Lê Minh Hà
Gió
tự
thời khuất mặt
2
12.
Rất lạ lùng, đấy
lại là những ngày mà Vĩnh và
Ngân thân nhau hơn. Có lẽ giữa họ không hẳn là tình bạn nữa. Giữa bạn
bè, dù
thân thiết bao nhiêu cũng khó có niềm tin cậy ấy như niềm tin cậy mà
Vĩnh và
Ngân độ ấy cảm thấy ở nhau. Niềm tin cho phép người ta bộc lộ cõi sâu
kín, yếu
đuối nhất của mình mà không e ngại. Đấy là điều mà Ngân đã được nhận từ
Vĩnh
vào những ngày tháng đó. Nhưng đấy không phải là lý do để Ngân không ác
cảm với
ông bố của bạn. Điều ấy thật không bình thường. Nhưng đúng là như thế.
Ngân
không thấy căm giận ông ta. Khinh? Có lẽ! Nhưng mà không căm giận. Mặc
dù nỗi
cay cực của bố Ngân biết rõ và không bao giờ quên. Nhưng với Ngân, đó
là quá
khứ của ông. Một cách vô thức, Ngân đã chối từ nghĩa vụ gồng gánh dĩ
vãng, gồng
gánh tự hào và đau khổ của thế hệ đã sinh thành ra mình. Một cách vô
thức, Ngân
đã hiểu ra khả năng nhiễm độc trong hương vị dịu dàng đắng cay của quá
khứ. Và
bởi thế Ngân đã hành xử rất nhẹ nhàng với người cha của bạn. Nếu tự tin
hơn và
nhẹ dạ hơn, hay nếu căm giận, có lẽ Ngân đã không thể tự bảo vệ mình,
có lẽ đã
rơi vào cái bẫy của mình trong ý muốn trả thù cho cuộc đời bố mẹ, trả
thù cho
cuộc đời không được sống mà mình thực ra cũng không biết sẽ như thế nào.
Nhiều năm sau
này, không gặp lại Vĩnh nữa,
nhưng khi nhớ về người bạn cũ đã cho mình bao nhiêu tin cậy và âu yếm,
và có
lẽ, đã có thể cho mình cả yên ấm theo một nghĩa nào đó, Ngân lại nhớ
tới buổi
chiều ấy. Ông bố Vĩnh lại diễn đúng vở cũ, nửa thân tình nửa sàm sỡ,
Ngân xoay
người, lách ra khỏi vòng tay ông, nói rất nhẹ nhàng:
- Bác Mạc!
Hệt như
nghe ống nứa nổ trong rừng cháy,
người đàn ông ngả tấm thân bệ vệ về phía sau, môi giật giật:
- Sao...
sao Ngân biết cái tên đó? Cháu...
cháu là ai?
- Là bạn
Vĩnh con bác, bác biết rồi mà. Vĩnh
rủ cháu đi xem vở 'Tôi và Chúng ta'. Ồn ào ghê lắm, chắc bác cũng xem
rồi? Cháu
cứ khất Vĩnh mãi. Nhưng mà... Vĩnh về thì bác bảo Vĩnh cháu chờ Vĩnh
tối nay
lúc bảy giờ nhé.
'Bình
tĩnh! Bình tĩnh'. Ngân đi về phía cửa,
hít thật mạnh và giữ hơi lại trong khoang bụng, đầu âm âm lời tự nhắc
mình. Nếu
Ngân quay đầu, cô sẽ thấy người đàn ông béo tốt giờ bệch bạc ngồi chảy
ra trong
lòng ghế. Đã từ lâu lắm rồi, ở quanh ông không còn là những người anh
người em
thuở ấy. Đã từ lâu lắm rồi, ông không còn nghe ai gọi mình bằng cái tên
ấy. Cơn
gió nồm nam thốc vào phòng làm ông rợn cả người, như cái lúc nhớ lại
trận lũ
rừng trên đường công tác năm xưa, như cái lúc hồi tưởng giây phút quăng
mình
qua bờ đê tránh hỏa lực phục kích của địch một đêm đột nhập làng tề,
như cái
lúc từ trên ban công đang săm soi giàn hoa cẩm tú thì bất chợt thấy
người đàn
bà điên cùng phố... Cô gái này không điên.
Ông hoàn toàn
mất bình tĩnh. Bà vợ đi làm về
gặp cô gái ngoài cổng đã thấy chồng trong bộ dạng thảm não đó. Bà không
thể có
thêm một phỏng đoán nào ngoài phỏng đoán kinh khủng ấy, vì ông chồng
không thể
giải thích điều gì. Trong nỗi căm giận chính đáng nhiều năm của mình,
liệu bà
có thể hiểu được nỗi bất an cứ phình lên nóng rực ruột gan ông? Và ngay
cả có
biết rằng đêm ấy, khi thằng con trai ông đạp xe trên phố mưa, gọi tên
cô gái
trong mưa, cô gái sẽ nằm mở mắt, khóc, lặng lẽ, biết rằng mình sẽ không
bao giờ
còn tìm gặp lại Vĩnh, sẽ không bao giờ còn rong ruổi cùng người con
trai vô tư
và dễ mến những chiều chiều, chắc là ông cũng vẫn không thể yên tâm.
*.
- Giá có thể lại
trẻ bằng khi đó, Vĩnh sẽ xin
lỗi Ngân cách khác. Có thể Ngân vẫn không chịu, vẫn đi lấy chồng, nhưng
giữa
chúng mình sẽ không phải là mười mấy năm yên lặng như thế này.
- Nói thế
làm gì Vĩnh. Dù thế nào thì Vĩnh
cũng thừa biết bọn mình không thể lấy nhau cơ mà. Cái tính Ngân... là
bạn thì
có thể chứ làm vợ thì Vĩnh chắc chịu chả nổi ba bảy hăm mốt ngày đâu.
Vĩnh ân
hận ư? Bọn mình có thể xin lỗi thay cho các cụ được không? Ngày xưa,
Ngân cũng
choáng váng khi biết những điều không nên biết của các cụ. Nhưng bây
giờ, khi
đã là đàn bà, đã không thể nào ngờ nghệch lại, Ngân hiểu rằng mọi sự
đều có
thể, xấu hay tốt, ở bất kì ai, đều có thể.
*.
Dù người đàn bà
nói thế, người đàn ông vẫn
không thể nào quên được câu chuyện bà mẹ ép nghe vào buổi sáng chủ nhật
kinh
khủng ấy. Ông bố đã đi câu lạc bộ chơi tennis. Bà giúp việc nghỉ làm.
Ông anh
vào trường. Chỉ có hai mẹ con. Vĩnh ngồi bất động, chú mục vào giò
phong lan
treo ngoài gió sớm vừa nở lần đầu. Trời u ám và cái màu vàng cam ấy sao
mà lộng
lẫy. Vĩnh đã không thể nói gì, nhưng Vĩnh biết mình ước ao gì. Vĩnh
hoàn toàn
khác thường vào buổi tối khi đến trung tâm ngoại ngữ chờ Ngân. Và Vĩnh
đã xin
lỗi, đã ngỏ lời. Và lại thêm một lần choáng váng bởi câu chuyện về gia
đình
bạn. Không có hân hoan đêm mưa hôm nào. Điềm đạm và buồn bã. Cả hai
người đều
điềm đạm và buồn bã. Y như bây giờ. Hồi ức chung làm họ hiểu rằng ngay
từ khi
ấy mình sẽ chẳng còn bao giờ trẻ nữa...
- Ngân
biết không, hôm ba Vĩnh mất, Vĩnh có
thấy Ngân và... cả bác.
- Ngân đưa bố đến cùng chú Thái. Ngân cứ nghĩ
Ngân
không đi cùng lớp mình
thì Vĩnh chưa chắc nhớ. Hôm đó phòng tang lễ sao mà đông. Mà Ngân và cả
hai cụ
thì đều không ghi gì vào sổ tang.
- Vĩnh cứ
ngạc nhiên...
- Sao lại
ngạc nhiên? Sau nay bố Ngân và chú
Thái hay nhắc ba Vĩnh những ngày còn ở Việt Bắc. Các cụ bảo ba Vĩnh
ngày ấy
sống hay lắm. Vĩnh đừng nhớ những chuyện ấy làm gì nữa. Dù sao bác cũng
nằm
xuống rồi. Mà Ngân phải nói ngay với Vĩnh rằng chính ba Vĩnh đã dạy
Ngân nhiều
điều. Không biết bác, chưa chắc Ngân như ngày hôm nay để Vĩnh còn muốn
gặp lại.
Nhờ bác mà Ngân hiểu ra rằng sớm muộn gì thì người ta cũng phải một lần
đối
diện mình, nhận chịu trách nhiệm của mình. Và...nói thật đừng bực nhé,
Ngân
thấy cái trò ăn năn hộ của Vĩnh cải lương ghê lắm. Cứ biết chịu cho đủ
trách
nhiệm của mình hôm nay đã. Thế chưa đủ nhọc sao? Chuyện các cụ để các
cụ tự xử
lí. Ngẫm cho cùng cũng tại các cụ cả. Các cụ đùng đùng chạy theo nhau.
Đã trung
thành với tổ chức thì đừng nói chuyện trung thành với nhau. Không thể
có những
thước đo khác cho những thời điểm khác trong đời người. Ba Vĩnh chỉ làm
những
gì mà ngày ấy người ta cho là... cho là... nếu chưa đúng thì cũng chẳng
có gì
ghê gớm. Còn việc giữa bác với Ngân sau này, Vĩnh phải nhìn như giữa
bác với
một người đàn bà bất kì. Cái chính không phải là bác, mà là người đàn
bà kia
làm gì. Ngân đã học được ở các cụ nhiều điều...
Bài
học đắng cay. Cả hai người hiểu rất rõ
rằng nói vậy thôi, dĩ vãng còn nguyên đó. Ám ảnh họ. Đeo đẳng họ. Đời
sống nếu
đẹp thì hình như luôn đẹp trong cái vẻ u ám này. Nhưng thật ra đời sống
nhiều
khi chỉ tức cười và buồn rầu một cách phi lí.
Sao ta không gặp nhau muộn hơn
Những xáo trộn trong đời thành dĩ vãng
Ta biết quý những gì yêu dấu
Không bao giờ ta chia tay em
Sao ta không gặp nhau sớm hơn
Lơ ngơ chưa biết tiếc điều gì
Đã không cháy đốm lửa muôn đời ấy
Không tro tàn bỏng rát mấy mươi năm
Sao ta không tìm nhau ngày sau
13.
Chẳng hạn như
trò chơi vợ chồng. Đúng hơn thì phải nói là một vở kịch nhạt mà kì cục.
Cái hồi đó kì
cục thật. Khu tập thể trông thật đẹp. Ba khối nhà cao tầng quây lấy
nhau. Giữa
là nhà trẻ xây theo lối nhà nghỉ công đoàn ở Đồ Sơn Sầm Sơn gì đó, có
hành lang
bao quanh và đấy là nơi tụ tập của bọn trẻ con những buổi trưa mùa hè
mất điện.
Trước nhà trẻ là vườn hoa. Có lẽ chỉ có thế hệ Ngân là biết ngày xưa
khu tập
thể còn có một vườn hoa. Đúng là kiểu mẫu. Chỉ còn thiếu mấy cái xe đẩy
trẻ con
và mấy bà béo mặc váy hình cái nơm ngồi trên những chiếc ghế gỗ kê dọc
lối đi
là giống như cảnh thường thấy trên các tấm bưu thiếp của Liên xô. Nhưng
đằng
sau những cánh cửa kia là cả một sự nhem nhuốc và lạ lùng là dường như
không
một ai thấy bất thường. Hai gia đình được chia chung một phòng còn tự
cho mình
may mắn. Giường kê lênh khênh trên mấy viên gạch cho cao và tất cả nồi
niêu
xoong chậu tống hết xuống gầm. Một cái tủ gỗ tạp và cái xe đạp dựng kề.
Đấy là
tất cả cõi riêng của những cặp vợ chồng son rỗi khi đó, tách biệt nhau
bằng một
tấm vải hoa loè loẹt theo thời gian màu sắc cứ xỉu dần đi. Bọn trẻ con
thì
thích ở chung lắm. Nhưng bọn lớn hơn một chút thì lại có thú khác. Buổi
trưa
ấy, theo lời hẹn, cả lũ không tụ tập dưới hành lang nhà trẻ mà dồn về
nhà thằng
Phái. Căn phòng lớn đầu hồi mà khi thiết kế người ta tính dành để làm
nơi cho
mọi người tụ bạ, đọc sách chơi đàn đánh bóng bàn hay nói nhăng giờ mới
được
chia đôi. Nhà thằng Phái chiếm một nửa. Nửa căn kia thuộc hai nhà, nhà
bác Miến
già không con và nhà chú Tưởng cô Hoa mới cưới. Hai căn được phân cách
bằng tấm
gỗ dán dựng cao quá đầu, nhìn lên thấy toàn những bao những gói chăn
màn. Thằng
Phái đã dùi một lỗ nhỏ trên bức tường gỗ từ bao giờ và bây giờ nó hào
phóng cho
cả bọn xếp hàng ghé mắt nhòm, sau khi đã dặn dò cảnh cáo cả bọn suốt
mấy ngày
trước đó là phải trật tự như khi kiểm tra một tiết. Cái lỗ bé hơn đầu
đinh hóa
ra nhìn thẳng qua giường chú Tưởng cô Hoa. Nhà bác Miến đi đâu không
rõ. Cứ
thấy cô chú vật lộn, lăn bên nọ lăn bên kia, lúc mất tích đâu ở góc
tường, lúc
chình ình hiện ra nồng nỗng trông ghê không chịu được. Hết phần nhòm
ngó, Ngân
kéo tay con Hằng An nhà cô Tam lủi một mạch. Cái cảnh vừa nhìn thấy làm
nó
chóng mặt, buồn nôn, nhưng những tiếng động vừa lọt vào tai lại bắt
buộc nó
hình dung ra một cảnh khác mà nó đã suýt phải chứng kiến khi còn bé hơn
thế
này, khi còn đi sơ tán. Hồi ấy nó thân với chị Thục nhà ông Lẫm lắm.
Chị là cô
gái duy nhất trong làng học hết cấp ba và là kho sách của Ngân, cũng là
người
duy nhất được bà tin cậy gửi Ngân những khi ngoài bãi có hát chèo hay
chiếu
bóng. Ngân hay qua nhà chị theo lỗ chó chui ở chân rào, rồi tọt thẳng
vào buồng
chị. Buồng chị Thục không giống buồng các cô gái khác trong làng, không
chăng
sào để vắt quần áo, không chồng chất hũ lọ thúng mủng giần sàng, sát
cửa sổ lại
còn cây khế lá lúc nào cũng nõn nà xanh làm cho nắng cứ xôn xao. Buổi
trưa,
trời oi bức. Các chú bộ đội đóng quân trong làng không thấy đi lệu rệu.
Ông bà
Lẫm đi thăm con làm ở nông trường An Khánh tận ngoài Hà Đông. Ngân vừa
tới sát
gốc cây khế thì giật mình. Cũng những tiếng động kì quái như tiếng động
Ngân
vừa nghe qua bức vách nhà thằng Phái. Sợ bủn rủn chân tay. Con bé lủi
ra đầu
hồi nín thở nghe ngóng tiếp. Cho tới khi có tiếng kẹt cửa nhẹ như một
tiếng
guốc võng chao nghiêng. Người vừa bước ra đi tắt qua vườn ngay chỗ đầu
hồi Ngân
đứng là chú đại đội trưởng đơn vị bộ đội đóng quân trong làng. Chú sẽ
cùng đơn
vị ra đi chỉ sau đó ít ngày. Cũng chỉ ít ngày sau, Ngân đã vô tình nhìn
thấy
chị Thục đi giặt, lúc nó nằm sấp trên cây sung còng bên dốc bến. Bến
vắng.
Quanh chỗ chị Thục dầm chân, những vòng sóng đỏ lan ra, nhạt dần, trôi
đi. Chị
Thục đứng thẳng lưng, nâng cái nón đựng mớ đồ ướt, mắt lấp lánh một
niềm vui
chưa bao giờ Ngân thấy.
Phải rất
nhiều năm sau này Ngân mới thoát được cảm giác ghê ghê lờm lợm khi chợt
nhớ lại
cảnh ấy. Phải rất nhiều năm sau này Ngân mới hiểu ra nỗi đau khổ và khả
năng
chịu đựng quá sức người của con người thời bấy giờ. Ngày đó, người ta
sống hay
chỉ đơn giản là hiện diện? Thật khó trả lời. Mà đặt câu hỏi như thế
hình như là
bất nhẫn. Cũng không ai được quyền tách khỏi đời sống đó để mà kinh
ngạc hay
xót thương. Không coi tất cả là bình thường, chết chóc, thiếu đói, cấm
đoán, cả
nhục nhã nữa là bình thường, làm sao người ta sống?
Dù thế, hồi ức
vẫn chi phối Ngân mà Ngân không tự biết. Từ chối một bến bờ yên ấm là
Vĩnh,
Ngân lại chọn cho mình một nơi yên ấm khác, hoàn toàn bất ngờ với bạn
bè. Khi
không thể hết mình vì tình yêu mình mong có thì sống thế nào chả được.
Vậy thì
sao không sống cho đàng hoàng?
Cuộc sống đàng
hoàng ấy thật là nhờ nhệch, làm xộc xệch mọi cảm giác của Ngân. Phải vì
thế mà
trong lòng người đàn bà trẻ con này cứ thảng thốt mãi tiếng rống gọi
trở về của
tháng ngày thiết tha buồn khổ. Cảm giác về những ngày ấy từ nhịp sống
bây giờ
tưởng chừng có thể làm tất cả trong trẻo lại. Ngân đã tự mình thấm
thía, năm
từng năm, khi trên phố lại mơ hồ mùi hương của những gánh hoa loa kèn
bán sớm,
khi một trưa bất chợt gặp màu bằng lăng tím dại dột trong mưa làm thanh
thoát
lại cái khoảng phố Thợ Nhuộm khô cằn, khi ngoài ngõ một sớm kia tự dưng
quang
quẻ hẳn vì cây đa thay lá mới. Bao giờ cũng là những hồi ức buồn thảm
thức dậy
cùng những hương và sắc ấy. Lung linh nhất và mơ hồ nhất trong nỗi nhớ
nhọc
nhằn luôn luôn là mẹ. Mẹ, và những giờ phút cuối ...
Những câu thơ
buồn và lạnh
Mang theo
suốt cuộc hành trình
Tôi sưởi ấm lòng mình
Bằng những
câu thơ buồn và lạnh
*
Không bao
giờ, không bao giờ còn ra quả nữa
Nhưng những
cuối mùa
Quanh gốc,
rụng toàn cuống hoa
Gửi
một cây anh đào cùng
tuổi
14.
'Con mang trên
vai tuổi con gái chòng chành -
con không được như các bạn của mình - khi mỏi nghiêng về bên mẹ...'
Ngân đã viết
như thế ở trang cuối của một cuốn vở, giữa một tiết học cuối năm, khi
các bạn
trong lớp dấm dúi chuyền tay nhau cuốn sổ lưu niệm để mơ màng nhắm mắt
trước
khi hạ bút vạch một chữ kí lãng mạn, với cái đuôi loằng ngoằng hướng
tới tương
lai. Đấy sẽ là cuốn vở duy nhất Ngân giữ lại nhiều năm sau khi đã rời
trường
phổ thông và đại học. Cuốn vở chỉ nguệch ngoạc đôi công thức toán và
dòng chữ
đó, trang cuối cùng. Nó nhắc Ngân nhớ tới nỗi cô độc bất thường của
mình, không
hẳn chỉ vì mồ côi mẹ sớm đến thế.
*.
Nhiều năm sau
này, khi đã là một người đàn bà
từng trải nhiều mà vẫn không dạn dày, những dòng chữ viết trong buổi
sáng hè
rời rợi gió đó sẽ làm Ngân sợ hãi khi nghĩ về đời sống. Ngân nhớ mẹ đã
ra đi
vào tuổi Ngân bây giờ, mà chưa từng có một khoảng thời gian nào thật sự
yên
bình, nói gì hạnh phúc. Chỉ ở tuổi này, Ngân mới thấu hết nỗi đau của
một đứa
con mồ côi, chỉ thấu, khi hiểu ra nỗi đau đớn kiệt cùng của mẹ những
ngày tháng
đó, khi mẹ biết mình sắp chết, mà con mình còn nhỏ dại thế kia. Dẫu đã
hết đạn
bom. Nhưng đã bắt đầu lẩn khuất đâu đó khó khăn của thời hậu chiến, với
bao
nhiêu lo toan no đói tầm thường.
Và cũng chỉ ở
tuổi này, khi hầu như mọi buồn
vui dồn hết vào những đứa con rứt ruột, Ngân mới dám nghĩ rằng mẹ thật
ra đã ra
đi đúng lúc. Mẹ sẽ sống làm sao cho qua những ngày tháng đó. Mẹ, người
đàn bà
đẹp nhất, đẹp đến nỗi bao giờ bắt gặp một gương mặt phụ nữ khả ái, Ngân
đều có
cảm giác người đó có đôi ba nét giống mẹ mình.
Đấy không
hẳn là cảm giác dễ hiểu ở một đứa
con yêu mẹ. Người phụ nữ đã sinh ra người đàn bà trẻ con đẹp thật. Đẹp
khác
thường. Mái tóc rất dày nâu óng lên trong màu nắng quái dâng ngập những
thân
cây già bao chiều trên phố vắng. Hàng lông mày rậm cũng óng một màu nâu
như
thế. Sắc nâu lạ lùng và nồng ấm biết bao nhiêu, cứ làm Ngân thót cả tim
mỗi bận
nhìn dọc phố ngóng bóng mẹ đi về. Thường phụ nữ da trắng thì tóc và mắt
cũng
hơi nâu, nhưng đường nét sẽ nhạt, và buồn vui thì hời hợt yếu mềm. Còn
mẹ, tóc
và lông mày óng ả một màu nâu pha màu đồng đỏ, mắt to và môi mọng, hai
khoé môi
lúc nào cũng như đang giấu sẵn một nụ cười trái ngược với cái nhìn đầy
tra vấn.
Mẹ đã đi suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình với mắt và môi ấy, cả tin mà
không
biết khoan nhượng. Mẹ đã đi qua hai cuộc chiến tranh. Tuổi thơ âm u
dưới bóng rừng
già Việt Bắc. Tuổi trẻ trập trùng những nỗi đạn bom, nỗi mẹ già con dại
chồng
nghèo u uất mãi một nỗi niềm không thể nào gỡ bỏ. Mẹ đã đi qua tất cả
với cái
nhìn đau đáu và miệng cười không bao giờ gìn giữ lại cho mình một chút
gì. Ngân
không biết mình thừa hưởng được ở mẹ điều gì. Không phải là nhan sắc
thắt lòng
thắt ruột. Không phải là tính khí, cả tin, nóng nảy, kiêu hãnh mà thực
ra khiêm
nhường. Ngân nhớ, nhớ bao nhiêu giọng hát của mẹ, những đêm Hà Nội, mất
điện,
thanh khiết trăng sao. Những bài hát thời kháng chiến, những bản nhạc
vàng ở
lớp ở trường Ngân vẫn thường nghe nói mà không biết. " Tiếng ai hát
chiều
nay vang lừng trên sóng - Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa ... Âm ba thoáng rung
cánh
đào rơi - Nao nao bầu sương khói phủ lưng trời - Lênh đênh dưới hoa
chiếc
thuyền lan -Quê hương dần xa cách núi ngàn... Gió
hát trầm khúc ca - Tiếng phách giòn lắng xa -
Nhắc chi ngày xưa đó
đến se buồn lòng ta...' Bao nhiêu bài mẹ
đã hát Ngân nghe. Những bài hát mẹ đã nghe từ bà ngoại giữa một Hà Nội
lạ lùng
trước ngày kháng chiến, nghe từ các chú các bác cùng cơ quan ông ngoại
dưới
bóng núi chiến khu, những bài mẹ đã học thời thiếu sinh quân quê người.
Nhưng
Ngân nhớ, nhớ nhất khúc thiên thai kì diệu mà mẹ đã hát say mê trong
hơi gió
nồm nam lồng lộng thổi, và nhớ những ngón tay mẹ mơn man trên tấm lưng
nóng hầm
hập vì sốt của Ngân. Ngân nhớ đêm mùa hạ ấy Ngân rét lắm trong cơn sốt,
nhưng
con bé con vẫn nằm mình trần, yên lặng, chỉ để được có bàn tay mẹ trên
thịt da
mình, chỉ để được nghe mẹ hát như mẹ đang nghĩ ngợi. Trăng xanh biếc
hào phóng
rải trên tấm chiếu cũ hai mẹ con nằm. Đấy là đêm riêng tư cuối cùng của
hai mẹ
con. Mẹ sẽ không thể sống những ngày những đêm đầy sự kiện đến rất
nhanh sau
đó. Như đêm ấy...
*.
...Đêm ấy, 30
tháng 4 năm 75, Hà Nội vẫn mất điện. Trong bóng tối hầm hập, tiếng loa
truyền
thanh không dễ định vị như lúc ban ngày, vang xa hơn, chói lói hơn. Hai
chị em
Ngân kẽo kẹt đèo nhau về nhà trên cái xe đạp cũ. Từ bệnh viện K nơi mẹ
và những
bệnh nhân ung thư nằm - những người mà người thân đang cố giấu họ một
cách vô
ích chẩn đoán vô vọng của bác sĩ, nơi chỉ có những mắt nhìn mỏi mệt của
người
sống và hoang vu cuả người đang chết trở ra phố, Ngân có cảm giác thế
giới này
không có thật. Người như nước tuôn về phía Bờ Hồ. Như cả thành phố dồn
về đây,
để đứng bên nhau, để cùng lắng nghe. Đoạn Hai Bà Trưng - Hàng Bài tắc
cứng.
Không rõ mặt ai trong tối. Chỉ những hơi thở nóng, nặng nề. Chỉ những
tiếng lầm
bầm xin lỗi của những người bị mắc xe đạp vào nhau hay sơ ý giẫm phải
chân
nhau. Bay náo nức trên tất cả, trên đám người không rõ mặt, trên vòm lá
bắt đầu
lồng lộng gió là những âm giai nao nức. 'Việt Nam trên đường chúng ta
đi - Nghe
gió thổi đồng xanh quê ta đó - Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân
trời -
Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước mà vui sao ta chẳng nói nên lời...
Chặng
đường xa ta đi giữa mùa xuân - Ta đi giữa tình thương... chiến trường
xa dồn
dập bước... Việt Nam... Việt Nam...' 'Yên
hàn thật rồi.' Ai nói lầm thầm như mơ. Đột ngột
vang lừng một giai
điệu chưa bao giờ nghe... 'Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng - Lời
Bác nay
đã thành chiến thắng huy hoàng...' Lại Việt Nam. Lại Hồ Chí Minh. Có
cái gì cảm
động lắm, vừa cảm động vừa nghẹn ngào vừa kỳ quặc nở dần ra trong bóng
tối của
ngày đại thắng.
Khi đó Ngân chưa
biết Trịnh Công Sơn. Cũng chưa biết tự hỏi mình nếu vào lúc đó hoặc
trước đó
người Hà Nội đã biết chẳng hạn 'Một buổi sáng mùa xuân' hay 'Đại bác ru
đêm'
của Trịnh thì ấn tượng về ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh đằng đẵng
ấy đối
với mỗi người sẽ như thế nào?
Đại hội Đảng lần
thứ tư sẽ diễn ra sau đó một
năm. Trước đó là cuộc diễu binh lớn chưa từng thấy. Nhà Ngân chật cứng
bà con
ra tỉnh xem duyệt binh. Mẹ lại nằm viện, đang heo hắt những hơi thở
cuối. Ai ra
Hà Nội cũng vào thăm mẹ và mẹ vẫn cố hết sức để mỉm cười, để diễn tả
niềm vui
có thật trong lòng khi biết mình sẽ chết. Rằng con mình đã sống và sẽ
sống. Vì
đã là hòa bình. Nhưng, trong hòa bình đã bắt đầu một cái gì đó còn khó
khăn hơn
cả thời bom đạn. Sau này, ký ức về những ngày đó trong trí Ngân cứ tự
xóa từng
vệt. Chỉ còn duy nhất một ấn tượng: hè năm đó ve sao mà nhiều thế, và
mậu dịch
bán nhiều chanh thế. Ve ran ran đêm ngày như một lời tiên cảm về những
mùa khô
khát chưa tới. Chanh đổ từng đống bên hè phố, thơm mát đường trưa tháng
sáu,
rồi úa đi, nẫu đi, bốc mùi. Tại sao Ngân lại nhớ điều nhỏ nhặt ấy? Tại
sao Ngân
không mấy khi nghĩ tới những buổi trưa hai chị em lủi thủi đi xuyên
thành phố
mang cơm cho bố đang trông mẹ trong bệnh viện? Tại sao Ngân không nhớ
những
tiết học đột nhiên nhãng hẳn lời thầy giảng, trái tim đập nặng như muốn
ngừng
vì ý nghĩ có thể trên cái giường sắt đó ở viện mẹ đã tắt thở? Đấy có
phải là
phản ứng tự vệ để lẽo đẽo cho hết phần đời chưa kịp sống?
Lúc đó, trong
đầu óc cô gái mười ba tuổi không
còn chỗ cho Trịnh Công Sơn. Mà có lẽ, với những người khác thì cũng
thế. Đại
hội Đảng IV thành công rực rỡ. Báo đăng. Đài nói. Công viên Thống Nhất
thành
rừng ánh sáng. Nghị quyết về các chỉ tiêu kinh tế đất nước phải đạt tới
trong
kế hoạch năm năm tiếp đó... Những con số... 'Ưu tiên phát triển công
nghiệp
nặng...' Hai mốt triệu tấn lương thực thành mục tiêu trên giấy cho bà
con nông
dân hướng tới... 'Hợp lý.' 'Nhảy vọt.' Đài nói. Báo đăng. Có thể đoan
chắc
chuyện ngờ vực không có trong lòng người dân bình thường. Cái chính là
đang
sống, còn sống. Vả chăng đánh Mỹ còn được thì làm gì chả được. Đã ở
nước nào
đại sứ Mỹ phải cuốn cờ cắp nách cút đâu. Không ai thấy chuyện giang sơn
thu về
một mối mà vào tìm thân nhân trong miền đất vừa giải phóng vẫn cần có
đủ thứ
giấy chứng nhận nhân thân của cơ quan khối phố là điều bất thường. Nếu
có ngỡ
ngàng thì chỉ là ngỡ ngàng về một miền Nam phồn vinh lắm đồ nhựa xanh
xanh đỏ
đỏ, lắm máy móc gia dụng cũ, lắm vải mỏng đẹp tuyệt mà vừa giặt vài ba
nước đã
rách và vào chợ Bến Thành không biết cách mặc cả thì chớ có mua bán gì.
Nếu có
ngờ vực thì chỉ là sự ngờ vực kín đáo trước những người đàn bà miền Nam
ra thăm
chồng đi tù, áo bà ba vải mỏng tang mà nét cắt trông cưng cứng, quần
ống rộng
đen nhấp nhoáng, dép lưới, đội mũ vải thay vì nón lá, miệng lúc nào
cũng hờm
sẵn một nụ cười giữ ý chẳng ăn nhập gì với cái nhìn căng thẳng, buồn
bã. Họ
luẩn quẩn trong căn phòng chật của người bà con Hà Nội, lo xếp xếp sắp
sắp
những gói những lọ những hộp bốc mùi thơm lừng. Toàn những mùi xa xỉ
tra tấn
mũi và lưỡi và dạ dày của đám con chủ nhà cùng chúng bạn. Ngoài phố,
tiếng loa
truyền thanh vẫn vang vang dội ngược vào nhau. Náo nức. '...Chưa có bao
giờ đẹp
như hôm nay - Non nước mây trời lòng ta mê say...' '...Từ ngày hôm nay
chỉ còn những
tiếng ca...' '...Từ thành phố này Người đã ra đi - Bao năm ước mong đón
Bác trở
về...' Cũng đã chen vào những âm thanh mới của những cuộc chiến mới.
Nức lòng.
Hùng tráng. '...Chẳng kẻ thù nào ngăn được bước ta đi - Khí thế tiến
công mang
sức mạnh thần kỳ - Lời Tổ Quốc vẫn âm vang sông núi...' '...Chúng con
lên đường
hình Tổ Quốc trong tim...' Trịnh Công Sơn phản chiến của cuộc chiến đã
qua
không thể chen chân trong dòng chảy này của đời sống. Còn tình ca? Tình
ca
thích hợp với một cuộc chiến nhất định thắng chỉ có thể hát về những
nỗi nhớ
hai đầu, hai đầu dòng sông, hai đầu núi biếc, hai phương trời cách
biệt, là sự
chia xa thực chứ không phải là tưởng tượng, và không bao giờ là cô đơn.
Vẫn còn
nguyên trong trí nhớ Ngân tiếng hát Trung Kiên sắt đá một niềm tin phơi
phới:
'...Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa - Ta át tiếng gió
mưa thét
gào cuộn dâng phong ba - Em ơi nghe chăng lời trái tim... Qua núi biếc
trập
trùng xa xa - Qua bóng mây che mờ quê ta - Tiếng ca đời đời đời chung
thủy
thiết tha... Giữ lấy đức tin bền vững em ơi - Giữ lấy trái tim đòi sống
yêu đời
làm một bản tình ca dâng cả bao người...' Vẫn vẹn nguyên trong trí nhớ
Ngân
giọng nữ trung nồng ấm và rạo rực của Vũ Dậu: '...Rất dài và rất xa là
những
ngày thương nhớ... Anh đang mùa hành quân pháo lăn dài chiến dịch - Bồi
hồi đêm
xuất kích chờ nghe tiếng pháo ran - Ngôi sao như mắt anh trong những
đêm không
ngủ - Giáo án em vẫn mở cho ánh sao bay vào - Ngày và đêm xa nhau những
đêm dài
thương nhớ - Thời gian trong cách trở vẫn cháy ngời tình yêu...' Vẫn
còn
nguyên... giọng hát và ánh mắt... gửi trao... hò hẹn... rụt rè... liều
lĩnh...
Quang... chiều Đại Lải năm nào: '...Một tiếng chim ngân - một làn gió
biển -
một sớm mai xuân bên cửa hầm dã chiến thấy trời xanh xao xuyến... ta
vẫn thầm
hái hoa tặng nhau...' Không một nhấp nháy xao xuyến trước tấm tình ấy,
nhưng
Ngân nhớ, nhớ tới bây giờ và chắc mãi về sau nữa, về người bạn cùng lớp
sẽ hy
sinh chỉ sau đó ít ngày, dù Ngân đã chồng con, đã mệt nhọc lắm bơ phờ
lắm vì
phải sống. Lứa tuổi Ngân khi ấy chưa có tình ca cho riêng mình. Vẫn
phải ăn
đong tình ca của các thế hệ trước. Tiền chiến là cái gì đó chỉ lõm bõm
nghe
'các cụ' âm ư rồi thở dài sau những bữa ăn chiều còn hơn là đạm bạc.
Còn cái
món ỉ ôi sướt mướt ' Thi ơi Thi Thi có biết biết không Thi khi con tim
yêu
đương thầm chết...' nhà hàng xóm khuân từ miền Nam ra nghe lén qua cái
Akai cũ
to như hòm lương khô, cái món ấy làm cho xương thịt thiếu ăn cứ muốn
rão ra và
những trưa hanh hao Hà Nội đâm khó thở.
Khi đó Ngân
chưa biết Trịnh Công Sơn. Mà biết, liệu Ngân đã biết để mà mê đắm?
*.
Cô gái
mười sáu tuổi không hề nghĩ rằng chỉ
sau đó mấy năm thôi mình sẽ đổi khác hoàn toàn. Càng thiết tha bao
nhiêu thì
càng có vẻ ơ hờ. Càng nồng nhiệt bao nhiêu thì càng cô độc. Trịnh Công
Sơn? Rồi
Ngân sẽ biết nhưng không phải ngay lập tức đã cảm được. 'Biển nhớ.'
'Tình nhớ.'
'Cuối cùng cho một tình yêu.' 'Rừng xưa đã khép.' '...Tình yêu như trái
phá con
tim mù lòa... Một mai thức dậy chợt hồn như ngất ngây... Chợt buồn
trong mắt
nai... Tình yêu như vết cháy trên da thịt người... Tình xa như trời...
Tình gần
như khói mây... Tình yêu như nỗi chết cơn đau thật dài... Tình cho nhau
môi ấm
một lần là trăm năm...' Tình nào mà chẳng như tình nào. Có gào thét
than van
cho lắm cũng có khác gì nhau lắm. Ngân sẽ còn phải nhắm mắt lăn đời
mình qua
những đam mê và khó nhọc của ngày sống thời hậu chiến rồi mới hiểu ra
rằng
những than van, những gào thét, những day dứt giữa những cơn say dài
những cơn
say vùi của Trịnh cần phải cảm không phải bằng trái tim đau khổ vì yêu
hay vì
đã chán yêu mà phải bằng trái tim hoang mang của người biết mình là duy
nhất,
lớn lao và nhỏ bé, tột cùng. '...Từ lúc đưa em về là biết xa ngàn
trùng...' Đấy
không còn là nỗi thiết tha tuyệt vọng của kẻ đang yêu. Đấy là nỗi bi
thảm của
người - xa - lạ, mến thương cuộc đời này, mê đắm cuộc đời này, cô độc
tuyệt đối
trong cuộc đời này và mỗi mối tình sống qua, mỗi người tình quen thêm
chỉ là
thêm một bước, vào hoang vu.
Ngân hiểu ra
điều ấy hơi bị sớm. Nhưng cần một buổi chiều, một cơn gió bời bời khua
trong
vòm sấu làm chao nghiêng một chiếc lá bên trời, một mùi hương thơm ngát
của
tách cà phê quán vắng, một con người sẽ bước ra khỏi đời Ngân, điều mà
cả Ngân
và người ấy khi chia tay đã không hề nghĩ.
*.
...Trời trở lạnh đột
ngột. Phong phanh trong
cái áo mỏng đứng run cầm cập giữa đám người chen chúc trước cửa hàng
chất đốt,
Ngân buồn nản nghĩ tới cái cổ họng nhạy cảm và lồng ngực ốm yếu của
mình. Bài
tập lớn chưa làm. Sắp thi điều kiện rồi. Rồi sau đó là kỳ thi tốt
nghiệp. Nhưng
trước mắt sẽ là những đêm không ngủ không chạy đâu cho thoát vì khó
thở, sẽ là
những ngày nằm bẹp dí trên giường kẹp giữa hai chồng sách sẽ đọc và đã
đọc.
Nhưng cũng không thể bỏ về. Đã xếp hàng suốt từ trưa tới giờ. Bìa chất
đốt
chiều nay hết hạn. Bố đi làm. Chị đi thực tập. Không còn trông được vào
đâu.
Ngân không chờ đợi cái tin ấy vào đúng lúc ấy.
Việt dừng xe sát
bên Ngân, nhẹ giọng: 'đặt
lên đây' và đỡ lấy can dầu nặng trĩu trong tay Ngân. Có cái gì thương
mến lắm
trong mắt Việt. Ngân không biết khuôn mặt trắng xanh, cái áo cũ mỏng
Ngân vừa
co hai vạt quấn chặt tấm thân thanh mảnh, mái tóc dày buông lơi của
mình đã
siết lấy trái tim Việt trong khoảnh khắc đó của buổi chiều đó. 'Vừa
lĩnh học
bổng. Muộn muộn Việt tới. Đi nhé!' Vẫn là thương mến, nhưng thêm một
chút gì
như gượng nhẹ, như vui thầm trong mắt Việt, khi Ngân gật đầu. Việt
không lên
nhà, trước khi quay xe, Việt ngần ngừ rồi bảo: 'Phan viết thư về kể
chuyện có
cô bạn nhà ở gần gần đây'. Mặt Ngân không thể tái hơn được. Ngân mỉm
cười. Cả
ba là bạn cũ...
...'Đen hay nâu? Ngân đừng uống đen.
Nâu nhé!' Vẫn Việt nói.
Việt ngồi xoay lưng ra cửa. Ngoài kia gió vẫn bời bời. Lá sấu xoay tròn
lấp
loáng trong sắc trời xám sáng chỉ có vào những ngày cuối thu gió trở
như thế
này. Ngân cầm cái thìa, gẩy một chút bơ vào tách cà phê chị chủ quán
vừa mang
tới, chăm chú nhìn giọt bơ loang. Mùi cà phê ngầy ngậy và khắc khoải.
Việt vẫn
nói, vẫn nói. 'Vậy đấy. Phan đã có một cô bạn. Khi nói một cô bạn thì
đã không
còn là bạn. Phan đang xoay làm chuyển tiếp sinh...' Ngân lắng nghe,
nghĩ, tưởng
như mình thờ ơ. 'Không một ai biết chúng mình đã viết cho nhau những lá
thư như
thế nào. Cả Việt nữa. Nhưng lẽ nào Việt không biết chúng mình...' Ngần
ấy năm
Ngân thân tình với bao nhiêu người nhưng không thân thiết riêng một
người nào.
Không hẹn thề, không gì cả, nhưng những lá thư mang màu sắc một trời xa
và
những lá thư Ngân gửi đi bằng con tem mua từ đồng học bổng chắt bóp dán
bằng
cơm nguội đã riết Ngân vào trong ảo giác về một cái gì tuyệt đối và
vĩnh viễn.
Có thể gọi là tình bạn. Cũng có thể là tình yêu. Bởi vì chỉ có hai
người, chỉ
có khát khao, cảm hiểu. Thánh thiện. Nguyên chất. Tất cả bạn bè đều
nghĩ thế.
Mà đến hai gia đình cũng nghĩ thế. Việt chắc càng nghĩ thế. Vì Việt
thân với Phan
đến thế và vẫn là người chuyển thư Phan cho Ngân. 'Mấy năm rồi nhỉ?
Chẳng bao
lâu nữa tất cả sẽ ra trường...' Ngân xoè bàn tay hất mái tóc văng về
phía sau
lưng, cố gắng rời mắt khỏi một chiếc lá sấu đang vật lộn với gió tìm
cách đậu
xuống hè phố: 'Việt vừa bảo gì Ngân? , Việt được dự kiến ở lại trường?
Chúa
thế!' Việt cắt ngang lời Ngân, thô bạo: 'Việt bảo Việt muốn có Ngân.
Việt muốn
sống cùng Ngân khi bọn mình ra trường. Việt không muốn cứ phải làm hộp
thư sống
hộp thư chết của Ngân với những ai ai! Ngân nói đi!' Việt chộp lấy bàn
tay
Ngân: 'Nói đi! Nói đi!' Ngân ngẩn người, tỉnh hẳn. Quán vắng. Chỉ có
hai người
và chị chủ quán đang hí hoáy thay băng mới. Trịnh Công Sơn! Sao lại
Trịnh Công
Sơn lúc này? '...Đời sao im vắng... Người về soi bóng mình giữa tường
trắng
lặng câm... Có đường phố nào vui cho ta qua một ngày... Có sợi tóc nào
trôi
trong trí nhớ nhỏ nhoi... Không còn không còn ai... Ta trôi trong cuộc
đời...
Không chờ không chờ ai...' Ngoài trời mưa giăng tự lúc nào. Ngân khẽ
khàng rút
những ngón tay ra khỏi bàn tay Việt, với tách cà phê nguội uống ực ực.
Chua
loét. Vô duyên. '...Có những ai xa đời quay về... về lại nơi cuối trời
làm mây
trôi...' Việt nhìn vào mắt Ngân, vẫy chị chủ quán rồi lặng lẽ ra mở
khóa xe.
Ngân ngồi nhìn phố chiều đông dần lên, nhìn những dáng người mải mốt
trong mưa
lất phất. Phía bên kia ngã tư, người ta đang dựng một tấm pano mới.
Bác. Mặt
gầy và mắt sáng. Tay chống nạnh. Và phía dưới là hàng chữ to đùng: 'Bác
đang
cùng chúng cháu hành quân.' 'Bác đang cần chúng cháu hành quân...' Ngân
lắc
đầu, xua đi một nỗi nhớ. Phan. Phan hay gào câu hát láo lếu ấy. Cứ
tưởng như
Phan thì khó sống. Vậy mà lại chính Phan là người biết cách hòa hợp
trước với
cuộc đời này. '...Ngày ra đi với gió - ta nghe tình đổi mùa...' Đâu rồi
ôi những
non tơ?
Sau này, Ngân
không biết nên ơn hay nên oán
Trịnh Công Sơn. Liệu không có Trịnh Công Sơn xót xa và giản dị đến ma
quái,
liệu không có giọng hát rền rền mê mệt một nỗi ai hoài trống trải của
Khánh Ly,
không rõ Ngân có chú tâm hơn không khi nghe Việt nói lời yêu dấu ấy.
'...Ngày
ra đi với gió... Ta nghe tình đổi mùa... Rừng đông rơi chiếc lá... Ta
cười với
âm u... Trên quê hương còn lại ta đi qua nửa đời không thấy một ngày
vui...
Đường trần rồi khăn gói... mai đây chào cuộc đời... nghìn trùng cơn gió
bay...'
Không bao giờ họ trở lại câu chuyện cũ, dù vẫn đến nhà nhau chơi, vẫn
lang
thang cùng nhau, vẫn lo lắng cho nhau. Nhưng buổi chiều ấy vĩnh viễn
trở thành
màn sương mưa phủ lấy một cõi chung riêng tư lắm mà không một ai muốn
vén. '...Nhìn
lại nhau con mắt lo âu xin vỗ về muôn yêu dấu... Nhìn lại nhau che
những cơn
đau...' Trịnh Công Sơn bất chợt, đã buộc Ngân phải soi ngắm lại cuộc
sống quanh
mình, phải nhìn thẳng vào từng ngày sống của mình.
*.
Đấy là những
ngày kì quặc và buồn thảm. Nhưng
hầu như không ai nhận thấy. Có biết một cuộc sống khác hơn đâu để mà ao
ước rồi
buồn. Chỉ những lo là lo. Toàn chuyện áo cơm phải từng ngày đối mặt.
Niềm vui
chiến thắng, đúng hơn là niềm vui yên hàn đã nhoè mờ theo thời gian.
Niềm tin thì,
không ai muốn nói và dám nói, nhưng cứ từng ngày mai một. Làm sao có
thể tin
vào một sự đổi thay lập tức và kì diệu, rằng 'thắng giặc Mỹ ta sẽ xây
dựng hơn
mười ngày xưa' khi thành phố hình như mỗi ngày một xao xác và nghèo
hơn, khi
định lượng gạo còm cõi thế mà mậu dịch cũng không thể cung ứng. Làm sao
có thể
yên tâm khi chiều chiều nghe tiếng reo à à cuả bọn trẻ con là phải
buông tất cả
sách vở chạy ra chen lấn đổi bánh mì tem phiếu. Những cái bánh mì khô,
rắn và
chua mậu dịch bán thay gạo ấy Ngân đổ lổng chổng trong thùng gạo rỗng,
vài ba
hôm lại chờ lúc nhọ mặt người bê đi bán tống bán tháo được đồng nào hay
đồng đó
cho mấy bà phe phẩy đầu ngõ. Những giờ học triết, kinh tế chính trị
học, chủ
nghĩa xã hội khoa học và lịch sử Đảng trở thành lạ lùng. Cái cần nhất
là nhập
tâm, không đối chiếu so sánh với đời sống hàng ngày làm gì cho mệt.
Chân lý của
chủ nghĩa là một cái gì đó không thể và không nên tìm cách chứng minh,
bởi vì
nó nằm ở thì tương lai, của những thế hệ sau nữa. Không lẽ thế hệ trẻ
của dân tộc
này lúc nào cũng phải thực hiện kỳ vọng vào tương lai của thế hệ già?
Nghĩa là
không một thế hệ nào được sống cho đúng nghĩa! Ý nghĩ này Ngân không
bao giờ
dám chia xẻ với một ai trong đám bạn bè. Học hành trở thành gánh nặng
vô nghĩa,
càng vô nghĩa khi biết chắc tốt nghiệp rồi sẽ không mấy đứa thi thố
nổi. Sẽ có
những đứa chễm trệ trong cơ quan một bộ nào ngay giữa Hà Nội nhờ vào
thần thế
ai đó. Còn những đứa như Ngân, hôm nay no đói thế nào ra phố vẫn tóc
ngang vai,
guốc cao, quần áo là kỹ lưỡng và vẫn rủ rê nhau cà phê cà pháo khi
trong túi có
tiền, ngày mai chưa biết bị bắn về phương trời nào của Tổ quốc, để rồi
chết dí
ở đấy với đồng lương đùa nhả, bao nhiêu điều học được cứ chột dần đi.
'...Nơi
em về trời xanh không em...?' Không ai có thể hỏi một câu như thế vào
lúc ấy,
ngay cả để trêu chòng nhau. Cho nên câu hát càng hoang mang, ứa một
khát khao.
Bao nhiêu lần lang thang trên phố, ngang qua mấy hàng thuốc lá có cô
bán hàng
xinh xắn, bao nhiêu lần Ngân tự hỏi đấy có phải là một nữ sinh viên đã
tốt nghiệp
chống lệnh công tác hay không? Đã tự hỏi liệu mình có dám đánh đổi tất
cả cho
một cuộc sống yên bình nửa vời và thảm đạm như thế ở thành phố thân
thương này?
Mà vẫn tự
biết '...vai em gầy guộc nhỏ...'
Từ buổi chiều gió trở Việt bỏ về trước còn có bao nhiêu lần Ngân như
thế một
mình. '...Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua... Trên bước chân
em âm
thầm lá đổ...' 'Những chuyến mưa qua... ' Ôi Trịnh! Phải, Hà Nội mùa
thu nhiều
mưa lắm, hết mưa ngâu, hết bão rồi lại những cơn mưa dầm, lững thững
đến rồi
đi. Những cơn mưa buộc người ta ngồi lại, lặng lẽ nơi này, để, đôi khi,
chỉ đôi
khi thôi mà đau đớn mãi '...nhìn lại mình đời đã xanh rêu...' dù còn
rất trẻ,
chưa sống được bao nhiêu.
Giống như
là mộng mị. Vẫn sống đấy, vẫn lo
toan đấy, vẫn nói cười đấy, vẫn yêu đương loạn xạ đấy, nhưng không
thiết tha
với một cái gì, ngoài khao khát về một cái gì tuyệt diệu lắm tồn tại
đâu đó, có
thật, nhưng mà mong manh, có lẽ còn vô nghĩa và vô ích giữa cuộc đời
toàn những
bươn chải không đáng như thế này. Không còn là lý tưởng đã hối thúc mấy
thế hệ
liền suốt mấy chục năm qua, đã một thời non trẻ hết mình tin tưởng.
Những trang
sách đẹp chỉ làm cho nỗi thiết tha thêm tuyệt vọng. '...Đôi khi ta lắng
nghe
ta... nghe sóng âm u dội vào đời...' Những ngày ấy đã tạo ở Ngân thói
quen lang
thang phố vắng một mình. Bao chiều. Bao đêm. Sương buông mờ phố nhỏ.
Mùi lá đốt
quyện trong sương buông lúc chiều hôm bình thản. Là cái gì chỉ thành
phố này
ngày ấy mới có. '...Gió heo may lại về... Chiều tím loang vỉa hè... Rồi
mùa thu
bay đi... Trong nắng vàng chiều nay...' Đèn đường bật sáng héo hắt dưới
ánh
chiều còn rớt lại và nhoè dần đi trong sương cuối thu mỗi lúc một phủ
dày hơn.
Hoa sữa dậy một vùng hương ấm cơn gió lạnh vừa xộc tới. Đã mấy mùa thu
sang như
thế. '...Đêm khuya nhìn đường phố... thành phố hoang vu...' Không phải
một lần
Ngân cảm giác được cảm giác của người nhạc sĩ ấy. Cuối phố đằng kia,
nơi có
hàng cây cao chứa đầy ánh sáng xanh tái của những bóng đèn cao áp mới
được lắp,
có đôi lần Ngân thấy Việt đạp xe rất chậm, cũng một mình, và Ngân đã rẽ
sang
lối khác. Đồng điệu ư và ích gì cho nhau? Nói gì với nhau? Rằng từ đấy
đã yêu
nhiều lần lắm rồi chăng? Rằng dù thế vẫn chưa biết thế nào là mê đắm?
Rằng vẫn
không thể cùng nhau! Hay không dám! Sợ làm xước những tin yêu. Vì không
thể
sống khác! Không thể từ bỏ đam mê, đam mê một cái gì rất đẹp, có thực
mà vô
ích. Như màu nắng hanh kia. Như tiếng vọng trong lá kia của gió. Như
một con
người vĩnh viễn trượt qua đời mình, vĩnh viễn mang đi mất của mình chút
hy vọng,
chút ảo giác vào một cõi sống bình yên, trong trẻo, lãng đãng. Và bởi
thế, mọi
mối tình đều dần tàn lụi, tắt ngấm. '...Từng người tình bỏ ta đi như
những dòng
sông nhỏ... Ôi những dòng sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mưa...'
Không ai có
lỗi. Chỉ có điều sống thật khó. Từng ngày rời rã, từng ngày hoang mang.
'...Màu
nắng hay là màu mắt em... Mùa thu mưa bay cho tay mềm... Chiều nghiêng
nghiêng
bóng nắng qua thềm... Bàn tay xanh xao đón ưu phiền... Ngày xưa sao lá
thu
không vàng... Em qua công viên bước chân âm thầm...' Là thật đấy, rất
thật, mà
vẫn như là hoang tưởng giữa những ngày rất nhiều sự kiện, kì quặc và
buồn thảm
ấy.
*.
'...Ngọn
gió hoang vu thổi suốt xuân thì...' Thầm thì cùng Khánh Ly, bao giờ
Ngân cũng
kinh ngạc. Người nhạc sĩ ấy đã sống thế nào trước đó, ở một miền đất
với Ngân
cho đến bấy giờ vẫn là một miền đất lạ để viết nên bài ca đó. Như là
cho cả thế
hệ Ngân sau này, ở một miền khí hậu khác, với một nhịp sống khác. Ngân
đã không
thể nghĩ về Phan như cũ. Buồn? Rất! Nhưng hối tiếc? Không! Có lẽ mọi sự
sẽ
không thể là như thế nếu giữa hai đứa đã có một chút gì, một ước thề,
chẳng
hạn. Nhưng đã không hề có một điều gì như thế, cũng như không một lần
trìu mến
nắm tay, cũng như không một lần nói lời gì từa tựa như thương mến. Sau
này, rồi
Ngân sẽ gặp lại Phan. Và cũng như với Việt, không bao giờ câu chuyện
dài xưa
được nối lại. Nhưng cái cảm giác hiểu nhau đến tận cùng, đến độ như thể
chẳng
hề trôi qua khoảng đời vừa bình thản vừa run rẩy tin yêu ấy thì vẫn còn
lại đó,
mặc dù Ngân rồi sẽ dần quen chấp nhận cái hữu hạn của con người. Sự
lặng im đầy
cẩn trọng của Phan, với Ngân, như một lời xin lỗi, xin lỗi khát khao
xưa, đã vô
tình để cho Ngân hiểu Trịnh Công Sơn, theo một cách nào đó. Người nhạc
sĩ ấy đã
đến và ở lại trong trí nhớ khắt khe của thành phố này, của Ngân, không
phải
bằng những bài ca phản chiến, không phải bằng tình ca viết cho một
người con
gái tuổi tên nào. Rất mỏng và rất nhẹ, mà dai dẳng, đầy ám ảnh là những
bài ca
Trịnh viết dường như cho chính mình, như về chính mình, kẻ sau này cuối
đời sắp
về lại nơi cuối trời còn tự dặn 'đừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt
vọng.' Câu
ấy, ở tuổi xuân thì bọn Ngân không tự biết để mà nói. Cũng chưa có để
mà hát.
Nhưng đã sống nó một cách vô thức, bởi dù sao thì vẫn không thể chết,
vẫn muốn
biết '...ta là ai mà còn khi dấu lệ... ta là ai mà còn trần gian
thế...' Ta là
ai? '...Ôi áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều...' sao vẫn thiết tha
thương
nhớ, như vẫn nhớ thương niềm vui hiếm hoi buổi sáng năm học cuối cùng ở
ngôi
trường ấy, gió đầu hè mát rượi đưa từ phố xa vào lớp học lời ca làm
rung lên
trong cả lũ con gái con trai mười bảy mười tám tuổi một cái gì mênh
mang không
thể đặt tên, tuyệt vời, diệu vợi. '...Gọi nắng trên vai em gầy đường xa
áo
bay... Gọi cho nắng chết trên sông em dài... Gọi tên em mãi suốt cơn mê
này...
Đời xin có nhau... Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau...'
Không
có những gian nan của thời hậu chiến, mà trước hết, không có cái hoang
mang bắt
buộc chứ không phải là bất chợt, chứ không phải là vì rửng mỡ bới
chuyện trầm
tư của những ngày sống ấy, khi người ta luôn phải cúi nhìn hố thẳm giữa
những
điều trông thấy nghe thấy, chưa chắc Trịnh Công Sơn ở lại được với
thành phố
kiêu bạc này, như đã. Cũng như nếu không phải là Khánh Ly ma mị, rã
rượi mà không
sướt mướt, quạnh quẽ cơ hồ lãnh cảm, cứng cáp mà tan hoang, như đang
lục lọi
chính tâm hồn mình, đã chắc gì ngay lập tức... Thành phố này từ ấy có
thêm một
nỗi yêu thương: Trịnh; có thêm một nỗi nhớ: Trịnh Công Sơn. Giá không
phải là
như thế! Khi những thế hệ sau vẫn cứ luôn phải soi bóng mình, vẫn phải
đau đớn
vì đời im vắng, vẫn thấy dường như nỗi lòng mình đang được hát ca trong
nhạc
Trịnh, vẫn tìm tới Trịnh Công Sơn không phải như tìm tới một quý báu
còn đọng
lại thì điều đấy chỉ có nghĩa là cuộc sống không có dời đổi, như lẽ ra
phải
thế. Trịnh Công Sơn không nói hộ ai điều gì, không gửi gắm giùm ai điều
gì.
Trịnh làm thức dậy trong mỗi người cái điều bao lâu rồi bị nén bẹp dí,
là ý
thức về phía sâu khuất cuả mình và cuộc đời, để có thể níu vào chính
mình mà
sống tiếp, khi miên man thầm thì rên siết một nỗi hoang mang, khi day
dứt mãi
nỗi phù du tuyệt kỳ của kiếp. '...Ôi cát bụi tuyệt vời...' Ai biết sỏi
đá không
đau?
*.
... Mãi
mãi về sau này, rất nhiều khi Ngân
còn bàng hoàng ngỡ trong lồng ngực mình vẫn đập mãi trái tim mười sáu
tuổi.
'Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi... Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi
mệt...' Lời
ca réo gọi, nhắc mãi, rứt mãi về tuổi thiếu nữ hoang vu ấy. Người đàn
bà trẻ
con hiểu rằng Trịnh ám ảnh còn hơn một tình chung. Và cay đắng. Sẽ
không bao
giờ, không có ai đạt tới được nỗi cô đơn ấy của người nghệ sĩ ấy. Trịnh
bắt mỗi
người phải nhìn cho ra đỉnh cô đơn của chính mình. 'Đâu là
của mình?' Lần đầu tiên hiểu ra rằng Trịnh
không phải là tri kỷ của ai ngoài Trịnh, và mình, cũng chỉ mình là tri
kỷ của
mình thôi, Ngân kinh hoàng.
Ngày Trịnh mất,
Ngân đang ở rất xa những buổi
chiều nắng thủy tinh nơi quê nhà. Đi rồi... Tưởng rằng được quên thương
nhớ...
Mà không! '...Lòng thật bình yên mà sao buồn thế...' Nghe nói đám tang
Trịnh là
một đám tang huyền thoại, với cả biển người đưa. Nghe nói, người ta
đồng thanh
nhạc Trịnh trước nấm mồ chưa lấp. Nghe nói, có cả đoàn tăng ni đã đến
nghiêng
mình trước linh cữu Trịnh và xin hát gửi theo linh hồn gió nhẹ ấy 'Một
cõi đi về'.
Bài hát từ đó được người Sài Gòn coi là 'Chùa ca'. 'Mình sẽ hát thầm
bài gì vào
lúc ấy?' Chọn lựa này khó biết chừng nào. 'Tại sao mình không thể xúc
động như
bao người?' Ngân tự hỏi, tự hỏi. 'Liệu mình có đi viếng Trịnh nếu như
có thể?'
Nhưng ngay lúc tự hỏi mình như thế, Ngân đã biết rằng mình sẽ lại xử sự
một
cách không bình thường trong mắt bạn bè, quá ư là bình thản, y như năm
nào
những Nguyễn Tuân những Lưu Quang Vũ những Văn Cao mất. Họ đã sống một
cuộc đời
không thường, với những đau đớn và vui sướng không thường, với những hi
vọng và
tuyệt vọng cao vút sâu hút. '...Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi... Đi
đâu loanh
quanh cho đời mỏi mệt... Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy... Một
bờ cỏ
non một bờ mộng mị...' Giờ họ không còn phải than van vì đôi vầng nhật
nguyệt
trên vai cùng những day dứt của cõi sống hư hao này. Giờ họ được bước
thẳng vào
cõi chết. Nơi đó chắc có màu bình an sương mù. Sao không để cho họ nhẹ
nhàng đi
vào cõi ấy. Những lập lòe rực rỡ, những thống thiết trong lễ tưởng niệm
bây giờ
và và vui vẻ (chắc chắn) trong những lễ kỷ niệm năm năm mười năm hai
mươi năm
họ mất có phải dành cho người đã khuất? Chắc chi!
Mà đã chắc
gì người đã khuất lại mong ước
điều đó cho mình khi còn sống. Chứng kiến những phút cuối cùng của
những người
thân yêu nhất, là bà, là mẹ, là anh, trong và ngay sau thời gian khổ
ấy, Ngân
tin ai cũng chỉ mong được sống bình an và tiếp tục được bình an trong
cõi chết.
Nhưng thế nào là bình an với mỗi người? Có lẽ chỉ ai một lần thực sự
cảm được
cái lạnh lẽo và hờ hững của cái chết, thực sự sắp ra đi mới có thể nói
cho
người còn sống biết. Nhưng họ có còn muốn nói nữa chăng? Khi mà, chính
ở phút
giây đó, người sẽ chết và người còn phải sống đột nhiên hiểu ra rằng họ
xa cách
nhau biết chừng nào, mỗi người đều ở trong cõi lạ với nhau, và những ao
ước,
những thiết tha, những dồn nén suốt cuộc đời rút cục thành vô nghĩa.
Chỉ còn có
một cách để giữ nhau trong cõi nhớ: Thương lấy nhau, biết ơn nhau,
khoan thứ
cho nhau.
Ngân đã
nghĩ thế khi nhớ tới cái ngày mình
mấp mé bên bờ sống chết. Đánh thức hồi ức ấy là nỗi xót một con người.
Nửa đêm chợt
thức
Những
ánh đèn
Những ánh đèn
Standby
Standby -
Standby-
Standby
Nhả ánh sáng
của bầy đom đóm chết.
...
Ngủ đi đôi
mắt thức
Tiếc nhớ gì?
trong đêm
15.
Khi cháy hết đời
mình, nến sẽ lịm dần, và từ
đó, một tia khói vươn lên. Thoảng một mùi hương, rất nhẹ, rất lành
hiền. Tựa hồ
quên lãng.
Có những cuộc
đời như thế.
Có một cuộc đời
như thế.
*.
Ngân biết tên
ông từ lâu, như một người tham
dự, như một người làm chứng, làm chứng cho một thời kì, làm chứng cho
một lớp
người con Việt, ở một xứ sở đã để lại cho chúng ta hôm nay dấu ấn không
thể tàn
phai, về máu, về nước mắt, về một cách gào thét, thở than. Bản thân ông
và đồng
chí của ông, trong một nghĩa nào đó, cũng chính là lịch sử.
Ngân quen ông
chưa lâu. Số phận đã chọn ông
thành người phù trợ cho Ngân, trong một khoảng đời cay đắng. Điều ông
và Ngân
mong muốn rút cục không thành. Nhưng Ngân không quên tấm lòng ông, ngây
thơ, bao
dung và nhẫn nại vô cùng tận trước đời sống này.
Ngân gặp ông chỉ
một lần. Thời gian chỉ đủ
cho Ngân nói đôi lời hỏi thăm sức khoẻ của ông và kể về chuyến đi thăm
chồng
cập rập của mình. Nhưng đủ để Ngân giữ mãi trong lòng nỗi bùi ngùi
trong buổi
sáng Paris ấy.
Sự sống
dường như chỉ còn là một mạch nước
sắp kiệt ở ông. Làn da nhăn nheo, trắng bợt, giọng nói yếu, nụ cười
mong manh,
đôi bàn tay đầy gân vịn trên thành ghế. Đấy là ông. Ông ngồi đối mặt
với bức
sơn dầu ngồn ngộn hai khối tròn nóng ấm và tươi sáng mà chính ông đã
vẽ. Bức
tranh thu toàn bộ sự sống trong nhà. Còn lại: chỉ là ông và bụi nắng.
Căn hộ của ông ở
Paris giống như một cái bến
mà đồng hương từ Việt Nam qua hay tấp thuyền vào. Đã bao nhiêu người
ngày ngày
ngày vào ra nơi đó. Đã bao nhiêu người ngày ngày ngày đi qua ông để tới
với
cuộc đời hăm hở ngoài kia. Có phút nào, có ai nghĩ đến ông lão đang leo
lét
sống và đợi. Có ai, một lần ngồi lại, nói với ông về Tổ Quốc ông yêu?
Có ai,
một lần hỏi ông về cuộc đời ông? Có ai biết vì sao ông lại quyến luyến
con
người đến thế?
Đâu phải
vì cô đơn.
Đã hơn một
lần Ngân tưởng ra rằng ông và
đồng chí của ông là người chiến thắng trong cuộc đấu tranh thuở ấy. Nếu
thế thì
những bài lịch sử mà bọn Ngân đã học phải ra sao? Những bài ca cho tuổi
măng
non ngày ấy sẽ ra sao? Và cách xưng hô của một thời đã ra sao, nếu
không phải
là 'chúng ta, đồng chí'? Và liệu có không nỗi ngày Bắc đêm Nam? Liệu có
không
máu thịt Việt Nam rải khắp những cánh rừng già bên mưa bên nắng?
Tất cả chỉ
là giả định. Có cái gì thật vô
vọng trong cuộc chiến đấu mà ông đeo đuổi cho tới lúc tàn hơi. Ngân
không nghĩ
mình sẽ bị thuyết phục bởi lý tưởng của ông. Lớn lên nơi ấy vào thời
buổi ấy,
nơi những gam màu nóng sáng chỉ hội trong bóng cờ và khẩu hiệu tưng
bừng, Ngân
đã tự miễn dịch được rồi trước những lời kêu gọi, sau những tin yêu rồi
choáng
váng hoài nghi. Nhưng gặp ông, thỉnh thoảng nghe tiếng ông qua điện
thoại, Ngân
lại ngạc nhiên thấy mình xúc động. Có cái gì vừa bất khuất vừa bi thảm
trong
toàn bộ cách thế sống của những con người ấy.
Ngân biết
mình cũng không mê văn chương của
ông. Ngôn ngữ ông dùng trong văn chương giống như là di tích vậy. Nhưng
chính
điều đó làm Ngân cảm động. Ông đã giữ cho mình bao nhiêu năm ròng tiếng
Việt ấy
của làng quê nghèo ấy ở thời buổi ấy. Bao nhiêu năm rồi? Ông kể cho
Ngân về sáu
mươi năm thương nhớ quê nhà. Về nỗi đau không bao giờ gặp lại người
ruột thịt.
Và ông khóc. Tiếng khóc vọng từ đầu kia đường dây điện thoại, xuyên qua
không
gian đầy cảm biến tới Ngân chỉ còn là khúc điệu nghẹn ngào của những
khoảng
ngừng chết chóc. Hình ảnh người trai nhà quê Việt Nam mấy mươi năm về
trước lủi
thủi lê chổi đi về giữa những tinh sương Paris trắng rợn lòng bỏng rẫy
một nỗi
quê nhà có khác gì đâu hình ảnh mà bọn Ngân suốt một tuổi học trò đã
tưởng là
duy nhất.
Khác chăng:
ông phải mượn quê người để kí thác cả cuộc đời đã sống cho quê hương.
*.
Nhiều năm ròng
sống cho một quê nhà chưa bao
giờ được một lần nhìn lại là bi kịch của bao nhiêu con dân Việt đã tự
vãi mình
ra trên thế giới này? Ngân kinh ngạc vì tưởng tượng của ông về quê
hương: một
gốc đa đầu làng, (đã hẳn), những người đàn bà xắn váy quai cồng gồng
gồng gánh
gánh; những hàm răng đen hồn hậu; bầy trẻ nghèo mới tí tuổi đầu đã phải
xốc vác
nuôi thân, và những con đường làng lầy lội, những mái tranh đã ải, nắng
trên
sông xa, sương khói buồn buồn. Hình dung của ông vừa cũ kỹ vừa sát
thực. Chẳng
phải những cảnh đời đau khổ thuở ấy vẫn còn nguyên đó hay sao? Có khác
gì đâu
một đôi mắt đói, dẫu ở đâu và trong thời nào. Ông không biết những hồi
ức của
ông làm Ngân đau khổ. Không phải vì cảm thương cho ông. Ông đâu cần
điều đó và
Ngân đâu dám. Nhưng nỗi đau khổ là có thật. Khủng khiếp xiết bao khi
đột nhiên
nhận ra rằng tám mươi năm đời ông không phải là sự kết nối những ngày
sống và
những cùng cực mà người ta vẫn tưởng chép miệng một cái là xong, vì rút
cục thì
đã đi qua, dù sao cũng phải đi qua. Gần một thế kỉ ấy là trùng trùng
đau khổ
của mấy thế hệ Việt Nam, trong đó có thế hệ Ngân. Một lần nhìn lại đủ
để Ngân
kinh sợ, khi tưởng ra rằng đó có thể vẫn là số kiếp của thế hệ con
mình.
'Tại sao
anh không về?'
'Đâu có
được về hả em. Người ta...!'
Ông trả
lời sau một hồi lâu im lặng.
Tại sao?
Tại sao?
Ngân muốn
gào lên chỉ một câu hỏi ấy. Ngân
không thể gào lên câu hỏi ấy. Tại sao? Tổ Quốc đã chẳng độc lập hơn nửa
thế kỷ
rồi đó sao? Tổ quốc đã chẳng thống nhất một phần tư thế kỷ rồi đó sao?
Không Tổ
Quốc nào cấm cửa con mình. Một người con như ông, Tổ quốc nào không
thương quý.
Tại sao?
Tại sao?
'Mấy năm
trước họ bảo anh là có thể về.
Nhưng già yếu quá rồi, đường xa...' Tiếng ông khẽ khàng qua đường dây
điện
thoại.
'Người
ta...Họ...'
Giọng ông bình
thản quá. Còn có bao người như
ông?
*.
- Ông nội
của Ngân nằm lại ở môt góc rừng Việt Bắc. Khi toàn quốc kháng chiến,
ông dặn bà
đưa bốn con dại về quê nương tựa họ hàng. Bố, đang thảnh thơi đi học,
phải sáng
sáng cắp sách vở cùng thúng xôi lang thang các phố, thay cha giúp mẹ
nuôi em.
Còn ông, quần nâu túm ống, hì hục khuân vác máy móc đưa lên Việt Bắc.
Bố kể
buổi gió và nắng lạnh, bố cắp thúng xôi còn lưng lưng qua đó ngóng, gặp
ông
trong đoàn quân đang tập hợp chuẩn bị ra đi. Niềm tự hào làm cổ cậu bé
học trò
mười hai tuổi nghẹn lại không gọi người cha thành tiếng được. Ông nhìn
thấy bố,
rời hàng quân chạy qua phố, đỡ thúng xôi đặt xuống vỉa hè, vét đưa anh
em mỗi
người một gói, rồi lần túi đưa nốt cho con mấy đồng bạc lẻ, nắn hai bả
vai gầy
của đứa con còn chưa vỡ giọng, dặn nói với mẹ đưa em về quê ngay. Rồi
ông đi.
Không bao giờ về lại. Chưa bao giờ Ngân thấu hết những âm vang trong
tiếng gọi
đã giục ông đi ngày ấy, dẫu vợ yếu và con dại còn vướng lại giữa thành
phố sắp
bỏ ngỏ. Người vệ quốc trong đoàn quân chân đất quần nâu đó khi còn làm
lính thợ
đã một lần tưởng phải xuống tàu, qua Pháp. Nếu ông đi? Thì biết đâu ông
chẳng
đã sống một cuộc đời tranh đấu âm thầm và quyết liệt như người lính thợ
năm xưa,
người cộng sản không hợp thời vừa gửi vào gió Paris hơi thở chót. Rất
nhiều năm
sau này, rời nơi sơ tán trở lại trường xưa, bao nhiêu chiều Ngân đã cắp
sách đi
lại con đường xưa của bố và ông, bao nhiêu chiều Ngân đã dừng lại ở
cổng nhà
máy ấy, cúi nhìn những tấm đá xanh vạm vỡ bóng lên như nước ở quãng phố
ấy, cố
gắng tưởng tượng người ông chưa bao giờ biết mặt phong phanh trong bộ
áo quần
nâu, cố gắng tưởng tượng Hà Nội mùa đông xưa rạo rực bước chân âm thầm
quyết
liệt của những người dân một niềm quyết tử. Cho Tổ Quốc quyết sinh. Ông
mất,
không bao giờ tìm thấy mộ. Ngày cải cách ruộng đất, cả nhà dân Hà Nội
tản cư
không ruộng không vườn nhưng vẫn lao đao vì lời vu dữ, rằng ông đi lính
cho
Pháp, rằng ông là việt gian bị ám sát ở thành. Bà, gồng tấm thân gầy
yếu cho
đàn con đang vừa phẫn uất vừa hoang mang hãi hùng nương vào, nhất quyết
đòi lại
cho chồng một lời chứng đã chết vì Tổ Quốc. Lời chứng ấy, bao nhiêu năm
sau mới
tới với cả nhà, qua tấm bằng Tổ Quốc ghi công, mà trong đó tên ông bị
viết sai.
Bà, rằm tháng bảy, thở một hơi dài: 'Không sao cả. Nếu chỉ cầu sống,
ông đã
không đi kháng chiến. Vậy có sống lại, chắc ông cũng chả đòi gì. Chỉ
tội cho
ông, chết chả biết ngày nào mà làm giỗ giờ phải về cùng ma đói'. Rồi bà
khóc.
Rằm tháng bảy năm nào cũng khóc. Suốt nửa thế kỷ. Từ thuở ngoài ba
mươi. Cho
tới ngày xuôi tay.
Ngân tin
lời bà. Nhưng Ngân đã bao lần tự
hỏi ông đã nghĩ gì khi ông bị thương nặng rồi nằm lại vĩnh viễn ở góc
rừng ấy,
ở tuổi bốn mươi, như chồng Ngân bây giờ. Ông có nhớ một thành phố mà ở
đó ông
đã lớn lên, đã lấy vợ sinh con, đã sống một kiếp âm thầm nhưng bình an
cùng với
nó và đã đột nhiên hiểu ra rằng nó có thể thuộc về mình? Ông có nhớ
chăng buổi
lên đường theo tiếng gọi của sông núi? Ông có nghĩ tới một làng quê
đang bao bọc
và rẫy bỏ vợ con mình? Ông có nghĩ tới một cuộc sống khác ông mong mỏi
cho con
mình? Và ông có biết...
...Và ông
lão vừa khuất bóng ở Paris? Với
ông, cái gì là hình ảnh cuối về cuộc đời đã qua hiện lại trong trí phút
tàn
hơi? Những năm dài sống âm thầm ở Paris sau những buổi dấn thân? Hay
những ngày
trẻ trai tranh đấu? Gương mặt đồng chí một đời? Vợ và con? Con đường
xưa về
làng xưa và mờ nhân ảnh bao người ruột thịt đã chết đói nửa thế kỉ
trước mà ông
đã từng khóc với Ngân là ông rất khó hình dung lại?
Ngân đã
nhắc mình đừng nhớ nữa, đừng nhớ nỗi
bùi ngùi ấy nữa. Nhưng không thể. Không thể nào xóa nổi hình ảnh ông
lão đồng
hương ngồi trong bóng sáng Paris, giữa căn hộ ở tít cao một ngôi nhà
lớn. Không
thể xóa nổi hình dung dấu bàn tay đứa con hai tuổi của Ngân để lại trên
lớp bụi
quanh ông lúc lẫm chẫm bước trong phòng. Ông đã ngồi như thế bao lâu
rồi, đã cô
độc cùng trí nhớ của mình, dẫu có bao người lao xao vào ra nơi đó. Mỗi
bình
minh. Mỗi ban trưa. Mỗi hoàng hôn. Mỗi đêm dài khó ngủ. Ngôi nhà chon
von như
một ngọn núi mà ông không thể nào tự lần xuống được nữa để đến với
ngoài kia
hừng hực vô tư lự Paris. Đêm. Núi. Mưa. Nỗi sầu cố quốc. Bao nhiêu lần
ông đã
sống cảm giác ấy trong cuộc đời dằng dặc biến cố của mình?
'Vẫn biết
chết rồi là hết chuyện - Chín châu
chỉ tiếc chửa sum vầy - Ngày nào thu lại miền trung thổ - Cúng bố đừng
quên
khấn bố hay...'(*)
...Có một
nỗi sầu như thế rầm rì vọng lại từ
xưa, xưa lắm, xa, xa lắm. Vì Tổ Quốc không còn. Hiểu được! Ông, thế kỉ
này,
cũng một niềm xứ sở. Biết khấn ông như thế nào, nếu có thể thắp cho ông
một nén
hương? Ngân chạnh lòng. Tàn tro một nắm...
Vẫn biết chết rồi là hết chuyện! Mà
sao...
Cũng đừng mãi băn khoăn về sứ mệnh đời
này
Trong nắng
chiều lãng đãng:
Sông
thu trôi
*
Hãy ủ những
chiếc lá vàng
Dấu im trong
miền kí ức
Nếu có một mùa
xa vắng
Nhớ cho: độ ấy,
ta yêu
*
Có
những ngày chưa bao giờ xa
Mùa nở
thầm theo hoa
16.
Vẫn biết chết
rồi là hết chuyện. Mà sao...
Mà sao thế
nọ, mà sao thế kia. Chao ôi, sao mà Ngân cứ luôn khốn khổ vì những câu
hỏi vòng
quanh cuộc đời như thế. Sao Ngân lại cứ luôn khổ sở vì băn khoăn thương
nhớ
những cuộc đời có quen và không quen.
Như buổi chiều
nào hồi theo chồng đi công tác
xa, đang hối hả nhặt nhạnh đồ trong siêu thị vứt vào xe đẩy cho kịp giờ
đóng
cửa, chợt bâng khuâng dừng bước bên cái ngăn đầy có ngọn toàn những vải
là vải.
Những quả vải tròn nhỏ nhỏ, giống hệt vải thiều. Ngân biết, chẳng làm
gì ra có
vải thiều ở chốn này. Chẳng có vị ngọt chua đầy dụ dỗ ấy đâu, chẳng có
hạt điếc
đâu. Toàn những hạt to muốn lộn nhào ra khỏi vỏ và vị thì đôi lúc gắt
lên như
sắp sửa thành men. Nhưng mà những quả vải nhập từ xứ xa nào chẳng biết
bán đầy
ở đây lại làm lòng Ngân cồn cào cơn đói nhớ. Nhớ người đàn bà trẻ trẻ
như Ngân
nhưng mặt mũi thì hốc hác và môi nở nụ cười vừa mời mọc vừa ngơ ngác
ngồi nép
bên đống vải đổ sát chân tường cơ quan nọ buổi trưa nào, giữa những
người đàn bà vừa dựng xe máy sà xuống mồm
năm miệng
mười nếm và mặc cả. Những người đàn bà ấy, và những người đàn ông trong
bộ quân
phục cũ đứng bên những cái xe thồ đầy ắp su hào bắp cải mỗi chiều đông
Hà Nội
bao giờ cũng làm cho lòng dạ Ngân nao nao buồn, khiến Ngân không thể
nào thật
tình mặc cả. Đằng sau những bộ áo quần tàu tàu ấy, đằng sau những gương
mặt
toàn những nét vạc xuống làm cho nụ cười vừa chân tình hơn vừa tội
nghiệp hơn
kia có những gì? Những năm tháng như thế nào đã in dấu lên
gương mặt họ? Ngân biết, chưa chắc họ đã vất
vả hơn mình, và cái chính là chưa chắc họ đã thấy rằng họ khổ như mình
cứ mải
thương vơ cho ra vẻ người chung cảnh. Mà nói chưa chắc làm gì, chính là
thế
đấy, mình với họ xa lạ biết bao.
*.
Thế nhưng Ngân
vẫn tiếp tục đi chợ mua rau
không mặc cả dù có lúc đồng tiền phân bạc kiếm ra bồng bềnh trên tay
được dăm
ba hôm đã biến đi đâu tiệt cả, vẫn cứ có cảm giác như giữa mình với họ
từ đời
thuở nào đã ruột rà một kiếp rạ rơm, vẫn đau đớn những nỗi niềm không
thể khóc.
Đến bây giờ Ngân vẫn không thể nào nhớ thực ra bài báo về những người
lính ấy
có đăng tấm ảnh nào không, nhưng mà Ngân cứ có cảm giác mình đã nhìn
thấy họ
ngồi cóm róm và ngơ ngác giữa sân dinh Độc lập, hai mươi mấy năm sau
ngày chiến
thắng, vào lúc người hướng dẫn du lịch đang cao giọng cho đám đông nghe
về
chiến công của chính họ trong ngày chiến thắng cuối cùng. Không ai quan
tâm tới
mấy người lính cũ mới được vời ra từ lịch sử có thật đã cố tình bị lãng
quên,
không ai biết mấy ông nhà quê mới được rước từ đáy cái làng nghèo nào ở
miền
Bắc vào kia là ai và họ đang bồi hồi, đang luống cuống, đang ao ước
những gì giữa
thành phố Sài Gòn ngày kỉ niệm một phần tư thế kỉ chiến thắng. Chính
cái xe
tăng họ ngồi trên đã húc sập cả cổng dinh Độc lập, gần như cái cảnh mà
mấy chục
năm qua người ta đã thấy, năm nào cũng thấy, trên ảnh, trên phim, vào
tháng tư
tháng năm này. Thế chăng? Lịch sử? Lịch sử không diễn ra mà là được làm
ra, có
thể nhuộm đi nhuộm lại và cũng có thể tẩy xóa. Chẳng khó gì vào thời
buổi mỗi
ngày sống của con người là một trang sử mà tựu trung vẫn thiếu vắng
người chép
sử này. Thế cho nên Ngân không thích tin vào những dòng sử viết. Ngân
không
quên được nỗi hoang mang tuổi lên mười khi tìm ngược tìm xuôi trong
sách giáo
khoa lịch sử của mình vẫn không thấy một dòng về những quốc gia đã tiêu
vong để
làm nên Tổ Quốc bây giờ, những điều mà Ngân đã đọc được từ hồi bé tí
năm sáu
tuổi, trong một cuốn sách Bình dân học vụ của ông Lẫm bố chị Thục, được
ông xếp
rất cẩn thận trên bàn thờ ngày nào. Đâu Chiêm Thành? Đâu Phù Nam Chân
Lạp? Tâm
hồn trẻ thơ cứ như một cánh cửa sẵn lòng để gió xô, cứ buộc Ngân day
dứt mãi: Đâu
là sự thật? Sự thật có thể có nhiều gương mặt được không?
*.
Khoảng thời gian xa đi ấy thật cần
thiết và cũng thật nặng
nề. Ngân nhớ những người bạn cũ và kinh ngạc khi bạn bè hiện lên trong
một tầm
vóc mới, dưới một luồng sáng mới. Cũng vẫn là cảm giác ấy, khi Ngân để
rung lên
trong trí một dòng thơ, một âm giai tha thiết tuổi nào. 'Hỡi Paco ơi
dòng sông
mênh mông đôi bờ xanh biêng biếc nước chảy xiết sâu thẳm... Qua tháng
ngày hỡi
sông ơi có biết anh lái đò tên gọi A Sanh... A Sanh ơi ngày đêm anh lái
đò trên
sông... Đò anh đưa bao người đi đánh Mỹ bao năm ròng chiến công anh
thầm
lặng...' Phải, ví như câu hát này, ví như câu chuyện về người anh hùng
này. Hay
là cả câu hát rộn rã suốt tuổi nhỏ của Ngân này nữa: '...Đuốc lồ ô bập
bùng lên
ánh lửa...Sóc Bom bo rộn rã tiếng chày khua bồng con ra võng để đò đưa
giã gạo
ban đêm vì ngày bận làm mùa ... Cách mạng cần...' Những
bà mẹ không tên bồng con ra võng ngày
năm ấy Ngân đã nhìn thấy, trên ti vi, mặt mũi nhăn nheo, miệng móm, váy
áo xốc
xếch quay lưng lại ống kính đi vào túp lều nát. Và người anh hùng A
Sanh, tên
vang vang trong bao nhiêu chương trình ca nhạc phát đi khắp nước đấy mà
cũng
thành vô danh suốt một phần tư thế kỉ chiến thắng, đã chẳng được nhớ
ra, đã
quên gần hết tuổi trẻ của mình, quên cả tiếng phổ thông, chỉ vì nghèo
đói quá,
cơ cực quá, ngồi cóm róm ngơ ngác trong bức ảnh đăng trên báo. Những
hình bóng
thiểu não ấy bao giờ cũng làm hiện lại trong trí Ngân những hình bóng
khác mà
Ngân đã gặp trong tuổi bé bỏng của mình, một chiều bố mẹ gấp rút đưa đi
sơ tán.
Họ hành quân dọc theo đường quốc lộ, dáng lao về phía trước, chân đạp
trên rơm
rạ ngày mùa, trẻ, khoẻ, ba lô và quân phục mới toanh. Một chú bộ đội
nhấc mũ
khỏi đầu vẫy vẫy Ngân lúc con bé quay đầu nhìn lại. Y
hệt một bức ảnh in đi in lại trên Văn nghệ
quân đội mà Ngân rất thích nhìn thời ấy. Nhiều năm sau, mỗi lần gặp lại
bức ảnh
đó, người đàn bà trẻ con lại thấy tim mình chững nhịp. Những người lính
ấy còn
sống hay đã chết từ hồi ấy? Họ ở đâu bây giờ? Ý nghĩ thực nào đã ngổn
ngang lòng
họ dọc đường ra trận?
Chắc hẳn
nhiều lắm niềm vui mà ngọn gió thời
đại đã thổi lộng hồn người ngày ấy, lộng suốt thiếu thời Ngân. Nhưng
chắc hẳn
còn có những niềm tâm cảm khác. Ngân nhớ chú Trong hàng xóm nhà ở sát
bên vườn
nhà chị Thục ở cái làng nhỏ Ngân đã theo bà về sơ tán lần thứ hai, năm
bảy mốt
bảy hai. Chú lành như bóng sung dập dờn bên bến nước, nơi bọn Ngân
thích lặn
xuống mò trai. Những con trai nứa nhỏ mình mà lắm thịt, những con trai
vông xốp
xáp thịt ít nước nhiều dai ngoách tụ dưới bóng sung sao mà nhiều thế,
ngày nào
đi tắm lặn xuống quờ chân cũng nhặt được dăm con, mấy chị em dồn lại là
đủ cho
bà làm bữa canh chiều. Chú Trong học giỏi nhất làng, nhưng thi ngược
thi xuôi
chả được vào đại học. Làm sao mà vào được khi chú có một ông bố địa chủ
từng sở
hữu những năm mẫu đất và cả một cái nhà gỗ năm gian, lại còn dám tự tử
khi bị
đấu tố. Cái thời đó Ngân chỉ có thể mường tượng qua những câu chuyện
của các bà
hàng xóm vẫn sang chia cho bà ít lá trầu không, dúm thuốc lào và nhân
thể xin
mấy mảnh hạt cau khô hay miếng vỏ quạch khi chưa tới phiên chợ. Bà bảo
bà chỉ
bắt đầu tập ăn trầu vào chính cái đận ấy, khi bố chú Trong tự tử và
làng nước
bùng lên câu chuyện ông nội làm việt gian bị ta trừng trị. Khẩu trầu đủ
cau đủ
thuốc đủ giầu không làm bà say chẳng khác đàn ông say rượu, giúp bà
nguôi đi
chốc lát những nông nỗi bấn loạn trong lòng. Cái mùi trầu nhai đã giập
thơm rất
ấm lẫn mùi khai khai bốc ra từ các bà hàng xóm có thói quen vén ống
quần xả tồ
tồ vào nồi nước giải để đầu ngõ hay cạnh chuồng lợn ám ảnh suốt tuổi bé
của
Ngân, làm cho những câu chuyện xưa đọng bám chặt hơn trong kí ức, dù
Ngân chưa
từng trải chúng bao giờ.
Chú Trong
không được đi đại học là lẽ dĩ
nhiên rồi, vì ông bố địa chủ đã đành, mà còn vì Mỹ lại đánh mạnh ra
miền Bắc.
Nhũng trận bom rơi ở đẩu đâu cũng đủ làm chao đảo cả làng. Ông Thồng
nhà cuối
ngõ vừa về được mấy năm, đầu lúc nào cũng cạo trọc như cái hồi còn đi
cải tạo
suốt ngày cúi cúi lệch lệch vì cái bắp cày, cái bừa hay quang gánh lúc
thúc
theo sau đít trâu lại bị gọi ra ủy ban và lại phải cắp quần cắp áo ra
đi. Lúc
ông đi, cái đầu trọc tóc đã bạc cả mà chưa kịp húi lại vẫn cúi cúi lệch
lệch
như thế. Cả ngõ theo ra, chỉ mỗi bà và hai mẹ con chú Trong nhìn thoáng
qua vợ
con ông rồi quay lưng lầm lũi vào nhà. Sau hôm đó, chú Trong trích ngón
tay lấy
máu viết đơn xin nhập ngũ. Mẹ chú sang ngồi nhai trầu với bà, mặt lặng
như sông
mùa nước cạn, mãi mới khẽ khàng: 'Nó bảo em rằng thì là mẹ ở nhà có gì
nhờ cậy
xóm giềng, rằng thì là con đi một xanh cỏ hai đỏ ngực, con sống hay
chết thì mẹ
với con Xanh ở nhà rằng thì là đằng nào cũng yên hơn. Bác bảo rằng thì
là có mẹ
nào em nào yên mà sống nổi khi con chết anh chết.' Chú Trong đi một
mạch, lên
đến trung úy rồi mới chết ngay sau ngày kí hiệp định Paris. Mà lại chết
vì bị
sét đánh trên đường lần đầu về thăm mẹ từ lúc đi B, cũng chả được tính
là liệt
sĩ. Chú sống thì hiền mà chết thì trông dữ quá. Cả người đen sạm như gỗ
đem
xông khói, riêng cái đầu thì trụi thùi lụi nứt mấy đường như quả dưa
hồng. Chú
chết, cô Xanh nhất quyết không chịu bỏ mẹ đi lấy chồng, mãi đến lúc
tuổi heo
héo rồi mới lấy chú thương binh miền Nam ở trại gần làng, chỉ vì có thế
mới
được ở cùng mẹ. Cô đâu biết rồi sẽ có ngày chiến thắng và cô sẽ chẳng
còn lí do
gì để trụ lại với mẹ già, sẽ phải bồng bế con cái tay mang tay xách mấy
thứ đồ
nghèo theo về quê chồng tít tận Tây Ninh. Cô đâu biết rồi sẽ có ngày
chẳng thể
nào cất giọng bắt vào một điệu làn thảm hay bình bán ở vùng đất xa xôi
ấy. Cô
đâu biết mối tình Nam Bắc của mình sẽ còn được nhắc nhỏm mãi trong
làng, sẽ là
thương nhớ tuyệt vọng của mẹ trong tuổi già lủi thủi. Cô đâu biết rồi
tuổi già
của cô cũng sẽ buồn thảm thế, và cô đơn hơn rất nhiều.
*.
Tính năm
tính tháng thì thực ra Ngân đâu có
sống bao lâu cùng những con người có tuổi có tên mà vẫn hoàn toàn vô
danh ấy.
Nhưng sao Ngân vẫn cảm giác như nửa con người mình thuộc về nơi đó,
thuộc về
những con người đó. Và nửa mình kia là của cái ngõ nhỏ rối rắm đủ thứ
chuyện
đời dường như không đáng gì. Chuyện hai cô gái già có chung một tuổi
trẻ thanh
niên xung phong, sau ngày chiến thắng lại có chung lòng can đảm để cùng
không
chồng mà chửa được nhà máy chia một phòng, cáu giận nhau cứ vài ba hôm
lại kê
kích tủ giường để án ngữ cái bụng nhau mỗi lúc khệ nệ cái rổ cái chậu
ra ra vào
vào nấu nướng. Chuyện hai người đàn bà đi cùng một cái cầu thang bao
năm ngọt
nhạt thân tình đột nhiên xích mích. Mà cũng lại sau ngày chiến thắng.
Không!
Lúc đó lại chiến tranh biên giới ở hai đầu đất nước rồi. Người đàn bà
trẻ sau
mấy lần đi công tác Sài Gòn đã đổi đời, chí ít cũng là đổi trang phục.
Áo quần
đồng màu lòng tôm mỏng tang, đi một bước là gợi hình dung một bước về
tấm thân
còn mỡ màng lắm sau bao năm tháng bồ bịch liên miên chờ chồng. Mà bồ ra
bồ chứ.
Toàn những vị đã thành danh ở cái nơi mà người đàn bà làm việc và được
coi là
rất được việc. Bà ta sinh con với một trong những người đàn ông ấy,
công khai
gọi người chồng chính thức mới trở về trong bộ quân phục tàu tàu là ông
và sau
khi ông ta trở lại với vùng rừng đã gắn bó bao ngày gian khổ thì bà vợ
công
khai gọi ông bồ là bố cu Tũn nhà em. Cả khu tập thể đã choáng váng khi
bà ta
lao cả tấm thân màu mỡ vào bà hàng xóm trước nay vẫn chị chị em em, hét
vang
vang: 'tao đĩ tao đẻ ra thiên tài, còn mày chính chuyên mày sẽ làm mẹ
thằng mất
xác'. Tưởng như họ sẽ không bao giờ quên nổi cái đêm ngồi chầu mặt nhau
sau
trận giáp lá cà, chung sức diệt muỗi ở trụ sở công an phường dưới gốc
cây đa
già. Thế mà buổi chiều kia, dắt cái xe đi ngang qua nhà hàng xóm, thấy
bao
nhiêu guốc dép để ngoài, khói hương nghi ngút bay suốt hành lang cùng
những
tiếng nghẹn ngào, người đàn bà trẻ rùng mình. Một năm sau, vào ngày ấy,
bà ta
sẽ lễ mễ bê một nải chuối to và thẻ hương áp vào người, rụt rè gõ nhè
nhẹ vào
cánh cửa mở của nhà hàng xóm, nghẹn giọng: 'Chị cho em được thắp cho
cháu một
nén hương'. Hai người đàn bà sẽ đứng nhìn nhau, người đàn bà mẹ liệt sĩ
kia sẽ
lặng lẽ đẩy cánh cửa rộng hơn cho hàng xóm bước vào, và vẫn lặng lẽ như
thế đặt
đồ lễ của người đàn bà trẻ lên bàn thờ... Ngân biết mình tại sao mê sử
mà không
chọn học sử. Lịch sử nào chép những nỗi niềm kia?
Có nhu cầu
đứng giữa hào quang
Và nhu cầu
ngồi trong bóng tối
*
Nghĩ những
bước chân chệnh choạng của mình
Cũng làm con
đường mòn thêm chút nữa
Mà thương cho
con đường
*
Ông bà di cư
Bố mẹ di tản
Con cháu di
dân
Bộ lạc người
Kinh.
17.
Tính khách
quan của các sự kiện cố nhiên
phải là thuộc tính của mọi sử liệu. Nhưng, sẽ phải coi thuộc tính giả
định ấy
là phẩm chất. Liệu có sử gia nào không tự tín? Liệu có sử gia nào thật
sự khách
quan khi truy tìm sự kiện, và đằng sau chúng là bản chất rất người của
thời
gian. Mà ngay cả khi thật sự đạt tới yêu cầu khách quan, tác phẩm sử
học dường
như vẫn hàm chứa một sự tàn nhẫn không thể loại bỏ. Bởi vì người ta
luôn chỉ
thấy trong đó bóng dáng các cá nhân anh hùng thành hay bại, hoặc kẻ
phản bội
bại hay thành. Còn đám đông luôn lao đi trước, dựng hồn sông núi dậy
bằng cái
chết, bằng mất mát của riêng mình, bất quá lắm cũng chỉ được tôn là
'quân ta',
'bên ta', chỉ còn được quy thành những con số tổn thất. Với Ngân, điều
ấy bất
nhẫn. Mỗi một người là một thế giới, một miền tâm cảm, không ai có thể
thay thế
cho ai. Hai tiếng 'nhân dân' nếu không làm cho con người xúc động bởi ý
thức
đời đời về những số phận ẩn tàng trong đó thì hoàn toàn vô nghĩa. 'Dân
là
nước'. Phải! 'Dân là bể'. Phải quá! Nhưng trước hết, nhân dân là từng
người
từng người một, sống âm thầm lầm lũi quanh nhau, nếu có xôn xao lên
được chăng
thì cũng chỉ như là cái xôn xao bụi nắng.
*.
Nhiều năm đã
trôi qua kể từ ngày bước chân đi lấy chồng và thôi không bận bịu vì
nghề nghiệp
cũ, người đàn bà vẫn không quên đứa học trò thông minh vô cùng, chịu
khó vô
cùng, mà nghèo quá. Bố nó đã đến nhà Ngân một ngày ba mươi tết, lúc
trời vừa
tang tảng. Người đàn ông gầy, sắm vắn trong bộ quân phục cũ, hai ống
quần vo
lên ngang đầu gối, đầu úp cái mũ cối sờn vành, lúng túng bê vào nhà cô
giáo của
con mình một rổ rau thơm rau mùi đầy ụ, cởi mở dăm ba câu chuyện xóm
làng rồi
vội vã xin phép ra chợ. Nhìn theo người khách đang gò lưng đẩy cái xe
thồ lèn
đầy rau cỏ ra khỏi ngõ, sau nỗi cảm động ban đầu, lòng Ngân bàng hoàng
trống
trải, thấy mọi lời lên lớp của mình trong những giờ giảng văn về sức
mạnh của
nhân dân, về ân tình của nhân dân - những
lời mình đã nói với tất cả sự thành tâm - đột
nhiên thành rỗng
tuếch. Ý nghĩ ấy theo người đàn bà suốt buổi sáng chợ Hoa, suốt bữa cơm
chiều
ba mươi tết, suốt lúc giao thừa, suốt về sau. Hồi ấy Ngân chưa biết cái
ngon
của những cọng rau thơm rau mùi xứ sở, món quà của gia đình đứa học trò
nghèo
đủ để Ngân chia cho mấy nhà hàng xóm, còn những bàng hoàng kia Ngân giữ
mãi cho
mình. Nó cứ đầy mãi lên cùng năm tháng, không làm người đàn bà từng
trải hơn,
nhưng đủ để cứ dần dần thiếu tự tin hơn. Những giờ đi dạy thêm, những
phong bì
tiền dày cả gang tay nhận từng tháng từng giờ, những vé nó vé kia người
chồng
dăm ba tháng lại đưa cho vợ không làm người đàn bà vui vì đời sống dễ
dàng hơn
bọn bạn cùng trang lứa đang tám giờ vàng ngọc trong cảnh lo giảm biên
về một
cục. Bao nhiêu lần Ngân tự hỏi mình có đủ sức dứt ra khỏi guồng sống
này không,
hay cứ thế, cứ từng ngày lo cười mỏi miệng với khách của chồng, nghe họ
bàn
toàn những Quota với tín dụng thư, rồi khi khách về nghe tiếp những câu
chuyện
không ra ngoài đề tài ấy cùng đủ lời triết lí mọn không thể chấp nhận
mà cũng
không thể nào cãi nổi của chồng. Bao nhiêu lần Ngân kinh hoàng tự hỏi
mình,
chẳng lẽ cứ thế, cứ để học trò mang đồng tiền mồ hôi nước mắt, có thể
là tiền
bán cả tấn thóc của nhà, có thể là tiền bán cả sào đất sống của cả nhà,
có thể
là tiền bù giá vào lương bù da vào xương trong cảnh bố mẹ lúc nào cũng
nhớn
nhác vì hết việc, cúng vào đủ thứ trung tâm để tiếp tục nghe mình thành
tâm nói
nhảm. Không phải là duy nhất, nhưng đó thực sự là một lí do để Ngân bỏ
nghề.
Nghề bỏ được,
nhưng nghiệp, đã tưởng thông minh rứt được từ hồi còn trẻ trung lắm và
tự tin
vào tuổi trẻ lắm, rút cục lại quàng lấy Ngân, riết lấy Ngân bằng nỗi
khổ vì
không thể nào quên lãng.
*.
Bố
cũng là người không biết quên lãng.
Những lúc cay cực nhất là lúc ông hay bần thần nhắc chuyện những ngày
đã qua.
Toàn những chuyện chỉ nghe đã thấy đời đáng sống. Nhưng chuyện này thì
hình như
bố chỉ kể có một lần. Không hiểu vì sao chính câu chuyện chẳng liên
quan gì tới
mình ấy lại hay trở về trong Ngân, làm lòng Ngân uể oải và buồn bã. Và
sau đó
bao giờ cũng khiến Ngân bình tĩnh lại.
Ngân chưa bao giờ giáp mặt những người
mà bố cũng chưa từng
gặp lại kia. Nhưng đôi khi, Ngân lại nghĩ có lẽ nếu gặp bố và họ cũng
chẳng thể
nào nhận ra nhau. Làm sao có thể nhận ra những người bình thường như
thế.
Đừng tìm ta
giữa những nẻo đường ta đang lạc lối
Giữa quãng
đời ta có đợi nữa đâu
Bao năm rồi
ta có đợi nữa đâu.
Cuộc đời
không dài
Sao bao nỗi
đau phải chịu đến hai lần?
Đừng tìm ta,
đừng đi lạc cùng ta.
*.
Hình như năm
ấy là 1947. Bố lúc đó mới mười bốn tuổi, vừa trốn bà bỏ nơi tản cư theo
người
anh họ ra đi. Cơ quan kháng chiến những ngày đó còn tanh bành lắm. Công
việc
đơn giản và khó khăn, là lo mua giấy mua mực cho cơ quan in báo. Phải
mua số
lượng lớn để chuyển lên Việt Bắc. Cả đoàn lặn lội về xuôi nhờ bà con
vùng tề.
Đá in lito đã có rồi. Mực có rồi. Giấy nữa. Cả người gánh thuê cũng đã
tìm
được. Buổi chiều còn ngồi phân chia tài sản. Hai người đàn ông một còn
búng ra sữa
một đã cưng cứng tuổi hì hục lèn đồ vào mấy cái bồ to, vừa làm vừa to
nhỏ với
nhau bằng cái giọng bèm bẹp hỏi ngã lẫn lộn của người gốc gác vùng đó.
Ngày mai
lên đường.
Gần sáng thì
Tây càn. Cái làng nằm rìa vùng tự do náo loạn. Trong bóng đêm đặc
quánh, tiếng
trâu bò rống nghe còn khiếp đảm hơn cả tiếng người tru tréo than vãn
giục giã.
Đồng chí trưởng đoàn lệnh: 'Chạy'. Tản ra mà chạy! Chạy đi đâu? Bố cứ
bám theo
một thằng cu trạc tuổi và con trâu nó dắt theo. Suốt cả ngày. Đói.
Khát. Sợ. Sợ
nhất vì cái túi dết công văn vẫn quàng chéo qua vai không dám bỏ. Cái
làng đêm
còn ngủ đỗ bốc cháy sau lưng. Hai đứa trẻ mặt mũi tái mét đứng giữa
đồng không
mông quạnh, không đứa nào nhìn nhau. Bố bảo lúc đó không biết vì sao bố
nhớ bà
nhớ các cô chú trong nhà khôn tả.
Đêm. Sương đã
buông dày lắm, đến nỗi không còn thấy những sợi khói mệt lả run rẩy
vươn lên từ
xóm cháy. Bố run run nhờ thằng bạn mới quen chỉ đường đi về phía bờ
sông. Cũng
chả có kinh nghiệm gì, cũng chả biết Tây đã rút hết chưa hay đóng ở
đâu. Chỉ
đinh ninh lời anh trưởng đoàn dặn cố tìm nhau nơi ấy để lại ngược lên
Việt Bắc.
Đói, mệt, người cứ từng lúc nóng nóng lạnh lạnh như lên cơn sốt, hai
đứa nhỏ và
con trâu lầm lũi bước trong sương.
Thế mà tứ tán
vậy rồi cũng đủ mặt anh em. Sáng ra gặp lại, nhìn nhau mới thấy ai cũng
rộc rạc
đi sau có vài ngày, mới thấy hai cổ chân muốn long ra vì mỏi. Kiểm đồ
đoàn, mất
hết. Có mỗi bố còn túi công văn thư từ vẫn khư khư đeo chéo qua vai.
Bác Tuất
lắc đầu: 'May mà mày thoát. Chứ bị lùa thì chắc chúng nó đòm một phát
là xong'.
Đồng chí trưởng đoàn đờ đẫn: 'Cả hai ông gánh đồ nữa. Nó mà lục ra
những đá li
tô những giấy những mực thì... Chắc lại phải một lần nữa tìm người nhờ
mua lại
tất...'
Không thể tin
được là hai người nhà quê gánh thuê cho đoàn lúc ngả chiều cũng tìm về
được chỗ
đó. Không thể tin được là đòn gánh với hai cái bồ to vật vẫn đè trên
vai họ.
Suốt ngày suốt đêm họ đã chạy giặc với đồ đoàn của người khác mà họ
biết rõ là
gì, không một lần tính chuyện quẳng quách đâu đó cho nhẹ người.
*.
C