*





 
 

Lê Minh Hà 

Gió tự thời khuất mặt
2

 

          12.

 

            Rất lạ lùng, đấy lại là những ngày mà Vĩnh và Ngân thân nhau hơn. Có lẽ giữa họ không hẳn là tình bạn nữa. Giữa bạn bè, dù thân thiết bao nhiêu cũng khó có niềm tin cậy ấy như niềm tin cậy mà Vĩnh và Ngân độ ấy cảm thấy ở nhau. Niềm tin cho phép người ta bộc lộ cõi sâu kín, yếu đuối nhất của mình mà không e ngại. Đấy là điều mà Ngân đã được nhận từ Vĩnh vào những ngày tháng đó. Nhưng đấy không phải là lý do để Ngân không ác cảm với ông bố của bạn. Điều ấy thật không bình thường. Nhưng đúng là như thế. Ngân không thấy căm giận ông ta. Khinh? Có lẽ! Nhưng mà không căm giận. Mặc dù nỗi cay cực của bố Ngân biết rõ và không bao giờ quên. Nhưng với Ngân, đó là quá khứ của ông. Một cách vô thức, Ngân đã chối từ nghĩa vụ gồng gánh dĩ vãng, gồng gánh tự hào và đau khổ của thế hệ đã sinh thành ra mình. Một cách vô thức, Ngân đã hiểu ra khả năng nhiễm độc trong hương vị dịu dàng đắng cay của quá khứ. Và bởi thế Ngân đã hành xử rất nhẹ nhàng với người cha của bạn. Nếu tự tin hơn và nhẹ dạ hơn, hay nếu căm giận, có lẽ Ngân đã không thể tự bảo vệ mình, có lẽ đã rơi vào cái bẫy của mình trong ý muốn trả thù cho cuộc đời bố mẹ, trả thù cho cuộc đời không được sống mà mình thực ra cũng không biết sẽ như thế nào.

 

            Nhiều năm sau này, không gặp lại Vĩnh nữa, nhưng khi nhớ về người bạn cũ đã cho mình bao nhiêu tin cậy và âu yếm, và có lẽ, đã có thể cho mình cả yên ấm theo một nghĩa nào đó, Ngân lại nhớ tới buổi chiều ấy. Ông bố Vĩnh lại diễn đúng vở cũ, nửa thân tình nửa sàm sỡ, Ngân xoay người, lách ra khỏi vòng tay ông, nói rất nhẹ nhàng:

            - Bác Mạc!

 

            Hệt như nghe ống nứa nổ trong rừng cháy, người đàn ông ngả tấm thân bệ vệ về phía sau, môi giật giật:

            - Sao... sao Ngân biết cái tên đó? Cháu... cháu là ai?

            - Là bạn Vĩnh con bác, bác biết rồi mà. Vĩnh rủ cháu đi xem vở 'Tôi và Chúng ta'. Ồn ào ghê lắm, chắc bác cũng xem rồi? Cháu cứ khất Vĩnh mãi. Nhưng mà... Vĩnh về thì bác bảo Vĩnh cháu chờ Vĩnh tối nay lúc bảy giờ nhé.

 

            'Bình tĩnh! Bình tĩnh'. Ngân đi về phía cửa, hít thật mạnh và giữ hơi lại trong khoang bụng, đầu âm âm lời tự nhắc mình. Nếu Ngân quay đầu, cô sẽ thấy người đàn ông béo tốt giờ bệch bạc ngồi chảy ra trong lòng ghế. Đã từ lâu lắm rồi, ở quanh ông không còn là những người anh người em thuở ấy. Đã từ lâu lắm rồi, ông không còn nghe ai gọi mình bằng cái tên ấy. Cơn gió nồm nam thốc vào phòng làm ông rợn cả người, như cái lúc nhớ lại trận lũ rừng trên đường công tác năm xưa, như cái lúc hồi tưởng giây phút quăng mình qua bờ đê tránh hỏa lực phục kích của địch một đêm đột nhập làng tề, như cái lúc từ trên ban công đang săm soi giàn hoa cẩm tú thì bất chợt thấy người đàn bà điên cùng phố... Cô gái này không điên.

 

            Ông hoàn toàn mất bình tĩnh. Bà vợ đi làm về gặp cô gái ngoài cổng đã thấy chồng trong bộ dạng thảm não đó. Bà không thể có thêm một phỏng đoán nào ngoài phỏng đoán kinh khủng ấy, vì ông chồng không thể giải thích điều gì. Trong nỗi căm giận chính đáng nhiều năm của mình, liệu bà có thể hiểu được nỗi bất an cứ phình lên nóng rực ruột gan ông? Và ngay cả có biết rằng đêm ấy, khi thằng con trai ông đạp xe trên phố mưa, gọi tên cô gái trong mưa, cô gái sẽ nằm mở mắt, khóc, lặng lẽ, biết rằng mình sẽ không bao giờ còn tìm gặp lại Vĩnh, sẽ không bao giờ còn rong ruổi cùng người con trai vô tư và dễ mến những chiều chiều, chắc là ông cũng vẫn không thể yên tâm.

 

*.

 

            - Giá có thể lại trẻ bằng khi đó, Vĩnh sẽ xin lỗi Ngân cách khác. Có thể Ngân vẫn không chịu, vẫn đi lấy chồng, nhưng giữa chúng mình sẽ không phải là mười mấy năm yên lặng như thế này.

            - Nói thế làm gì Vĩnh. Dù thế nào thì Vĩnh cũng thừa biết bọn mình không thể lấy nhau cơ mà. Cái tính Ngân... là bạn thì có thể chứ làm vợ thì Vĩnh chắc chịu chả nổi ba bảy hăm mốt ngày đâu. Vĩnh ân hận ư? Bọn mình có thể xin lỗi thay cho các cụ được không? Ngày xưa, Ngân cũng choáng váng khi biết những điều không nên biết của các cụ. Nhưng bây giờ, khi đã là đàn bà, đã không thể nào ngờ nghệch lại, Ngân hiểu rằng mọi sự đều có thể, xấu hay tốt, ở bất kì ai, đều có thể.

 

*.

 

            Dù người đàn bà nói thế, người đàn ông vẫn không thể nào quên được câu chuyện bà mẹ ép nghe vào buổi sáng chủ nhật kinh khủng ấy. Ông bố đã đi câu lạc bộ chơi tennis. Bà giúp việc nghỉ làm. Ông anh vào trường. Chỉ có hai mẹ con. Vĩnh ngồi bất động, chú mục vào giò phong lan treo ngoài gió sớm vừa nở lần đầu. Trời u ám và cái màu vàng cam ấy sao mà lộng lẫy. Vĩnh đã không thể nói gì, nhưng Vĩnh biết mình ước ao gì. Vĩnh hoàn toàn khác thường vào buổi tối khi đến trung tâm ngoại ngữ chờ Ngân. Và Vĩnh đã xin lỗi, đã ngỏ lời. Và lại thêm một lần choáng váng bởi câu chuyện về gia đình bạn. Không có hân hoan đêm mưa hôm nào. Điềm đạm và buồn bã. Cả hai người đều điềm đạm và buồn bã. Y như bây giờ. Hồi ức chung làm họ hiểu rằng ngay từ khi ấy mình sẽ chẳng còn bao giờ trẻ nữa...

 

            - Ngân biết không, hôm ba Vĩnh mất, Vĩnh có thấy Ngân và... cả bác.

            -  Ngân đưa bố đến cùng chú Thái. Ngân cứ nghĩ Ngân không đi cùng lớp mình thì Vĩnh chưa chắc nhớ. Hôm đó phòng tang lễ sao mà đông. Mà Ngân và cả hai cụ thì đều không ghi gì vào sổ tang.

            - Vĩnh cứ ngạc nhiên...

            - Sao lại ngạc nhiên? Sau nay bố Ngân và chú Thái hay nhắc ba Vĩnh những ngày còn ở Việt Bắc. Các cụ bảo ba Vĩnh ngày ấy sống hay lắm. Vĩnh đừng nhớ những chuyện ấy làm gì nữa. Dù sao bác cũng nằm xuống rồi. Mà Ngân phải nói ngay với Vĩnh rằng chính ba Vĩnh đã dạy Ngân nhiều điều. Không biết bác, chưa chắc Ngân như ngày hôm nay để Vĩnh còn muốn gặp lại. Nhờ bác mà Ngân hiểu ra rằng sớm muộn gì thì người ta cũng phải một lần đối diện mình, nhận chịu trách nhiệm của mình. Và...nói thật đừng bực nhé, Ngân thấy cái trò ăn năn hộ của Vĩnh cải lương ghê lắm. Cứ biết chịu cho đủ trách nhiệm của mình hôm nay đã. Thế chưa đủ nhọc sao? Chuyện các cụ để các cụ tự xử lí. Ngẫm cho cùng cũng tại các cụ cả. Các cụ đùng đùng chạy theo nhau. Đã trung thành với tổ chức thì đừng nói chuyện trung thành với nhau. Không thể có những thước đo khác cho những thời điểm khác trong đời người. Ba Vĩnh chỉ làm những gì mà ngày ấy người ta cho là... cho là... nếu chưa đúng thì cũng chẳng có gì ghê gớm. Còn việc giữa bác với Ngân sau này, Vĩnh phải nhìn như giữa bác với một người đàn bà bất kì. Cái chính không phải là bác, mà là người đàn bà kia làm gì. Ngân đã học được ở các cụ nhiều điều...

 

            Bài học đắng cay. Cả hai người hiểu rất rõ rằng nói vậy thôi, dĩ vãng còn nguyên đó. Ám ảnh họ. Đeo đẳng họ. Đời sống nếu đẹp thì hình như luôn đẹp trong cái vẻ u ám này. Nhưng thật ra đời sống nhiều khi chỉ tức cười và buồn rầu một cách phi lí.

       

 

Sao ta không gặp nhau muộn hơn

Những xáo trộn trong đời thành dĩ vãng

Ta biết quý những gì yêu dấu

Không bao giờ ta chia tay em

 

Sao ta không gặp nhau sớm hơn

Lơ ngơ chưa biết tiếc điều gì

Đã không cháy đốm lửa muôn đời ấy

Không tro tàn bỏng rát mấy mươi năm

 

Sao ta không tìm nhau ngày sau

 

 

  13.

 

         Chẳng hạn như trò chơi vợ chồng. Đúng hơn thì phải nói là một vở kịch nhạt mà kì cục.

 

         Cái hồi đó kì cục thật. Khu tập thể trông thật đẹp. Ba khối nhà cao tầng quây lấy nhau. Giữa là nhà trẻ xây theo lối nhà nghỉ công đoàn ở Đồ Sơn Sầm Sơn gì đó, có hành lang bao quanh và đấy là nơi tụ tập của bọn trẻ con những buổi trưa mùa hè mất điện. Trước nhà trẻ là vườn hoa. Có lẽ chỉ có thế hệ Ngân là biết ngày xưa khu tập thể còn có một vườn hoa. Đúng là kiểu mẫu. Chỉ còn thiếu mấy cái xe đẩy trẻ con và mấy bà béo mặc váy hình cái nơm ngồi trên những chiếc ghế gỗ kê dọc lối đi là giống như cảnh thường thấy trên các tấm bưu thiếp của Liên xô. Nhưng đằng sau những cánh cửa kia là cả một sự nhem nhuốc và lạ lùng là dường như không một ai thấy bất thường. Hai gia đình được chia chung một phòng còn tự cho mình may mắn. Giường kê lênh khênh trên mấy viên gạch cho cao và tất cả nồi niêu xoong chậu tống hết xuống gầm. Một cái tủ gỗ tạp và cái xe đạp dựng kề. Đấy là tất cả cõi riêng của những cặp vợ chồng son rỗi khi đó, tách biệt nhau bằng một tấm vải hoa loè loẹt theo thời gian màu sắc cứ xỉu dần đi. Bọn trẻ con thì thích ở chung lắm. Nhưng bọn lớn hơn một chút thì lại có thú khác. Buổi trưa ấy, theo lời hẹn, cả lũ không tụ tập dưới hành lang nhà trẻ mà dồn về nhà thằng Phái. Căn phòng lớn đầu hồi mà khi thiết kế người ta tính dành để làm nơi cho mọi người tụ bạ, đọc sách chơi đàn đánh bóng bàn hay nói nhăng giờ mới được chia đôi. Nhà thằng Phái chiếm một nửa. Nửa căn kia thuộc hai nhà, nhà bác Miến già không con và nhà chú Tưởng cô Hoa mới cưới. Hai căn được phân cách bằng tấm gỗ dán dựng cao quá đầu, nhìn lên thấy toàn những bao những gói chăn màn. Thằng Phái đã dùi một lỗ nhỏ trên bức tường gỗ từ bao giờ và bây giờ nó hào phóng cho cả bọn xếp hàng ghé mắt nhòm, sau khi đã dặn dò cảnh cáo cả bọn suốt mấy ngày trước đó là phải trật tự như khi kiểm tra một tiết. Cái lỗ bé hơn đầu đinh hóa ra nhìn thẳng qua giường chú Tưởng cô Hoa. Nhà bác Miến đi đâu không rõ. Cứ thấy cô chú vật lộn, lăn bên nọ lăn bên kia, lúc mất tích đâu ở góc tường, lúc chình ình hiện ra nồng nỗng trông ghê không chịu được. Hết phần nhòm ngó, Ngân kéo tay con Hằng An nhà cô Tam lủi một mạch. Cái cảnh vừa nhìn thấy làm nó chóng mặt, buồn nôn, nhưng những tiếng động vừa lọt vào tai lại bắt buộc nó hình dung ra một cảnh khác mà nó đã suýt phải chứng kiến khi còn bé hơn thế này, khi còn đi sơ tán. Hồi ấy nó thân với chị Thục nhà ông Lẫm lắm. Chị là cô gái duy nhất trong làng học hết cấp ba và là kho sách của Ngân, cũng là người duy nhất được bà tin cậy gửi Ngân những khi ngoài bãi có hát chèo hay chiếu bóng. Ngân hay qua nhà chị theo lỗ chó chui ở chân rào, rồi tọt thẳng vào buồng chị. Buồng chị Thục không giống buồng các cô gái khác trong làng, không chăng sào để vắt quần áo, không chồng chất hũ lọ thúng mủng giần sàng, sát cửa sổ lại còn cây khế lá lúc nào cũng nõn nà xanh làm cho nắng cứ xôn xao. Buổi trưa, trời oi bức. Các chú bộ đội đóng quân trong làng không thấy đi lệu rệu. Ông bà Lẫm đi thăm con làm ở nông trường An Khánh tận ngoài Hà Đông. Ngân vừa tới sát gốc cây khế thì giật mình. Cũng những tiếng động kì quái như tiếng động Ngân vừa nghe qua bức vách nhà thằng Phái. Sợ bủn rủn chân tay. Con bé lủi ra đầu hồi nín thở nghe ngóng tiếp. Cho tới khi có tiếng kẹt cửa nhẹ như một tiếng guốc võng chao nghiêng. Người vừa bước ra đi tắt qua vườn ngay chỗ đầu hồi Ngân đứng là chú đại đội trưởng đơn vị bộ đội đóng quân trong làng. Chú sẽ cùng đơn vị ra đi chỉ sau đó ít ngày. Cũng chỉ ít ngày sau, Ngân đã vô tình nhìn thấy chị Thục đi giặt, lúc nó nằm sấp trên cây sung còng bên dốc bến. Bến vắng. Quanh chỗ chị Thục dầm chân, những vòng sóng đỏ lan ra, nhạt dần, trôi đi. Chị Thục đứng thẳng lưng, nâng cái nón đựng mớ đồ ướt, mắt lấp lánh một niềm vui chưa bao giờ Ngân thấy.

 

         Phải rất nhiều năm sau này Ngân mới thoát được cảm giác ghê ghê lờm lợm khi chợt nhớ lại cảnh ấy. Phải rất nhiều năm sau này Ngân mới hiểu ra nỗi đau khổ và khả năng chịu đựng quá sức người của con người thời bấy giờ. Ngày đó, người ta sống hay chỉ đơn giản là hiện diện? Thật khó trả lời. Mà đặt câu hỏi như thế hình như là bất nhẫn. Cũng không ai được quyền tách khỏi đời sống đó để mà kinh ngạc hay xót thương. Không coi tất cả là bình thường, chết chóc, thiếu đói, cấm đoán, cả nhục nhã nữa là bình thường, làm sao người ta sống?

 

        Dù thế, hồi ức vẫn chi phối Ngân mà Ngân không tự biết. Từ chối một bến bờ yên ấm là Vĩnh, Ngân lại chọn cho mình một nơi yên ấm khác, hoàn toàn bất ngờ với bạn bè. Khi không thể hết mình vì tình yêu mình mong có thì sống thế nào chả được. Vậy thì sao không sống cho đàng hoàng?

        Cuộc sống đàng hoàng ấy thật là nhờ nhệch, làm xộc xệch mọi cảm giác của Ngân. Phải vì thế mà trong lòng người đàn bà trẻ con này cứ thảng thốt mãi tiếng rống gọi trở về của tháng ngày thiết tha buồn khổ. Cảm giác về những ngày ấy từ nhịp sống bây giờ tưởng chừng có thể làm tất cả trong trẻo lại. Ngân đã tự mình thấm thía, năm từng năm, khi trên phố lại mơ hồ mùi hương của những gánh hoa loa kèn bán sớm, khi một trưa bất chợt gặp màu bằng lăng tím dại dột trong mưa làm thanh thoát lại cái khoảng phố Thợ Nhuộm khô cằn, khi ngoài ngõ một sớm kia tự dưng quang quẻ hẳn vì cây đa thay lá mới. Bao giờ cũng là những hồi ức buồn thảm thức dậy cùng những hương và sắc ấy. Lung linh nhất và mơ hồ nhất trong nỗi nhớ nhọc nhằn luôn luôn là mẹ. Mẹ, và những giờ phút cuối ...

 

 

 

         Những câu thơ buồn và lạnh

         Mang theo suốt cuộc hành trình

         Tôi sưởi ấm lòng mình

         Bằng những câu thơ buồn và lạnh

 

         *

 

           

         Không bao giờ, không bao giờ còn ra quả nữa

         Nhưng những cuối mùa

         Quanh gốc,

                             rụng toàn cuống hoa

 

                                Gửi một cây anh đào cùng tuổi

 

 

         14.

 

            'Con mang trên vai tuổi con gái chòng chành - con không được như các bạn của mình - khi mỏi nghiêng về bên mẹ...'

         Ngân đã viết như thế ở trang cuối của một cuốn vở, giữa một tiết học cuối năm, khi các bạn trong lớp dấm dúi chuyền tay nhau cuốn sổ lưu niệm để mơ màng nhắm mắt trước khi hạ bút vạch một chữ kí lãng mạn, với cái đuôi loằng ngoằng hướng tới tương lai. Đấy sẽ là cuốn vở duy nhất Ngân giữ lại nhiều năm sau khi đã rời trường phổ thông và đại học. Cuốn vở chỉ nguệch ngoạc đôi công thức toán và dòng chữ đó, trang cuối cùng. Nó nhắc Ngân nhớ tới nỗi cô độc bất thường của mình, không hẳn chỉ vì mồ côi mẹ sớm đến thế.

 

*.

 

            Nhiều năm sau này, khi đã là một người đàn bà từng trải nhiều mà vẫn không dạn dày, những dòng chữ viết trong buổi sáng hè rời rợi gió đó sẽ làm Ngân sợ hãi khi nghĩ về đời sống. Ngân nhớ mẹ đã ra đi vào tuổi Ngân bây giờ, mà chưa từng có một khoảng thời gian nào thật sự yên bình, nói gì hạnh phúc. Chỉ ở tuổi này, Ngân mới thấu hết nỗi đau của một đứa con mồ côi, chỉ thấu, khi hiểu ra nỗi đau đớn kiệt cùng của mẹ những ngày tháng đó, khi mẹ biết mình sắp chết, mà con mình còn nhỏ dại thế kia. Dẫu đã hết đạn bom. Nhưng đã bắt đầu lẩn khuất đâu đó khó khăn của thời hậu chiến, với bao nhiêu lo toan no đói tầm thường.

      

            Và cũng chỉ ở tuổi này, khi hầu như mọi buồn vui dồn hết vào những đứa con rứt ruột, Ngân mới dám nghĩ rằng mẹ thật ra đã ra đi đúng lúc. Mẹ sẽ sống làm sao cho qua những ngày tháng đó. Mẹ, người đàn bà đẹp nhất, đẹp đến nỗi bao giờ bắt gặp một gương mặt phụ nữ khả ái, Ngân đều có cảm giác người đó có đôi ba nét giống mẹ mình.

 

            Đấy không hẳn là cảm giác dễ hiểu ở một đứa con yêu mẹ. Người phụ nữ đã sinh ra người đàn bà trẻ con đẹp thật. Đẹp khác thường. Mái tóc rất dày nâu óng lên trong màu nắng quái dâng ngập những thân cây già bao chiều trên phố vắng. Hàng lông mày rậm cũng óng một màu nâu như thế. Sắc nâu lạ lùng và nồng ấm biết bao nhiêu, cứ làm Ngân thót cả tim mỗi bận nhìn dọc phố ngóng bóng mẹ đi về. Thường phụ nữ da trắng thì tóc và mắt cũng hơi nâu, nhưng đường nét sẽ nhạt, và buồn vui thì hời hợt yếu mềm. Còn mẹ, tóc và lông mày óng ả một màu nâu pha màu đồng đỏ, mắt to và môi mọng, hai khoé môi lúc nào cũng như đang giấu sẵn một nụ cười trái ngược với cái nhìn đầy tra vấn. Mẹ đã đi suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình với mắt và môi ấy, cả tin mà không biết khoan nhượng. Mẹ đã đi qua hai cuộc chiến tranh. Tuổi thơ âm u dưới bóng rừng già Việt Bắc. Tuổi trẻ trập trùng những nỗi đạn bom, nỗi mẹ già con dại chồng nghèo u uất mãi một nỗi niềm không thể nào gỡ bỏ. Mẹ đã đi qua tất cả với cái nhìn đau đáu và miệng cười không bao giờ gìn giữ lại cho mình một chút gì. Ngân không biết mình thừa hưởng được ở mẹ điều gì. Không phải là nhan sắc thắt lòng thắt ruột. Không phải là tính khí, cả tin, nóng nảy, kiêu hãnh mà thực ra khiêm nhường. Ngân nhớ, nhớ bao nhiêu giọng hát của mẹ, những đêm Hà Nội, mất điện, thanh khiết trăng sao. Những bài hát thời kháng chiến, những bản nhạc vàng ở lớp ở trường Ngân vẫn thường nghe nói mà không biết. " Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng - Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa ... Âm ba thoáng rung cánh đào rơi - Nao nao bầu sương khói phủ lưng trời - Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan -Quê hương dần xa cách núi ngàn...  Gió hát trầm khúc ca - Tiếng phách giòn lắng xa - Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta...'  Bao nhiêu bài mẹ đã hát Ngân nghe. Những bài hát mẹ đã nghe từ bà ngoại giữa một Hà Nội lạ lùng trước ngày kháng chiến, nghe từ các chú các bác cùng cơ quan ông ngoại dưới bóng núi chiến khu, những bài mẹ đã học thời thiếu sinh quân quê người. Nhưng Ngân nhớ, nhớ nhất khúc thiên thai kì diệu mà mẹ đã hát say mê trong hơi gió nồm nam lồng lộng thổi, và nhớ những ngón tay mẹ mơn man trên tấm lưng nóng hầm hập vì sốt của Ngân. Ngân nhớ đêm mùa hạ ấy Ngân rét lắm trong cơn sốt, nhưng con bé con vẫn nằm mình trần, yên lặng, chỉ để được có bàn tay mẹ trên thịt da mình, chỉ để được nghe mẹ hát như mẹ đang nghĩ ngợi. Trăng xanh biếc hào phóng rải trên tấm chiếu cũ hai mẹ con nằm. Đấy là đêm riêng tư cuối cùng của hai mẹ con. Mẹ sẽ không thể sống những ngày những đêm đầy sự kiện đến rất nhanh sau đó. Như đêm ấy...

 

*.

 

         ...Đêm ấy, 30 tháng 4 năm 75, Hà Nội vẫn mất điện. Trong bóng tối hầm hập, tiếng loa truyền thanh không dễ định vị như lúc ban ngày, vang xa hơn, chói lói hơn. Hai chị em Ngân kẽo kẹt đèo nhau về nhà trên cái xe đạp cũ. Từ bệnh viện K nơi mẹ và những bệnh nhân ung thư nằm - những người mà người thân đang cố giấu họ một cách vô ích chẩn đoán vô vọng của bác sĩ, nơi chỉ có những mắt nhìn mỏi mệt của người sống và hoang vu cuả người đang chết trở ra phố, Ngân có cảm giác thế giới này không có thật. Người như nước tuôn về phía Bờ Hồ. Như cả thành phố dồn về đây, để đứng bên nhau, để cùng lắng nghe. Đoạn Hai Bà Trưng - Hàng Bài tắc cứng. Không rõ mặt ai trong tối. Chỉ những hơi thở nóng, nặng nề. Chỉ những tiếng lầm bầm xin lỗi của những người bị mắc xe đạp vào nhau hay sơ ý giẫm phải chân nhau. Bay náo nức trên tất cả, trên đám người không rõ mặt, trên vòm lá bắt đầu lồng lộng gió là những âm giai nao nức. 'Việt Nam trên đường chúng ta đi - Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó - Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời - Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước mà vui sao ta chẳng nói nên lời... Chặng đường xa ta đi giữa mùa xuân - Ta đi giữa tình thương... chiến trường xa dồn dập bước... Việt Nam... Việt Nam...'  'Yên hàn thật rồi.' Ai nói lầm thầm như mơ. Đột ngột vang lừng một giai điệu chưa bao giờ nghe... 'Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng - Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng...' Lại Việt Nam. Lại Hồ Chí Minh. Có cái gì cảm động lắm, vừa cảm động vừa nghẹn ngào vừa kỳ quặc nở dần ra trong bóng tối của ngày đại thắng.

 

         Khi đó Ngân chưa biết Trịnh Công Sơn. Cũng chưa biết tự hỏi mình nếu vào lúc đó hoặc trước đó người Hà Nội đã biết chẳng hạn 'Một buổi sáng mùa xuân' hay 'Đại bác ru đêm' của Trịnh thì ấn tượng về ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh đằng đẵng ấy đối với mỗi người sẽ như thế nào?

 

            Đại hội Đảng lần thứ tư sẽ diễn ra sau đó một năm. Trước đó là cuộc diễu binh lớn chưa từng thấy. Nhà Ngân chật cứng bà con ra tỉnh xem duyệt binh. Mẹ lại nằm viện, đang heo hắt những hơi thở cuối. Ai ra Hà Nội cũng vào thăm mẹ và mẹ vẫn cố hết sức để mỉm cười, để diễn tả niềm vui có thật trong lòng khi biết mình sẽ chết. Rằng con mình đã sống và sẽ sống. Vì đã là hòa bình. Nhưng, trong hòa bình đã bắt đầu một cái gì đó còn khó khăn hơn cả thời bom đạn. Sau này, ký ức về những ngày đó trong trí Ngân cứ tự xóa từng vệt. Chỉ còn duy nhất một ấn tượng: hè năm đó ve sao mà nhiều thế, và mậu dịch bán nhiều chanh thế. Ve ran ran đêm ngày như một lời tiên cảm về những mùa khô khát chưa tới. Chanh đổ từng đống bên hè phố, thơm mát đường trưa tháng sáu, rồi úa đi, nẫu đi, bốc mùi. Tại sao Ngân lại nhớ điều nhỏ nhặt ấy? Tại sao Ngân không mấy khi nghĩ tới những buổi trưa hai chị em lủi thủi đi xuyên thành phố mang cơm cho bố đang trông mẹ trong bệnh viện? Tại sao Ngân không nhớ những tiết học đột nhiên nhãng hẳn lời thầy giảng, trái tim đập nặng như muốn ngừng vì ý nghĩ có thể trên cái giường sắt đó ở viện mẹ đã tắt thở? Đấy có phải là phản ứng tự vệ để lẽo đẽo cho hết phần đời chưa kịp sống?

 

            Lúc đó, trong đầu óc cô gái mười ba tuổi không còn chỗ cho Trịnh Công Sơn. Mà có lẽ, với những người khác thì cũng thế. Đại hội Đảng IV thành công rực rỡ. Báo đăng. Đài nói. Công viên Thống Nhất thành rừng ánh sáng. Nghị quyết về các chỉ tiêu kinh tế đất nước phải đạt tới trong kế hoạch năm năm tiếp đó... Những con số... 'Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng...' Hai mốt triệu tấn lương thực thành mục tiêu trên giấy cho bà con nông dân hướng tới... 'Hợp lý.' 'Nhảy vọt.' Đài nói. Báo đăng. Có thể đoan chắc chuyện ngờ vực không có trong lòng người dân bình thường. Cái chính là đang sống, còn sống. Vả chăng đánh Mỹ còn được thì làm gì chả được. Đã ở nước nào đại sứ Mỹ phải cuốn cờ cắp nách cút đâu. Không ai thấy chuyện giang sơn thu về một mối mà vào tìm thân nhân trong miền đất vừa giải phóng vẫn cần có đủ thứ giấy chứng nhận nhân thân của cơ quan khối phố là điều bất thường. Nếu có ngỡ ngàng thì chỉ là ngỡ ngàng về một miền Nam phồn vinh lắm đồ nhựa xanh xanh đỏ đỏ, lắm máy móc gia dụng cũ, lắm vải mỏng đẹp tuyệt mà vừa giặt vài ba nước đã rách và vào chợ Bến Thành không biết cách mặc cả thì chớ có mua bán gì. Nếu có ngờ vực thì chỉ là sự ngờ vực kín đáo trước những người đàn bà miền Nam ra thăm chồng đi tù, áo bà ba vải mỏng tang mà nét cắt trông cưng cứng, quần ống rộng đen nhấp nhoáng, dép lưới, đội mũ vải thay vì nón lá, miệng lúc nào cũng hờm sẵn một nụ cười giữ ý chẳng ăn nhập gì với cái nhìn căng thẳng, buồn bã. Họ luẩn quẩn trong căn phòng chật của người bà con Hà Nội, lo xếp xếp sắp sắp những gói những lọ những hộp bốc mùi thơm lừng. Toàn những mùi xa xỉ tra tấn mũi và lưỡi và dạ dày của đám con chủ nhà cùng chúng bạn. Ngoài phố, tiếng loa truyền thanh vẫn vang vang dội ngược vào nhau. Náo nức. '...Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay - Non nước mây trời lòng ta mê say...' '...Từ ngày hôm nay chỉ còn những tiếng ca...' '...Từ thành phố này Người đã ra đi - Bao năm ước mong đón Bác trở về...' Cũng đã chen vào những âm thanh mới của những cuộc chiến mới. Nức lòng. Hùng tráng. '...Chẳng kẻ thù nào ngăn được bước ta đi - Khí thế tiến công mang sức mạnh thần kỳ - Lời Tổ Quốc vẫn âm vang sông núi...' '...Chúng con lên đường hình Tổ Quốc trong tim...' Trịnh Công Sơn phản chiến của cuộc chiến đã qua không thể chen chân trong dòng chảy này của đời sống. Còn tình ca? Tình ca thích hợp với một cuộc chiến nhất định thắng chỉ có thể hát về những nỗi nhớ hai đầu, hai đầu dòng sông, hai đầu núi biếc, hai phương trời cách biệt, là sự chia xa thực chứ không phải là tưởng tượng, và không bao giờ là cô đơn. Vẫn còn nguyên trong trí nhớ Ngân tiếng hát Trung Kiên sắt đá một niềm tin phơi phới: '...Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa - Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba - Em ơi nghe chăng lời trái tim... Qua núi biếc trập trùng xa xa - Qua bóng mây che mờ quê ta - Tiếng ca đời đời đời chung thủy thiết tha... Giữ lấy đức tin bền vững em ơi - Giữ lấy trái tim đòi sống yêu đời làm một bản tình ca dâng cả bao người...' Vẫn vẹn nguyên trong trí nhớ Ngân giọng nữ trung nồng ấm và rạo rực của Vũ Dậu: '...Rất dài và rất xa là những ngày thương nhớ... Anh đang mùa hành quân pháo lăn dài chiến dịch - Bồi hồi đêm xuất kích chờ nghe tiếng pháo ran - Ngôi sao như mắt anh trong những đêm không ngủ - Giáo án em vẫn mở cho ánh sao bay vào - Ngày và đêm xa nhau những đêm dài thương nhớ - Thời gian trong cách trở vẫn cháy ngời tình yêu...' Vẫn còn nguyên... giọng hát và ánh mắt... gửi trao... hò hẹn... rụt rè... liều lĩnh... Quang... chiều Đại Lải năm nào: '...Một tiếng chim ngân - một làn gió biển - một sớm mai xuân bên cửa hầm dã chiến thấy trời xanh xao xuyến... ta vẫn thầm hái hoa tặng nhau...' Không một nhấp nháy xao xuyến trước tấm tình ấy, nhưng Ngân nhớ, nhớ tới bây giờ và chắc mãi về sau nữa, về người bạn cùng lớp sẽ hy sinh chỉ sau đó ít ngày, dù Ngân đã chồng con, đã mệt nhọc lắm bơ phờ lắm vì phải sống. Lứa tuổi Ngân khi ấy chưa có tình ca cho riêng mình. Vẫn phải ăn đong tình ca của các thế hệ trước. Tiền chiến là cái gì đó chỉ lõm bõm nghe 'các cụ' âm ư rồi thở dài sau những bữa ăn chiều còn hơn là đạm bạc. Còn cái món ỉ ôi sướt mướt ' Thi ơi Thi Thi có biết biết không Thi khi con tim yêu đương thầm chết...' nhà hàng xóm khuân từ miền Nam ra nghe lén qua cái Akai cũ to như hòm lương khô, cái món ấy làm cho xương thịt thiếu ăn cứ muốn rão ra và những trưa hanh hao Hà Nội đâm khó thở.

         Khi đó Ngân chưa biết Trịnh Công Sơn. Mà biết, liệu Ngân đã biết để mà mê đắm?

 

*.

  

            Cô gái mười sáu tuổi không hề nghĩ rằng chỉ sau đó mấy năm thôi mình sẽ đổi khác hoàn toàn. Càng thiết tha bao nhiêu thì càng có vẻ ơ hờ. Càng nồng nhiệt bao nhiêu thì càng cô độc. Trịnh Công Sơn? Rồi Ngân sẽ biết nhưng không phải ngay lập tức đã cảm được. 'Biển nhớ.' 'Tình nhớ.' 'Cuối cùng cho một tình yêu.' 'Rừng xưa đã khép.' '...Tình yêu như trái phá con tim mù lòa... Một mai thức dậy chợt hồn như ngất ngây... Chợt buồn trong mắt nai... Tình yêu như vết cháy trên da thịt người... Tình xa như trời... Tình gần như khói mây... Tình yêu như nỗi chết cơn đau thật dài... Tình cho nhau môi ấm một lần là trăm năm...' Tình nào mà chẳng như tình nào. Có gào thét than van cho lắm cũng có khác gì nhau lắm. Ngân sẽ còn phải nhắm mắt lăn đời mình qua những đam mê và khó nhọc của ngày sống thời hậu chiến rồi mới hiểu ra rằng những than van, những gào thét, những day dứt giữa những cơn say dài những cơn say vùi của Trịnh cần phải cảm không phải bằng trái tim đau khổ vì yêu hay vì đã chán yêu mà phải bằng trái tim hoang mang của người biết mình là duy nhất, lớn lao và nhỏ bé, tột cùng. '...Từ lúc đưa em về là biết xa ngàn trùng...' Đấy không còn là nỗi thiết tha tuyệt vọng của kẻ đang yêu. Đấy là nỗi bi thảm của người - xa - lạ, mến thương cuộc đời này, mê đắm cuộc đời này, cô độc tuyệt đối trong cuộc đời này và mỗi mối tình sống qua, mỗi người tình quen thêm chỉ là thêm một bước, vào hoang vu.

         Ngân hiểu ra điều ấy hơi bị sớm. Nhưng cần một buổi chiều, một cơn gió bời bời khua trong vòm sấu làm chao nghiêng một chiếc lá bên trời, một mùi hương thơm ngát của tách cà phê quán vắng, một con người sẽ bước ra khỏi đời Ngân, điều mà cả Ngân và người ấy khi chia tay đã không hề nghĩ.

 

*.

 

         ...Trời trở lạnh đột ngột. Phong phanh trong cái áo mỏng đứng run cầm cập giữa đám người chen chúc trước cửa hàng chất đốt, Ngân buồn nản nghĩ tới cái cổ họng nhạy cảm và lồng ngực ốm yếu của mình. Bài tập lớn chưa làm. Sắp thi điều kiện rồi. Rồi sau đó là kỳ thi tốt nghiệp. Nhưng trước mắt sẽ là những đêm không ngủ không chạy đâu cho thoát vì khó thở, sẽ là những ngày nằm bẹp dí trên giường kẹp giữa hai chồng sách sẽ đọc và đã đọc. Nhưng cũng không thể bỏ về. Đã xếp hàng suốt từ trưa tới giờ. Bìa chất đốt chiều nay hết hạn. Bố đi làm. Chị đi thực tập. Không còn trông được vào đâu. Ngân không chờ đợi cái tin ấy vào đúng lúc ấy.

 

            Việt dừng xe sát bên Ngân, nhẹ giọng: 'đặt lên đây' và đỡ lấy can dầu nặng trĩu trong tay Ngân. Có cái gì thương mến lắm trong mắt Việt. Ngân không biết khuôn mặt trắng xanh, cái áo cũ mỏng Ngân vừa co hai vạt quấn chặt tấm thân thanh mảnh, mái tóc dày buông lơi của mình đã siết lấy trái tim Việt trong khoảnh khắc đó của buổi chiều đó. 'Vừa lĩnh học bổng. Muộn muộn Việt tới. Đi nhé!' Vẫn là thương mến, nhưng thêm một chút gì như gượng nhẹ, như vui thầm trong mắt Việt, khi Ngân gật đầu. Việt không lên nhà, trước khi quay xe, Việt ngần ngừ rồi bảo: 'Phan viết thư về kể chuyện có cô bạn nhà ở gần gần đây'. Mặt Ngân không thể tái hơn được. Ngân mỉm cười. Cả ba là bạn cũ...

 

...'Đen hay nâu? Ngân đừng uống đen. Nâu nhé!' Vẫn Việt nói. Việt ngồi xoay lưng ra cửa. Ngoài kia gió vẫn bời bời. Lá sấu xoay tròn lấp loáng trong sắc trời xám sáng chỉ có vào những ngày cuối thu gió trở như thế này. Ngân cầm cái thìa, gẩy một chút bơ vào tách cà phê chị chủ quán vừa mang tới, chăm chú nhìn giọt bơ loang. Mùi cà phê ngầy ngậy và khắc khoải. Việt vẫn nói, vẫn nói. 'Vậy đấy. Phan đã có một cô bạn. Khi nói một cô bạn thì đã không còn là bạn. Phan đang xoay làm chuyển tiếp sinh...' Ngân lắng nghe, nghĩ, tưởng như mình thờ ơ. 'Không một ai biết chúng mình đã viết cho nhau những lá thư như thế nào. Cả Việt nữa. Nhưng lẽ nào Việt không biết chúng mình...' Ngần ấy năm Ngân thân tình với bao nhiêu người nhưng không thân thiết riêng một người nào. Không hẹn thề, không gì cả, nhưng những lá thư mang màu sắc một trời xa và những lá thư Ngân gửi đi bằng con tem mua từ đồng học bổng chắt bóp dán bằng cơm nguội đã riết Ngân vào trong ảo giác về một cái gì tuyệt đối và vĩnh viễn. Có thể gọi là tình bạn. Cũng có thể là tình yêu. Bởi vì chỉ có hai người, chỉ có khát khao, cảm hiểu. Thánh thiện. Nguyên chất. Tất cả bạn bè đều nghĩ thế. Mà đến hai gia đình cũng nghĩ thế. Việt chắc càng nghĩ thế. Vì Việt thân với Phan đến thế và vẫn là người chuyển thư Phan cho Ngân. 'Mấy năm rồi nhỉ? Chẳng bao lâu nữa tất cả sẽ ra trường...' Ngân xoè bàn tay hất mái tóc văng về phía sau lưng, cố gắng rời mắt khỏi một chiếc lá sấu đang vật lộn với gió tìm cách đậu xuống hè phố: 'Việt vừa bảo gì Ngân? €, Việt được dự kiến ở lại trường? Chúa thế!' Việt cắt ngang lời Ngân, thô bạo: 'Việt bảo Việt muốn có Ngân. Việt muốn sống cùng Ngân khi bọn mình ra trường. Việt không muốn cứ phải làm hộp thư sống hộp thư chết của Ngân với những ai ai! Ngân nói đi!' Việt chộp lấy bàn tay Ngân: 'Nói đi! Nói đi!' Ngân ngẩn người, tỉnh hẳn. Quán vắng. Chỉ có hai người và chị chủ quán đang hí hoáy thay băng mới. Trịnh Công Sơn! Sao lại Trịnh Công Sơn lúc này? '...Đời sao im vắng... Người về soi bóng mình giữa tường trắng lặng câm... Có đường phố nào vui cho ta qua một ngày... Có sợi tóc nào trôi trong trí nhớ nhỏ nhoi... Không còn không còn ai... Ta trôi trong cuộc đời... Không chờ không chờ ai...' Ngoài trời mưa giăng tự lúc nào. Ngân khẽ khàng rút những ngón tay ra khỏi bàn tay Việt, với tách cà phê nguội uống ực ực. Chua loét. Vô duyên. '...Có những ai xa đời quay về... về lại nơi cuối trời làm mây trôi...' Việt nhìn vào mắt Ngân, vẫy chị chủ quán rồi lặng lẽ ra mở khóa xe. Ngân ngồi nhìn phố chiều đông dần lên, nhìn những dáng người mải mốt trong mưa lất phất. Phía bên kia ngã tư, người ta đang dựng một tấm pano mới. Bác. Mặt gầy và mắt sáng. Tay chống nạnh. Và phía dưới là hàng chữ to đùng: 'Bác đang cùng chúng cháu hành quân.' 'Bác đang cần chúng cháu hành quân...' Ngân lắc đầu, xua đi một nỗi nhớ. Phan. Phan hay gào câu hát láo lếu ấy. Cứ tưởng như Phan thì khó sống. Vậy mà lại chính Phan là người biết cách hòa hợp trước với cuộc đời này. '...Ngày ra đi với gió - ta nghe tình đổi mùa...' Đâu rồi ôi những non tơ?

 

            Sau này, Ngân không biết nên ơn hay nên oán Trịnh Công Sơn. Liệu không có Trịnh Công Sơn xót xa và giản dị đến ma quái, liệu không có giọng hát rền rền mê mệt một nỗi ai hoài trống trải của Khánh Ly, không rõ Ngân có chú tâm hơn không khi nghe Việt nói lời yêu dấu ấy. '...Ngày ra đi với gió... Ta nghe tình đổi mùa... Rừng đông rơi chiếc lá... Ta cười với âm u... Trên quê hương còn lại ta đi qua nửa đời không thấy một ngày vui... Đường trần rồi khăn gói... mai đây chào cuộc đời... nghìn trùng cơn gió bay...' Không bao giờ họ trở lại câu chuyện cũ, dù vẫn đến nhà nhau chơi, vẫn lang thang cùng nhau, vẫn lo lắng cho nhau. Nhưng buổi chiều ấy vĩnh viễn trở thành màn sương mưa phủ lấy một cõi chung riêng tư lắm mà không một ai muốn vén. '...Nhìn lại nhau con mắt lo âu xin vỗ về muôn yêu dấu... Nhìn lại nhau che những cơn đau...' Trịnh Công Sơn bất chợt, đã buộc Ngân phải soi ngắm lại cuộc sống quanh mình, phải nhìn thẳng vào từng ngày sống của mình.

 

*.

 

            Đấy là những ngày kì quặc và buồn thảm. Nhưng hầu như không ai nhận thấy. Có biết một cuộc sống khác hơn đâu để mà ao ước rồi buồn. Chỉ những lo là lo. Toàn chuyện áo cơm phải từng ngày đối mặt. Niềm vui chiến thắng, đúng hơn là niềm vui yên hàn đã nhoè mờ theo thời gian. Niềm tin thì, không ai muốn nói và dám nói, nhưng cứ từng ngày mai một. Làm sao có thể tin vào một sự đổi thay lập tức và kì diệu, rằng 'thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày xưa' khi thành phố hình như mỗi ngày một xao xác và nghèo hơn, khi định lượng gạo còm cõi thế mà mậu dịch cũng không thể cung ứng. Làm sao có thể yên tâm khi chiều chiều nghe tiếng reo à à cuả bọn trẻ con là phải buông tất cả sách vở chạy ra chen lấn đổi bánh mì tem phiếu. Những cái bánh mì khô, rắn và chua mậu dịch bán thay gạo ấy Ngân đổ lổng chổng trong thùng gạo rỗng, vài ba hôm lại chờ lúc nhọ mặt người bê đi bán tống bán tháo được đồng nào hay đồng đó cho mấy bà phe phẩy đầu ngõ. Những giờ học triết, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học và lịch sử Đảng trở thành lạ lùng. Cái cần nhất là nhập tâm, không đối chiếu so sánh với đời sống hàng ngày làm gì cho mệt. Chân lý của chủ nghĩa là một cái gì đó không thể và không nên tìm cách chứng minh, bởi vì nó nằm ở thì tương lai, của những thế hệ sau nữa. Không lẽ thế hệ trẻ của dân tộc này lúc nào cũng phải thực hiện kỳ vọng vào tương lai của thế hệ già? Nghĩa là không một thế hệ nào được sống cho đúng nghĩa! Ý nghĩ này Ngân không bao giờ dám chia xẻ với một ai trong đám bạn bè. Học hành trở thành gánh nặng vô nghĩa, càng vô nghĩa khi biết chắc tốt nghiệp rồi sẽ không mấy đứa thi thố nổi. Sẽ có những đứa chễm trệ trong cơ quan một bộ nào ngay giữa Hà Nội nhờ vào thần thế ai đó. Còn những đứa như Ngân, hôm nay no đói thế nào ra phố vẫn tóc ngang vai, guốc cao, quần áo là kỹ lưỡng và vẫn rủ rê nhau cà phê cà pháo khi trong túi có tiền, ngày mai chưa biết bị bắn về phương trời nào của Tổ quốc, để rồi chết dí ở đấy với đồng lương đùa nhả, bao nhiêu điều học được cứ chột dần đi. '...Nơi em về trời xanh không em...?' Không ai có thể hỏi một câu như thế vào lúc ấy, ngay cả để trêu chòng nhau. Cho nên câu hát càng hoang mang, ứa một khát khao. Bao nhiêu lần lang thang trên phố, ngang qua mấy hàng thuốc lá có cô bán hàng xinh xắn, bao nhiêu lần Ngân tự hỏi đấy có phải là một nữ sinh viên đã tốt nghiệp chống lệnh công tác hay không? Đã tự hỏi liệu mình có dám đánh đổi tất cả cho một cuộc sống yên bình nửa vời và thảm đạm như thế ở thành phố thân thương này?

 

            Mà vẫn tự biết '...vai em gầy guộc nhỏ...' Từ buổi chiều gió trở Việt bỏ về trước còn có bao nhiêu lần Ngân như thế một mình. '...Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua... Trên bước chân em âm thầm lá đổ...' 'Những chuyến mưa qua... ' Ôi Trịnh! Phải, Hà Nội mùa thu nhiều mưa lắm, hết mưa ngâu, hết bão rồi lại những cơn mưa dầm, lững thững đến rồi đi. Những cơn mưa buộc người ta ngồi lại, lặng lẽ nơi này, để, đôi khi, chỉ đôi khi thôi mà đau đớn mãi '...nhìn lại mình đời đã xanh rêu...' dù còn rất trẻ, chưa sống được bao nhiêu.

 

            Giống như là mộng mị. Vẫn sống đấy, vẫn lo toan đấy, vẫn nói cười đấy, vẫn yêu đương loạn xạ đấy, nhưng không thiết tha với một cái gì, ngoài khao khát về một cái gì tuyệt diệu lắm tồn tại đâu đó, có thật, nhưng mà mong manh, có lẽ còn vô nghĩa và vô ích giữa cuộc đời toàn những bươn chải không đáng như thế này. Không còn là lý tưởng đã hối thúc mấy thế hệ liền suốt mấy chục năm qua, đã một thời non trẻ hết mình tin tưởng. Những trang sách đẹp chỉ làm cho nỗi thiết tha thêm tuyệt vọng. '...Đôi khi ta lắng nghe ta... nghe sóng âm u dội vào đời...' Những ngày ấy đã tạo ở Ngân thói quen lang thang phố vắng một mình. Bao chiều. Bao đêm. Sương buông mờ phố nhỏ. Mùi lá đốt quyện trong sương buông lúc chiều hôm bình thản. Là cái gì chỉ thành phố này ngày ấy mới có. '...Gió heo may lại về... Chiều tím loang vỉa hè... Rồi mùa thu bay đi... Trong nắng vàng chiều nay...' Đèn đường bật sáng héo hắt dưới ánh chiều còn rớt lại và nhoè dần đi trong sương cuối thu mỗi lúc một phủ dày hơn. Hoa sữa dậy một vùng hương ấm cơn gió lạnh vừa xộc tới. Đã mấy mùa thu sang như thế. '...Đêm khuya nhìn đường phố... thành phố hoang vu...' Không phải một lần Ngân cảm giác được cảm giác của người nhạc sĩ ấy. Cuối phố đằng kia, nơi có hàng cây cao chứa đầy ánh sáng xanh tái của những bóng đèn cao áp mới được lắp, có đôi lần Ngân thấy Việt đạp xe rất chậm, cũng một mình, và Ngân đã rẽ sang lối khác. Đồng điệu ư và ích gì cho nhau? Nói gì với nhau? Rằng từ đấy đã yêu nhiều lần lắm rồi chăng? Rằng dù thế vẫn chưa biết thế nào là mê đắm? Rằng vẫn không thể cùng nhau! Hay không dám! Sợ làm xước những tin yêu. Vì không thể sống khác! Không thể từ bỏ đam mê, đam mê một cái gì rất đẹp, có thực mà vô ích. Như màu nắng hanh kia. Như tiếng vọng trong lá kia của gió. Như một con người vĩnh viễn trượt qua đời mình, vĩnh viễn mang đi mất của mình chút hy vọng, chút ảo giác vào một cõi sống bình yên, trong trẻo, lãng đãng. Và bởi thế, mọi mối tình đều dần tàn lụi, tắt ngấm. '...Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ... Ôi những dòng sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mưa...' Không ai có lỗi. Chỉ có điều sống thật khó. Từng ngày rời rã, từng ngày hoang mang. '...Màu nắng hay là màu mắt em... Mùa thu mưa bay cho tay mềm... Chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm... Bàn tay xanh xao đón ưu phiền... Ngày xưa sao lá thu không vàng... Em qua công viên bước chân âm thầm...' Là thật đấy, rất thật, mà vẫn như là hoang tưởng giữa những ngày rất nhiều sự kiện, kì quặc và buồn thảm ấy.

 

 *.

           '...Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì...' Thầm thì cùng Khánh Ly, bao giờ Ngân cũng kinh ngạc. Người nhạc sĩ ấy đã sống thế nào trước đó, ở một miền đất với Ngân cho đến bấy giờ vẫn là một miền đất lạ để viết nên bài ca đó. Như là cho cả thế hệ Ngân sau này, ở một miền khí hậu khác, với một nhịp sống khác. Ngân đã không thể nghĩ về Phan như cũ. Buồn? Rất! Nhưng hối tiếc? Không! Có lẽ mọi sự sẽ không thể là như thế nếu giữa hai đứa đã có một chút gì, một ước thề, chẳng hạn. Nhưng đã không hề có một điều gì như thế, cũng như không một lần trìu mến nắm tay, cũng như không một lần nói lời gì từa tựa như thương mến. Sau này, rồi Ngân sẽ gặp lại Phan. Và cũng như với Việt, không bao giờ câu chuyện dài xưa được nối lại. Nhưng cái cảm giác hiểu nhau đến tận cùng, đến độ như thể chẳng hề trôi qua khoảng đời vừa bình thản vừa run rẩy tin yêu ấy thì vẫn còn lại đó, mặc dù Ngân rồi sẽ dần quen chấp nhận cái hữu hạn của con người. Sự lặng im đầy cẩn trọng của Phan, với Ngân, như một lời xin lỗi, xin lỗi khát khao xưa, đã vô tình để cho Ngân hiểu Trịnh Công Sơn, theo một cách nào đó. Người nhạc sĩ ấy đã đến và ở lại trong trí nhớ khắt khe của thành phố này, của Ngân, không phải bằng những bài ca phản chiến, không phải bằng tình ca viết cho một người con gái tuổi tên nào. Rất mỏng và rất nhẹ, mà dai dẳng, đầy ám ảnh là những bài ca Trịnh viết dường như cho chính mình, như về chính mình, kẻ sau này cuối đời sắp về lại nơi cuối trời còn tự dặn 'đừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng.' Câu ấy, ở tuổi xuân thì bọn Ngân không tự biết để mà nói. Cũng chưa có để mà hát. Nhưng đã sống nó một cách vô thức, bởi dù sao thì vẫn không thể chết, vẫn muốn biết '...ta là ai mà còn khi dấu lệ... ta là ai mà còn trần gian thế...' Ta là ai? '...Ôi áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều...' sao vẫn thiết tha thương nhớ, như vẫn nhớ thương niềm vui hiếm hoi buổi sáng năm học cuối cùng ở ngôi trường ấy, gió đầu hè mát rượi đưa từ phố xa vào lớp học lời ca làm rung lên trong cả lũ con gái con trai mười bảy mười tám tuổi một cái gì mênh mang không thể đặt tên, tuyệt vời, diệu vợi. '...Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay... Gọi cho nắng chết trên sông em dài... Gọi tên em mãi suốt cơn mê này... Đời xin có nhau... Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau...' Không có những gian nan của thời hậu chiến, mà trước hết, không có cái hoang mang bắt buộc chứ không phải là bất chợt, chứ không phải là vì rửng mỡ bới chuyện trầm tư của những ngày sống ấy, khi người ta luôn phải cúi nhìn hố thẳm giữa những điều trông thấy nghe thấy, chưa chắc Trịnh Công Sơn ở lại được với thành phố kiêu bạc này, như đã. Cũng như nếu không phải là Khánh Ly ma mị, rã rượi mà không sướt mướt, quạnh quẽ cơ hồ lãnh cảm, cứng cáp mà tan hoang, như đang lục lọi chính tâm hồn mình, đã chắc gì ngay lập tức... Thành phố này từ ấy có thêm một nỗi yêu thương: Trịnh; có thêm một nỗi nhớ: Trịnh Công Sơn. Giá không phải là như thế! Khi những thế hệ sau vẫn cứ luôn phải soi bóng mình, vẫn phải đau đớn vì đời im vắng, vẫn thấy dường như nỗi lòng mình đang được hát ca trong nhạc Trịnh, vẫn tìm tới Trịnh Công Sơn không phải như tìm tới một quý báu còn đọng lại thì điều đấy chỉ có nghĩa là cuộc sống không có dời đổi, như lẽ ra phải thế. Trịnh Công Sơn không nói hộ ai điều gì, không gửi gắm giùm ai điều gì. Trịnh làm thức dậy trong mỗi người cái điều bao lâu rồi bị nén bẹp dí, là ý thức về phía sâu khuất cuả mình và cuộc đời, để có thể níu vào chính mình mà sống tiếp, khi miên man thầm thì rên siết một nỗi hoang mang, khi day dứt mãi nỗi phù du tuyệt kỳ của kiếp. '...Ôi cát bụi tuyệt vời...' Ai biết sỏi đá không đau?

 

*.

 

            ... Mãi mãi về sau này, rất nhiều khi Ngân còn bàng hoàng ngỡ trong lồng ngực mình vẫn đập mãi trái tim mười sáu tuổi. 'Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi... Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt...' Lời ca réo gọi, nhắc mãi, rứt mãi về tuổi thiếu nữ hoang vu ấy. Người đàn bà trẻ con hiểu rằng Trịnh ám ảnh còn hơn một tình chung. Và cay đắng. Sẽ không bao giờ, không có ai đạt tới được nỗi cô đơn ấy của người nghệ sĩ ấy. Trịnh bắt mỗi người phải nhìn cho ra đỉnh cô đơn của chính mình. 'Đâu là  của mình?' Lần đầu tiên hiểu ra rằng Trịnh không phải là tri kỷ của ai ngoài Trịnh, và mình, cũng chỉ mình là tri kỷ của mình thôi, Ngân kinh hoàng.

 

            Ngày Trịnh mất, Ngân đang ở rất xa những buổi chiều nắng thủy tinh nơi quê nhà. Đi rồi... Tưởng rằng được quên thương nhớ... Mà không! '...Lòng thật bình yên mà sao buồn thế...' Nghe nói đám tang Trịnh là một đám tang huyền thoại, với cả biển người đưa. Nghe nói, người ta đồng thanh nhạc Trịnh trước nấm mồ chưa lấp. Nghe nói, có cả đoàn tăng ni đã đến nghiêng mình trước linh cữu Trịnh và xin hát gửi theo linh hồn gió nhẹ ấy 'Một cõi đi về'. Bài hát từ đó được người Sài Gòn coi là 'Chùa ca'. 'Mình sẽ hát thầm bài gì vào lúc ấy?' Chọn lựa này khó biết chừng nào. 'Tại sao mình không thể xúc động như bao người?' Ngân tự hỏi, tự hỏi. 'Liệu mình có đi viếng Trịnh nếu như có thể?' Nhưng ngay lúc tự hỏi mình như thế, Ngân đã biết rằng mình sẽ lại xử sự một cách không bình thường trong mắt bạn bè, quá ư là bình thản, y như năm nào những Nguyễn Tuân những Lưu Quang Vũ những Văn Cao mất. Họ đã sống một cuộc đời không thường, với những đau đớn và vui sướng không thường, với những hi vọng và tuyệt vọng cao vút sâu hút. '...Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi... Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt... Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy... Một bờ cỏ non một bờ mộng mị...' Giờ họ không còn phải than van vì đôi vầng nhật nguyệt trên vai cùng những day dứt của cõi sống hư hao này. Giờ họ được bước thẳng vào cõi chết. Nơi đó chắc có màu bình an sương mù. Sao không để cho họ nhẹ nhàng đi vào cõi ấy. Những lập lòe rực rỡ, những thống thiết trong lễ tưởng niệm bây giờ và và vui vẻ (chắc chắn) trong những lễ kỷ niệm năm năm mười năm hai mươi năm họ mất có phải dành cho người đã khuất? Chắc chi!

 

            Mà đã chắc gì người đã khuất lại mong ước điều đó cho mình khi còn sống. Chứng kiến những phút cuối cùng của những người thân yêu nhất, là bà, là mẹ, là anh, trong và ngay sau thời gian khổ ấy, Ngân tin ai cũng chỉ mong được sống bình an và tiếp tục được bình an trong cõi chết. Nhưng thế nào là bình an với mỗi người? Có lẽ chỉ ai một lần thực sự cảm được cái lạnh lẽo và hờ hững của cái chết, thực sự sắp ra đi mới có thể nói cho người còn sống biết. Nhưng họ có còn muốn nói nữa chăng? Khi mà, chính ở phút giây đó, người sẽ chết và người còn phải sống đột nhiên hiểu ra rằng họ xa cách nhau biết chừng nào, mỗi người đều ở trong cõi lạ với nhau, và những ao ước, những thiết tha, những dồn nén suốt cuộc đời rút cục thành vô nghĩa. Chỉ còn có một cách để giữ nhau trong cõi nhớ: Thương lấy nhau, biết ơn nhau, khoan thứ cho nhau.

            Ngân đã nghĩ thế khi nhớ tới cái ngày mình mấp mé bên bờ sống chết. Đánh thức hồi ức ấy là nỗi xót một con người.

 

 

 
 

         Nửa đêm chợt thức

            Những ánh đèn

         Những ánh đèn Standby

         Standby -

                         Standby-

                                             Standby

         Nhả ánh sáng của bầy đom đóm chết.

 

         ...

         Ngủ đi đôi mắt thức

         Tiếc nhớ gì?

                  trong đêm

 

 

         15.

 

            Khi cháy hết đời mình, nến sẽ lịm dần, và từ đó, một tia khói vươn lên. Thoảng một mùi hương, rất nhẹ, rất lành hiền. Tựa hồ quên lãng.

            Có những cuộc đời như thế.

            Có một cuộc đời như thế.

 

*.

 

            Ngân biết tên ông từ lâu, như một người tham dự, như một người làm chứng, làm chứng cho một thời kì, làm chứng cho một lớp người con Việt, ở một xứ sở đã để lại cho chúng ta hôm nay dấu ấn không thể tàn phai, về máu, về nước mắt, về một cách gào thét, thở than. Bản thân ông và đồng chí của ông, trong một nghĩa nào đó, cũng chính là lịch sử.

 

            Ngân quen ông chưa lâu. Số phận đã chọn ông thành người phù trợ cho Ngân, trong một khoảng đời cay đắng. Điều ông và Ngân mong muốn rút cục không thành. Nhưng Ngân không quên tấm lòng ông, ngây thơ, bao dung và nhẫn nại vô cùng tận trước đời sống này.

            Ngân gặp ông chỉ một lần. Thời gian chỉ đủ cho Ngân nói đôi lời hỏi thăm sức khoẻ của ông và kể về chuyến đi thăm chồng cập rập của mình. Nhưng đủ để Ngân giữ mãi trong lòng nỗi bùi ngùi trong buổi sáng Paris ấy.

            Sự sống dường như chỉ còn là một mạch nước sắp kiệt ở ông. Làn da nhăn nheo, trắng bợt, giọng nói yếu, nụ cười mong manh, đôi bàn tay đầy gân vịn trên thành ghế. Đấy là ông. Ông ngồi đối mặt với bức sơn dầu ngồn ngộn hai khối tròn nóng ấm và tươi sáng mà chính ông đã vẽ. Bức tranh thu toàn bộ sự sống trong nhà. Còn lại: chỉ là ông và bụi nắng.

            Căn hộ của ông ở Paris giống như một cái bến mà đồng hương từ Việt Nam qua hay tấp thuyền vào. Đã bao nhiêu người ngày ngày ngày vào ra nơi đó. Đã bao nhiêu người ngày ngày ngày đi qua ông để tới với cuộc đời hăm hở ngoài kia. Có phút nào, có ai nghĩ đến ông lão đang leo lét sống và đợi. Có ai, một lần ngồi lại, nói với ông về Tổ Quốc ông yêu? Có ai, một lần hỏi ông về cuộc đời ông? Có ai biết vì sao ông lại quyến luyến con người đến thế?

            Đâu phải vì cô đơn.

 

            Đã hơn một lần Ngân tưởng ra rằng ông và đồng chí của ông là người chiến thắng trong cuộc đấu tranh thuở ấy. Nếu thế thì những bài lịch sử mà bọn Ngân đã học phải ra sao? Những bài ca cho tuổi măng non ngày ấy sẽ ra sao? Và cách xưng hô của một thời đã ra sao, nếu không phải là 'chúng ta, đồng chí'? Và liệu có không nỗi ngày Bắc đêm Nam? Liệu có không máu thịt Việt Nam rải khắp những cánh rừng già bên mưa bên nắng?

            Tất cả chỉ là giả định. Có cái gì thật vô vọng trong cuộc chiến đấu mà ông đeo đuổi cho tới lúc tàn hơi. Ngân không nghĩ mình sẽ bị thuyết phục bởi lý tưởng của ông. Lớn lên nơi ấy vào thời buổi ấy, nơi những gam màu nóng sáng chỉ hội trong bóng cờ và khẩu hiệu tưng bừng, Ngân đã tự miễn dịch được rồi trước những lời kêu gọi, sau những tin yêu rồi choáng váng hoài nghi. Nhưng gặp ông, thỉnh thoảng nghe tiếng ông qua điện thoại, Ngân lại ngạc nhiên thấy mình xúc động. Có cái gì vừa bất khuất vừa bi thảm trong toàn bộ cách thế sống của những con người ấy.

 

            Ngân biết mình cũng không mê văn chương của ông. Ngôn ngữ ông dùng trong văn chương giống như là di tích vậy. Nhưng chính điều đó làm Ngân cảm động. Ông đã giữ cho mình bao nhiêu năm ròng tiếng Việt ấy của làng quê nghèo ấy ở thời buổi ấy. Bao nhiêu năm rồi? Ông kể cho Ngân về sáu mươi năm thương nhớ quê nhà. Về nỗi đau không bao giờ gặp lại người ruột thịt. Và ông khóc. Tiếng khóc vọng từ đầu kia đường dây điện thoại, xuyên qua không gian đầy cảm biến tới Ngân chỉ còn là khúc điệu nghẹn ngào của những khoảng ngừng chết chóc. Hình ảnh người trai nhà quê Việt Nam mấy mươi năm về trước lủi thủi lê chổi đi về giữa những tinh sương Paris trắng rợn lòng bỏng rẫy một nỗi quê nhà có khác gì đâu hình ảnh mà bọn Ngân suốt một tuổi học trò đã tưởng là duy nhất.

         Khác chăng: ông phải mượn quê người để kí thác cả cuộc đời đã sống cho quê hương.

 

*.

 

            Nhiều năm ròng sống cho một quê nhà chưa bao giờ được một lần nhìn lại là bi kịch của bao nhiêu con dân Việt đã tự vãi mình ra trên thế giới này? Ngân kinh ngạc vì tưởng tượng của ông về quê hương: một gốc đa đầu làng, (đã hẳn), những người đàn bà xắn váy quai cồng gồng gồng gánh gánh; những hàm răng đen hồn hậu; bầy trẻ nghèo mới tí tuổi đầu đã phải xốc vác nuôi thân, và những con đường làng lầy lội, những mái tranh đã ải, nắng trên sông xa, sương khói buồn buồn. Hình dung của ông vừa cũ kỹ vừa sát thực. Chẳng phải những cảnh đời đau khổ thuở ấy vẫn còn nguyên đó hay sao? Có khác gì đâu một đôi mắt đói, dẫu ở đâu và trong thời nào. Ông không biết những hồi ức của ông làm Ngân đau khổ. Không phải vì cảm thương cho ông. Ông đâu cần điều đó và Ngân đâu dám. Nhưng nỗi đau khổ là có thật. Khủng khiếp xiết bao khi đột nhiên nhận ra rằng tám mươi năm đời ông không phải là sự kết nối những ngày sống và những cùng cực mà người ta vẫn tưởng chép miệng một cái là xong, vì rút cục thì đã đi qua, dù sao cũng phải đi qua. Gần một thế kỉ ấy là trùng trùng đau khổ của mấy thế hệ Việt Nam, trong đó có thế hệ Ngân. Một lần nhìn lại đủ để Ngân kinh sợ, khi tưởng ra rằng đó có thể vẫn là số kiếp của thế hệ con mình.

 

            'Tại sao anh không về?'

            'Đâu có được về hả em. Người ta...!'

            Ông trả lời sau một hồi lâu im lặng.

            Tại sao?

            Tại sao?

            Ngân muốn gào lên chỉ một câu hỏi ấy. Ngân không thể gào lên câu hỏi ấy. Tại sao? Tổ Quốc đã chẳng độc lập hơn nửa thế kỷ rồi đó sao? Tổ quốc đã chẳng thống nhất một phần tư thế kỷ rồi đó sao? Không Tổ Quốc nào cấm cửa con mình. Một người con như ông, Tổ quốc nào không thương quý.

            Tại sao?

            Tại sao?

            'Mấy năm trước họ bảo anh là có thể về. Nhưng già yếu quá rồi, đường xa...' Tiếng ông khẽ khàng qua đường dây điện thoại.

            'Người ta...Họ...'

            Giọng ông bình thản quá. Còn có bao người như ông?

 

  *.

           

 

          - Ông nội của Ngân nằm lại ở môt góc rừng Việt Bắc. Khi toàn quốc kháng chiến, ông dặn bà đưa bốn con dại về quê nương tựa họ hàng. Bố, đang thảnh thơi đi học, phải sáng sáng cắp sách vở cùng thúng xôi lang thang các phố, thay cha giúp mẹ nuôi em. Còn ông, quần nâu túm ống, hì hục khuân vác máy móc đưa lên Việt Bắc. Bố kể buổi gió và nắng lạnh, bố cắp thúng xôi còn lưng lưng qua đó ngóng, gặp ông trong đoàn quân đang tập hợp chuẩn bị ra đi. Niềm tự hào làm cổ cậu bé học trò mười hai tuổi nghẹn lại không gọi người cha thành tiếng được. Ông nhìn thấy bố, rời hàng quân chạy qua phố, đỡ thúng xôi đặt xuống vỉa hè, vét đưa anh em mỗi người một gói, rồi lần túi đưa nốt cho con mấy đồng bạc lẻ, nắn hai bả vai gầy của đứa con còn chưa vỡ giọng, dặn nói với mẹ đưa em về quê ngay. Rồi ông đi. Không bao giờ về lại. Chưa bao giờ Ngân thấu hết những âm vang trong tiếng gọi đã giục ông đi ngày ấy, dẫu vợ yếu và con dại còn vướng lại giữa thành phố sắp bỏ ngỏ. Người vệ quốc trong đoàn quân chân đất quần nâu đó khi còn làm lính thợ đã một lần tưởng phải xuống tàu, qua Pháp. Nếu ông đi? Thì biết đâu ông chẳng đã sống một cuộc đời tranh đấu âm thầm và quyết liệt như người lính thợ năm xưa, người cộng sản không hợp thời vừa gửi vào gió Paris hơi thở chót. Rất nhiều năm sau này, rời nơi sơ tán trở lại trường xưa, bao nhiêu chiều Ngân đã cắp sách đi lại con đường xưa của bố và ông, bao nhiêu chiều Ngân đã dừng lại ở cổng nhà máy ấy, cúi nhìn những tấm đá xanh vạm vỡ bóng lên như nước ở quãng phố ấy, cố gắng tưởng tượng người ông chưa bao giờ biết mặt phong phanh trong bộ áo quần nâu, cố gắng tưởng tượng Hà Nội mùa đông xưa rạo rực bước chân âm thầm quyết liệt của những người dân một niềm quyết tử. Cho Tổ Quốc quyết sinh. Ông mất, không bao giờ tìm thấy mộ. Ngày cải cách ruộng đất, cả nhà dân Hà Nội tản cư không ruộng không vườn nhưng vẫn lao đao vì lời vu dữ, rằng ông đi lính cho Pháp, rằng ông là việt gian bị ám sát ở thành. Bà, gồng tấm thân gầy yếu cho đàn con đang vừa phẫn uất vừa hoang mang hãi hùng nương vào, nhất quyết đòi lại cho chồng một lời chứng đã chết vì Tổ Quốc. Lời chứng ấy, bao nhiêu năm sau mới tới với cả nhà, qua tấm bằng Tổ Quốc ghi công, mà trong đó tên ông bị viết sai. Bà, rằm tháng bảy, thở một hơi dài: 'Không sao cả. Nếu chỉ cầu sống, ông đã không đi kháng chiến. Vậy có sống lại, chắc ông cũng chả đòi gì. Chỉ tội cho ông, chết chả biết ngày nào mà làm giỗ giờ phải về cùng ma đói'. Rồi bà khóc. Rằm tháng bảy năm nào cũng khóc. Suốt nửa thế kỷ. Từ thuở ngoài ba mươi. Cho tới ngày xuôi tay.

 

            Ngân tin lời bà. Nhưng Ngân đã bao lần tự hỏi ông đã nghĩ gì khi ông bị thương nặng rồi nằm lại vĩnh viễn ở góc rừng ấy, ở tuổi bốn mươi, như chồng Ngân bây giờ. Ông có nhớ một thành phố mà ở đó ông đã lớn lên, đã lấy vợ sinh con, đã sống một kiếp âm thầm nhưng bình an cùng với nó và đã đột nhiên hiểu ra rằng nó có thể thuộc về mình? Ông có nhớ chăng buổi lên đường theo tiếng gọi của sông núi? Ông có nghĩ tới một làng quê đang bao bọc và rẫy bỏ vợ con mình? Ông có nghĩ tới một cuộc sống khác ông mong mỏi cho con mình? Và ông có biết...

 

            ...Và ông lão vừa khuất bóng ở Paris? Với ông, cái gì là hình ảnh cuối về cuộc đời đã qua hiện lại trong trí phút tàn hơi? Những năm dài sống âm thầm ở Paris sau những buổi dấn thân? Hay những ngày trẻ trai tranh đấu? Gương mặt đồng chí một đời? Vợ và con? Con đường xưa về làng xưa và mờ nhân ảnh bao người ruột thịt đã chết đói nửa thế kỉ trước mà ông đã từng khóc với Ngân là ông rất khó hình dung lại?

 

            Ngân đã nhắc mình đừng nhớ nữa, đừng nhớ nỗi bùi ngùi ấy nữa. Nhưng không thể. Không thể nào xóa nổi hình ảnh ông lão đồng hương ngồi trong bóng sáng Paris, giữa căn hộ ở tít cao một ngôi nhà lớn. Không thể xóa nổi hình dung dấu bàn tay đứa con hai tuổi của Ngân để lại trên lớp bụi quanh ông lúc lẫm chẫm bước trong phòng. Ông đã ngồi như thế bao lâu rồi, đã cô độc cùng trí nhớ của mình, dẫu có bao người lao xao vào ra nơi đó. Mỗi bình minh. Mỗi ban trưa. Mỗi hoàng hôn. Mỗi đêm dài khó ngủ. Ngôi nhà chon von như một ngọn núi mà ông không thể nào tự lần xuống được nữa để đến với ngoài kia hừng hực vô tư lự Paris. Đêm. Núi. Mưa. Nỗi sầu cố quốc. Bao nhiêu lần ông đã sống cảm giác ấy trong cuộc đời dằng dặc biến cố của mình?

 

            'Vẫn biết chết rồi là hết chuyện - Chín châu chỉ tiếc chửa sum vầy - Ngày nào thu lại miền trung thổ - Cúng bố đừng quên khấn bố hay...'(*)

            ...Có một nỗi sầu như thế rầm rì vọng lại từ xưa, xưa lắm, xa, xa lắm. Vì Tổ Quốc không còn. Hiểu được! Ông, thế kỉ này, cũng một niềm xứ sở. Biết khấn ông như thế nào, nếu có thể thắp cho ông một nén hương? Ngân chạnh lòng. Tàn tro một nắm...

Vẫn biết chết rồi là hết chuyện! Mà sao...

 

Cũng đừng mãi băn khoăn về sứ mệnh đời này

         Trong nắng chiều lãng đãng:

                                         Sông thu trôi

              

         *

 

            Hãy ủ những chiếc lá vàng

            Dấu im trong miền kí ức

            Nếu có một mùa xa vắng

            Nhớ cho: độ ấy, ta yêu

 

            *

 

          Có những ngày chưa bao giờ xa

            Mùa nở thầm theo hoa

 

                  

 

         16.

         

         Vẫn biết chết rồi là hết chuyện. Mà sao...

 

         Mà sao thế nọ, mà sao thế kia. Chao ôi, sao mà Ngân cứ luôn khốn khổ vì những câu hỏi vòng quanh cuộc đời như thế. Sao Ngân lại cứ luôn khổ sở vì băn khoăn thương nhớ những cuộc đời có quen và không quen.

 

            Như buổi chiều nào hồi theo chồng đi công tác xa, đang hối hả nhặt nhạnh đồ trong siêu thị vứt vào xe đẩy cho kịp giờ đóng cửa, chợt bâng khuâng dừng bước bên cái ngăn đầy có ngọn toàn những vải là vải. Những quả vải tròn nhỏ nhỏ, giống hệt vải thiều. Ngân biết, chẳng làm gì ra có vải thiều ở chốn này. Chẳng có vị ngọt chua đầy dụ dỗ ấy đâu, chẳng có hạt điếc đâu. Toàn những hạt to muốn lộn nhào ra khỏi vỏ và vị thì đôi lúc gắt lên như sắp sửa thành men. Nhưng mà những quả vải nhập từ xứ xa nào chẳng biết bán đầy ở đây lại làm lòng Ngân cồn cào cơn đói nhớ. Nhớ người đàn bà trẻ trẻ như Ngân nhưng mặt mũi thì hốc hác và môi nở nụ cười vừa mời mọc vừa ngơ ngác ngồi nép bên đống vải đổ sát chân tường cơ quan nọ buổi trưa nào, giữa những người  đàn bà vừa dựng xe máy sà xuống mồm năm miệng mười nếm và mặc cả. Những người đàn bà ấy, và những người đàn ông trong bộ quân phục cũ đứng bên những cái xe thồ đầy ắp su hào bắp cải mỗi chiều đông Hà Nội bao giờ cũng làm cho lòng dạ Ngân nao nao buồn, khiến Ngân không thể nào thật tình mặc cả. Đằng sau những bộ áo quần tàu tàu ấy, đằng sau những gương mặt toàn những nét vạc xuống làm cho nụ cười vừa chân tình hơn vừa tội nghiệp hơn kia có những gì? Những năm tháng như thế nào đã in dấu lên  gương mặt họ? Ngân biết, chưa chắc họ đã vất vả hơn mình, và cái chính là chưa chắc họ đã thấy rằng họ khổ như mình cứ mải thương vơ cho ra vẻ người chung cảnh. Mà nói chưa chắc làm gì, chính là thế đấy, mình với họ xa lạ biết bao.

 

*.

 

            Thế nhưng Ngân vẫn tiếp tục đi chợ mua rau không mặc cả dù có lúc đồng tiền phân bạc kiếm ra bồng bềnh trên tay được dăm ba hôm đã biến đi đâu tiệt cả, vẫn cứ có cảm giác như giữa mình với họ từ đời thuở nào đã ruột rà một kiếp rạ rơm, vẫn đau đớn những nỗi niềm không thể khóc. Đến bây giờ Ngân vẫn không thể nào nhớ thực ra bài báo về những người lính ấy có đăng tấm ảnh nào không, nhưng mà Ngân cứ có cảm giác mình đã nhìn thấy họ ngồi cóm róm và ngơ ngác giữa sân dinh Độc lập, hai mươi mấy năm sau ngày chiến thắng, vào lúc người hướng dẫn du lịch đang cao giọng cho đám đông nghe về chiến công của chính họ trong ngày chiến thắng cuối cùng. Không ai quan tâm tới mấy người lính cũ mới được vời ra từ lịch sử có thật đã cố tình bị lãng quên, không ai biết mấy ông nhà quê mới được rước từ đáy cái làng nghèo nào ở miền Bắc vào kia là ai và họ đang bồi hồi, đang luống cuống, đang ao ước những gì giữa thành phố Sài Gòn ngày kỉ niệm một phần tư thế kỉ chiến thắng. Chính cái xe tăng họ ngồi trên đã húc sập cả cổng dinh Độc lập, gần như cái cảnh mà mấy chục năm qua người ta đã thấy, năm nào cũng thấy, trên ảnh, trên phim, vào tháng tư tháng năm này. Thế chăng? Lịch sử? Lịch sử không diễn ra mà là được làm ra, có thể nhuộm đi nhuộm lại và cũng có thể tẩy xóa. Chẳng khó gì vào thời buổi mỗi ngày sống của con người là một trang sử mà tựu trung vẫn thiếu vắng người chép sử này. Thế cho nên Ngân không thích tin vào những dòng sử viết. Ngân không quên được nỗi hoang mang tuổi lên mười khi tìm ngược tìm xuôi trong sách giáo khoa lịch sử của mình vẫn không thấy một dòng về những quốc gia đã tiêu vong để làm nên Tổ Quốc bây giờ, những điều mà Ngân đã đọc được từ hồi bé tí năm sáu tuổi, trong một cuốn sách Bình dân học vụ của ông Lẫm bố chị Thục, được ông xếp rất cẩn thận trên bàn thờ ngày nào. Đâu Chiêm Thành? Đâu Phù Nam Chân Lạp? Tâm hồn trẻ thơ cứ như một cánh cửa sẵn lòng để gió xô, cứ buộc Ngân day dứt mãi: Đâu là sự thật? Sự thật có thể có nhiều gương mặt được không?

 

            *.

 

Khoảng thời gian xa đi ấy thật cần thiết và cũng thật nặng nề. Ngân nhớ những người bạn cũ và kinh ngạc khi bạn bè hiện lên trong một tầm vóc mới, dưới một luồng sáng mới. Cũng vẫn là cảm giác ấy, khi Ngân để rung lên trong trí một dòng thơ, một âm giai tha thiết tuổi nào. 'Hỡi Paco ơi dòng sông mênh mông đôi bờ xanh biêng biếc nước chảy xiết sâu thẳm... Qua tháng ngày hỡi sông ơi có biết anh lái đò tên gọi A Sanh... A Sanh ơi ngày đêm anh lái đò trên sông... Đò anh đưa bao người đi đánh Mỹ bao năm ròng chiến công anh thầm lặng...' Phải, ví như câu hát này, ví như câu chuyện về người anh hùng này. Hay là cả câu hát rộn rã suốt tuổi nhỏ của Ngân này nữa: '...Đuốc lồ ô bập bùng lên ánh lửa...Sóc Bom bo rộn rã tiếng chày khua bồng con ra võng để đò đưa giã gạo ban đêm vì ngày bận làm mùa ... Cách mạng cần...'  Những bà mẹ không tên bồng con ra võng ngày năm ấy Ngân đã nhìn thấy, trên ti vi, mặt mũi nhăn nheo, miệng móm, váy áo xốc xếch quay lưng lại ống kính đi vào túp lều nát. Và người anh hùng A Sanh, tên vang vang trong bao nhiêu chương trình ca nhạc phát đi khắp nước đấy mà cũng thành vô danh suốt một phần tư thế kỉ chiến thắng, đã chẳng được nhớ ra, đã quên gần hết tuổi trẻ của mình, quên cả tiếng phổ thông, chỉ vì nghèo đói quá, cơ cực quá, ngồi cóm róm ngơ ngác trong bức ảnh đăng trên báo. Những hình bóng thiểu não ấy bao giờ cũng làm hiện lại trong trí Ngân những hình bóng khác mà Ngân đã gặp trong tuổi bé bỏng của mình, một chiều bố mẹ gấp rút đưa đi sơ tán. Họ hành quân dọc theo đường quốc lộ, dáng lao về phía trước, chân đạp trên rơm rạ ngày mùa, trẻ, khoẻ, ba lô và quân phục mới toanh. Một chú bộ đội nhấc mũ khỏi đầu vẫy vẫy Ngân lúc con bé quay đầu nhìn lại. Y  hệt một bức ảnh in đi in lại trên Văn nghệ quân đội mà Ngân rất thích nhìn thời ấy. Nhiều năm sau, mỗi lần gặp lại bức ảnh đó, người đàn bà trẻ con lại thấy tim mình chững nhịp. Những người lính ấy còn sống hay đã chết từ hồi ấy? Họ ở đâu bây giờ? Ý nghĩ thực nào đã ngổn ngang lòng họ dọc đường ra trận?

 

            Chắc hẳn nhiều lắm niềm vui mà ngọn gió thời đại đã thổi lộng hồn người ngày ấy, lộng suốt thiếu thời Ngân. Nhưng chắc hẳn còn có những niềm tâm cảm khác. Ngân nhớ chú Trong hàng xóm nhà ở sát bên vườn nhà chị Thục ở cái làng nhỏ Ngân đã theo bà về sơ tán lần thứ hai, năm bảy mốt bảy hai. Chú lành như bóng sung dập dờn bên bến nước, nơi bọn Ngân thích lặn xuống mò trai. Những con trai nứa nhỏ mình mà lắm thịt, những con trai vông xốp xáp thịt ít nước nhiều dai ngoách tụ dưới bóng sung sao mà nhiều thế, ngày nào đi tắm lặn xuống quờ chân cũng nhặt được dăm con, mấy chị em dồn lại là đủ cho bà làm bữa canh chiều. Chú Trong học giỏi nhất làng, nhưng thi ngược thi xuôi chả được vào đại học. Làm sao mà vào được khi chú có một ông bố địa chủ từng sở hữu những năm mẫu đất và cả một cái nhà gỗ năm gian, lại còn dám tự tử khi bị đấu tố. Cái thời đó Ngân chỉ có thể mường tượng qua những câu chuyện của các bà hàng xóm vẫn sang chia cho bà ít lá trầu không, dúm thuốc lào và nhân thể xin mấy mảnh hạt cau khô hay miếng vỏ quạch khi chưa tới phiên chợ. Bà bảo bà chỉ bắt đầu tập ăn trầu vào chính cái đận ấy, khi bố chú Trong tự tử và làng nước bùng lên câu chuyện ông nội làm việt gian bị ta trừng trị. Khẩu trầu đủ cau đủ thuốc đủ giầu không làm bà say chẳng khác đàn ông say rượu, giúp bà nguôi đi chốc lát những nông nỗi bấn loạn trong lòng. Cái mùi trầu nhai đã giập thơm rất ấm lẫn mùi khai khai bốc ra từ các bà hàng xóm có thói quen vén ống quần xả tồ tồ vào nồi nước giải để đầu ngõ hay cạnh chuồng lợn ám ảnh suốt tuổi bé của Ngân, làm cho những câu chuyện xưa đọng bám chặt hơn trong kí ức, dù Ngân chưa từng trải chúng bao giờ.

 

            Chú Trong không được đi đại học là lẽ dĩ nhiên rồi, vì ông bố địa chủ đã đành, mà còn vì Mỹ lại đánh mạnh ra miền Bắc. Nhũng trận bom rơi ở đẩu đâu cũng đủ làm chao đảo cả làng. Ông Thồng nhà cuối ngõ vừa về được mấy năm, đầu lúc nào cũng cạo trọc như cái hồi còn đi cải tạo suốt ngày cúi cúi lệch lệch vì cái bắp cày, cái bừa hay quang gánh lúc thúc theo sau đít trâu lại bị gọi ra ủy ban và lại phải cắp quần cắp áo ra đi. Lúc ông đi, cái đầu trọc tóc đã bạc cả mà chưa kịp húi lại vẫn cúi cúi lệch lệch như thế. Cả ngõ theo ra, chỉ mỗi bà và hai mẹ con chú Trong nhìn thoáng qua vợ con ông rồi quay lưng lầm lũi vào nhà. Sau hôm đó, chú Trong trích ngón tay lấy máu viết đơn xin nhập ngũ. Mẹ chú sang ngồi nhai trầu với bà, mặt lặng như sông mùa nước cạn, mãi mới khẽ khàng: 'Nó bảo em rằng thì là mẹ ở nhà có gì nhờ cậy xóm giềng, rằng thì là con đi một xanh cỏ hai đỏ ngực, con sống hay chết thì mẹ với con Xanh ở nhà rằng thì là đằng nào cũng yên hơn. Bác bảo rằng thì là có mẹ nào em nào yên mà sống nổi khi con chết anh chết.' Chú Trong đi một mạch, lên đến trung úy rồi mới chết ngay sau ngày kí hiệp định Paris. Mà lại chết vì bị sét đánh trên đường lần đầu về thăm mẹ từ lúc đi B, cũng chả được tính là liệt sĩ. Chú sống thì hiền mà chết thì trông dữ quá. Cả người đen sạm như gỗ đem xông khói, riêng cái đầu thì trụi thùi lụi nứt mấy đường như quả dưa hồng. Chú chết, cô Xanh nhất quyết không chịu bỏ mẹ đi lấy chồng, mãi đến lúc tuổi heo héo rồi mới lấy chú thương binh miền Nam ở trại gần làng, chỉ vì có thế mới được ở cùng mẹ. Cô đâu biết rồi sẽ có ngày chiến thắng và cô sẽ chẳng còn lí do gì để trụ lại với mẹ già, sẽ phải bồng bế con cái tay mang tay xách mấy thứ đồ nghèo theo về quê chồng tít tận Tây Ninh. Cô đâu biết rồi sẽ có ngày chẳng thể nào cất giọng bắt vào một điệu làn thảm hay bình bán ở vùng đất xa xôi ấy. Cô đâu biết mối tình Nam Bắc của mình sẽ còn được nhắc nhỏm mãi trong làng, sẽ là thương nhớ tuyệt vọng của mẹ trong tuổi già lủi thủi. Cô đâu biết rồi tuổi già của cô cũng sẽ buồn thảm thế, và cô đơn hơn rất nhiều.

 

*.

 

            Tính năm tính tháng thì thực ra Ngân đâu có sống bao lâu cùng những con người có tuổi có tên mà vẫn hoàn toàn vô danh ấy. Nhưng sao Ngân vẫn cảm giác như nửa con người mình thuộc về nơi đó, thuộc về những con người đó. Và nửa mình kia là của cái ngõ nhỏ rối rắm đủ thứ chuyện đời dường như không đáng gì. Chuyện hai cô gái già có chung một tuổi trẻ thanh niên xung phong, sau ngày chiến thắng lại có chung lòng can đảm để cùng không chồng mà chửa được nhà máy chia một phòng, cáu giận nhau cứ vài ba hôm lại kê kích tủ giường để án ngữ cái bụng nhau mỗi lúc khệ nệ cái rổ cái chậu ra ra vào vào nấu nướng. Chuyện hai người đàn bà đi cùng một cái cầu thang bao năm ngọt nhạt thân tình đột nhiên xích mích. Mà cũng lại sau ngày chiến thắng. Không! Lúc đó lại chiến tranh biên giới ở hai đầu đất nước rồi. Người đàn bà trẻ sau mấy lần đi công tác Sài Gòn đã đổi đời, chí ít cũng là đổi trang phục. Áo quần đồng màu lòng tôm mỏng tang, đi một bước là gợi hình dung một bước về tấm thân còn mỡ màng lắm sau bao năm tháng bồ bịch liên miên chờ chồng. Mà bồ ra bồ chứ. Toàn những vị đã thành danh ở cái nơi mà người đàn bà làm việc và được coi là rất được việc. Bà ta sinh con với một trong những người đàn ông ấy, công khai gọi người chồng chính thức mới trở về trong bộ quân phục tàu tàu là ông và sau khi ông ta trở lại với vùng rừng đã gắn bó bao ngày gian khổ thì bà vợ công khai gọi ông bồ là bố cu Tũn nhà em. Cả khu tập thể đã choáng váng khi bà ta lao cả tấm thân màu mỡ vào bà hàng xóm trước nay vẫn chị chị em em, hét vang vang: 'tao đĩ tao đẻ ra thiên tài, còn mày chính chuyên mày sẽ làm mẹ thằng mất xác'. Tưởng như họ sẽ không bao giờ quên nổi cái đêm ngồi chầu mặt nhau sau trận giáp lá cà, chung sức diệt muỗi ở trụ sở công an phường dưới gốc cây đa già. Thế mà buổi chiều kia, dắt cái xe đi ngang qua nhà hàng xóm, thấy bao nhiêu guốc dép để ngoài, khói hương nghi ngút bay suốt hành lang cùng những tiếng nghẹn ngào, người đàn bà trẻ rùng mình. Một năm sau, vào ngày ấy, bà ta sẽ lễ mễ bê một nải chuối to và thẻ hương áp vào người, rụt rè gõ nhè nhẹ vào cánh cửa mở của nhà hàng xóm, nghẹn giọng: 'Chị cho em được thắp cho cháu một nén hương'. Hai người đàn bà sẽ đứng nhìn nhau, người đàn bà mẹ liệt sĩ kia sẽ lặng lẽ đẩy cánh cửa rộng hơn cho hàng xóm bước vào, và vẫn lặng lẽ như thế đặt đồ lễ của người đàn bà trẻ lên bàn thờ... Ngân biết mình tại sao mê sử mà không chọn học sử. Lịch sử nào chép những nỗi niềm kia?

 

 

 

         Có nhu cầu đứng giữa hào quang

         Và nhu cầu ngồi trong bóng tối

 

         *

 

         Nghĩ những bước chân chệnh choạng của mình

         Cũng làm con đường mòn thêm chút nữa

         Mà thương cho con đường

   

         *

 

         Ông bà di cư

         Bố mẹ di tản

         Con cháu di dân

 

         Bộ lạc người Kinh.

          

      

            17.   

 

            Tính khách quan của các sự kiện cố nhiên phải là thuộc tính của mọi sử liệu. Nhưng, sẽ phải coi thuộc tính giả định ấy là phẩm chất. Liệu có sử gia nào không tự tín? Liệu có sử gia nào thật sự khách quan khi truy tìm sự kiện, và đằng sau chúng là bản chất rất người của thời gian. Mà ngay cả khi thật sự đạt tới yêu cầu khách quan, tác phẩm sử học dường như vẫn hàm chứa một sự tàn nhẫn không thể loại bỏ. Bởi vì người ta luôn chỉ thấy trong đó bóng dáng các cá nhân anh hùng thành hay bại, hoặc kẻ phản bội bại hay thành. Còn đám đông luôn lao đi trước, dựng hồn sông núi dậy bằng cái chết, bằng mất mát của riêng mình, bất quá lắm cũng chỉ được tôn là 'quân ta', 'bên ta', chỉ còn được quy thành những con số tổn thất. Với Ngân, điều ấy bất nhẫn. Mỗi một người là một thế giới, một miền tâm cảm, không ai có thể thay thế cho ai. Hai tiếng 'nhân dân' nếu không làm cho con người xúc động bởi ý thức đời đời về những số phận ẩn tàng trong đó thì hoàn toàn vô nghĩa. 'Dân là nước'. Phải! 'Dân là bể'. Phải quá! Nhưng trước hết, nhân dân là từng người từng người một, sống âm thầm lầm lũi quanh nhau, nếu có xôn xao lên được chăng thì cũng chỉ như là cái xôn xao bụi nắng.

 

*.

 

         Nhiều năm đã trôi qua kể từ ngày bước chân đi lấy chồng và thôi không bận bịu vì nghề nghiệp cũ, người đàn bà vẫn không quên đứa học trò thông minh vô cùng, chịu khó vô cùng, mà nghèo quá. Bố nó đã đến nhà Ngân một ngày ba mươi tết, lúc trời vừa tang tảng. Người đàn ông gầy, sắm vắn trong bộ quân phục cũ, hai ống quần vo lên ngang đầu gối, đầu úp cái mũ cối sờn vành, lúng túng bê vào nhà cô giáo của con mình một rổ rau thơm rau mùi đầy ụ, cởi mở dăm ba câu chuyện xóm làng rồi vội vã xin phép ra chợ. Nhìn theo người khách đang gò lưng đẩy cái xe thồ lèn đầy rau cỏ ra khỏi ngõ, sau nỗi cảm động ban đầu, lòng Ngân bàng hoàng trống trải, thấy mọi lời lên lớp của mình trong những giờ giảng văn về sức mạnh của nhân dân, về ân tình của nhân dân -  những lời mình đã nói với tất cả sự thành tâm - đột nhiên thành rỗng tuếch. Ý nghĩ ấy theo người đàn bà suốt buổi sáng chợ Hoa, suốt bữa cơm chiều ba mươi tết, suốt lúc giao thừa, suốt về sau. Hồi ấy Ngân chưa biết cái ngon của những cọng rau thơm rau mùi xứ sở, món quà của gia đình đứa học trò nghèo đủ để Ngân chia cho mấy nhà hàng xóm, còn những bàng hoàng kia Ngân giữ mãi cho mình. Nó cứ đầy mãi lên cùng năm tháng, không làm người đàn bà từng trải hơn, nhưng đủ để cứ dần dần thiếu tự tin hơn. Những giờ đi dạy thêm, những phong bì tiền dày cả gang tay nhận từng tháng từng giờ, những vé nó vé kia người chồng dăm ba tháng lại đưa cho vợ không làm người đàn bà vui vì đời sống dễ dàng hơn bọn bạn cùng trang lứa đang tám giờ vàng ngọc trong cảnh lo giảm biên về một cục. Bao nhiêu lần Ngân tự hỏi mình có đủ sức dứt ra khỏi guồng sống này không, hay cứ thế, cứ từng ngày lo cười mỏi miệng với khách của chồng, nghe họ bàn toàn những Quota với tín dụng thư, rồi khi khách về nghe tiếp những câu chuyện không ra ngoài đề tài ấy cùng đủ lời triết lí mọn không thể chấp nhận mà cũng không thể nào cãi nổi của chồng. Bao nhiêu lần Ngân kinh hoàng tự hỏi mình, chẳng lẽ cứ thế, cứ để học trò mang đồng tiền mồ hôi nước mắt, có thể là tiền bán cả tấn thóc của nhà, có thể là tiền bán cả sào đất sống của cả nhà, có thể là tiền bù giá vào lương bù da vào xương trong cảnh bố mẹ lúc nào cũng nhớn nhác vì hết việc, cúng vào đủ thứ trung tâm để tiếp tục nghe mình thành tâm nói nhảm. Không phải là duy nhất, nhưng đó thực sự là một lí do để Ngân bỏ nghề.

 

         Nghề bỏ được, nhưng nghiệp, đã tưởng thông minh rứt được từ hồi còn trẻ trung lắm và tự tin vào tuổi trẻ lắm, rút cục lại quàng lấy Ngân, riết lấy Ngân bằng nỗi khổ vì không thể nào quên lãng.

 

  *.

            Bố cũng là người không biết quên lãng. Những lúc cay cực nhất là lúc ông hay bần thần nhắc chuyện những ngày đã qua. Toàn những chuyện chỉ nghe đã thấy đời đáng sống. Nhưng chuyện này thì hình như bố chỉ kể có một lần. Không hiểu vì sao chính câu chuyện chẳng liên quan gì tới mình ấy lại hay trở về trong Ngân, làm lòng Ngân uể oải và buồn bã. Và sau đó bao giờ cũng khiến Ngân bình tĩnh lại.

Ngân chưa bao giờ giáp mặt những người mà bố cũng chưa từng gặp lại kia. Nhưng đôi khi, Ngân lại nghĩ có lẽ nếu gặp bố và họ cũng chẳng thể nào nhận ra nhau. Làm sao có thể nhận ra những người bình thường như thế.

 

 

 

         Đừng tìm ta giữa những nẻo đường ta đang lạc lối

         Giữa quãng đời ta có đợi nữa đâu

         Bao năm rồi ta có đợi nữa đâu.

 

         Cuộc đời không dài

         Sao bao nỗi đau phải chịu đến hai lần?

 

         Đừng tìm ta, đừng đi lạc cùng ta.

 

 

 

*.

 

         Hình như năm ấy là 1947. Bố lúc đó mới mười bốn tuổi, vừa trốn bà bỏ nơi tản cư theo người anh họ ra đi. Cơ quan kháng chiến những ngày đó còn tanh bành lắm. Công việc đơn giản và khó khăn, là lo mua giấy mua mực cho cơ quan in báo. Phải mua số lượng lớn để chuyển lên Việt Bắc. Cả đoàn lặn lội về xuôi nhờ bà con vùng tề. Đá in lito đã có rồi. Mực có rồi. Giấy nữa. Cả người gánh thuê cũng đã tìm được. Buổi chiều còn ngồi phân chia tài sản. Hai người đàn ông một còn búng ra sữa một đã cưng cứng tuổi hì hục lèn đồ vào mấy cái bồ to, vừa làm vừa to nhỏ với nhau bằng cái giọng bèm bẹp hỏi ngã lẫn lộn của người gốc gác vùng đó. Ngày mai lên đường.

 

         Gần sáng thì Tây càn. Cái làng nằm rìa vùng tự do náo loạn. Trong bóng đêm đặc quánh, tiếng trâu bò rống nghe còn khiếp đảm hơn cả tiếng người tru tréo than vãn giục giã. Đồng chí trưởng đoàn lệnh: 'Chạy'. Tản ra mà chạy! Chạy đi đâu? Bố cứ bám theo một thằng cu trạc tuổi và con trâu nó dắt theo. Suốt cả ngày. Đói. Khát. Sợ. Sợ nhất vì cái túi dết công văn vẫn quàng chéo qua vai không dám bỏ. Cái làng đêm còn ngủ đỗ bốc cháy sau lưng. Hai đứa trẻ mặt mũi tái mét đứng giữa đồng không mông quạnh, không đứa nào nhìn nhau. Bố bảo lúc đó không biết vì sao bố nhớ bà nhớ các cô chú trong nhà khôn tả.

 

         Đêm. Sương đã buông dày lắm, đến nỗi không còn thấy những sợi khói mệt lả run rẩy vươn lên từ xóm cháy. Bố run run nhờ thằng bạn mới quen chỉ đường đi về phía bờ sông. Cũng chả có kinh nghiệm gì, cũng chả biết Tây đã rút hết chưa hay đóng ở đâu. Chỉ đinh ninh lời anh trưởng đoàn dặn cố tìm nhau nơi ấy để lại ngược lên Việt Bắc. Đói, mệt, người cứ từng lúc nóng nóng lạnh lạnh như lên cơn sốt, hai đứa nhỏ và con trâu lầm lũi bước trong sương. 

         Thế mà tứ tán vậy rồi cũng đủ mặt anh em. Sáng ra gặp lại, nhìn nhau mới thấy ai cũng rộc rạc đi sau có vài ngày, mới thấy hai cổ chân muốn long ra vì mỏi. Kiểm đồ đoàn, mất hết. Có mỗi bố còn túi công văn thư từ vẫn khư khư đeo chéo qua vai. Bác Tuất lắc đầu: 'May mà mày thoát. Chứ bị lùa thì chắc chúng nó đòm một phát là xong'. Đồng chí trưởng đoàn đờ đẫn: 'Cả hai ông gánh đồ nữa. Nó mà lục ra những đá li tô những giấy những mực thì... Chắc lại phải một lần nữa tìm người nhờ mua lại tất...'

 

         Không thể tin được là hai người nhà quê gánh thuê cho đoàn lúc ngả chiều cũng tìm về được chỗ đó. Không thể tin được là đòn gánh với hai cái bồ to vật vẫn đè trên vai họ. Suốt ngày suốt đêm họ đã chạy giặc với đồ đoàn của người khác mà họ biết rõ là gì, không một lần tính chuyện quẳng quách đâu đó cho nhẹ người. 

 

*.

 

            C