịt, lại cả
phiếu cá và đậu
phụ. Cô Tam cầm lấy mua thêm. Vài ba hôm nữa bà ngoại ra, thêm miệng ăn
trong
nhà là gay đó.
- Em trả
ơn anh cả đời không nổi. Không có
anh thì đã không có con bé cháu bây giờ, thì chắc em ân hận suốt đời.
Anh giữ
lấy phiếu mua mà dùng, em không dám cầm đâu. Em làm nhà ăn thì lạ gì.
Tiêu
chuẩn sự nghiệp hành chính có bao nhiêu. Mà anh thì đồng hương đồng
khói suốt.
- Ấy cô
Tam đừng bận lòng. Anh em tới tôi
thì có gì ăn nấy à. Dân Nam tụi tôi sống dễ mà. Cô không cầm thì không
lẽ xui
tôi mang ra bán cho phe phẩy, rồi kiểm điểm đảng viên lại mắc cái tiếng
tiếp
tay với tư thương, khéo bình bầu cuối năm trượt cái oạch đó đa... mà
cô Tam
này, việc khai sinh cho cháu tới đâu rồi?
- Dạ... Em
đang rối cả ruột anh ạ. Em đã hứa
với người ta sống chết gì cũng không khai tên người ta ra, không để
người ta
khổ từ trong nhà ra phố. Nhưng mà lớn lên con tủi nỗi không cha thì...
em sợ
cháu oán.
- Tôi
người ngoài chả dám bàn gì. Nhưng nếu
chỉ vì một cái tên đàn ông để làm bố con bé cháu thì... Tên tôi nè. Tôi
họ Võ.
Mấy đứa nhỏ nhà tôi tên đẹp không à. Võ Hằng Thương con chị. Võ Hằng
Tâm con
em. Hay con bé này ta đặt là Võ Hằng ... Hằng...
- Giời
ơi... Cả cái nhà máy này ai chả biết
chỉ độc anh họ Võ. Mẹ con em làm thế sao đành.
- Cô Tam
băn khoăn làm gì. Người ta nói mỏi
miệng thì người ta thôi. Mà giả dụ họp đảng ủy có ai nói ra nói vào thì
bất quá
tôi lại tiếp tục lặng im là cùng chứ gì. Cái chính là con bé. Đã sinh
ra nó thì
phải cho nó được làm người bình thường. Mình đã sống không bình thường
mãi rồi.
Tôi nghĩ hay gọi nó là con Hằng An. Võ Hằng An.
Cô Tam nước mắt
ròng ròng. Con bé con chả
hiểu vì sao. Chỉ thấy bác Thản đặt tên cho em bé hay quá. Nghe qua đã
chôn ngay
vào ruột.
*.
- Mẹ này,
em bé nhà cô Tam sẽ tên là Võ Hằng
An. Sao bố mẹ không đặt cho con tên hay như thế. Tên gì lại là Lều
Thoại Ngân.
Cô giáo bảo họ nhà mình nghe như họ người Hoa. Thế là chúng nó cứ gọi
con là
Tàu Phù đanh đá.
- Tên con
hay mà. Có gì mà phụng phịu. Con
bảo cô Tam đặt tên em bé là Võ Hằng An à?
- Không!
Bác Thản đặt. Cô Tam nghe rồi khóc.
Tên em bé hay hơn tên cô ấy bao nhiêu.
Mẹ đưa mắt
cho bố. Đêm, xoay trở trên cái
giường có rệp, Ngân nghe mẹ thì thào:
- Ông Thản liều
quá. Rõ là thánh chứ không
phải là người. Cái cô Tam không có phận mà gặp ông ấy thì quá phúc.
Trước thấy
mấy ông miền Nam tập kết ngồi đâu cũng chửi, lại tụ tập bia rượu lu bù,
em cứ
chờn chợn. Nghĩ người Nam họ hời hợt, cù chầy cù bửa. Ra ở đâu cũng
người mình
cả, có thế này thế khác.
- Tốt thế rồi thì khổ - Tiếng bố.
Cả bố, cả mẹ, và
người cùng nhà máy không ai
biết rằng đêm đêm ông Thản vẫn lần đọc lại lá thư cũ kĩ. Thư do con gái
ông
viết, không biết vì nước mắt hay vì những cơn mưa rừng mà nhoè mất
nhiều dòng.
Cũng không ai biết, khi đặt tên cho đứa con của người đàn bà khốn khổ,
ông đã
nghĩ tới một đứa bé khác, đã hình dung mình là một người đàn ông khác,
và người
đàn bà nước mắt ròng ròng ngồi trước mặt ông không phải là Tam, mà là
người vợ
ông yêu.
Gửi bố
Đã thấy trong gương tóc đen chen tóc
bạc
Bốn năm con xa nhà
Này là nét của mẹ
Này la nét của cha
Này là mũi tẹt da vàng
Lẫn làm sao cho được
Những ngày kiếm ăn quanh
Những ngày gào thét hão
Lý tưởng nào tìm kiếm suốt đời con
Bố ơi
Tóc bố không còn sợi đen
Con còn phiêu bạt mãi
Càng già con càng thương bố hơn.
6.
Sau này,
Ngân đã nhiều lúc dằn vặt mình bởi
không hề nghĩ rằng khi ngây ngô kể về người đàn ông tốt bụng và kín đáo
ấy mình
đã làm cho người cha mất ngủ. Nhưng biết làm sao được. Khi đó Ngân còn
bé quá.
Cái giường đầy rệp không thể làm mất giấc của một đứa trẻ lên mười.
Nửa
đêm về sáng, người cha lặng lẽ vén màn
khoác áo ra đường. Gió từ bờ tre bên đê rờn rợn thổi trên tấm lưng còn
âm ẩm mồ
hôi. Sao đã mờ đi. Phố phường thanh vắng quá. Cái thanh vắng vẫn mang
không khí
thời đang chiến của những đêm vừa yên bình trở lại. Vẫn còn nguyên
những dãy
tăng xê hai bên hè phố. Hầm công cộng cũng chưa lấp. Không còn tiếng
còi báo
động hú dồn. Người đàn ông đi trong cơn mộng mị, trong nỗi thiếu vắng
thắt lòng
một Hà Nội cũ càng. Hà Nội của những tiếng rao đêm rải trong sương
trước ngày
kháng chiến. Hà Nội chợ Hôm thơm nức mùi thức ăn thời hòa bình lập lại.
Ngày đó
ông hai mươi. Mới chỉ hai mươi.
*.
Ngày đó
ông còn làm việc ở phố Trần Bình
Trọng. Khuya, công việc vãn vãn, mấy chàng trai rủ nhau thả bộ dọc Trần
Nhân
Tông đi kiếm cái ăn đêm. Hồ Thiền Quang về khuya mơ màng như một con
mắt khép
khiến chàng trai liên tưởng tới con mắt kia lóng lánh sau mái tóc lơi
bên má...
Cô gái nhà góc Quang Trung Trần Nhân Tông... Đề tài bàn tán mê mải của
mấy anh
cán bộ mới về xuôi. Bao lâu rồi ông không còn gặp lại anh em cũ cùng cơ
quan độ
ấy. Bao lâu rồi ông không một lần thấy lại gương mặt cô gái ngày xưa.
Đâu phải
vì đã vợ con mà không dám tìm người nhìn lại. Tránh tất cả những quan
hệ cũ,
người cha tìm cách tránh gặp lại chính mình. Ông căng thẳng toàn bộ con
người
mình để sống, như tất cả mọi người thời bom đạn, nhưng cũng là để chống
lại hồi
ức mênh mông cứ tìm cách gọi ông về. Về những ngày tháng ở cơ quan, về
một thời
mới lớn, về những chiều sương một mình một túi dết công văn, áo nâu
quần đùi
lên Chiêm Hóa hay lần về ngủ đỗ nơi Ghềnh Quýt. Về những người anh hay
than
phiền ông lười tưới rau tăng gia ngày ấy. Họ bây giờ ở đâu?
Ông cúi
đầu đi, không muốn hỏi mình câu đó.
Họ ở ngay đây, giữa lòng thành phố này, chắc là không mất ngủ như ông,
chắc là
không phải vật vã với khao khát có nguyên cả một căn phòng để đêm về vợ
chồng
có thể thì thầm những điều ngoài chuyện tem phiếu và lương lậu, để buổi
tối con
có chỗ mỗi đứa một góc học bài. Họ ở ngay đây, giữa thành phố này, chắc
là
không phải đổ trống ngực khi gắp thăm cái xe đạp cung cấp cho vợ khỏi
phải rều
rệu cuốc bộ đi làm đi chợ. Như ông những năm chưa xa xôi gì.
*.
Những năm ấy,
bao nhiêu đêm đông gió bấc, khi
ngồi sau xe ôm lưng bố để bố đạp xe loanh quanh các phố cho qua cơn thở
khó,
Ngân đã nghe bố kể bao nhiêu chuyện về thời xưa của ông. Tiếng được
tiếng mất,
lúc bị bạt đi vì gió, lúc bị chìm lấp trong hơi Ngân thở rít như tiếng
gió hút
qua ống nứa. Khi đó, Ngân chưa cảm thông sâu xa được với cha mình. Chỉ
thấy đời
buồn khổ quá, nặng nhọc quá, nặng nhọc như sự hô hấp của mình. Tiếng
dương cầm
khuya thường nghe những đêm xưa ấy không mang lại cho Ngân một cảm giác
gì nhẹ
nhõm. Nó giống như âm thanh vẳng lại từ một thế giới khác, có thật, rất
yên
bình, mà không thể nào len vào được. Đấy không phải là ý nghĩ bình
thường nên
có ở một con bé lên mười.
Cảm
giác cô độc của mình bắt đầu từ đó
chăng? Nhiều năm sau này, khi ngồi cùng chúng bạn. Ngân lại bắt gặp
mình luẩn
quẩn với ý nghĩ này. Cảm giác đó chiếm trọn ngày sống của Ngân. Nhưng
cô độc
không phải là thói quen, chưa bao giờ là thói quen của Ngân. Rất ít
người biết
điều đó. Bởi thế, rất nhiều người thân với Ngân.
Nhưng những người con trai từng muốn
đi qua đời người đàn bà
này thì biết rất nhanh. Mặc dù họ không hiểu. Bản năng tự bảo vệ của
đàn ông!?
Họ làm Ngân kinh ngạc và oán hận, đôi khi, để rồi sau lại thấy cả hai
cùng may
mắn. Họ nhận ra ngay cái phanh tự động rít lên trong tâm hồn cô gái,
ngoài ý
muốn của cô. Không ai biết rằng cần phải mặc kệ, cần phải đừng kiêu
hãnh thế,
cần phải bước dấn thêm một bước cho người đàn bà trẻ con kia gục đầu
vào vai
mình, rỏ lên đó những giọt nước nóng bỏng và mặn mòi, để rồi sau đó...
*.
Để
rồi sau
đó... Nếu có thể thế, người đàn bà trẻ con sẽ nói cho anh ta nghe cái
gì. Về
tình yêu chăng? Từ tuổi bé thơ lớn lên cùng với phố, Ngân đã nghe được
bao
nhiêu tiếng thì thầm tình ái vẳng lên từ mặt đất. Tiếng lục đục hối hả
dưới hố
tăng xê giữa giờ báo động. 'Nhanh lên anh, nhanh lên anh, báo yên
rồi...'
'Em...' Tiếng chàng trai rên trong cực lạc không khác gì tiếng người
sắp chết.
Những đứa trẻ có biết rằng chúng được sinh ra để rồi hấp hối trong
những năm
tháng ấy như thế nào không? Không phải từ tình yêu. Làm sao có thể có
tình yêu
giữa hai con người chưa từng biết mặt nhau, chỉ vô tình đi qua đời nhau
khi lao
vội xuống hố tăng xê vào lúc còi báo động rú. Những đêm hè Hà Nội...
Những ban
trưa Hà Nội... Không chợ. Không trường. Không ông bà già. Không con
trẻ. Chỉ có
những người trẻ tuổi đi về theo tiếng còi tầm. Nhưng đấy không phải là
một
thành phố chết. Vẫn ran ran tiếng ve những buổi chiều lộng gió. Hàng
sấu phố
Trần Hưng Đạo mùa hoa vẫn rải cánh nhỏ như màu nắng sáng đánh lừa đàn
sẻ mỗi
bình minh. Mấy gốc ban già đường Thanh Niên dẫu vắng chân người vẫn đơm
vầng
hồng xôn xao khi mùa xuân đến sớm. Hàng hàng cây thâm thấp dọc bờ Thành
đường Hoàng
Diệu vẫn phơi phới một màu vàng nõn như những buổi thu trưa. Và, những
đứa trẻ
vẫn ra đời. Không phải từ tình yêu, không phải, mà từ nỗi tuyệt vọng
của lòng
ham sống. Hay cũng có thể là từ thói dễ dãi cả trong hạnh phúc lẫn bất
hạnh ở
không ít người.
Hay là tiếng thì
thầm mời mọc đêm đêm vẫn lan
từ gốc cây này tới gốc cây khác ở khoảng phố gần nhà Ngân. Những đứa
trẻ lớn
lên đã giễu cợt gọi chỗ đó là thung lũng tình yêu. Nơi đó nhiều công sở
và nhà
lãnh đạo. Nơi đó có một bể bơi thiếu niên chỉ những chiều hè sau những
năm đánh
phá mới lao xao tiếng trẻ. Nơi đó có một vườn hoa nhỏ đối diện cửa nhà
xác một
bệnh viện. Nơi đó có những bức tường trống chạy dài không bao giờ thiếu
khẩu
hiệu được viết bởi bàn tay của các họa sĩ nhà nghề nằm kề bên những
cánh cổng
sắt chỉ mở ngày đôi bận cho xe ra vào. Bọn đàn ông ban ngày thường một
tay giữ
ghidong xe đạp một tay vạch quần tồ tồ tương thẳng vào tường, ngay cả
lúc khối
phố đã cho kẻ thêm bên cạnh các khẩu hiệu khí thế hừng hực hai chữ lạnh
lùng:
Cấm đái. Còn ban đêm, cũng họ, sẽ tìm tới khoảng không gian khai mù mịt
lấp ló
những ngọn đèn dầu chỉ đủ soi rõ mẹt thuốc lá hay mẹt bưởi sấu ô mai,
để mặc
cả, âu yếm và chửi rủa. Tất cả những ngọn đèn thành phố cho lắp ở
khoảng phố đó
đều bị người ta chọi đá vỡ lập tức. Đấy là thiên đường đèn dầu. Của
những gã
choai choai no cơm hứng cật. Của những tay đàn ông nhà quê thoát li xa
vợ lương
chỉ đủ tậu cái xe đạp tuần tuần tháng tháng về nã thêm gạo của vợ con.
Của
những người đàn bà xộc xệch vì cơm áo thường từ mấy khu bờ sông lại hay
từ đoạn
dưới Lương Yên Thúy Ái ngược lên. Ngân rất sợ những âm thanh vọng lại
từ nơi
đó... Chúng không giống như tiếng bình yên của những bầy chim thức sớm,
mặc kệ
những vòng bánh xe đạp quay quay, từ mặt phố bay vù lên rồi lại thản
nhiên đáp
xuống lẫm chẫm bước giữa tinh sương.
*.
Nơi đó gần nhà
lắm nhưng Ngân thường tránh
đạp xe qua. Đi thêm một đoạn nữa, sẽ có thể rẽ ngang, sẽ lại gặp những
vòm cây
bốn mùa xanh lục, và những khoảng phố êm đềm. Ở khoảng giữa phố Lê
Thánh Tông,
nhiều năm về trước, đi học về nhìn qua hàng rào gang một biệt thự có
lính gác,
bọn Ngân buồn cười mãi vì lần nào cũng thấy một ông da nhuôm nhuôm mặc
váy quấn
một cục trễ rốn. Nghe nói đấy là một lãnh tụ cách mạng ở Miến Điện. Đấy
là một
chiến sĩ thực sự hay đấy là một tên cốp khủng bố? Làm sao một câu hỏi
bất kính
như thế khi đó có thể nảy ra trong đầu Ngân!
Nhưng sau này,
hồi tưởng lại phố xưa, nhớ cái
bụng tròn đen đen bệ vệ lộ ra dưới cạp váy sặc sỡ của ông lãnh tụ Miến
Điện,
người đàn bà trẻ con lại băn khoăn nhớ. Những cuộc cách mạng bùng nổ là
hạnh
phúc hay là bất hạnh của các dân tộc đã đưa vai ra gánh gồng lịch sử?
Và những
cuộc kháng chiến? Có phải người ta cứ phải đi cho hết con đường máu ấy
để trở
lại với mình? Những ai, nào những ai ai, sau khi chinh chiến đi qua còn
được
nhớ?
Đám bạn thường
cười Ngân vì nỗi nhồi được vào
đầu đủ thứ vớ vẩn và vô nghĩa, như câu hỏi kia hay như màu lá nào kia,
trong
khi ngày sinh của nhau, chẳng hạn, chật vật lắm Ngân mới có thể giữ
được trong
đầu. Nhưng một cuộc gặp gỡ tình cờ, một tiếng cười vô cớ, một câu
chuyện bâng
quơ tất cả đã quên đi thì Ngân lại nhớ rành rẽ nhiều năm. Cần phải
nhiều thời
gian nữa để Ngân hiểu rằng chai đá được là đỡ khổ. Bao giờ?
Một cách
vô thức, Ngân đã tự biến mình thành
nơi lưu giữ kí ức của ông bà cha mẹ. Thổi suốt lòng Ngân cho tới bây
giờ là
tiếng thầm thì của gió những chiều xưa biên giới, là tiếng đêm rì rào
bí ẩn
trong cánh rừng vây quanh khu nhà cơ quan nơi chiến khu. Bữa cơm cơ
quan không có
tay đàn bà nấu nướng toàn măng và bí đỏ những ngày đầu kháng chiến.
Miếng thịt
trâu bạc nhạc người bạn Tày hơn hai tuổi để dành cho sau chuyến giao
thông về
sớm ngày ấy đậm mãi trong câu chuyện của bố tới bây giờ. 'Gian nan đời
vẫn ca
vang núi đèo - Nhớ khi tiếng mõ rừng chiều - chày đêm nện cối đều đều
suối
xa...' Ngày ấy hình như đúng là thế đấy. Người cha hay nhắc nhỏm những
tên đất
tên người. Lạ, nghe mãi thành thân quen, như tên quê, như tên người họ
hàng gần
vì hoàn cảnh gieo neo thành thử chưa bao giờ biết mặt.
*.
Chuyện kể:
- ...Ngày xưa
khi bằng thằng con gái của bố
bây giờ bố đã một mình đi giao thông rồi. Đường rừng quanh co. Lắm dốc
lắm.
Mình người Hà Nội, tản cư về quê mấy ngày đã biết mùi đồng ruộng rừng
rú gì
đâu. Đi đường dốc không quen, mỏi lắm. Thế nhưng mấy cô Mán thì lại cứ
cười
rinh rích hỏi thăm đường miền xuôi thế nào. Nào có ai đã từng ra khỏi
mấy dãy
núi ấy đâu. Các cô ấy trèo núi quen, đi chân bao giờ cũng nhấc cao thế
này này.
- Ông cụ
người Thổ, tên là Muỗi, tính hiền lắm, nhà nghèo lắm. Mà có cái gì cũng
cho cơ
quan. Có năm sinh nhật Bác, cơ quan bày trò ăn uống. Ăn mãi thịt trâu
bí ử sợ
quá rồi, ông Tuất mới xung phong cải thiện cho anh em. Tưởng làm gì,
hóa ra ông
ấy tính thịt con chó ông Muỗi cho đã nuôi được tới nửa năm. Đã chuẩn bị
đầy đủ
riềng húng mắm tôm, mài dao rửa thớt xong xuôi từ chiều hôm trước. Lại
còn phân
công nhau vào tận trong mấy nhà nằm lảnh sát chân núi tầm cho được mấy
quả
chanh cốm. Cứ thấy con chó len lét len lét, vừa sập tối đã chui tít vào
tận góc
lán dưới sạp nằm im thít. Anh em bảo chó nó khôn, nó biết sắp chết nên
buồn, có
anh lại tuyên bố luôn là thà ăn thịt trâu kho thừa lại còn hơn ăn thịt
nó. Nỡ
nào... Ai ngờ con chó nó ngửi ra mùi cọp. Nửa đêm, nằm trên sàn nứa, cả
sạp dài
thế này này, nghe oẳng độc một tiếng, tất cả chồm dậy vỗ sạp ầm ầm. Đốt
đuốc
lên thấy một vệt máu chạy tít từ trong góc dưới sạp ra cửa. Hôm sau,
ban ngày
ban mặt mới biết con hổ rình gần chỗ trồng bụi ớt từ bao giờ. Hú vía.
Hết được
xơi thịt chó lại quay ra thương nó quá. Nuôi nó từ lúc nó bằng con
chuột mang
từ nhà cụ Muỗi về...
- Kỉ niệm bố
nhắc lại quanh mâm cơm nghe có vẻ vui vui nhiều hơn buồn. Những buổi
chiều đi
đánh đai gốc trám chờ trám rụng để hôm sau vác giành ra nhặt. Những
trưa rủ
nhau đi đánh cá suối bằng nhựa cây sui. Những đêm rừng trong quán tản
cư ở Sơn
Dương. Và cô Mán hồn nhiên se trụi lông
mày bằng sợi chỉ. Ngân đâu biết vì sao cha mình thiết tha với ngày cũ
đến thế,
đâu biết vì sao dù thế ông vẫn không tìm gặp lại bao người trong những
câu
chuyện ân tình xưa. Mà ông, cũng đã chắc gì ông tự biết, rằng mình thực
ra đã
sống hết đời người từ sau lần oan khuất kinh hồn mà ông chỉ nói nhẹ
nhàng là
tai nạn, rằng mình thiết tha với yêu thương xưa chỉ để sống mà san sẻ
bớt ngày
tháng gian nan cho vợ cho con.
- Những ngày
tháng lạ lùng với Ngân. Bầy trẻ cùng khu tập thể đi sơ tán vãn cả. Đám
lớn theo
trường. Đám nhỏ theo cơ quan bố mẹ. Lớp học rã không tăm hơi bè bạn.
Chị gái
cũng theo trường đi. Chỉ còn Ngân, bé nhỏ và yếu ớt, giữa thành phố
trống, chờ
bố mẹ đưa về quê ở cùng bà. Sáng sáng bố mẹ đi làm, còn Ngân bê cái ghế
con
trên chồng mấy cuốn tiểu thuyết người lớn và bát bánh khúc, tròng thêm
vào cổ
cái bi đông sắt của bố, lùi lũi xuống ngồi một mình ở cửa hầm công cộng
vừa
được xây cấp tốc trong khu. Cơn gió sớm thênh thang lồng qua các cửa
hầm, hơi
bom từ Vĩnh Tuy thốc lên hất văng người, hương vị chiếc kem que ngày
chiến
tranh... Tất cả Ngân đều biết. Không có gì giống cảnh Matxcova để trống
trước
bước hành quân của đoàn lính viễn chinh Pháp mà Ngân đã đọc được ở
'Chiến tranh
và hòa bình' chính trong những ngày tháng đó...
Tim ta đau
vết thương gì không rõ
Nên cần chi
trái gió với trở trời
*
Nếu có thể
vui được
Tôi đã không
buồn thế này
*
Ràng buộc với
cái gì cũng sợ
Đành ràng
buộc với tự do
*
...Tháng ngày
con lớn lên
Tháng ngày cha
đánh mất
Mùa xuân đến
bằng những mầm cỏ sắc
Con gái ơi.
7.
Năm ấy Ngân còn
chưa lên mười. Tất cả đều lạ
lùng. Bởi vì yên tĩnh, mặc dù de dọa thì cụ thể và bất ngờ hơn rất
nhiều. Cái
làm Ngân nhớ nhiều không hiểu vì sao lại là bậc thang mà Ngân đột nhiên
phát
hiện ra một vết lở mới vào một đêm chạy báo động. Vết lở ấy còn mãi mấy
mươi
năm sau. Nó không nhắc nhớ ngày chiến tranh, nó nhắc nhớ những con
đường làng
lát gạch nghiêng không biết từ thuở ca dao nào và sau này chẳng hề được
tu bổ,
toang hoác những ổ gà. Những ổ gà khiến các bà lão đêm đêm ngồi hóng
gió ở dốc
bến giữa xóm nhỏ mà bà cháu Ngân sơ tán về lại chép miệng thở than về
một ngày
xưa không trở lại.
Nhưng những ngày
tháng đó vẫn chòng chành mãi
trong Ngân. Điềm nào báo trước cuộc chiến tranh đánh phá lần thứ hai
khi đó?
Chưa bao giờ Ngân nghe ai thắc mắc như mình. Hình như cái điềm ấy đến
cùng với
chấy và rệp. Không biết lây từ đâu mà trẻ con hồi ấy lắm chấy thế. Tóc
nhiều
đứa trứng chấy trắng như rắc vừng. Có mấy đứa con gái vẫn chơi với Ngân
còn
phải gọt trụi cả đầu để tiệt chấy. Mẹ chiến đấu từng ngày với những con
chấy sơ
tán qua đầu hai chị em Ngân những lúc tụ bạ cùng đám trẻ, nhất quyết
không để
chúng kịp sinh sôi. Đấy là một cuộc phong tỏa tuyệt vọng và mẹ đã chứng
tỏ một
sự kiên nhẫn khó hiểu. Tối nào chị em Ngân cũng phải gò cổ gục đầu trên
trang
vở để mẹ lấy lược bí cào tóc và mẹ vô cùng hể hả khi đột nhiên một con
chấy
kềnh rơi bộp xuống, lồng vô phương trên trang vở như một chiếc xe tăng.
Nhưng mẹ phải
buông xuôi trước đám rệp cũng đột nhiên sinh sôi ở mọi nhà trong khu
tập thể
vào hồi đó, mặc dù mẹ được bố giúp tận tình. Ngày cuối tuần nào cả nhà
cũng
phải tổng vệ sinh. Mẹ nấu hết ấm nước sôi này đến ấm nước sôi khác để
bố dội vào
từng khe giường. Thế nhưng bọn rệp lì lợm vẫn cắn nhoay nhoáy cả đêm
khiến mẹ
thường xuyên mất ngủ. Ngân không tài nào lí giải được nguyên nhân nạn
chấy rệp
hoành hành trong khu tập thể hồi đó. Chúng đột nhiên biến hết ít ngày
sau khi
máy bay Mỹ ngừng đánh phá. Điều ấy bí hiểm chẳng khác gì sự bầy cò vẫn
bay rợp
phố Ngân ngay cả trong những năm ác liệt nhất bỗng dưng rùng rùng bay
đi vào
một buổi sáng rất đỗi yên bình và không về lại.
Bố kể hồi lên
Việt Bắc cả cơ quan bị bệnh ghẻ
hành. Nấu đủ thứ lá lẩu độc địa để tắm mà không lại với ghẻ. Rồi cũng
tự nhiên
mà khỏi, đồng loạt, vào năm bắt đầu mùa phản công. Còn rệp bố bảo chả
có bao
giờ, mặc dù giường nằm là sạp nứa đóng dọc lán cho cả đống người đêm
đêm co
quắp nhau. 'Đỡ lạnh.' Bố bảo thế, mắt ánh lên niềm âu yếm tháng ngày đã
qua.
Ôi chiếc giường
kháng chiến! Ngân không thể
hình dung được mình có một lần nào nằm trên đó. Có lẽ bởi thế mà người
đàn bà
trẻ con không sao hiểu thấu nỗi chua chát của người cha khi nhắc tới
những ân
tình xưa. Với Ngân, ân tình phải được biểu hiện trong sự đủ đầy vật
chất chứ
không phải chỉ là trong gian khó. Lúc gian nan, người ta dễ sống với
nhau hơn,
dễ lo lắng cho nhau. Đấy chưa chắc là cảm thông, đấy là bản năng cộng
sinh của
con người.
*.
Khi đã đi
xa, người đàn bà trẻ
con nhiều
khi ân hận vì nỗi đã tàn nhẫn nói tuột điều đó với cha mình. Ông bố
không yên
lặng. Ông không thể nào chịu nổi ý nghĩ chính nỗi đau khổ của mình là
căn
nguyên tính khí hoài nghi ở con gái. Dù chỉ còn dám tin mình, ông vẫn
mong con
biết tin người, tin đời. Không có chuyện cân nhắc đó là bản tính tốt
hay xấu.
Ông biết rằng khả năng dễ tin sẽ làm người ta sống dễ dàng hơn, nhẹ
nhõm hơn.
Và ông cũng biết rằng ông đã chua xót biết bao nhiêu khi phải trút lại
nửa cuộc
đời kia của mình, nửa đời vô tư lự, đầy tin tưởng, niềm tin vô chừng
hoang dại.
*.
Gió ngày ấy còn
thổi mãi. Xót và ráp. Như con
đường len lỏi qua những cánh ruộng bậc thang thiếu nước mà ông vẫn còn
cảm được
dưới chân trần, bàn chân của cậu bé học trò Thủ đô nhà nghèo nhưng cũng
chỉ mới
bắt đầu biết thế nào là bươn trải khi chiến tranh chồm tới. Gió ngày ấy
còn
thổi mãi, lạnh buốt hơi mưa chiều rừng Việt Bắc. Cậu trai mười bốn tuổi
lên cơn
sốt rét nửa đường công tác. Thằng bạn vừa đỡ ông đi vừa khóc vừa chửi
cho bằng
hết vốn liếng rủa xả tiếng Kinh đã học được ở ông. 'Mày ơi. Đi đi. Mẹ
mày.
Không tao bỏ mày lại ở đây cho cọp vồ bây giờ. Cố thêm một đoạn là tới
châu Tự
Do. Cố đi nào. Rồi tao đi xin kí ninh cho. Rồi tao xin gạo nấu cháo
cho. Mẹ mày
chứ sao mày làm ông khổ.' Ông không đi nổi nữa. Thằng bạn lệch thệch
cõng ông,
cổ tròng thêm túi dết công văn của ông. Mãi mãi sau này, khi đã từng
trải bao
nhiêu cay đắng, khi đã tự dứt mình khỏi mọi quan hệ cũ ông vẫn thầm tự
hỏi
không biết bây giờ thằng bạn lang bạt nơi đâu. Có nhớ chiều xưa cõng
ông đi? Có
nhớ đêm xưa Sơn Dương dựa lưng vào đống chăn mượn đắp cho ông, háo hức
nghe
những câu chuyện vùng tề của đám đàn ông đàn bà buôn chuyến. Có như
ông, vẫn y
nguyên những bâng khuâng khi tưởng lại tiếng ghita phập phừng bên đống
lửa. Và
những bài ca... '...Đêm nay biết bao nhiêu người Thủ đô mơ thấy trở về
nơi ngàn
năm văn vật ... Ôii Hà Nội ơi ghi biết bao kỉ niệm luyến thương... Ngày
Tổng
khởi nghĩa tưng bừng muôn ánh sao vàng... Ngày tết Trung Thu các em nhi
đồng
Thủ đô vui đón trăng lên quanh Bờ Hồ... Ba Đình...' Tiếng đồng ca chìm
đi trong
một giai điệu buồn buồn rồi bất chợt lại cất cao phơi phới những nhớ
thương
không bao giờ còn có nữa... 'Mời anh vệ quốc dừng chân bên quán... dặm
trường
chiến chinh bụi đường thắm nhuốm áo nâu...' '...Đây miền biên giới chứa
chan
bao tình mến thương...Còn lưu tiếng thơm lớp người ngày xưa lưu dấu...
Đây miền
biên giới êm đềm khi bóng chiều về... Lôi cuốn bao người về vui với gió
chiều
hôm... Có ai xuôi về miền quê đồng bằng yêu dấu... Tôi nhắn đôi lời...'
Gió ngày ấy
còn thổi mãi. Cơn gió sáng đầu tiên về lại Thủ đô. '...Cất bước ra đi
chiều năm
xưa... Dặm dài kháng chiến quên ngày về... Bụi đường trường chinh pha
mái
tóc... Cất bước ra đi ghi lời thề... Ngày mai sẽ về...' Bài ca ấy làm
ông buồn
lịm cả người khi tìm về phố cũ, dù biết chẳng thể nào thấy lại bóng mẹ
bóng em.
Ông đã đứng dưới gốc cây già đầu phố nghe thịt da heo may rờn rợn, nhớ
quặn
lòng người cha chín năm về trước ra đi từ thành phố này và đã nằm lại ở
một góc
rừng bao nhiêu năm lá chết thôi không còn xao xác. Ông đã đứng dưới gốc
cây già
đầu phố, nghe gió mùa thu hoan hỉ xôn xao trong đám lá rụng ven đường,
thương
thằng bạn Thổ không được về xuôi tiếp quản Thủ đô, hoàn toàn không biết
rằng
chỉ nỗi nhớ ấy là duy nhất để ấm lòng nhiều năm tháng về sau. Nhớ giọng
nó hút
dài đi trên con đường rừng buổi hai đứa từ Sơn Dương về lại cơ quan.
Bài hát ấy
ở cơ quan có lẽ chỉ có hai đứa hay hát nhất. 'Mẹ ơi lúc xa mẹ tuổi còn
đang thơ
ấu... con ra đi xa xăm không hẹn ngày về... Buổi nào con ra đi lòng ghi
nhớ...
Tiếng của mẹ già gọi hoài vang nương khe...' Và ông, vừa dứt cơn sốt,
thấy mình
không giống mình của ngày hôm trước. Nó có nhìn thấy đôi mắt ông nóng
ướt hay
không mà đột nhiên chuyển giọng, gào mấy câu hát nhại vừa học được đêm
trước
bằng một thứ tiếng Kinh trôi chảy nhưng ngòng ngọng: 'Tóc em dài sao em
không
búi cứ phi dê cho rối lòng anh...' Không có một bóng người trên đường
ngoài hai
thằng con trai nhỏ. Chỉ cánh rừng sau mấy ngày mưa sũng nắng mới hừng.
Không
bao giờ ông gặp lại thằng bạn đã chia chung với ông tấm chăn đơn ngày
ấy, đã
tập cho ông ăn ớt hiểm chống sốt rét, đã chỉ cho ông cách đào măng và
thổi cơm
lam. Làm sao ông có thể nói cho Ngân hiểu được rằng đấy là những ân
tình vĩnh viễn
và ông tin có những người không bao giờ thay lòng. Không có niềm tin
ấy, làm
sao ông có thể sống sau những ngày không còn dám tin ai mình vẫn thường
gặp mặt
và thường phải tự xét mình sống có còn lí tưởng hay không?
*.
Tâm sự... Tâm
tình... Lí tưởng... Không hiểu sao Ngân lại dị ứng đặc biệt với những
từ như
thế, đến nỗi không bao giờ dùng để nói về mình. Ngôn ngữ không phải là
đời sống
con người. Ngôn ngữ là nơi ẩn trú của đời sống và bản thân nó có một
cuộc đời
riêng biệt. Không thể gò ép. Không thể gọt đẽo. Không thể phỉnh phờ. Và
cũng
không thể dùng nó để phỉnh phờ mình.
Cũng vì thế
mà Ngân ưa chế nhạo. Trước hết là chế nhạo mình. Đấy là một khả năng
rất không
nên có ở đàn bà. Nó cũng giống như cái kính cận mà một người đàn bà trẻ
phải
mang, dù có đẹp có sang có đắt tiền đến mấy thì cũng chỉ làm cho người
đàn bà
đó mất nhiều hơn được trong cái nhìn đầu tiên của người đời. Đàn bà
phải cần
hơi hơi xinh, hơi hơi thông minh, hơi hơi duyên, còn ngoài ra: thừa, để
có thể
hạnh phúc theo tiêu chuẩn.
'Hạnh phúc?'
Chưa bao giờ Ngân dám đặt cho mình câu hỏi đó. Chẳng lẽ lại phải tìm
câu trả
lời khi rõ ràng Ngân hạnh phúc đúng theo sự đong đếm của người đời.
Chẳng lẽ có
thể than vãn khi đợi chờ Ngân trong khung cửa ấy là một tình yêu có
thật, là
một yên bình rất gần với mơ ước của bao người. Chồng Ngân yêu Ngân.
Không có gì
phải hoài nghi điều đó. Người đàn ông đã bắt đầu bệ vệ tương xứng với
tuổi tác
và thành công trong cuộc đời chí ít chưa bao giờ nói rằng không yêu vợ
và tin
vợ. Người đàn ông đó đã cho Ngân hai mặt con, đầy trách nhiệm với vợ
con và
hoàn toàn trung thành với Ngân. Làm sao Ngân có thể nói với mọi người
rằng
chính điều đó làm Ngân khổ sở, cũng như là Ngân đã không thể nói điều
đó với
chồng mình.
Nhưng đúng là
Ngân khổ. Khổ vì nỗi chồng mình coi chuyện gừng cay muối mặn là lẽ dĩ
nhiên và
hạnh phúc là bất biến. Khổ vì nỗi được chồng tin cậy. Khổ vì nỗi chồng
không
bao giờ băn khoăn tới chữ thủy chung. Làm sao có thể lên án một người
đàn ông
đầy năng lực thủy chung bởi anh ta thực ra chẳng có một đam mê gì trong
cuộc
đời, ngoài công việc, sự tiến thân, tiện nghi trong đời sống? Một người
đàn ông
như thế bao giờ cũng đáng được trọng vọng, từ trong nhà ra ngoài phố.
Chưa bao giờ
Ngân có cái lo âu vì nỗi sợ sẽ mất chồng. Chưa bao giờ Ngân được thỏa
mãn vì
nỗi chồng mình sợ mất mình. Đời sống cứ thế từng ngày trượt qua Ngân,
nhàn nhã,
nhàm chán, phi lí. Không thể nào hiểu nổi làm sao Ngân lại có thể sống
vậy
chừng ấy năm. Giá như không có mấy đứa con? Thì vẫn thế. Ngân biết là
vẫn thế.
Dù có ngấm ngầm công phẫn mình đến bao nhiêu, Ngân cũng sẽ không lồng
ra khỏi
cái lồng son này.
Và sẽ tiếp tục
âm thầm buồn, tiếc những ngày
khó nhọc, tiếc những ao ước không thành nên suốt đời vẫy gọi, tiếc
những phấp
phỏng và thảng thốt rất không đâu, tiếc những người không bao giờ có
thể coi là
bạn nữa, mà cũng không bao giờ có thể là gì nữa. Ý nghĩ này hồi đầu làm
Ngân
kinh hãi và ghê khiếp. Nhưng dần dà, Ngân hiểu ra rằng đấy là lối thoát
cuối
cùng của mình, của những kiếp đàn bà như mình. Phải! Khi người đàn bà
không còn
có thể sống cho, sống cùng khao khát, thì phải để cho họ quyền thương
nhớ tháng
ngày đang qua. Nếu không, họ sẽ không chịu được cảm giác mình phản bội
lại
chính mình. Hồi ức luôn làm sáng lại ngày đang sống một cách trang
trọng và
buồn thảm. Đấy chính là vẻ quyến rũ của quá khứ trong Ngân. Có biết bao
nhiêu
người đã chia cùng Ngân quá khứ đó. Còn ai vẫn mang dĩ vãng trong từng
ngày
sống bây giờ? Khi hỏi mình điều đó, không hiểu sao Ngân luôn tin rằng
có, có
đấy, dẫu chỉ đôi người. Những người bạn đã từng cho Ngân những ngày
sống cứ như
mơ, vì cảm giác được hiểu đến tận cùng. Hiểu nhau... Người ta luôn cầu
mong
điều đó và hay nói thế. Nhưng thế nào là hiểu nhau? Phải làm gì để hiểu
được
nhau? Tâm tình ư? Tâm sự ư? Sẻ chia cùng nhau một lí tưởng ư? Có ích gì
hơn một
bản lí lịch trích ngang không? Hiểu nhau trước hết là cảm giác muốn
hiểu nhau.
Những từ tâm tình, tâm sự, chân thành, biết ơn, lí tưởng... trở thành
xa xỉ và
hoàn toàn thừa trong những năm tháng đó. Họ có thể không còn muốn như
xưa nữa.
Có sao! Lúc đó những từ ngữ vô cảm cũng đâu còn cần thiết. Lúc đó, Ngân
sẽ lại
nhạo báng chính mình và nhạo báng mọi người. Đấy là một phản ứng tự vệ
vô điều
kiện ở Ngân.
Chồng Ngâ