Lê Minh Hà
Gió
tự
thời khuất mặt
3
18.
- Vậy thì
Ngân muốn gì. Cứ cho là hai ông toái ơ dại dột của Ngân thiệt đi vì anh
hùng
dũng cảm đến thế mà cái tên cũng chả được nhớ. Nhưng không thế thì ai
gọi các
cụ ấy là nhân dân nữa? Và có thể gọi họ là gì? Mà giả dụ các cụ ấy được
nhắc
tên nhắc tuổi vì chiến tích giữ được đôi bồ cho kháng chiến, rồi nhờ
thế mà hôm
nay thoát được cái làng nghèo đó, hoặc bệ vệ nghênh ngang hoặc lếch
thếch lủi
thủi đi giữa phố phường thì hỏi liệu ra sao? Hay bất quá lại thêm một
kiểu Xuân
tóc đỏ?
*.
Không phải là
Việt nói câu đấy. Không phải là Vĩnh. Không phải là chồng Ngân. Là
Phan. Chỉ
với Phan Ngân mới hay nói những chuyện tầm phơ như thế. Có lẽ vì hai
đứa thường
cùng đọc mọi cuốn sách rơi vào tay. Phan có một ông bác khác thường.
Thời sôi
nổi của ông đã qua rồi, lâu lắm rồi. Những nông nỗi đoạn trường hình
như cũng
trượt qua ông rồi. Giờ ông ngồi bên trong cái quầy bán sách báo cũ nhờ
nhờ
sáng, ngày ngày ngóng ra hè phố và chỉ quay lại với mình khi khuôn cửa
bất chợt
tối lại vì bóng một người khách rất biết tìm của tìm người ở đâu. Bố
cũng đã có
lần lục được ở quầy sách âm thầm đó 'Hà Nội ba mươi sáu phố phường',
bản in từ
năm 41, bằng giấy dó hẳn hoi, rẻ giật mình. Phan hay tha từ đó đủ thứ
khó kiếm
cho Ngân cùng đọc. Rồi cùng cãi vã...
Hồi ấy dường
như là hạnh phúc. Hồi ấy cả lũ vừa thi xong đại học, đang tấp tểnh làm
người
lớn bằng cách thay vì rủ nhau đi ăn chè đỗ đen Hàng Thùng hay chè thập
cẩm Hàng
Điếu thì lại mời nhau vào quán cà phê húp cái thứ nước đen sì đắng
nghét hay
pha chè đặc chát sít cổ rót cho nhau.
Buổi chiều Ngân
kể cho Phan nghe câu chuyện của
bố sao mà nóng. Như sắp có áp thấp. Nắng ơi ơi. Đứng gió. Hầm hập. Bên
kia đê,
treo trên hàng tre là một dải mây trắng mong manh, im lìm, không thể
nào bay đi
nổi. Phan ngồi tựa lưng vào tường, nhìn ra khung cửa sổ, lặng lẽ. Ngân
cũng
lặng lẽ. Có cảm giác chỉ cần cựa nhẹ một cái thôi, chỉ cần thốt một lời
rất nhỏ
thôi là chút gì riêng tư lắm đang hồi hộp thành hình sẽ tiêu tan. Họ sẽ
ngồi
như thế ...
...Trời bất
chợt gầm một cơn sấm cạn. Thinh không gió nổi tơi bời. Mây đen cuồn
cuộn trôi
về. Ngọn tre lúc nãy im lìm giờ lồng lộn, bị gió đánh rạp xuống vẫn còn
cố quất
lên mây. Dải mây trắng tướp ra, bị những vòm mây đen nuốt chửng. Mặt
trời tuột
xuống đâu đó sau những vầng mây ấy, sáng hắt lên viền lấy những quầng
mây đen
một đường trắng lóa, sắc lẻm. Một sắc vàng âm u nửa như phả từ trời
xuống, nửa
dâng từ mặt đất lên, dập dềnh. Cát thốc từ bờ đê vào phòng qua khung
cửa. Phan
đứng dậy, hỏi trống không:
- Đóng lại
nhé? Ngân này, Ngân biết không, từ bé Phan cứ hay mơ mãi một cơn mơ,
chả ra
lành chả ra dữ, và thực ra thì chả có gì. Vậy mà nó làm Phan sợ khủng khiếp. Trong mơ Phan thấy trời đất như
thế này đây, còn mình ngồi trên một cái xe đạp cao lềnh khềnh, không
với được
chân xuống đất. Cái xe cứ 1ao vùn vụt vùn vụt. Không ai giúp Phan dừng
cái xe
điên rồ đó lại bởi vì... Ngân biết không? Không có một ai. Không một ai
trên
con đường Phan qua. Không ai có thể nghe thấy Phan. Không một ai. Gió
cứ réo
bên tai, quạt thốc vào mặt đủ thứ. Lần nào Phan cũng phải sặc sụa mãi
mới vùng
ra khỏi được giấc mơ ngu ngốc ấy...
Phan quay
nhìn, bắt gặp trong bóng tối âm u vàng của căn phòng vừa khép cửa một
nét long
lanh dò hỏi:
- Không hiểu
sao, từ hôm thi đại học đến giờ giấc mơ ấy không thấy quay lại nữa. Chứ
hồi ôn
thi thì...
*.
Giả dụ không
có buổi chiều ấy, không
biết tới giấc mơ kì cục đó của Phan, chắc sau này Ngân cũng khó bình
tâm khi
nhớ về người bạn cũ, hay khi gặp lại. Giọng Phan lúc đó làm cho Ngân cứ
mãi tin
rằng chỉ một mình mình biết điều ấy, chỉ một mình Ngân biết nỗi đau đớn
vì bất
lực của Phan, chỉ một mình Ngân hiểu đằng sau những thành đạt hanh
thông của
Phan có một nỗi niềm còn lại mãi. Khi Phan đi học xa, rồi ngưng viết
thư cho
Ngân, Ngân đã bao nhiêu lần tự hỏi. Buồn? Rất! Nhưng hối tiếc? Không!
Cũng bởi
vì Ngân biết Phan đã phải gồng mình lên như thế nào để thoát ra khỏi
giấc mơ
ngớ ngẩn mà hãi hùng kia. Cũng bởi vì Ngân biết mãi mãi mình yêu thương
người
bạn ấy, mãi mãi mình cần cho riêng mình một thương nhớ âm thầm.
Người đàn bà trẻ con cũng hay mơ. Mơ
bay. Rất dễ dàng. Giang
hai tay ra, và tự dưng như không còn chân nữa. Cứ thế trong mơ Ngân bay
qua
những dòng sông xanh, những bờ đê mượt cỏ, những vườn cây không bao giờ
thấy
ngoài đời, bay qua những mái phố nâu đen mấp mênh sóng gợn. Và đâu đó
bên dưới
là những tiếng gọi vói lên kinh ngạc và vui sướng của bạn bè. Giấc mơ
bay kì
diệu đi kèm với chứng mộng du kì quặc. Biết bao lần trong đêm con bé
con đã
ngồi dậy, mở cửa, ra đường. Lần đầu tiên con bé biết mình đã đi đâu
trong khuya
khoắt cũng sẽ là lần cuối cùng giấc mơ bay đến với nó. Người cha tìm
thấy con
gái đứng huyên thuyên với anh công an gác cổng sứ quán Thụy Điển cũ ở
góc đường
Lê Phụng Hiểu Lý Thái Tổ, đã đánh thức con bé dậy trước sự kinh ngạc
của chú
công an trẻ. Sẽ không bao giờ đứa bé quên cảm giác của mình khi đó, khi
ngước
nhìn nhà Ngân hàng rực sáng bởi ánh đèn pha chiếu ngược lên ảnh Bác,
khi nhìn
hồ Gươm rạn thành bao nhiêu miếng óng ánh tít sau cây, khi đi ngang cái
cửa
quay của khách sạn Metropol huyền ảo ánh đèn màu xanh lá. Giấc mơ bay
mãi mãi
thành một đeo đẳng, cũng như ấn tượng về một Hà Nội nửa đêm nồng nàn
hương mùa
kia. Ngày đang sống dường như không có thật. Có thật: là nửa đêm Hà Nội
hoang
tưởng, là hương sen mẹ cho tiền mua bao mùa hạ cũ dù bông sen bằng nửa
giá mớ
rau bữa cơm chiều và hoàn toàn xa xỉ trong những ngày tháng đó. Là mùi
than đá
khen khét thơm thơm tỏa ra từ những tổ phục vụ nước sôi năm xu một
phích ở bao
nhiêu đầu đường góc phố. Còn gì nữa? Vị kem cốc toàn đá cục mua từ mấy
ông đẩy
cái xe bằng gỗ, ăn trong tiếng hát ngập tràn tin tưởng. '...Ta đi trên
đường Hà
Nội rực rỡ chiến công... đường mênh mang Ba Đình lịch sử đường tấp nập
Hoàn
Kiếm Đồng Xuân ... Nghe náo nức trong lòng...' Chao ôi, những giọng nữ
cao
thiết tha phơi phới đã làm cho thời buổi ấy sao mà nhẹ nhõm.
*.
Mà cũng nhẹ
nhõm thật. Sáng ra nhà nhà người lớn đi làm, trẻ con chơi quanh trong
sân khu
tập thể, chán thì kéo nhau ra ngõ, túm tụm dưới gốc đa già, rồi lại
rồng rắn
tha nhau vào mấy cái cửa hàng bách hóa dí mũi vào tủ kính bày toàn
những xô
chậu làm từ nhựa tái sinh, búp bê nhựa trần truồng toe toét một nụ cười
vô cảm,
dép lê đàn bà có hình cây dừa to thù lù trên hai cái quai ngang không
màu xanh
lá cây thì y như rằng màu tím huế nằm kề xà phòng thơm hương lí hương
chanh.
Nhòm chán chê thì ngóng ra phố, thấy đông đông xe đạp là ù té chạy về
vác cặp
lồng ra nhà ăn tập thể xếp hàng, chờ bố mẹ. Sau này thỉnh thoảng Ngân
bỗng dưng
thèm ăn lại một bữa cơm như thế, trong cái mùi gây gây của bàn ăn bằng
đá dù
mấy bác cấp dưỡng hôm nào cũng cọ rửa kĩ càng, với canh bí đỏ xào tỏi,
đĩa lòng
lợn, hay bát sốt vang, hay miếng thịt kho tàu. Cái mùi nhà ăn tập thể
đặc trưng
đến nỗi bữa cơm ở nhà nấu kiểu gì cũng không bao giờ có được. Và lại
còn cái
vị. Hay là Ngân tưởng tượng? Nhưng quả là ngon thật. Trẻ con vác bát
chạy quanh
bàn nhà nhau. Hết bữa thì lại len lách qua chân người lớn ngồi râm ran
nói
chuyện hóng gió trên cầu thang thênh thang dẫn lên hội trường ngay trên
tầng
hai, hay tụ bạ chơi trốn tìm trong những căn hầm chưa lấp. Mọi sự sẽ
chỉ khác
đi khi ngoài suất cơm thông thường nhà ăn tập thể bắt đầu bán thêm
những món ăn
ngon lành khác và không phải nhà nào cũng mua được. Bầy trẻ bê bát nhìn
qua bàn
nhau dò xét một cách đầy ý tứ. Từ bao giờ, trong chúng thức dậy tinh
thần tự
trọng tràn đầy bản sắc dân tộc trước sự quyến rũ của miếng ăn. Đấy
chính là lúc
nhà ăn tập thể tự khai tử, sẽ bị đem chia thành nhiều căn phòng và căn
lớn nhất
được bưng bít kĩ lưỡng thành nhà trẻ, nơi bọn nhóc con sáng sáng mếu
máo bước
vào. Sau này, mỗi khi đi qua liếc ngang mấy cô mẫu giáo trấn ngoài cửa
lúc nào
cũng thấy hăm hở xiên ngang xiên dọc những cái kim đan, và đằng sau các
cô,
trong bóng tối mờ mờ luẩn quẩn mấy bóng trẻ con lủi thủi, người đàn bà
trẻ con
lại bất chợt thấy ngực cồn lên một làn hơi nóng. Ngỡ như chưa bao giờ
có những
ngày tháng vừa buồn bã vừa vô tự lự đó. Và gương mặt bè bạn tuổi thơ
mấy chục
năm rồi không gặp lại vẫn dễ dàng hình dung đến mức đáng ngờ.
*.
Chiều giông
có Phan, nghe Phan nói bao nhiêu chuyện, lúc buồn bã, lúc hằn học, lúc
lại đầy
vẻ giễu cợt cay đắng hết sức kì cục, sao mà Ngân muốn khóc. Hoài nhớ
tuổi thơ
ậm ực mãi làm đau cả ngực.
- Ngân cứ
để ý mà xem, những chuyện thê thảm
ấy đâu chỉ có ở trong sách. Cái phố nhà Phan bé bằng lỗ mũi mà cũng đủ
thứ
chuyện tầm phào. Mới hôm kia thôi, cả phố Phan cười một trận vỡ bụng vì
ông già
hàng xóm sát vách nhà Phan bị cô bồ trẻ vác chổi đuổi đánh. Lã Bố hí
Điêu
Thuyền. Lã Bố ngày trai trẻ cũng vào sinh ra tử khiếp lắm. Bị bà vợ ở
nhà lung
tung lang tang, về ở với nhau được đâu vài năm rồi bà ấy phải đi vì ông
chồng
ăn chơi bù những ngày gian khổ. Lũ con nó cũng chả buồn về thăm bố già.
Ngân sẽ
bảo đấy là gì? Đấy, ông bà nhân dân của Ngân đấy. Ông già ấy và cô bồ
ấy rất có
thể sẽ lại sống đẹp ở một hoàn cảnh khác, như trong chuyện của bố Ngân
hay của
Ngân vậy. Băn khoăn làm gì?
Bởi không
biết Phan nói vậy chính vì Phan đã băn khoăn rất nhiều hay thực ra Phan
thật
tâm muốn vợi đi tất cả những nỗi niềm đó ra khỏi lòng mình mà Ngân
không thể
nào quên buổi chiều đó và người bạn đó. Tầm phào thật ư? Bao nhiêu
chuyện đời
diễn ra quanh Ngân, chẳng đâu xa mà rất đỗi hàng xóm láng giềng, rất
đỗi nhà
mình. Có điều vào độ ấy, thì cũng giống như hồi đi xem cô Tam điên,
Ngân và
chúng bạn chỉ thấy đó là một cơ hội để cười, hoặc để hào hứng trong
phút chốc.
Thiếu đủ thứ, trong chiến tranh và sau chiến tranh, thiếu tất cả những
gì khả
dĩ làm nên một đời sống tinh thần đủ để cho bọn nhóc bây giờ hiểu nổi,
nhưng
các thứ gia vị tinh thần hồi đó có lúc sao mà nhiều. Và người ta tiêu
hóa được
tất, với một sự say mê khùng khùng điên điên.
*.
Cái món gia
vị kích thích răng lưỡi trong những bữa ăn đạm bạc được ưa chuộng nhất
bao giờ
cũng là những chuyện nhà này chỉ bằng lòng mặt với nhà kia; chú nọ cô
kia hình
như phải lòng nhau mà chưa thấy động tĩnh báo cáo báo chồn gì với công
đoàn và
cấp ủy; nhà máy xét lên lương; căng tin sắp phân phối xe đạp; công đoàn
liên hệ
được ở đâu đó vải ngoài tiêu chuẩn và săm lốp, họp bình bầu lao động
tiên tiến
cuối năm và tóm lại là những chuyện đại loại thế, vừa tầm phào vừa
thiết thân.
Nhưng có những chuyện chả thấy ai bàn bỗng đột ngột phòi ra, làm tất cả
ngơ
ngác, rồi sau đó là sượng sùng. Sau này, lớn lên, chạm mặt hàng ngày
những
người từng có mặt trong những câu chuyện ấy, nhìn họ sống bình thản bên
cạnh
nhau, nghe họ cùng góp lời trong bao chuyện chung của khu tập thể, Ngân
cứ phân
vân tự hỏi mọi người đã quên hết rồi chăng hay vẫn đang đóng tiếp vở
hài kịch
cũ.
*.
Con bé Hằng
An có lần khoe khoang với Ngân rằng cũng biết bay. Dĩ nhiên là bay
trong mê. Có
điều nó ngủ mê hết sức kì cục. Loay hoay cong hai bàn tay để vo cho
viên bánh
trôi thật tròn, con bé mắt tròn mắt dẹt:
- Em cứ bay
vòng vòng trên sân thượng nhé. Càng lên cao càng mát. Mát cứ lạnh đi.
Trời cứ
như mâm thạch đen ấy, phẳng lì. Em lên cao bao nhiêu thì trời lại lùi
xa tít
bấy nhiêu. Còn sao thì lại như gần lại, cũng bay. Giống như đóm đóm bên
bờ đê
ấy, nhưng mà không lập lòe lập lòe. Cứ lóng la lóng lánh. Chị Ngân vớt
đi. Vớt
đi chị. Mẹ em bảo bánh trôi ba chìm bảy nổi là chín đấy. Em kể cho mẹ
em nghe
em bay, mẹ em cứ mắng dở người. Chị Ngân biết không, từ trên cao em
nhìn thấy
bao nhiêu người chui vào chăn của nhau, hay lắm. Cô Thủy chui vào chăn
chú Toán
này. Chú Bình chui vào chăn cô Vượng này. Ai cũng ngủ say. Chỉ có mỗi
chị
Phương Linh đạp cho người chui vào chăn chị ấy một cái đau điếng. Thế
là em
tỉnh. Hoá ra chính em bị chị ấy đạp. Chị Ngân ở đây ăn với em hay là bê
một đĩa
về?
- Con bé
này! Em mê với mẩn cái gì mà kinh hồn thế. Sao lại có chuyện chui vào
chăn
nhau. Mày cứ huyên thuyên bát sát thế mẹ mắng cho là phải.
Trấn áp bé
Hằng An, song cô gái không trấn áp nổi những ý nghĩ bất chợt tới vì câu
chuyện
kì khôi của nó. Cô gái biết đó là sự thật và những sự thật kiểu như thế
luôn
làm cô hoang mang...
Michelangelo
Đức chúa trời vung tay giữa đám người
trần trụi
Nghìn linh hồn
Triệu nỗi đau
Có ai của một ngày sau
Giang tay giữa lòng người quả đất
19.
Cái sân thượng
thênh thang của khu nhà tập thể ba tầng mà Ngân sống có thời là nơi trẻ
con bọn
Ngân tụ bạ. Vui lắm. Những ngày còn chưa sơ tán... Con gái con trai cả
lũ chạy
rầm rập trên cầu thang dẫn lên đó, nói cười í ới. Từ trên sân thượng,
phóng tầm
mắt về phía thành phố, sẽ thấy chóp Nhà hát lớn và lô nhô bao mái biệt
thự cũ.
Còn nếu ngoảnh về phía ô, đầu tiên là nhìn thấy vòm cây đa già, rồi bờ
đê thoải
xuống những làng nghèo xích lô ba gác, mùa hè đến có thể hít đầy lồng
ngực mùi
ổi chín từ những làng phía đó. Bên kia, sát chân đê, làng Thanh Nhàn
vừa gần
gũi vừa bí hiểm, nhìn từ trên xuống chỉ thấy những vòm cây ôm ấp lấy
nhau, ủ
kín tất cả trong bầu xanh rưng rưng nắng. Gió từ bờ tre bên ấy rào rạt
thổi về.
Ngân rất thích thỉnh thoảng trốn bố mẹ theo lũ trẻ cùng tầng chui rào
tập thể
sang đê. Bên đó có một người đàn bà, không thể nói là bà lão, song cũng
không
còn trẻ, thường ngồi dưới một cái mái gá tạm bợ vào chân tre, bán đủ
thứ lặt
vặt quyến rũ tì vị của cả lũ. Ốc vặn luộc vừa chín, hôi hổi thơm mùi lá
bưởi,
nhể bằng gai bưởi, chấm nước mắm gừng. Ốc đá thì bẻ bằng những đồng hai
xu có
cái lỗ tròn bé tí. Bà Bé luộc ốc trên cả tuyệt vời, nóng rẫy cả tay mà
không
con nào bị đứt ruột. Rồi lại còn lạc luộc, bánh tro, táo bột, chè lam,
bỏng
ngô, sấu chín. Những cuối xuân ngày ấy. Những vào thu ngày ấy. Ngân nhớ
bà Bé
là bởi bên mình bà lúc nào cũng có một cuốn truyện Kiều. Cứ ngơi tay
đơm đơm
bốc bốc cho bọn trẻ là bà lại cầm lấy cuốn sách cũ kĩ, kéo cái kính trễ
xuống
một chút và đọc. Ngày đi sơ tán trở về, lúc đã tụ họp lại được gần đủ
mặt, bọn
Ngân rủ nhau lên sân thượng. Cũng một chiều. Cả lũ ngơ ngác nhìn. Cái
làng xưa
chỉ thấy một màu xanh ấp iu là thế mà giờ quang hẳn vì bom. Đường ngõ
tơ hơ,
nhà cửa mới dựng lại khấp kha khấp khểnh. Sông Kim Ngưu chảy qua làng
hẹp như
một cái rãnh nước đen đặc sịt trông chả
khác gì con đỉa trâu đã chết.
- Chả thấy bà
Bé đâu chúng mày nhỉ? Bây giờ thì bà ấy cũng phải về mở lại quán rồi
chứ nhỉ?
Chả đứa nào
buồn trả lời câu hỏi tầm phơ của con bé đang úp bụng lên lan can sân
thượng sát
bên Ngân. Ngân không biết chúng nó lúc ấy nghĩ gì. Cũng chả biết lúc ấy
mình
nghĩ gì. Chỉ có cảm giác rõ ràng rằng tất cả đang chia tay với một cái
gì đó,
vĩnh viễn. Mà sẽ là thế thật. Bởi vì cái làng bên đê sẽ không bao giờ
xanh lại
như cũ vì người ở đâu cứ dồn về, thành cả xóm liều bên bờ đê sát cái xó
mẹ con
bé Hằng An ở, đổ rác ra đấy, ỉa bậy ra đấy; rồi thành phố sẽ cho xây
trên đất
làng một khu nhà lắp ghép năm tầng rất lớn và một bệnh viện cấp quận
khá là nổi
tiếng vì đủ thứ chuyện tiêu cực. Lùm tre bên đê thẳng từ cửa sổ nhà
Ngân nhìn
ra vẫn còn, song quán bà Bé thì không bao giờ dựng lại. Không bao giờ
Ngân thấy
lại người đàn bà ấy nữa. Không biết bà có chồng con, có một mái nhà
không?
Không biết bà sống ra sao? Bà đi sơ tán rồi về tìm đường làm ăn sinh
sống khác
hay là đã chết trong trận bom đánh thẳng vào làng độ ấy? Thật lạ lùng
là có
những người có thể ở mãi trong trí nhớ đã thành một phần đời của mình
mà mình
tuyệt nhiên không biết gì về họ.
*.
Thật ra thì
hồi đó cũng không đứa nào bận tâm tự đặt ra những câu hỏi như thế. Chỉ
nhớ là
sau đó gần như chả mấy đứa còn rủ nhau lên sân thượng. Thỉnh thoảng lắm
Ngân
mới nghe lời mẹ sai mang mâm lạc mâm vừng hay ít tôm khô bò lên đó
phơi. Vác
theo cái chiếu và cuốn sách nằm trong chòi, nghe tiếng bọn nhóc con léo
nhéo
góc đằng kia sân thượng giữa cái nắng trưa nóng như rang, sao cứ thấy
lòng vừa
trống trải vừa xao xuyến.
Đấy chính là
hồi chị em Ngân thôi không theo bọn trẻ cắp chiếu cắp chăn lên sân
thượng ngủ
những khi mất điện. Ngủ gì đâu. Chạy rình rịch gần hết đêm hò hét trốn
tìm. Cứ
xông vào những chỗ người lớn ngồi uống chè là kín nhất. Mặt sân thượng
lát đá
vuông, giữ hơi nóng rất lâu, song gió thì không bị quẩn, cứ lồng lộng
thổi như
quạt hầu. Thật thú vị khi mặt và lưng mát rượi trong khi bàn chân trần
và mông
đít nóng cứ ran lên như ngồi trước đống rấm những mùa đông sơ tán.
Người lớn
thì cứ vừa nói chuyện với nhau vừa quay ra mắng trẻ con, rồi ấp tay vào
cái
chén quả hồng rất đặc trưng ngày đó mà hít hà cái vị nóng chát ngái của
thứ chè
ba hào mậu dịch bán không thèm phân phối.
Đấy là lúc
đầu đêm, người lớn có mắng thì rồi lại cười. Các anh chị trẻ trẻ vẫn
phụ trách
sinh hoạt hè có bị quấy rầy thì cũng còn biết giữ lưỡi trong mồm không
áp dụng
ngay chuyên chính với bọn nhóc, phòng lúc đi với nhau chúng nó biết
được trả
thù réo ê ê thì thẹn mặt. Nhưng khi đã vào khuya thì cả bọn cũng biết
liệu thần
hồn, đi nhẹ nói khẽ cho ngưòi lớn ngủ để sáng mai ra còn đi làm. Song
cũng có
những lúc vẫn mải chơi mà quên khuấy sự đời. Như ngày cuối tuần chẳng
hạn.
Chính trong một đêm như thế Ngân đã xô vào tốc cái vỏ chăn của chị Hoa
hàng xóm
tìm chỗ nấp. Rõ ràng vừa thấy chị sửa soạn chỗ nằm, vừa thấy chị tung
cái vỏ
chăn phủ lên mình tránh hơi sương. Mà sao lúc đó... Chị Hoa chồm dậy
tát bốp
vào mặt Ngân. Trong bóng sao mờ, con bé hốt hoảng thấy mắt chị rừng rực
sáng,
và rúm lại sau mông chị là một thân hình đàn ông trần truồng.
Dĩ nhiên là Ngân lủi một mạch, im thin
thít. Dĩ nhiên là
không có chuyện tổ an ninh dân phố đến lập biên bản. Hồi đó vừa ngừng
bắn và
chỉ thế đã đủ khác lắm những ngày trước đó. Chứ còn thời đánh phá thì
quên đi.
Chắc những chuyện như thế vẫn diễn ra hàng ngày đấy thôi, nhưng vô phúc
mà bị
phát hiện thì... Như là chuyện nhà mấy đứa bạn chơi với Ngân, thân
thiết mà
lạnh lẽo đến nỗi chả đứa nào bị chế với đứa nào. Chưa có lệnh triệt để
sơ tán,
nhưng trẻ con thì đã được lệnh của bố mẹ chơi gì cũng phải loanh quanh
gần mấy
cái hầm. Bố thằng Vũ thằng Thắng là bác Nhật, kĩ sư trên bộ hẳn hoi,
tập kết ra
bắc với cái chân tươi chân héo nên sau đó xung phong bao nhiêu lần mà
vẫn không
được đi B. Bác Nhật có vợ là bác Nguyệt. Bố bảo bác Nguyệt là con nhà
thế giá
lắm, dù chỉ là con vợ lẽ. Chả biết thế giá là như thế nào, song mẹ bác
còn thấy
mặc áo bông gấm dù đã mòn cũ, già rồi mà vẫn guốc cao và bước rất
nhanh, tóc
bao giờ cũng búi độn và khăn nhung choàng ơ hờ quanh vai, lại còn hút
thuốc lá
tự quấn dài ngoằng, và thoa son nữa. Bác Nguyệt không lạnh lẽo và khinh
khỉnh
như bà cụ, song quả bác không giống nhiều bà nhiều cô trong khu. Ra máy
nước
bác không bao giờ giành giật, thấy đông là lặng lẽ cắp chậu về chờ tới
tận
khuya vãn hẳn người mới ra giặt giũ. Người bác mỏng mà thẳng, ăn mặc
thì giản
dị y như mọi người, mà cũng vẫn không hẳn vậy. Vạt áo phin kia nhìn kĩ
thế nào
cũng lấp ló một nét thêu, cứ như là hoa tàn bay rồi đậu lại đó vậy.
Quần lụa
bất kể người ta mốt gấu to hay gấu nhỏ, bác Nguyệt mặc bao giờ cũng kín
gót
chân và là kĩ không để nhăn ở khuỷu. Bác khác tất cả mọi người, nói nhẹ
cười
cũng nhẹ. Mẹ hay nhờ bác cắt quần áo cho để tự khâu tay, có lần bảo bố:
'Em
thân với chị Nguyệt thế mà trước chị ấy vẫn cứ phải giữ lời là làm sao
nhỉ? Làm
sao mà vui thế nào cũng không thấy chị ấy ăn nói tào lao, mình cũng đâm
ra e
dè'.
Lại có lần Ngân nghe mẹ hỏi bố:
- Anh có nghe ông Nhật mê một cô văn
thư trên bộ không? Lạ nhỉ, đàn ông sao mà
dại. Chả biết cái cô
kia thế naò. Nhưng mà em nghĩ khó qua mặt chị Nguyệt được. Chị ấy thật
là người
hiếm. Em mà như chị ấy chắc ba máu sáu cơn từ lâu rồi.
Bố cười:
- Khéo chỉ vì bà chị không biết ba máu
sáu cơn như em, lúc
nào cũng như trăng suông thế mà ông ấy đâm ra thế.
- 'Anh thì chỉ...' - Mẹ buông lửng rồi
lại chúi đầu vào đống
tem phiếu. Không biết mẹ nghĩ gì. Chỉ nhớ lúc chuyện nhà bọn thằng Vũ
thằng
Thắng bùng ra thì câu chuyện về bác Nguyệt lại trở về trong bữa cơm
chiều nhà
Ngân:
-
Nghe nói chị Nguyệt uất lắm, chị ấy báo
cho công an với tự vệ đấy chứ. Có người bảo lúc đó chị ấy đòi đưa cả
đôi ấy ra
trụ sở khối phố để giải quyết.
- Không phải đâu
mẹ. Bác Nguyệt mãi mới gọi
được về. Lúc công an đạp cửa vào con cũng có đó mà. Lúc báo động bọn
con thấy
công an tự vệ vác súng vây cửa sổ nhà thằng Thắng thằng Vũ. Con theo
hai anh em
nó lủi vào nhà đứng mãi đến tận lúc bác Nguyệt về. Thằng Thắng thằng Vũ
sợ mẹ
cứ kéo con ra. Mà con nghe thấy hết.
-
Giời ơi là giời. Báo động chúng mày
không ở trong hầm còn vác xác đi đâu? Ai bảo con vào đó làm gì? Việc
của người
lớn trẻ con biết gì mà hóng hớt. Thế bác ấy bảo gì?
- Bác
Nguyệt bảo chú Phạm công an khối là
sao lại phá cửa nhà bác ấy. Chồng bác ấy nghỉ ốm, đóng cửa nằm nhà cũng
là
thường, khách đến thăm cũng là thường. Bác ấy bảo chú Phạm kiểm tra
xong giấy
tờ khách rồi thì xin để bác ấy nói chuyện với khách của nhà bác ấy.
- ?
-
Bác ấy bảo với cái cô gì ấy đẹp lắm là
bác Nhật sẽ giải quyết ổn thoả mọi chuyện. Thế rồi bác ấy uống nước
xong lại
xách túi đi. Thế thôi.
Bố mẹ nhìn
nhau. Không ai biết câu chuyện sẽ
tiếp diễn ra sao. Chẳng lẽ người ta có thể bình tâm như thế?
*.
Không
ai biết chiều ấy bác Nguyệt cơm nước
đàng hoàng hơn bình thường. Người đàn bà đã
nhắn cậu em trai sống với bà mẹ đến
đón hai thằng cháu,
chuẩn bị cho chúng đi sơ tán với bà ngoại. Người đàn ông tập tễnh đi đi
lại
trong nhà, như một con thú bị dồn đuổi.
- Cô bỏ ngay
cái mặt bao dung đểu kia đi. Tôi có tội, phải, tôi là thằng có tội. Cô
cứ nói
cho hai thằng bé biết, cô cứ ra trước bàn dân thiên hạ chửi thằng Nhật
này như
thế còn tốt hơn là cô vác cái mặt chịu đựng tha thứ kia.
- Mình bình
tĩnh lại. Mình muốn em phải có vẻ mặt đâm lê hay sao? Mình biết rồi, em
không
làm được thế. Em sẽ không bao giờ nói thế, bây giờ, sau này. Em sẽ nói
với các
con rằng ba các con không có lỗi gì với bất kể ai.
Người đàn ông
hổn hển:
- Em nói gì
vậy. Đúng là anh có tội. Nếu họ ập vào muộn hơn một chút thôi thì em
cũng sẽ
không thể bênh vực anh đâu.
- Ngay cả như
thế mình cũng không có tội. Em không biết mình nghĩ thế nào, còn em,
chỉ nghĩ
đến chuyện căn nhà mình ở có thể bị lục soát vì những lí do không dính
gì đến
ai em đã đủ muốn chết ngạt. Bây giờ, cái làm em nghĩ ngợi là mọi sự
phải tiếp
diễn ra sao. Nếu mình không ở đây thì mình có thể thu xếp được chỗ nào
không?
Một
khoảng ngừng đông cứng. Người đàn ông
cúi gục đầu. Cái cẳng chân teo đầy lông lá rũ
rượi dưới gầm bàn. Người đàn bà thở
dài:
- Nếu không
thì để em thưa chuyện với bà, em đưa bọn nhỏ về trên đó ở chung với bà
và với
cậu Việt. Đằng nào bà với chúng nó cũng phải đi sơ tán đến nơi rồi. Để
rồi xem
sao... Có điều mình sẽ khổ ở cơ quan mình đấy. Mà ở trong cái khu tập
thể này
sau chuyện này thì cũng chả sung sướng gì. Nhưng mà thôi, thời nào muốn
làm gì
mà chả phải trả giá. Cô ấy cũng phải trả giá nếu như cô ấy tính chuyện
yêu
thương mình.
Có
một khoảng ngừng ngột ngạt. Người đàn
bà thở dốc:
- Cô ấy được cái là mạnh khoẻ hơn em,
và lại yêu mình. Mình
ạ, có thể là ngày mai nhà mình sẽ không ở chung với nhau, trước khi em
đưa con
đi hay mình đi, em muốn nói với mình... Em xin lỗi mình. Em đã không
yêu mình
ngay từ ngày đó, ngày ta quen nhau... Em cũng không biết nữa. Có lẽ là
như thế.
Sau khi ông ngoại bọn nhỏ mất, nhà xảy đàn tan nghé hết, em đã phải làm
từ đứa
ở làm đi trước khi có lại cơ hội bước chân vào trường học. Hồi đó em sợ
những
ngày đã sống qua, sợ lắm... Và em lấy mình... Trong khi mợ lại bảo em
rằng bọn
mình không thể nào hợp nhau... Mợ bảo đã sống qua cảnh ấy rồi thì không
còn gì
đáng sợ nữa. Em không vững vàng như mẹ. Mợ thì lúc nào cũng vậy... hồi
bố còn sống,
còn chưa bị tù, còn cảnh cả lẽ trong nhà... mà đến lúc bố bị thế, mợ
vẫn cứ như
không. Thôi thì vợ chồng không ở được với nhau, mình coi hai đứa con và
lời xin
lỗi của em làm vốn...
*.
Người đàn ông
hực lên. Giọt nước mắt bất lực và đắng cay không thể nào lăn ra nổi,
lúc ấy, và
cả sau này, khi ông đã mất hết, mất đảng, mất quyền, mất luôn biên chế
nhà
nước, để rồi khi giải phóng thì lọ mọ bò về quê như một thằng dân gì
cũng sợ mà
gì cũng không sợ nữa, vì chả còn gì để mất. Ông sẽ chỉ khóc khi hai
mươi mấy
năm sau ra lại Hà Nội, ngồi đúng chỗ đó, nhìn người vợ cũ đã bị thời
cuộc là
phẳng mà vẫn bình thản và dịu dàng đến độ tưởng chừng bà có một thế
giới khác
để mà sống. Nhưng giây phút đó người đàn bà trẻ con không biết, cũng
không biết
sau buổi gặp lại người chồng không li dị mà xa cách suốt bao năm, bà
Nguyệt đã
qua đường, nước mắt chan hòa núp sau lưng cây đa già khấn cho lòng
người đàn
ông bình thản lại. Ngân cũng không biết ông Nhật chia tay lần ấy với vợ
con
cũng đứng dưới gốc đa, nhìn theo sợi khói ẻo lả tan đi truớc khi vươn
được tới
cái cành gần nhất. Ông cứ nhìn lên, lên mãi, nơi màu xanh trời đan dệt
trong
vòm lá lục, lòng thầm khấn nguyện cho người vợ già được bình an bên
những đứa
con thành đạt mà ông không có công nuôi dạy bao năm ròng. Cây đa với
dân khu
tập thể của Ngân là một chứng nhân mà họ lúc quên lúc nhớ tùy thời
buổi, song
bao giờ cũng tìm về.
Mấy phương
án cho một lưỡi dao
Nó
hình như đã nổi tiếng từ khi thi sĩ TD
dùng để tự cứa cổ
1. Người ta đã vứt nó như bất kì một
vật trở nên vô dụng
hoặc nguy hại nào
2. Người ta đưa nó vào viện bảo tàng,
chỗ dính máu là chỗ rỉ
trước nhất
3. Người ta giữ nó sáng loáng
20.
Người cha có
lẽ là người cuối cùng của khối cư dân lâu năm trong khu tập thể đã tìm
tới bóng
đa già. Cứ như là phản ứng tự vệ, ông gần như chả bao giờ để mắt tới
mùa đi qua
vòm đa. Có những ngày cây đa trút lá, khoảng phố đột nhiên quang hẳn,
sáng
bừng, mới mẻ. Có những ngày vòm đa lướt mướt tối sẫm lại vì mưa dầm. Có
những
ngày công an phường làm cho mấy bà bị coi là mê tín đứng tim vì kế
hoạch giải
tỏa khói hương theo những quyết nghị nọ kia chả ai biết tới. Và lại có
những
ngày sâm sẩm tối ông băng qua đường tới ngồi vào một trong những cái
ghế con
của hàng chè chén dựng dưới gốc đa, gọi một chén chè, thêm cái kẹo dồi
chó cho
con gái út, và ngẫm nghĩ. Không có gì liên quan tới cây đa chạm được
vào ý nghĩ
của người cha, dường như là thế, nếu không có những lúc nổi cáu bất ngờ
khi vợ
con đùa rằng ông chạy một mạch từ cây đa Tân Trào về tới cây đa Nhà Bò
này thì
dừng. Sẽ đến ngày những đứa con của ông đi xa và chĩ mãi tới khi ấy
người cha
mới trở về nơi đó lia camera lưu giữ cho con vòm cây nhớ thương.
*.
Giữa mấy mươi
năm, có một lần ông đưa chân ông phó giám đốc cũ từ miền Nam ra thăm
lại nhà
máy và bà con khu tập thể tới tận gốc đa già, đứng đó bùi ngùi. Ông
Thản trông
khắc khổ, nước da sạm lại khác hồi còn ở nơi này. Ông đi quanh quẩn
khắp khu
tập thể, dừng chân trước những bãi đất trước kia chỉ là cái kho tạm
chứa nguyên
liệu làm giấy than, mực, nến tráng giấy dầu hay những ngách nhỏ nơi đặt
cái
chuồng gà cải thiện của mấy gia đình đông con, lắc lắc đầu. Khu tập thể
bây giờ
chật ních người là người. Trẻ con lớn lên, đi làm đi ăn rồi, chồng vợ
cả rồi mà
không đủ sức rút cẳng ra khỏi nơi này. Những công nhân nhà máy năm xưa
nhà bị
bom được thu xếp về ở tạm nay đóng đô chặt lại ở đây. Và những cư dân
mới không
biết gì về những năm tháng xa xôi ấy. Ông Thản đi loanh quanh, ngần
ngừ, chỉ
tạt vào nhà ai là người thân quen cũ.
Bố
giục Ngân pha nước, ngùi ngùi:
- Anh ra bao
giờ? Tôi có nghe anh em nói anh về thăm nhà máy mà tiếc hôm đó không
gặp được
anh.
- Cũng được
gần một tuần rồi anh ạ. Chắc cũng là lần cuối cùng. Già rồi, nghĩ
chuyện đi là
ngại. Nhưng không đi thì lòng dạ cứ nôn nao.
-
Bao giờ anh lại vào trong đó?
-
Cũng định ở chơi lâu lâu, mà bà nhà tôi
dạo này hay mệt, lại còn mấy nọc tiêu...
-
?
- Tôi không ở
Sài Gòn anh à. Hồi bảy lăm
chuyển công tác vào trỏng, hai đứa nhỏ nhà tôi cùng vào nhưng ở lại Sài
Gòn,
còn tôi thì về Tây Ninh tìm bả.
-
Thế ạ...
- Hồi trước
tôi có đọc lí lịch anh. Ngày đó không phải lúc nào tôi cũng tin vào
những điều
đã đọc đâu. Còn giờ thì tôi nghĩ tất cả là số phận anh à. Tôi nghiệm ra
cứ muốn
sống lành là chẳng thể nào sướng nổi. Được cái là sau đó suy đi tính
lại vẫn tự
bằng lòng được ít nhiều với mình.
- Tôi biết là
ngày đó anh biết cả về tôi và thông cảm lắm với tôi anh Thản ạ. Giờ anh
đã nghỉ
rồi, tôi cũng chỉ làm việc đôi ba ngày nữa, có lẽ anh em mình chả còn
dịp nào
gặp lại nhau, anh cho tôi nói lời cảm ơn anh. Anh không biết đâu, hồi
đó, những
lúc nhìn quanh so tính, tiếc cho mình, tủi cho vợ con, tôi lại nghĩ tới
anh,
tới cách anh cư xử với mọi người và lại hồi tâm được.
- Thôi mà
anh...
- Thế hai
cháu nhà anh độ ấy?
- Con đầu
trước là y tá miền, hồi ra bắc mang theo đứa con anh biết rồi. Chồng nó
hi sinh
trước giải phóng, nó về được cho đi học tiếp, giờ là bác sĩ, đậu gạo
nấu cơm
chung với một thằng trước là bạn chồng nó. Mà cơm không lành canh không
ngọt
anh à. Thằng rể tôi quyền chức, quên hết rồi, đến hồi rồi phát hiện ra
bị gan
thì mới biết nhớ ngày gian khổ. Vợ chồng hòa lại được với nhau, nhưng
mà trong
cảnh ấy... Còn con út, cái con bị thương vào mắt ấy anh, cái con ngày ở
ngoài
này cứ làm ầm ĩ chuyện cô Tam, hồi về nhất quyết không cho tôi gặp mặt
má nó.
Khổ, con mỗi đứa mỗi tánh anh à, cái con út nhà tôi thì hiểu ba nó hay
không
hiểu cũng cứ làm tôi rối ruột.
- Tiện anh kể
chuyện, anh cho tôi tò mò... Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh phải
không anh?
- Có gì đâu
mà anh phải rào đón. Bà nhà tôi hồi tôi biệt tích có hai đứa con với
ông sau
này anh à. Cũng anh em đồng chí cũ với mình mà chiêu hồi. Nói theo kiểu
bên
mình thì ổng tội to nhưng phải nói là không hành hạ gì hai đứa con tôi.
Mà con
út nhà tôi thì cứng đầu lắm, bỏ học, hoạt động thành. Sau này con chị
nó nói
lại hồi đó nó thoát cũng là nhờ ông ta. Chứ... Ông ấy quả thực có lòng
với má
nó anh à. Mấy ba con ông ấy di tản từ hồi đó. Bà nhà tôi thì nhất quyết
ở lại.
-...
- Mà bả cũng
không có chịu gặp tôi. Con út về
tìm má nói gì đó, bả bỏ về Tây Ninh, lên chùa, xuống tóc đàng hoàng.
Tôi xin
chuyển công tác từ Sài Gòn lên đó, mấy năm ròng, đả thông hết má đến
con. Bây
giờ bả về với tôi rồi, nói thực với anh sống cũng ngậm ngùi, có cười
được chăng
là lúc con cháu ngoại từ Sài Gòn về chơi. Chẳng qua cũng vì hoàn cảnh.
Dù gì
thì bả cũng có công nuôi nấng các cháu không có tôi phải không anh. Mà
cái tình
cái nghĩa nó là gì không biết mà dứt cũng không phải dễ.
Ông
Thản cười, đôi mắt đã đục nhìn bình
thản:
- Ông chồng
sau của vợ tôi với hai đứa con vừa rồi gởi thư về. Bà nhà tôi cứ như
mất hồn.
Tôi mới bảo bả lo việc nhà cho tôi đi thăm anh em cũ. Cứ sốt ruột, e bả
nghĩ
tôi bực dọc điều gì.
*.
Khi đó người
đàn bà trẻ con làm gì nhỉ? Pha xong nước mời khách, Ngân bê rổ rau bí
ra lan
can ngồi tước. Hơi mưa từ cái mái tôn cơi nới của nhà tầng dưới hắt
ngược, ẩm
ẩm tanh tanh. Cái giọng lù rù gần như mất hết dấu vết ngôn từ Bắc của
ông Thản
vọng từ sau lưng lại chen với tiếng nói loé xoé của mấy bà hàng xóm vừa
đi chợ
về làm lòng Ngân nặng trĩu. Bao nhiêu mùa đã đổ xuống trên những bước
chân đi
qua cuộc đời như thế này.
Lại vẫn là
buổi chiều. Cuối hè. Hừng hực nóng. Bọn trẻ mang nhau ra đầu hồi nhà
cao tầng,
chính phía có căn phòng của ông Thản. Chỗ đó xưa là sân chơi, bể nước
ngầm và
vườn hoa rực rỡ. Nay, điện nước phập phù không bơm lên các tầng được,
một ông
thợ đục ống bắc ngay cái máy nước cho cả xóm dùng tạm rồi thành vĩnh
viễn. Khu
tập thể cũng không còn vườn hoa nữa. Vườn hoa đã bị phá để lấy mặt bằng
xây
thêm mấy dãy nhà cấp bốn cho công nhân nhà máy nhà cửa sạch bách vì
bom. Đội
quy tắc thành phố vẫn hoạt động song không còn riết róng phạt những nhà
chăn
nuôi trái phép. Các nhà con đàn nhất loạt bung ra trấn tất cả những
ngóc ngách
nào nhà máy không sờ tới để tăng gia sản xuất. Con gái thì vừa xếp hàng
máy
nước vừa tranh thủ đan móc hàng gia công đỡ gia đình. Con trai lăm lăm
cái vợt
sục sạo mấy cái cống để vớt bọ gậy về nuôi cá. Cái Hải con chú Triều
chiều nào
cũng phải ngồi ôm cái chậu tôn cũ xin vo gạo cho bà con cả dãy lấy nước
về nuôi
lợn chợt ngước lên:
-
Com măng ca vào nhà ai chúng mày ơi!
Những hai cái kìa!
- Đâu đâu? Đi
về dãy mình đây này. Chị kia trông như giao liên quân giải phóng ấy
chúng mày
ạ. Vào nhà ai nhỉ?
Hai cô
gái, cô đầu dắt theo một đứa con gái
chừng ba bốn tuổi, quần đen và áo bà ba xanh, cắt bằng thứ vải gì trông
cưng
cứng và nhóng nhánh như nilon, cô thứ hai trông chỉ như vừa qua tuổi
lớn, cũng
bà ba nhưng một màu đen. Cả hai cô đều đội mũ tai bèo. Xúm xít xung
quanh toàn
là đàn ông có tuổi. Ông người gầy gầy xăm xăm đi trước dẫn đường. Lũ
trẻ vội
vàng dẹp bớt xô chậu rổ rá lấy chỗ cho đoàn người.
Tiếng khóc
dậy lên từ cánh cửa ngay sau lưng
làm lũ trẻ kinh ngạc. Bọn con trai lập tức quăng vợt tiếp cận mục tiêu
mới.
Thỉnh thoảng lại ngoái cổ thông tin cho cả lũ con gái ra chiều ý tứ vẫn
tụ bên
đống xô chậu song bao nhiêu tâm trí đã để hết vào những tiếng xôn xao ở
sau
lưng.
-
Con bác Thản chúng mày ạ.
Đứa đứng gần lũ
con trai nhất nhanh nhảu
truyền tin. Cả lũ hóng cổ lên nghe.
-
Nhưng sao khóc như đưa đám thế? Bố mẹ
tớ kể bác ấy biết tin con ra mấy hôm nay rồi cơ mà.
- Từ từ đã
nào. Hôm nay ủy ban Thống nhất mới đón được các chị ấy đưa đến đây. Bác
Thản
cũng khóc chúng mày ạ. Nhìn kìa... nhìn kìa... Hai chị ấy cũng khóc...
Nghe
nào... Chị đầu chồng quân giải phóng hi sinh rồi. Con bé kia là con chị
ấy
đấy... Đẻ ở rừng. Chị kia... chị kia chột mắt chúng mày ạ. Dũng sĩ diệt
Mỹ. Thế
là diệt được mấy thằng nhỉ?
Thằng Tuân
đầu gấu nhất bọn tuột từ trên gờ tường sát cửa sổ nhà bác Thản xuống
bần thần
vì câu hỏi mới tự đặt ra cho mình. Cả lũ cũng bần thần. Không phải vì
cảm động
xót thương mà là vì ý nghĩ bên kia bức tường có một dũng sĩ diệt Mỹ
đang ngồi,
đang nói những chuyện hết sức bình thường. Dũng sĩ diệt Mỹ! Là cái gì
chỉ giống
như là một khái niệm, một nhân vật trong sách mà cả lũ vẫn chuyền tay
nhau, gần
gũi hơn thì cũng vẫn chỉ là những cái tên trong truyện thiếu nhi hay
trong các
bản tin đài báo thường đưa. Đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam ra thăm miền
Bắc,
đến thăm Bác Hồ. Hồ Văn Mên, Nơ Trang Lơn, Hồ Thị Thu, A Vai, Kan
Lịch... Một
con người như thế, từng đặt chông, ném lựu đạn, bắn súng, vừa đến đây,
mang
trên mình dấu tích của cuộc chiến tranh còn chưa đi qua hẳn, nhưng với
cả lũ
thì vẫn rất xa xôi, dù tất cả đều đã từng nếm mùi sơ tán. Một con người
như thế
đang ngồi khóc thút thít trước người cha lần đầu gặp mặt, và cái chính
là chị
dũng sĩ ấy thật ra chỉ hơn cả bọn có vài tuổi bọ.
Kể từ hôm đó
nhà bác Thản tuần nào cũng thấy đông người. Hai chị con gái bác đã làm
cả khu
tập thể quen dần với những bộ bà ba may từ thứ vải gì chất như nilon
nhóng nha
nhóng nhánh, với chiếc mũ tai bèo đội hờ trên đầu và đôi dép Thái Lan
lệt xệt
dưới chân. Rồi các chị ấy cũng dần dần mặc y như mọi người, nón lá thay
vì mũ
tai bèo, quần lụa áo hồng kông thay bộ bà ba lạ mắt. Mỗi lần về thăm
bố, các
chị lại ríu rít dắt nhau đi chợ và từ cửa sổ sát máy nước nhà bác Thản
mùi mắm
thơm lựng tỏa ra. Nhưng bác Thản sau những ngày con về trông lại thêm
âm thầm.
*.
Con bé Hằng
An biết rõ nó không phải là con bác Thản và chính vì thế mà nó gọi bác
là ba
một cách hết sức tự nhiên một hôm bảo với Ngân:
- Em không
gọi ba Thản là ba nữa đâu.
- Tại sao?
Bác Thản vẫn gọi em là con cơ mà.
- Tại chị
Hằng Tâm ấy. Chị ấy chủ nhật
vừa rồi tự dưng mò vào nhà em mắng mẹ em xơi xơi. Chị ấy tưởng cái dũng
sĩ diệt
Mỹ của chị ấy là to, mà giờ mới học lớp bảy ở trường văn hóa dành cho
con em
miền Nam, hơn em có hai lớp. Mẹ con em làm gì chị ấy nào. Mà mẹ em cứ
ngồi yên
nghe. Tức quá.
- ...
- Em bảo mẹ
em đổi tên cho em mà mẹ bảo không được. Khi nào lớn em sẽ tự đổi tên
đổi họ để
ba Thản đỡ khổ. Chị Hằng Tâm cứ một mực bảo mẹ em có gì với ba Thản thì
tên em
mới là Võ Hằng An, lại còn bảo mẹ em nếu còn để ba Thản qua lại thì sẽ
báo cáo
với nhà máy rằng nhà em lợi dụng. Đi mà báo cáo.
- Kệ chị ấy.
Ai chả biết là...
- Có mỗi chị
Hai nhà ba Thản tốt. Chị ấy ngay sau hôm ầm ĩ cũng vào nhà em. Chị ấy
nói gì mà
sau đó cả mẹ em và chị ấy cùng ngồi khóc chị Ngân ạ. Chồng chị ấy mới
hi sinh
đấy chị Ngân biết không?
- ...
Thôi, có bài nào hỏi thì đưa ra đây.
Chị sắp phải về rồi. Mà em cũng đừng có chõ mũi vào việc của người lớn
làm gì
rồi khéo mẹ lại mắng cho đấy.
- Em chả sợ - Con Hằng An cười khì khì
- à mà chị ra đây em
cho nghe. Bên kia tường nhà em có hàng xóm mới đấy. Có điều chả quen
được nhau.
Nhà máy xây nhà kín thế này giờ chả chạy qua bờ đê xem mặt người ta
được nữa.
Có đến mấy nhà ấy chị ạ. Chả biết ở đâu về. Cứ về lại rì rầm rì rầm cãi
nhau,
mẹ em đập vách bảo hạ giọng thì lại vâng ạ vâng ạ lia lịa.
Cô Tam ở cùng
bé Hằng An trong cái ngách nhỏ sát bờ đê, nơi có chuồng lợn nuôi vụng
của mấy
nhà đông con, vẫn ra vào một ngõ chính với cư dân khu tập thể, song gần
như
biệt lập với cả khu. Nay nhà cô có hàng xóm chung lưng, dẫu ồn ào song
con Hằng
An thích là cũng phải. Nó chỉ không biết rằng mấy mái giấy dầu ấy sẽ là
những
số nhà đầu tiên của một xóm liều kéo suốt một triền đê, nơi những chàng
Tây ba lô
sau này cứ chạng vạng là lần tới và từ đó sẽ vọng qua khu tập thể những
tiếng
thì thầm âu yếm, mặc cả và cãi chửi tưng bừng ai nghe cũng đoán được
hết nội
dung dù chỉ hiểu đúng một phần tiếng Việt. Nó, và cả Ngân nữa không bao
giờ ngờ
rằng đấy sẽ trở thành một phần đời con Hằng An nhiều năm sau này trước
khi con
bé quắp một thằng Phần Lan bắt phải mang nó bay đi. Và trước khi bay
đi, một
đêm khuya lắm con Hằng An đã ra gốc đa già trong cái nhìn vừa nghi ngờ
vừa
khinh bỉ vừa đầy vẻ trêu ghẹo của mấy chàng công an phường trực ở đồn
công an
bên cạnh, đứng đó chìm đắm mãi trong bao nhiêu ý nghĩ.
Này
là tiếng tom
Nỉ non
tiếng đàn
Này là
tiếng chát
Mấy người
ngồi bên
Này là
khói hương
Hồn tôi
nhập đồng
Những
dải lụa màu phấp phới bay
Nghiêng
đời đổi lấy cơn say
Vô thần III
???
21.
Hồi còn
con gái người đàn bà thường tiễn bạn
ra tận ngoài phố, đứng bên này đường đối diện cây đa chuyện vãn tiếp.
Bạn gái
có khi còn tạt sang đường sà vào hàng quà rong, cắn ngập răng vào quả
táo Thiện
Phiến xanh ưng ửng chấm với muối ớt, chua chua mặn mặn cay cay, cười
phá lên vì
một câu chuyện không đầu không cuối. Còn với đám con trai... Đôi khi,
chỉ đứng
vậy, tay đặt hờ trên ghi đông xe đạp của bạn, ngước nhìn cây đa già và
nhìn vào
mắt nhau, lặng yên. Phố xao xác người xe, vỉa hè chưa có nhiều người
bán hàng
rong đỗ gánh như về sau này. Mùa đông, mây xám giăng theo chiều gió
bấc, co ro
trong cơn gió mùa mới tràn về hào phóng thổi, mà sao lòng cứ phơi phới
và ấm áp
khi soi vào đáy mắt nhau. Còn những mùa hè, gió nồm nam thốc từ ngõ ra
lùa
trong áo mỏng, khiến rùng mình bất chợt khi chợt nghĩ rồi có thể sẽ là
như thế,
những ngón tay nhau. Những ngày âu yếm quá. Những điều không cần nói.
Những
khát khao không lời vẫn cưu mang dẫu khó nghèo cùng cực. Những gương
mặt gầy và
mắt sáng. Bao nhiêu băn khoăn cơm áo gia đình tưởng chừng quên được cả.
Tưởng
chừng quên được cả những chuyện đời rối tinh xoè vẫn ngày ngày nghe
thấy nhìn
thấy. Quên được cả cái ngày mai phải ra trường chưa biết sẽ về đâu.
Sau này
nhiều khi Ngân kinh ngạc. Hồi ức về
ngày tháng cũ giống như bếp lửa đã vạc rồi, tàn tro phủ kín rồi mà
thỉnh thoảng
lại hực lên một màu than đỏ. Sao nhiều reo vui thế, sao nhiều nỗi im
lặng xôn
xao. Chiếc áo vá suốt chiều đem mặc tối thứ bảy ngày ấy chưa bao giờ
làm Ngân
mặc cảm, nếu không nói là còn ngấm ngầm kiêu hãnh trước mấy đứa bạn gái
ăn chơi
rất đỗi nhiệt tình. Cả mái tóc dầy và bóng chưa bao giờ được âu yếm
cuốn trong
mấy cái lô. Cả cặp lông mày rậm rất không hợp giống số và cách như bọn
bạn
thường đùa. Tất cả. Trong khi trầy trượt chuồi theo đời sống, trong khi
khó
nhọc gạt khỏi lòng bao nỗi lo sợ và khắc khoải trước tương lai nhìn
chung là vô
vọng như cả lũ một năm sau khi ra trường đã có lần ngồi phân tích tổng
kết, một
cách hoàn toàn bản năng, người đàn bà trẻ con vẫn cố giữ lại cho mình
một chút
gì, có lẽ là dớ dẩn, nhưng nhờ thế mà còn giữ được cảm giác mình chưa
bị xã hội
hóa hoàn toàn.
Chỉ có
điều chính cái cảm giác mình vẫn còn là mình đó lại làm Ngân phiền
muộn, sau
những lúc phải đối mặt cùng quá khứ, cùng một người bạn cũ đã đi qua
đời mình.
Như lần gặp lại Vĩnh hay Phan. Lần nào cũng như lần nào, ngẫu nhiên, mà
họ
không bao giờ có được cái giọng của những người ngẫu nhiên gặp lại. Bao
giờ
cũng vẫn là cảm giác đó, cảm giác vừa chia tay nhau mới hôm qua, đột
hiện và
biến mất, nhường chỗ cho ý nghĩ về thực tại, nên trong mừng rỡ bao giờ
cũng như
chứa chở một chút gì buồn bã lắm.
Vì
thời gian trôi không chờ, không chờ ai. Người đàn bà nay đã mỡ màng ra.
Vẻ mỡ
màng đã mang cái nẫu nẫu của tuổi, trong ánh mắt bình thản và mệt mỏi,
trong
làn tóc bớt dần độ bóng buông uể oải trên vai, và cái chính là trong
những ý
nghĩ không hẳn là hài lòng với đời mình, nhưng cũng không còn những xót
xa điên
cuồng vì khao khát vẫn cưu mang. Khao khát, thì vẫn là khao khát. Nhưng
người
đàn bà trẻ con đã nhiều lần hiểu ra rằng vẻ đẹp của khao khát chính là
ở chỗ nó
chẳng bao giờ thành, và nếu như mình đã trải đời thì cũng chỉ là đủ để
hiểu ra
rằng không bao giờ còn có thể tự tin như từng thế, những mùa thu cũ.
Chính là vào lúc
đó, lúc yên tâm với đoạn đời
sắp sống. Ngân đã gặp lại Phan. Lần đầu tiên hai
người trò chuyện lại với nhau kể từ buổi
chiều giông gió ấy. Nhưng lần này: bắt buộc.
- Xin giới
thiệu với các anh chị: nhà tôi. Em! Anh.. bên... Chị bên... Các anh chị
đây
bên... Đây anh Phan - Giám đốc bên đối tác với bọn anh.
Tại sao
hai người phải chờ chồng Ngân giới
thiệu mà không ồ à mừng rỡ ngay nhỉ. Phan nắm bàn tay Ngân:
- Cảm ơn anh đã
có lời mời cho tôi gặp lại
bạn tôi. Chúng tôi là bạn học phổ thông ngày xưa đấy các anh chị ạ. Anh
Hoàng
không biết nhỉ: hồi bọn bạn cùng lớp viết thư kể chuyện Ngân đi lấy
chồng, tôi
đang làm chuyển tiếp sinh ở Nga, mất ăn mất ngủ mấy tháng đấy. Xây bao
nhiêu
mộng thế mà đến nay phải gọi người là cố nhân.
Phan cười cởi
mở. Nét cởi mở chuyên nghiệp
quá làm Ngân lạ lùng. Nhưng mà câu thơ xưa vừa lẩy, và bàn tay Phan
đang bóp
nhẹ tay Ngân đây là thật. Thật Phan chăng?
Chồng Ngân cười
hồ hởi, lại cũng nét hồ hởi
đã được giới ăn cơm văn phòng chuyên môn hóa.
- Vậy là người
nhà của bọn tôi rồi. Em này,
em nói chuyện với Phan nhé. Anh bạn trẻ của em thế là có cơ hội để khỏi
phải
trăm phần trăm với bọn anh rồi.
*.
- Bao nhiêu
lần bạn bè cưới hỏi đúng dịp Phan về thế nào mà bọn mình toàn trượt gặp
nhau
nhỉ - Phan mở lời - Hồi cưới Việt lần hai, Phan còn cắt phép bay về làm
phù rể,
không ngờ không được gặp Ngân.
-
Ngân sinh con đầu hồi đó mà Phan. Có
được xem ảnh Phan hộ tống Việt hôm đó. Nhà dâu nhà rể đón nhau long
trọng cứ y
như nguyên thủ quốc gia gặp nhau ấy nhỉ. Thiếu mỗi màn ôm hôn. Chẳng ai
ngờ...
- Biết sao
được Ngân. Có gặng hỏi nhau, Việt bao giờ cũng nhận hết mọi lỗi lầm về
mình
trong mọi cuộc hôn nhân của nó, mà lỗi lớn nhất với tất cả các bà các
cô đi qua
đời gã là gã không yêu, không thể nào yêu.
Ngân
cười nhẹ, nhưng giọng nói đột nhiên
thẳng thừng:
- Phan làm
như... Chẳng lẽ thiên hạ ở được
với nhau lâu bền là bởi yêu nhau lắm lắm sao?
- Phan
không biết. Nhưng rất có thể vì không
yêu nhau hoặc không yêu nhau nữa mà người ta lại sống được với nhau.
Chẳng hẳn
là ý thức trách nhiệm gì đâu. Cái chính là biết mình muốn gì ở người
kia. Việt
ta đi tìm tình êu. Chắc gã tưởng vẫn còn có thể tìm nó ở đâu đó sau khi
đã mất.
- Thế thì
quý quá chứ sao. Là nói cái ý nghĩ
đó của Việt ấy - Ngân dịu dàng, nét cười thành xa vắng. Làm sao có thể
kể cho
Phan hay rằng Việt vẫn rủ Ngân đi uống cà phê, vẫn kể cho Ngân những ý
định bỏ
vợ và cưới vợ, nhưng chưa bao giờ Ngân hỏi, và chưa bao giờ Việt nói vì
sao?
Như là chuyện của ai ai, như là chuyện dĩ nhiên phải thế. Mà biết đâu,
Phan
cũng biết tất cả về những lần gặp gỡ ấy. Và tại sao Ngân và Phan chưa
bao giờ
gặp nhau như Ngân thường gặp Việt? Có phải vì không dễ dàng gì nói
chuyện với
nhau sau tất cả những tin yêu đã thầm lặng cho nhau, và bởi thầm lặng
nên không
thể trách cứ nhau một điều gì, dù Ngân đã buồn đến thế. Những đêm một
mình lang
thang, bóng Việt đằng xa, góc phố, nỗi buồn nhớ những dòng thư từ Phan
không
bao giờ nhận hay gửi nữa, mùi hoa sữa bồn chồn sương mưa đầu thu. Người
đàn bà
nghe sống mũi cay cay và phải cố lắm để luồng hơi rất nóng đang cuộn
dần lên
trong ngực không dồn lên cổ, không phụt ra nghẹn ngào.
-
Phan giờ về làm việc hẳn trong nước à? Có
tính đưa cả gia đình về luôn không?
-
Còn gia đình đâu mà đưa về. Cô ấy nuôi
hai đứa nhỏ. E chừng rồi không còn nhớ được tiếng Việt nào nữa. Hồi
trước cô ấy
và ông bà bên cô ấy bực Phan lắm vì nói với con bằng tiếng Việt. Họ
nghĩ chả
cần. Đằng nào chúng nó cũng mang nửa dòng máu tây, lại quốc tịch tây và
sẽ lớn
lên, sẽ học hành nơi đó. Kể thì mọi người cũng có lí. Nhưng mà Phan
không thể
nào chịu nổi cảm giác tiếng của mình chỉ vì đất nước mình không là gì
trên thế
giới này mà nó mất ý nghĩa là tiếng của cha của mẹ và cũng cần phải
học.
Ngân cười
tinh quái:
-
Thì lại lấy vợ, sinh con, và lại dạy con
tiếng Việt. Giờ là ông chủ Việt kiều yêu nước dùng rồi, hoa hậu còn khó
chứ á
hậu hay người đẹp người mẫu các kiểu thì khó gì. Chỉ không biết Phan có
đi tìm
tình êu như Việt không thôi.
- Lại cái
kiểu đó rồi. Ngân vẫn không thể
dịu dàng với bọn Phan được à? Phan không phải là Việt. Vả chăng, tình
yêu chưa
bao giờ mất đi trong lòng Phan. Hoặc giả là người ta có thể yêu nhiều
người
khác nhau, nhưng bằng những tình yêu khác.
Phan nói và nhìn thẳng vào mắt bạn.
Ngân im bặt. Nghe gió từ
những mùa lặng im xa lắm thốc dần lên trong lòng. Những tần ngần thắc
thỏm nào
trong một mùa nắng hạ. Khoảng trời nào quang quẻ vì cơn bão sớm vặt
trụi cành.
Cơn giông nào đã nổi trên hàng tre bên xóm vắng. Ngọn gió nào thì thào
trong
vòm đa đầu ngõ lúc tiễn chân nhau. Và góc phố Bà Triệu Trần Hưng Đạo,
vào
khuya, xe nước mía lọc cọc dọn về. Lá sấu rơi đầy trên lối, xao xác
dưới chân
Ngân, như tiếng vọng những xao xác trong lòng Ngân về người đàn ông giờ
đây
đang ngồi trước mặt - người con trai đã cùng Ngân lùa chân vào đống lá
sấu khô,
đêm trước ngày đi năm ấy, không một lời thề ước, chỉ gửi thư rất đều,
rồi bỗng
dưng thôi. Chỉ có thể đoán vì sao, một điều gì không cụ thể mà ám ảnh
bạn như
là mong mỏi về ngày sống bình ổn, thôi những toan lo vụn mọn, và thôi
luôn
những day dứt về hạnh phúc. Ngân nhìn bàn tay mình, đốt khô khô tố
tuổi, rồi
ngẩng nhìn Phan. Từng đã có một ngày mênh mang đến thế sao? Từng có một
ngày
hiểu nhau tận cùng đến thế? Để bây giờ như thể chẳng hề xa?
*.
Chiều vào đêm, có bao giờ không thế
Khoảnh khắc
bất kì - anh đã bên em
Lại mơ ước
thanh xuân, lại cầm tay, lại sẽ...
Lại sẽ nhìn
nhau, lại sẽ nhìn.
Chiều đã mòn dần: bóng tối
Bây giờ em ở
đâu?
Dĩ vãng trong
anh không phải là dĩ vãng
Anh vẫn còn mong
em.
*
Họ vẫn có thể
lại ngồi lặng im như thể thời
quá khứ đang tiếp diễn nếu góc phòng đằng kia không rộ lên những tiếng
cười đã
bắt đầu sền sệt trong men rượu. Chồng Ngân trịnh trọng bê lại mấy chiếc
li, màu
rượu vàng sóng sánh quanh đáy thủy tinh trong vắt:
- Nào em. Nào
ông Phan. Mừng tình bạn hội
ngộ. Mừng mối quen biết giữa tôi và ông có nền tảng gia đình vững chắc
thế này.
Ít thôi. Một chút men làm phép ấy mà, em đừng sợ. Em cứ yên tâm ngồi
lại, anh
vừa gọi điện về Osin bảo cho các con đi ngủ trước rồi.
Con! Thoắt cái
người đàn bà lại là mình, chỉn
chu phép tắc, cựu giáo học, đương kim công chức kiêm vợ quan chức, chủ
một ngôi
nhà mà ở đó hai đứa trẻ dẫu có Osin lo liệu vẫn đang ngóng mẹ về. Trừ
những khi
phải đi công tác, Ngân bao giờ cũng ở bên giường con, lắng nghe những
câu
chuyện về lớp chính lớp phụ của chúng,
về những cuộc thi đua ở trường ở lớp, cười cùng chúng và xót xa bởi con
phải
quay hết sức mình trong cái guồng học và dạy từng ngày. Đứa con gái đầu
lòng
của Ngân nay đã mười ba tuổi. Chỉ một năm nữa thôi là nó sẽ bằng Ngân
ngày vào
cấp ba, ngày thân với Vĩnh, Việt, Phan. Một cách bản năng, Ngân vừa
khao khát
cho con sau này có được nỗi nhớ về những tình bạn đẹp, như là Ngân đã
có, vừa
sợ hãi, bởi biết rồi ra như thế sẽ đau đớn lắm. Dĩ vãng buồn và đẹp có
thực ai
cũng cần không? Và liệu con mình có biết rứt ra khỏi dĩ vãng mà sống
cho nhẹ
nhõm?
*.
- Thế cái
lô đất ấy ông đã lo được sổ đỏ
chưa? - Chồng Ngân - Xây nhà ở đó giờ là lí tưởng. Tôi tính còn hay hơn
khu nhà
tôi bây giờ. Cứ bảo có nhà ở hồ Tây, nhưng hồ thì cứ mỗi ngày một hẹp
vì đủ thứ
nhà nổi nhà chìm, muốn nhìn xa hơn thì đủ thứ chóp tròn chóp nhọn chọc
tức cả
mắt. Mạn Phú Thượng xa hơn một chút, nhưng rộng rãi hơn, nhìn sông có
triển
vọng hơn nhìn hồ ông ạ.
- Chưa xong anh
ạ. Khu đất tôi mua thuộc mấy
chủ, đâm phiền. Chủ đất đi lo sổ đỏ về kể vừa ra tới xã là người ta đã
hỏi bán
đất phải không? Tôi phải ứng tiền thêm cho họ nộp lệ phí công với tư.
Mấy ông
cán bộ xã nhà mình làm tiền kiểu này kinh thật.
- Bạo phát
bạo tàn ấy mà. Cả đời không có,
đến lúc có thì ngập lụt, mấy ai tỉnh được hồn. Ngày xưa ông xây bố đắp
con bồi,
giờ nhiều vị bố xây con phá. Cũng mệt.
Câu
chuyện vừa ròn rã vừa chủng chẳng.
Ngân im lặng, giữ một nụ cười vô cảm như mỗi lần tham gia vào chuyện
làm ăn của
chồng, bàn tay xoay xoay cái cốc. Giọt rượu còn đọng lại lăn lăn. Như
là hổ
phách trong cái vòng chú Thái cho hồi nào. Cái vòng đó hồi sắp thi đại
học
thiếu tiền học thêm Ngân đã tiếc rẻ đưa chú Thái gia công lại và bán
hộ. Giờ nó
ở đâu? Trên cổ tay ai hay đã tung toé dưới đất cùng sỏi đá. Còn chú
Thái thì
nghe nói vẫn ở chỗ cũ. Con cái làm ăn nay đã mua lại cả dãy nhà ngang
phá ra
xây biệt thự to vật vưỡng chẳng kém gì ngôi biệt thự cũ sát mặt phố,
nhưng
không cửa cuốn mà là ốp kính mặt tiền gần như toàn phần, dành hẳn một
phòng
tầng trên cùng, cửa số sắt dẹt bao chặt bảo đảm an ninh cho bà mẹ dở
người. Vậy
là những người chủ cũ đã không còn muốn nhớ. Cũng phải thế thì mới có
thể đi
qua từng ngày chứ. Chưa bao giờ Ngân hiểu ra ý nghĩa của thời gian một
cách cụ
thể và đáng sợ đến như lần nghe bố kể về sự đổi đời lần này của gia
đình chú
Thái. Chẳng phải là con người mà chính thời gian tạo nên trật tự, trước
hết là
trật tự trong lòng người. Vậy là cả hai biệt thự đều rất to, rất đẹp,
nhưng
không có vườn. Phố không vườn. Còn đâu những mùi huơng khuya khoắt,
nồng nàn
như những đam mê? Người ta nay không còn thích là người ở phố. Cứ bốc
lên là
xoay ngang ra tìm đất ven đô. Nhưng mấy người trên tiền để dám có ý
thích như
thế. Đời nọ đời kia sinh sôi và tiếp tục đùm túm lấy nhau trong những
căn phòng
xuống cấp. Như là trong cái khu tập thể cũ của Ngân nằm đối diện với
cây đa mà
nay chỉ có bố thỉnh thoảng đảo về thăm.
*.
- Thế nào mà
một ông chủ đất Phan mua lại là hàng xóm của nhà Ngân ngày trước đấy.
Ngân còn
nhớ ông vác súng đòi bắn tay hàng xóm trèo tường vượt giường vợ ông ấy
không?
-
Tay nào
bất khuất gớm? Ai dám đánh đồn kiểu đó khi không có tay trong nhỉ?
Ngân nhíu
mày. Chẳng có gì để có thể bình
luận vô cảm thế, dù thật là đúng. Phan nhìn Ngân, không trả lời câu hỏi
bâng
quơ giữ chuyện của chồng Ngân, tiếp tục, như cố tình gọi ngày cũ trở về:
- Ngân nhớ
buổi trưa ấy không? Khiếp! Không thể nào quên cái mùi nhà vệ sinh thiếu
nước
hôm ấy. Chưa cần vợ lung tung hay tay nào vờn quyến vợ mình, chỉ cần
ngửi cái
mùi ấy đã đủ có súng dùng súng có dao dùng dao rồi.
Mặt Ngân đỏ
dần, lan xuống cổ. Có chút gì bẽ bàng lắm khuất lấp bấy lâu nay lì lợm
thức
dậy. Cái bẽ bàng lẽ ra không phải có ở tuổi mới lớn nhiều ao ước. Nắng
hanh hao
dịu hẳn khi rướn tới mặt bàn nhỏ giữa hai đứa, nhảy nhót trên trang
sách. Những
bông thạch thảo tim tím Phan mang tới trông càng thêm dịu dàng. Nhưng
gió ngoài
kia dừng ở đầu hành lang vắng không đủ thổi bạt đi cái mùi khủng khiếp
đày đọa
cư dân cả dãy nhà tập thể suốt mấy ngày giời. Mất điện. Nước không bơm
lên
được. Phuy nước dùng cho nhà vệ sinh cạn rốc, ai đó buồn tình quăng
luôn cái
gầu cao su thủng xuống đáy. Phòng vệ sinh nào cũng ngập báo. Nhân Dân.
Hà Nội
Mới. Quân Đội. Lao Động. Từng tờ từng tờ rải chồng lên nhau, che kín
cái phần
khai thối không tống đi đâu được của người vừa ra cho khuất mắt mà bước
vào đó,
ngồi xuống, nín hơi mà rặn, mà tống tháo cho nhanh rồi rút. Không ai
dám chửi
ai dù hầu như ai bước ra khỏi cửa phòng nhà mình cũng cất lời chửi
đổng. Sau
này Ngân đã buồn buồn nghĩ rằng nghèo quả khó đi cùng sạch, và đến một
mức nào
đó thì người ta đâm phá phách, bất cần tất cả, bất cần chính cái ngày
mai của
mình. Mọi sự lãng mạn của mọi câu chuyện hay ho đến đâu cũng biến khi
hoặc chủ
nhà hoặc khách vừa lúng túng vừa ý nhị xin phép ra ngoài đôi ba phút.
Ngân có
cảm giác cái mùi khai thối nồng nặc kia, được gia tăng độ đậm đặc nhờ
nắng gió
hanh hao đầu thu thấm sâu vào tường hành lang khu tập thể, làm nó sần
sùi thêm
ra. Ngân có cảm giác tóc tai mình, quần áo mình cũng bị ám cái mùi đó,
không
thứ chấp hay chanh nào xua đi nổi, đến nỗi mỗi lần mất điện mất nước,
mà điều
đó thì thường lắm, đi đâu Ngân cũng tìm cách đứng xa xa bạn bè. Nhưng
không
phải cứ vào lúc đó là ai có súng dùng súng ai có dao dùng dao như Phan
vừa đùa.
Chỉ một lần duy nhất.
*.
- Chuyện gì
vậy Ngân - Phan thì thầm khi nghiêng người qua vai Ngân trên cái bao
lơn nhỏ
lủng củng những dây phơi, rổ rá và xô chậu.
-
Không biết - Cô gái tiếp tục nhòm xuống
đám người đang tụ tập bên bể nước công cộng. Cô đã nhận ra, không phải
là cuộc
tụ họp bình thường vì mấy con vịt chưa hết lông măng hay cá bể ươn rất
cần nước
mà mậu dịch vừa bán khắp thành phố. Người đàn ông mặt mũi tím ngắt đứng
giữa
vòng người là chú Phúc bố thằng Phi con Hạnh mới phục viên về. Có một
sự im
lặng nặng nề từ đám đông dâng lên, khiến cô gái nhãng hẳn cái mùi nặng
nề bao
phủ không gian
- Không
biết - Ông kia kìa, trước là công
nhân nguội, đi B trong đoàn cán bộ công nhân nhập ngũ đầu tiên ở nhà
máy đấy.
Cả đoàn còn có bốn người. Chú ấy bặt tin suốt từ 72, sau 75 cả năm trời
mới
thấy ra. Chính trị viên đại đội tiểu đoàn gì đấy. Chạy vào lấy cho
người ta
kính trên bàn với. Còn những ai nữa kìa.
- Ông ấy cầm
súng. Một bà đang quỳ dưới chân. Bố Ngân cũng vừa tới kìa. Ai da. Có vẻ
kịch
tính đấy.
Không
giống những lần cãi nhau điển hình của
khu tập thể. Chỉ thấy người từ các phòng túa ra. Và im lặng.
- Im nào.
Không cần Phan bình loạn. Thôi đưa
luôn kính Phan đây. Ôi kìa ... cô Thi ...
Thoắt cái
Ngân đã hiểu ra sự thể. Chỉ không hiểu làm sao đến giờ chuyện ấy lại
bùng ra,
sau khi chú Phúc đã trở về đến cả năm trời và cả năm trời, sau bao
nhiêu những
chầu chực phỏng chừng của hàng xóm láng giềng, hai nhà ấy vẫn thản
nhiên sống,
những người đàn bà vẫn ra đụng vào chạm ở bể nước, những người đàn ông
vẫn đứng
bàn chuyện thời sự với những người đàn ông khác. Họ không nói với nhau,
hờ
hững, dĩ nhiên rồi.
Nhưng
họ vẫn là cái bếp lò không lụn lửa.
Người
đàn bà đang quỳ dưới chân người đàn
ông nói gì nhỉ? Trách móc vợ anh ta đã đầu mày cuối mắt và hơn thế nữa
với
chồng mình ư? Xin tha tội cho chồng mình ư? Hay phân trần kể khổ. Chị
ta vừa
đứng dậy, ôm vai ba đứa bé kéo lại gần mình, mặt mũi ba mẹ con nhợt
nhạt.
-
Anh Phúc! Tôi lạy anh chẳng phải vì tôi
có lỗi. Nhà tôi không dám có mặt ở đây và tôi xin lạy giùm anh ấy để tạ
tội với
anh. Tôi đã nghĩ... suốt bao năm qua tôi đã tưởng anh chết rồi. Tôi
không xin
anh cái điều không ai làm nổi. Tôi không xin anh không căm hận. Nhưng
bây
giờ... Căm hận ai? Tôi và anh? Căm hận ai? Anh đã trở về và anh còn các
cháu.
Tôi cũng còn các cháu.
Bao giờ cũng
thế, hễ khu tập thể có chuyện gì là người ta lại thấy cái bóng gầy gầy
lặng lẽ
của ông Thản. Ông nhẹ nhàng xin lỗi xin lỗi những
người đang háo hức chờ xem vở bi kịch tiếp
diễn, tiến sát tới gần
người đàn ông.
- Anh Phúc
à, cất súng đi anh. Sung sướng
chi cái chuyện phải mang súng về nhà. Cái chính là anh còn sống, còn
các cháu
phải chăm lo. Anh để cho chị Thi phải năn nỉ anh thế được sao? Chị ấy
đâu phải
người làm nên tội. Chị ấy nhà anh cũng không phải là người có tội.
Không ai!
Không ai biết vì sao người đàn ông
điềm đạm đó đột nhiên nói
to đến thế. Giọng Nam
bộ hiền hậu vỡ ra trong vòm họng của ông, làm im bặt những tiếng can
ngăn đầy
khích động và cả những tiếng cười vô tâm đang nổi nổi chìm chìm xung
quanh. Có
một người đàn bà suốt từ lúc ồn ào vẫn đứng sau lưng người đàn ông cầm
súng,
mặt mũi cứng lại trong dáng vẻ của người bị xúc phạm. Chị ta thoắt rùng
mình.
Có cái gì vẫn giữ cho chị ta vẻ kiêu hãnh bấy lâu nay đột nhiên nhão
ra, tan
chảy. Chị ta, và tất cả những người đứng đây đều biết tấn bi kịch này
đã bắt
đầu một cách hài hước như thế nào.
Một ngày là
quen với thành công
Một đời là
quen với thất bại.
*
Bốn mốt tuổi
không còn cơ hội thành công sớm
Nhưng vẫn còn
cơ hội thành công muộn.
Dĩ nhiên
*
Không phải
bao nhiêu nước chảy
Mà là bao
nhiêu cầu
bắc ngang dòng nước cuộc đời
Đời sang bước
ngoặt
Sau mỗi chiếc
cầu
Đi ngược thời
gian
Gặp niềm hối
tiếc
Đi xuôi dòng
nước
Gặp nỗi hoài
nghi
Ta tìm một
bàn tay cảm thông vẫy gọi
22.
Nửa đêm, khu
tập thể đã đầy người trở lại sau hiệp định Paris lịm đi trong giấc ngủ.
Tiếng
hét bắt trộm đột ngột và chói lói, giật mọi người ra khỏi giường. Người
lớn trẻ
con nháo nhào chạy về phía căn phòng sáng rực cuối hành lang tầng một.
Nhà cô
Thủy cô Thi. Đấy chính là cái câu lạc bộ đã được nhà máy cho thợ tới
ngăn ra
bằng gỗ dán. Bức tường giả chỉ cao quá đầu người là con đường phiêu lưu
đầy thú
vị cho trẻ cả hai nhà những lúc người lớn đi vắng. Ngân nhớ những ngày
tháng vừa
qua bom đạn ấy bình an lắm. Nhà nhà đi đâu gửi khóa cho nhau. Có ra chợ
xuống
sân cũng chỉ móc hờ cái chốt. Ngày nóng nực quá còn rải chiếu nằm sàn,
cửa
phòng mở thông thống, cánh đàn ông tụ bên cái bàn mọt làm chén nước chè
mậu
dịch, nói những chuyện vợ con vẫn kêu là trời ơi đất hỡi, còn đàn bà
con trẻ
nằm ngồi ngổn ngang nói chuyện với qua nhà nhau cho đến khi mỏi mắt mỏi
mồm ngủ
lịm đi. Ai dám vào ăn trộm. Mà có gì để trộm trong cái thời buổi gieo
neo này.
Không ai
dám tin vào mắt mình. Cô Thủy, áo
hở nách cắt lại từ cái quần lụa nát xốc xa xốc xếch, cầm trong tay một
cái quần
đùi đàn ông vải phin Nam Định nhàu nhĩ trông chẳng ra màu gì. Lập cập
đứng bên
cái giường rẻ quạt của mấy mẹ con là chú Vinh bố thằng Quyết thằng
Chiến, là
ông hàng xóm sát vách nhà cô Thủy. Cái áo may ô trễ trên đôi vai so
rụt, đôi
chân vốn đã hơi cong trong tư thế này càng cong khoẻ, và trên hai cái
cẳng
chân, cao, cao hơn nữa, một túm thịt, đen đen xám xám trông chẳng ra
hình thù
gì, lủng lẳng. Cơ bụng người đàn ông giật giật.
- Bà con
nhìn xem có khốn nạn không cơ chứ.
Vợ nó còn nằm ôm con dại bên kia. Thế mà nó dám mò sang đây lúc đêm
hôm. Này
thằng đểu kia! Chồng tao đi chiến trường sống chết bao năm không phải
là để cho
cái thứ như mày ở nhà làm loạn nhé! Để
tao gọi cả vợ con mày sang xem cái mặt mày luôn thể nhé!
Thằng Phi con
đầu lòng của cô Thủy gườm gườm nhìn mẹ. Bà ngoại nó ngồi, im lặng, như
không
nghe không thấy, tay vịn thành giường run lật bật. Lũ trẻ con hàng xóm
mới thức
dậy đã tỉnh như sáo sậu, rú lên cười từng chập, chỉ chỉ trỏ trỏ. Hàng
xóm
chuyển từ trạng thái kích động này sang trạng thái kích động khác. Thật
chẳng
mấy khi được xem kịch không yêu cầu như thế này:
- Ôi anh
Thản. Vâng vâng mời anh vào giải quyết ạ. Vụ này là phải có Bao Công
đấy anh ạ.
Chị Thi đâu vẫn chưa ra nhận người nhỉ? Ai lại để người ta bắt chồng
cởi truồng
thế kia. May mà hôm nay trời mát...
Tiếng
đỏng đảnh. Tiếng ồ ề. Bố quay lại
mấy mẹ con Ngân:
- Em bảo mấy
đứa về đi ngủ tiếp đi. Anh ở lại vài ba phút với ông Vinh rồi cũng về
ngay
thôi. Thật cái cô Thủy làm chuyện này chẳng ra làm sao cả.
*.
Khuya lắm bố
mới về. Ngân vẫn chưa ngủ lại. Con bé nằm im lặng nhìn ra ngoài khung
cửa. Đêm
trong và mịn quá. Ngàn ngàn sao run rất nhẹ trên nền trời đen thẫm.
Ngôi sao
nào của riêng nó, đêm nay con bé không muốn tìm. Câu chuyện vừa xảy ra,
dáng bà
ngoại anh em thằng Phi im lìm hóa đá, mắt thằng Phi gườm gườm, vẻ nanh
nọc của
cô Thủy, cái bụng lép phập phà phập phù và túm thịt xấu xí lòng thòng
giữa hai
bẹn của chồng cô Thi làm con bé vừa tò mò vừa kinh kinh. Nó sẽ sống lại
ấn
tượng ấy giữa thời con gái, sẽ bực tức vì điều ấy ám ảnh một đời con
gái của
mình, làm hao hụt ở mình khả năng mù quáng trước những tiếng gọi giống
loài.
Chính vì thế mà Ngân đã tự dưng nổi cáu khi Phan tò mò muốn biết nguồn
cơn bi
hài kịch đang diễn ra dưới sân. Có thể giải thích được chăng, rằng
người đàn
ông vừa ở đâu lọt tọt chui vào giữa vòng người, quỳ sụp xuống vái như
tế sao
ông hàng xóm súng lục cầm tay đằng đằng sát khí, phải, chính người đàn
ông còm
cõi đó đã một thời là dũng sĩ của cả vợ mình lẫn bà hàng xóm, và của
những bà
những cô nào nữa có ma biết... những đêm thời chiến tranh. Có thể vừa
cười vừa
kể cho Phan nghe cái bà mặt mũi sưng sỉa đứng sau lưng ông chồng cựu
chiến
binh, đúng vẻ quả phụ quyết tâm bảo vệ gương trinh liệt kia đã sản xuất
bằng
chứng tiết hạnh của mình cho ông chồng vừa có tin trở lại bằng cách hi
sinh
người tình đêm đêm của mình, là cái người đàn ông đang so vai rụt cổ
lạy sống vợ
chồng bà. Ông ta làm sao có thể ngờ cái đêm lẽ ra phải rất nồng nàn với
người
đàn bà hàng xóm, với xen vượt tường, chui màn, ghì siết nhau đến tưởng
phải rú
phải gào mà vẫn phải cố kìm những tiếng hổn hển bên tai bà mẹ, người vợ
và
thằng bé con người tình đang thức, đang rình, đang im lặng... cuối cùng
lại
thành ra thế. Tiếng thét có trộm bất ngờ
từ người tình của ông ta, vòng tay độc địa ghì cứng trong khi ông ta
chỉ còn
độc cái may ô ba lỗ rách trên người giữa tiếng chân rầm rập chạy tới sẽ
là căn
nguyên bệnh liệt dương từ bấy đến giờ của ông, là căn nguyên nỗi đau
không có
ngày ngưng nghỉ của vợ ông. Ông chỉ không biết rằng người đàn bà, đạo
diễn,
diễn viên màn bi hài kịch cũng mắc bệnh lãnh cảm trước chồng từ đó. Dù
thế nào
thì bà ta cũng không thể đánh thức nổi mình để bù đắp cho người chồng
bấy lâu
đã mỏi mòn vì gian khổ, vì cách xa và thương nhớ. Dù thế nào bà ta cũng
không
quên những đêm nhàu nhĩ, bừng bừng, mê muội trong sự vụng trộm công
khai. Và,
dẫu thế, trong hai căn phòng tập thể sát nhau, chỉ có điều bức tường
bằng gỗ
dán năm xưa nay đã được xây con kiến tử tế, bốn người đàn ông đàn bà
vẫn sống
lặng lẽ suốt cả năm trời, cho tới ngày hôm ấy, ngày mà ấn tượng về nó
với Ngân
bao giờ cũng sắc nét hơn bởi cái mùi nhà xí thiếu nước không biết bay
đâu.
*.
- Anh đưa
súng tôi cầm. Thế... Thế. Bà con mình ai việc nấy đi. Có chuyện gì còn
phải nói
thì mình ngồi lại với nhau. Hay là mời các anh các chị lên nhà máy. Hay
là qua
nhà tôi. Anh Vinh đứng dậy đi anh. Chuyện người lớn anh Phúc anh Vinh
à. Chẳng
nên để bầy trẻ chịu khổ nhục theo mình mãi. Để làm gì.
Tiếng ông
Thản. Dứt khoát và mệt mỏi. Vòng
người giãn dần. Rồi bất chợt sững lại. Từ cánh cửa sau lưng cô Thủy chú
Phúc,
bà mẹ cô Thủy bước ra, tay xách cái đãy mây lồng phồng quần áo, trên
chặn cơi
trầu. Bà cụ chậm chạp đến bên người con rể:
- Tôi xin
anh, anh Phúc. Mẹ xin con, con ơi.
Bỏ quá cho mẹ không giữ gìn được gia đình con cho tới lúc con về. Con
sống về
được đến đây, gìờ phải sống tiếp con ơi. Thằng Phi bỏ nhà đi từ bấy đến
giờ,
con đi tìm nó về cho mẹ. Nó vẫn vật vờ ở Cửa Nam với ở ngoài ga đấy.
Mang nó về
kiếm việc làm cho nó, cho hết cái cảnh bố mẹ con cái còn sống mà như
chết, mà
không dám nhìn mặt nhau... Mẹ xin anh, anh Phúc... Thủy! Mày còn định
giở quẻ
đến bao giờ. Mày có qùy xuống mà lạy chồng mày hay không? Hay để nó
biền biệt
bao năm chiến trường giờ lại vì mày mà lại phải biền biệt vì tù tội. Ối
con ơi
là con ơi. Đồ voi giày. Tao đâu có ngờ đẻ ra mày cán răng nuôi mày mà
rồi có
ngày phải chờ người băm vằm mày ra như thế này.
Bà cụ sụm
xuống. Người con rể ôm lấy vai bà
mẹ vợ, ứa nước mắt. Cái đãy mây rơi khỏi tay bà cụ, cơi trầu tung toé.
Chú
Vinh, cô Thi, cô Thủy đứng như trời trồng. Cô Thi ngẩng mặt nhìn trời,
chan hòa
nước mắt. Giữa cô và bầu trời xanh rất xanh kia vẫn là bầu không khí ô
nhiễm
khai thối ù đầu. Bên Ngân là Phan: 'Cái gì thế Ngân. Cái gì mà có vẻ
đầy kịch
tính thế? Giờ thì ...nhìn kìa, nhìn bà cụ với ông kia kìa, giống không,
bức ảnh
chụp ở bên bờ Thạch Hãn hồi bảy hai ấy, tù binh và hòa bình. Giống
không?...'
Người con
gái vùng vằng. Mắt thiếu kính nhìn gì cũng thấy như gần lại làm cô bướt
hụt,
suýt ngã khi từ ban công quay vào phòng. Cău con trai theo vào, cười
cười.
-
Không muốn kể thì thôi chứ. May mà không
ngã. Phan có biết cũng không dỗ đâu.
-
Làm như chúa lắm đấy. Nghe thì biết chứ
còn hỏi cái gì.
-
Ừ, nghe thì biết.
Phan trở lại
nghiêm chỉnh bất ngờ. Cái nhìn của Phan, Ngân muốn đọc ra ở đó một nét
buồn
buồn, và màu hoa thạch thảo tím như là sắp phai bạc cả, và cả cái mùi
khai thối
kinh người cứ lẩn quất khắp nơi mãi mãi còn lẩn quất trong ý nghĩ. Thế
nên dù
có vẻ dửng dưng, người đàn bà chợt nhận ra mình muốn biết về số phận
gia đình
hàng xóm cũ:
- Nhà ông bà
bán đất cho Phan ấy, sau khi Phan sang Nga học ít ngày thì cũng đi.
Ngân cũng
không biết đi đâu. Giờ có đất mà bán thì chắc cũng khá lên rồi.
-
Khá cực ấy chứ. Nếu vụ kinh doanh nhà
thổ này thành. Nhưng nhìn qua cũng biết là trước đến nay sống chật vật.
Ông chủ
nhà ngày xưa trông oai thế mà nay lọm cọm rồi. Bà vợ thì... chả ai ngờ
một bà
lão lẩn thẩn thế mà có thời cũng tung hoành đến khiếp - Người đàn ông
mỉm cười
- Phan hiểu đúng không Ngân.
-
Đúng! Thì sao?
-
Chẳng có gì. Nhưng mà đôi khi Phan cứ ngạc
nhiên vì hiện tại của một người nào đó, ngay của Phan chẳng hạn. Rồi
Phan lại
nghĩ thế cũng đúng. Trời cho mỗi người một cuộc đời để sống. Tiêu trước
thì
khỏi tiêu sau. Cứ ai sống gấp quá, sống hết những cảm giác lẽ ra phải
để dành
cho cả đời mình thì y như rằng bão nổi lên rồi là chết đuối, là lẩm
cẩm, là đủ
thứ. Nếu mình xét bằng con mắt bị xã hội hóa của mình.
Chồng Ngân
hỏi, giọng bất chợt trầm khác
thường:
- Của
mình? Anh Phan tự nghĩ vậy ư?
- Tôi đã từng mong như thế anh ạ.
Vẻ
chăm chú, âm trầm buồn bã khác lạ trong giọng nói của chồng làm Ngân
bất ngờ.
Cũng bất ngờ là lời đáp thẳng thừng của Phan, dù lâu lắm rồi Ngân vẫn
tự biết
là hình như thế.
- Còn bây
giờ?
- Ngân!
Phan bật ra, riết róng. Câu trả lời
của Phan, như một tiếng
gọi đầy trách móc. Phan gọi gì? Chồng Ngân nhìn hai người, giấu một vẻ
băn
khoăn kín đáo, cầm chiếc li của mình bước tới bàn mấy ông bạn đang bàn
cãi gì
đó om sòm.
Ilmenau
Bây
giờ đã đến lúc viết về những bờ lau bên
hồ thời xa vắng
Sao
quá bơ vơ trước ước hẹn đầu đời
Bây
giờ đã đến lúc viết rằng khi ấy
máu trong người chậm lại lúc đôi nọ hôn nhau
chiều,
tuyết, mưa.
Bờ
lau mọc vào xuân
Đứa
bạn cùng đường nay đã chết
Vẫn
biết còn sống còn cơ hội bất tử
Vẫn
muốn dang tay vẫy lối bạn về
Thời
xa vắng không giữ được em
Khao
khát quá nhiều đời người quá hẹp
Trở lại
Hai mươi năm
sau
Hồ
Những bờ lau
Dập dờ
Xanh
Lửa
23.
Tiếng gọi
trách móc của người bạn cũ, vẻ im lặng của chồng đột nhiên cho người
đàn bà
hiểu ra mình cô độc biết chừng nào, ích kỉ biết chừng nào. Ích kỉ,
trong sự cẩn
trọng trước mọi số phận khác. Ích kỉ, trong thái độ tự tin và đầy trách
nhiệm,
như một công chức, một người vợ, một người mẹ. Từng ngày qua đi là từng
ngày
người đàn bà trẻ con đánh đắm mình vào một thế giới riêng, tự xây đắp
cho mình,
tự hào một cách tuyệt vọng về nó. Tại sao, Ngân tự hỏi, tại sao mình
không một
lần nhìn thẳng vào mắt mọi người, nói với họ rằng mình nghĩ gì về họ,
mình yêu
họ biết bao và mình khao khát điều gì. Tại sao Ngân không bao giờ hỏi
họ nghĩ
gì về mình, chờ mong điều gì ở mình. Hỏi, như một cách thế yêu thương
cảm thông
với nhau và với chính mình. Tại sao không? Không! Với chồng. Không! Với
bạn.
Như ít nhất là Vĩnh, Việt, Phan. Tại sao Ngân có thể nói với mọi người
về những
ý nghĩ quái dị nhất nảy ra trong đầu mình, hay những cảm giác không dễ
gì thông
cảm, mà một điều giản dị như thế thì không. Không bao giờ.