*





 
 

Lê Minh Hà 

Gió tự thời khuất mặt
3

 
 

         18.

 

         - Vậy thì Ngân muốn gì. Cứ cho là hai ông toái ơ dại dột của Ngân thiệt đi vì anh hùng dũng cảm đến thế mà cái tên cũng chả được nhớ. Nhưng không thế thì ai gọi các cụ ấy là nhân dân nữa? Và có thể gọi họ là gì? Mà giả dụ các cụ ấy được nhắc tên nhắc tuổi vì chiến tích giữ được đôi bồ cho kháng chiến, rồi nhờ thế mà hôm nay thoát được cái làng nghèo đó, hoặc bệ vệ nghênh ngang hoặc lếch thếch lủi thủi đi giữa phố phường thì hỏi liệu ra sao? Hay bất quá lại thêm một kiểu Xuân tóc đỏ?

 

*.

 

         Không phải là Việt nói câu đấy. Không phải là Vĩnh. Không phải là chồng Ngân. Là Phan. Chỉ với Phan Ngân mới hay nói những chuyện tầm phơ như thế. Có lẽ vì hai đứa thường cùng đọc mọi cuốn sách rơi vào tay. Phan có một ông bác khác thường. Thời sôi nổi của ông đã qua rồi, lâu lắm rồi. Những nông nỗi đoạn trường hình như cũng trượt qua ông rồi. Giờ ông ngồi bên trong cái quầy bán sách báo cũ nhờ nhờ sáng, ngày ngày ngóng ra hè phố và chỉ quay lại với mình khi khuôn cửa bất chợt tối lại vì bóng một người khách rất biết tìm của tìm người ở đâu. Bố cũng đã có lần lục được ở quầy sách âm thầm đó 'Hà Nội ba mươi sáu phố phường', bản in từ năm 41, bằng giấy dó hẳn hoi, rẻ giật mình. Phan hay tha từ đó đủ thứ khó kiếm cho Ngân cùng đọc. Rồi cùng cãi vã...

 

         Hồi ấy dường như là hạnh phúc. Hồi ấy cả lũ vừa thi xong đại học, đang tấp tểnh làm người lớn bằng cách thay vì rủ nhau đi ăn chè đỗ đen Hàng Thùng hay chè thập cẩm Hàng Điếu thì lại mời nhau vào quán cà phê húp cái thứ nước đen sì đắng nghét hay pha chè đặc chát sít cổ rót cho nhau.

            Buổi chiều Ngân kể cho Phan nghe câu chuyện của bố sao mà nóng. Như sắp có áp thấp. Nắng ơi ơi. Đứng gió. Hầm hập. Bên kia đê, treo trên hàng tre là một dải mây trắng mong manh, im lìm, không thể nào bay đi nổi. Phan ngồi tựa lưng vào tường, nhìn ra khung cửa sổ, lặng lẽ. Ngân cũng lặng lẽ. Có cảm giác chỉ cần cựa nhẹ một cái thôi, chỉ cần thốt một lời rất nhỏ thôi là chút gì riêng tư lắm đang hồi hộp thành hình sẽ tiêu tan. Họ sẽ ngồi như thế ...

 

         ...Trời bất chợt gầm một cơn sấm cạn. Thinh không gió nổi tơi bời. Mây đen cuồn cuộn trôi về. Ngọn tre lúc nãy im lìm giờ lồng lộn, bị gió đánh rạp xuống vẫn còn cố quất lên mây. Dải mây trắng tướp ra, bị những vòm mây đen nuốt chửng. Mặt trời tuột xuống đâu đó sau những vầng mây ấy, sáng hắt lên viền lấy những quầng mây đen một đường trắng lóa, sắc lẻm. Một sắc vàng âm u nửa như phả từ trời xuống, nửa dâng từ mặt đất lên, dập dềnh. Cát thốc từ bờ đê vào phòng qua khung cửa. Phan đứng dậy, hỏi trống không:

         - Đóng lại nhé? Ngân này, Ngân biết không, từ bé Phan cứ hay mơ mãi một cơn mơ, chả ra lành chả ra dữ, và thực ra thì chả có gì. Vậy mà nó làm Phan sợ  khủng khiếp. Trong mơ Phan thấy trời đất như thế này đây, còn mình ngồi trên một cái xe đạp cao lềnh khềnh, không với được chân xuống đất. Cái xe cứ 1ao vùn vụt vùn vụt. Không ai giúp Phan dừng cái xe điên rồ đó lại bởi vì... Ngân biết không? Không có một ai. Không một ai trên con đường Phan qua. Không ai có thể nghe thấy Phan. Không một ai. Gió cứ réo bên tai, quạt thốc vào mặt đủ thứ. Lần nào Phan cũng phải sặc sụa mãi mới vùng ra khỏi được giấc mơ ngu ngốc ấy...

         Phan quay nhìn, bắt gặp trong bóng tối âm u vàng của căn phòng vừa khép cửa một nét long lanh dò hỏi:

         - Không hiểu sao, từ hôm thi đại học đến giờ giấc mơ ấy không thấy quay lại nữa. Chứ hồi ôn thi thì...

 

*.

 

         Giả dụ không có buổi chiều ấy, không biết tới giấc mơ kì cục đó của Phan, chắc sau này Ngân cũng khó bình tâm khi nhớ về người bạn cũ, hay khi gặp lại. Giọng Phan lúc đó làm cho Ngân cứ mãi tin rằng chỉ một mình mình biết điều ấy, chỉ một mình Ngân biết nỗi đau đớn vì bất lực của Phan, chỉ một mình Ngân hiểu đằng sau những thành đạt hanh thông của Phan có một nỗi niềm còn lại mãi. Khi Phan đi học xa, rồi ngưng viết thư cho Ngân, Ngân đã bao nhiêu lần tự hỏi. Buồn? Rất! Nhưng hối tiếc? Không! Cũng bởi vì Ngân biết Phan đã phải gồng mình lên như thế nào để thoát ra khỏi giấc mơ ngớ ngẩn mà hãi hùng kia. Cũng bởi vì Ngân biết mãi mãi mình yêu thương người bạn ấy, mãi mãi mình cần cho riêng mình một thương nhớ âm thầm.

 

Người đàn bà trẻ con cũng hay mơ. Mơ bay. Rất dễ dàng. Giang hai tay ra, và tự dưng như không còn chân nữa. Cứ thế trong mơ Ngân bay qua những dòng sông xanh, những bờ đê mượt cỏ, những vườn cây không bao giờ thấy ngoài đời, bay qua những mái phố nâu đen mấp mênh sóng gợn. Và đâu đó bên dưới là những tiếng gọi vói lên kinh ngạc và vui sướng của bạn bè. Giấc mơ bay kì diệu đi kèm với chứng mộng du kì quặc. Biết bao lần trong đêm con bé con đã ngồi dậy, mở cửa, ra đường. Lần đầu tiên con bé biết mình đã đi đâu trong khuya khoắt cũng sẽ là lần cuối cùng giấc mơ bay đến với nó. Người cha tìm thấy con gái đứng huyên thuyên với anh công an gác cổng sứ quán Thụy Điển cũ ở góc đường Lê Phụng Hiểu Lý Thái Tổ, đã đánh thức con bé dậy trước sự kinh ngạc của chú công an trẻ. Sẽ không bao giờ đứa bé quên cảm giác của mình khi đó, khi ngước nhìn nhà Ngân hàng rực sáng bởi ánh đèn pha chiếu ngược lên ảnh Bác, khi nhìn hồ Gươm rạn thành bao nhiêu miếng óng ánh tít sau cây, khi đi ngang cái cửa quay của khách sạn Metropol huyền ảo ánh đèn màu xanh lá. Giấc mơ bay mãi mãi thành một đeo đẳng, cũng như ấn tượng về một Hà Nội nửa đêm nồng nàn hương mùa kia. Ngày đang sống dường như không có thật. Có thật: là nửa đêm Hà Nội hoang tưởng, là hương sen mẹ cho tiền mua bao mùa hạ cũ dù bông sen bằng nửa giá mớ rau bữa cơm chiều và hoàn toàn xa xỉ trong những ngày tháng đó. Là mùi than đá khen khét thơm thơm tỏa ra từ những tổ phục vụ nước sôi năm xu một phích ở bao nhiêu đầu đường góc phố. Còn gì nữa? Vị kem cốc toàn đá cục mua từ mấy ông đẩy cái xe bằng gỗ, ăn trong tiếng hát ngập tràn tin tưởng. '...Ta đi trên đường Hà Nội rực rỡ chiến công... đường mênh mang Ba Đình lịch sử đường tấp nập Hoàn Kiếm Đồng Xuân ... Nghe náo nức trong lòng...' Chao ôi, những giọng nữ cao thiết tha phơi phới đã làm cho thời buổi ấy sao mà nhẹ nhõm.

 

*.

 

         Mà cũng nhẹ nhõm thật. Sáng ra nhà nhà người lớn đi làm, trẻ con chơi quanh trong sân khu tập thể, chán thì kéo nhau ra ngõ, túm tụm dưới gốc đa già, rồi lại rồng rắn tha nhau vào mấy cái cửa hàng bách hóa dí mũi vào tủ kính bày toàn những xô chậu làm từ nhựa tái sinh, búp bê nhựa trần truồng toe toét một nụ cười vô cảm, dép lê đàn bà có hình cây dừa to thù lù trên hai cái quai ngang không màu xanh lá cây thì y như rằng màu tím huế nằm kề xà phòng thơm hương lí hương chanh. Nhòm chán chê thì ngóng ra phố, thấy đông đông xe đạp là ù té chạy về vác cặp lồng ra nhà ăn tập thể xếp hàng, chờ bố mẹ. Sau này thỉnh thoảng Ngân bỗng dưng thèm ăn lại một bữa cơm như thế, trong cái mùi gây gây của bàn ăn bằng đá dù mấy bác cấp dưỡng hôm nào cũng cọ rửa kĩ càng, với canh bí đỏ xào tỏi, đĩa lòng lợn, hay bát sốt vang, hay miếng thịt kho tàu. Cái mùi nhà ăn tập thể đặc trưng đến nỗi bữa cơm ở nhà nấu kiểu gì cũng không bao giờ có được. Và lại còn cái vị. Hay là Ngân tưởng tượng? Nhưng quả là ngon thật. Trẻ con vác bát chạy quanh bàn nhà nhau. Hết bữa thì lại len lách qua chân người lớn ngồi râm ran nói chuyện hóng gió trên cầu thang thênh thang dẫn lên hội trường ngay trên tầng hai, hay tụ bạ chơi trốn tìm trong những căn hầm chưa lấp. Mọi sự sẽ chỉ khác đi khi ngoài suất cơm thông thường nhà ăn tập thể bắt đầu bán thêm những món ăn ngon lành khác và không phải nhà nào cũng mua được. Bầy trẻ bê bát nhìn qua bàn nhau dò xét một cách đầy ý tứ. Từ bao giờ, trong chúng thức dậy tinh thần tự trọng tràn đầy bản sắc dân tộc trước sự quyến rũ của miếng ăn. Đấy chính là lúc nhà ăn tập thể tự khai tử, sẽ bị đem chia thành nhiều căn phòng và căn lớn nhất được bưng bít kĩ lưỡng thành nhà trẻ, nơi bọn nhóc con sáng sáng mếu máo bước vào. Sau này, mỗi khi đi qua liếc ngang mấy cô mẫu giáo trấn ngoài cửa lúc nào cũng thấy hăm hở xiên ngang xiên dọc những cái kim đan, và đằng sau các cô, trong bóng tối mờ mờ luẩn quẩn mấy bóng trẻ con lủi thủi, người đàn bà trẻ con lại bất chợt thấy ngực cồn lên một làn hơi nóng. Ngỡ như chưa bao giờ có những ngày tháng vừa buồn bã vừa vô tự lự đó. Và gương mặt bè bạn tuổi thơ mấy chục năm rồi không gặp lại vẫn dễ dàng hình dung đến mức đáng ngờ.

 

*.

 

         Chiều giông có Phan, nghe Phan nói bao nhiêu chuyện, lúc buồn bã, lúc hằn học, lúc lại đầy vẻ giễu cợt cay đắng hết sức kì cục, sao mà Ngân muốn khóc. Hoài nhớ tuổi thơ ậm ực mãi làm đau cả ngực. 

            - Ngân cứ để ý mà xem, những chuyện thê thảm ấy đâu chỉ có ở trong sách. Cái phố nhà Phan bé bằng lỗ mũi mà cũng đủ thứ chuyện tầm phào. Mới hôm kia thôi, cả phố Phan cười một trận vỡ bụng vì ông già hàng xóm sát vách nhà Phan bị cô bồ trẻ vác chổi đuổi đánh. Lã Bố hí Điêu Thuyền. Lã Bố ngày trai trẻ cũng vào sinh ra tử khiếp lắm. Bị bà vợ ở nhà lung tung lang tang, về ở với nhau được đâu vài năm rồi bà ấy phải đi vì ông chồng ăn chơi bù những ngày gian khổ. Lũ con nó cũng chả buồn về thăm bố già. Ngân sẽ bảo đấy là gì? Đấy, ông bà nhân dân của Ngân đấy. Ông già ấy và cô bồ ấy rất có thể sẽ lại sống đẹp ở một hoàn cảnh khác, như trong chuyện của bố Ngân hay của Ngân vậy. Băn khoăn làm gì?

 

         Bởi không biết Phan nói vậy chính vì Phan đã băn khoăn rất nhiều hay thực ra Phan thật tâm muốn vợi đi tất cả những nỗi niềm đó ra khỏi lòng mình mà Ngân không thể nào quên buổi chiều đó và người bạn đó. Tầm phào thật ư? Bao nhiêu chuyện đời diễn ra quanh Ngân, chẳng đâu xa mà rất đỗi hàng xóm láng giềng, rất đỗi nhà mình. Có điều vào độ ấy, thì cũng giống như hồi đi xem cô Tam điên, Ngân và chúng bạn chỉ thấy đó là một cơ hội để cười, hoặc để hào hứng trong phút chốc. Thiếu đủ thứ, trong chiến tranh và sau chiến tranh, thiếu tất cả những gì khả dĩ làm nên một đời sống tinh thần đủ để cho bọn nhóc bây giờ hiểu nổi, nhưng các thứ gia vị tinh thần hồi đó có lúc sao mà nhiều. Và người ta tiêu hóa được tất, với một sự say mê khùng khùng điên điên.

 

*.

 

         Cái món gia vị kích thích răng lưỡi trong những bữa ăn đạm bạc được ưa chuộng nhất bao giờ cũng là những chuyện nhà này chỉ bằng lòng mặt với nhà kia; chú nọ cô kia hình như phải lòng nhau mà chưa thấy động tĩnh báo cáo báo chồn gì với công đoàn và cấp ủy; nhà máy xét lên lương; căng tin sắp phân phối xe đạp; công đoàn liên hệ được ở đâu đó vải ngoài tiêu chuẩn và săm lốp, họp bình bầu lao động tiên tiến cuối năm và tóm lại là những chuyện đại loại thế, vừa tầm phào vừa thiết thân. Nhưng có những chuyện chả thấy ai bàn bỗng đột ngột phòi ra, làm tất cả ngơ ngác, rồi sau đó là sượng sùng. Sau này, lớn lên, chạm mặt hàng ngày những người từng có mặt trong những câu chuyện ấy, nhìn họ sống bình thản bên cạnh nhau, nghe họ cùng góp lời trong bao chuyện chung của khu tập thể, Ngân cứ phân vân tự hỏi mọi người đã quên hết rồi chăng hay vẫn đang đóng tiếp vở hài kịch cũ.

 

*.

 

          Con bé Hằng An có lần khoe khoang với Ngân rằng cũng biết bay. Dĩ nhiên là bay trong mê. Có điều nó ngủ mê hết sức kì cục. Loay hoay cong hai bàn tay để vo cho viên bánh trôi thật tròn, con bé mắt tròn mắt dẹt:

         - Em cứ bay vòng vòng trên sân thượng nhé. Càng lên cao càng mát. Mát cứ lạnh đi. Trời cứ như mâm thạch đen ấy, phẳng lì. Em lên cao bao nhiêu thì trời lại lùi xa tít bấy nhiêu. Còn sao thì lại như gần lại, cũng bay. Giống như đóm đóm bên bờ đê ấy, nhưng mà không lập lòe lập lòe. Cứ lóng la lóng lánh. Chị Ngân vớt đi. Vớt đi chị. Mẹ em bảo bánh trôi ba chìm bảy nổi là chín đấy. Em kể cho mẹ em nghe em bay, mẹ em cứ mắng dở người. Chị Ngân biết không, từ trên cao em nhìn thấy bao nhiêu người chui vào chăn của nhau, hay lắm. Cô Thủy chui vào chăn chú Toán này. Chú Bình chui vào chăn cô Vượng này. Ai cũng ngủ say. Chỉ có mỗi chị Phương Linh đạp cho người chui vào chăn chị ấy một cái đau điếng. Thế là em tỉnh. Hoá ra chính em bị chị ấy đạp. Chị Ngân ở đây ăn với em hay là bê một đĩa về?

          - Con bé này! Em mê với mẩn cái gì mà kinh hồn thế. Sao lại có chuyện chui vào chăn nhau. Mày cứ huyên thuyên bát sát thế mẹ mắng cho là phải.

         Trấn áp bé Hằng An, song cô gái không trấn áp nổi những ý nghĩ bất chợt tới vì câu chuyện kì khôi của nó. Cô gái biết đó là sự thật và những sự thật kiểu như thế luôn làm cô hoang mang...

 

 

 

Michelangelo

Đức chúa trời vung tay giữa đám người trần trụi

Nghìn linh hồn

Triệu nỗi đau

 

Có ai của một ngày sau

Giang tay giữa lòng người quả đất

 

 

 

 19.

 

         Cái sân thượng thênh thang của khu nhà tập thể ba tầng mà Ngân sống có thời là nơi trẻ con bọn Ngân tụ bạ. Vui lắm. Những ngày còn chưa sơ tán... Con gái con trai cả lũ chạy rầm rập trên cầu thang dẫn lên đó, nói cười í ới. Từ trên sân thượng, phóng tầm mắt về phía thành phố, sẽ thấy chóp Nhà hát lớn và lô nhô bao mái biệt thự cũ. Còn nếu ngoảnh về phía ô, đầu tiên là nhìn thấy vòm cây đa già, rồi bờ đê thoải xuống những làng nghèo xích lô ba gác, mùa hè đến có thể hít đầy lồng ngực mùi ổi chín từ những làng phía đó. Bên kia, sát chân đê, làng Thanh Nhàn vừa gần gũi vừa bí hiểm, nhìn từ trên xuống chỉ thấy những vòm cây ôm ấp lấy nhau, ủ kín tất cả trong bầu xanh rưng rưng nắng. Gió từ bờ tre bên ấy rào rạt thổi về. Ngân rất thích thỉnh thoảng trốn bố mẹ theo lũ trẻ cùng tầng chui rào tập thể sang đê. Bên đó có một người đàn bà, không thể nói là bà lão, song cũng không còn trẻ, thường ngồi dưới một cái mái gá tạm bợ vào chân tre, bán đủ thứ lặt vặt quyến rũ tì vị của cả lũ. Ốc vặn luộc vừa chín, hôi hổi thơm mùi lá bưởi, nhể bằng gai bưởi, chấm nước mắm gừng. Ốc đá thì bẻ bằng những đồng hai xu có cái lỗ tròn bé tí. Bà Bé luộc ốc trên cả tuyệt vời, nóng rẫy cả tay mà không con nào bị đứt ruột. Rồi lại còn lạc luộc, bánh tro, táo bột, chè lam, bỏng ngô, sấu chín. Những cuối xuân ngày ấy. Những vào thu ngày ấy. Ngân nhớ bà Bé là bởi bên mình bà lúc nào cũng có một cuốn truyện Kiều. Cứ ngơi tay đơm đơm bốc bốc cho bọn trẻ là bà lại cầm lấy cuốn sách cũ kĩ, kéo cái kính trễ xuống một chút và đọc. Ngày đi sơ tán trở về, lúc đã tụ họp lại được gần đủ mặt, bọn Ngân rủ nhau lên sân thượng. Cũng một chiều. Cả lũ ngơ ngác nhìn. Cái làng xưa chỉ thấy một màu xanh ấp iu là thế mà giờ quang hẳn vì bom. Đường ngõ tơ hơ, nhà cửa mới dựng lại khấp kha khấp khểnh. Sông Kim Ngưu chảy qua làng hẹp như một cái rãnh  nước đen đặc sịt trông chả khác gì con đỉa trâu đã chết.

         - Chả thấy bà Bé đâu chúng mày nhỉ? Bây giờ thì bà ấy cũng phải về mở lại quán rồi chứ nhỉ?

         Chả đứa nào buồn trả lời câu hỏi tầm phơ của con bé đang úp bụng lên lan can sân thượng sát bên Ngân. Ngân không biết chúng nó lúc ấy nghĩ gì. Cũng chả biết lúc ấy mình nghĩ gì. Chỉ có cảm giác rõ ràng rằng tất cả đang chia tay với một cái gì đó, vĩnh viễn. Mà sẽ là thế thật. Bởi vì cái làng bên đê sẽ không bao giờ xanh lại như cũ vì người ở đâu cứ dồn về, thành cả xóm liều bên bờ đê sát cái xó mẹ con bé Hằng An ở, đổ rác ra đấy, ỉa bậy ra đấy; rồi thành phố sẽ cho xây trên đất làng một khu nhà lắp ghép năm tầng rất lớn và một bệnh viện cấp quận khá là nổi tiếng vì đủ thứ chuyện tiêu cực. Lùm tre bên đê thẳng từ cửa sổ nhà Ngân nhìn ra vẫn còn, song quán bà Bé thì không bao giờ dựng lại. Không bao giờ Ngân thấy lại người đàn bà ấy nữa. Không biết bà có chồng con, có một mái nhà không? Không biết bà sống ra sao? Bà đi sơ tán rồi về tìm đường làm ăn sinh sống khác hay là đã chết trong trận bom đánh thẳng vào làng độ ấy? Thật lạ lùng là có những người có thể ở mãi trong trí nhớ đã thành một phần đời của mình mà mình tuyệt nhiên không biết gì về họ.

 

*.

 

         Thật ra thì hồi đó cũng không đứa nào bận tâm tự đặt ra những câu hỏi như thế. Chỉ nhớ là sau đó gần như chả mấy đứa còn rủ nhau lên sân thượng. Thỉnh thoảng lắm Ngân mới nghe lời mẹ sai mang mâm lạc mâm vừng hay ít tôm khô bò lên đó phơi. Vác theo cái chiếu và cuốn sách nằm trong chòi, nghe tiếng bọn nhóc con léo nhéo góc đằng kia sân thượng giữa cái nắng trưa nóng như rang, sao cứ thấy lòng vừa trống trải vừa xao xuyến.

 

          Đấy chính là hồi chị em Ngân thôi không theo bọn trẻ cắp chiếu cắp chăn lên sân thượng ngủ những khi mất điện. Ngủ gì đâu. Chạy rình rịch gần hết đêm hò hét trốn tìm. Cứ xông vào những chỗ người lớn ngồi uống chè là kín nhất. Mặt sân thượng lát đá vuông, giữ hơi nóng rất lâu, song gió thì không bị quẩn, cứ lồng lộng thổi như quạt hầu. Thật thú vị khi mặt và lưng mát rượi trong khi bàn chân trần và mông đít nóng cứ ran lên như ngồi trước đống rấm những mùa đông sơ tán. Người lớn thì cứ vừa nói chuyện với nhau vừa quay ra mắng trẻ con, rồi ấp tay vào cái chén quả hồng rất đặc trưng ngày đó mà hít hà cái vị nóng chát ngái của thứ chè ba hào mậu dịch bán không thèm phân phối.

 

         Đấy là lúc đầu đêm, người lớn có mắng thì rồi lại cười. Các anh chị trẻ trẻ vẫn phụ trách sinh hoạt hè có bị quấy rầy thì cũng còn biết giữ lưỡi trong mồm không áp dụng ngay chuyên chính với bọn nhóc, phòng lúc đi với nhau chúng nó biết được trả thù réo ê ê thì thẹn mặt. Nhưng khi đã vào khuya thì cả bọn cũng biết liệu thần hồn, đi nhẹ nói khẽ cho ngưòi lớn ngủ để sáng mai ra còn đi làm. Song cũng có những lúc vẫn mải chơi mà quên khuấy sự đời. Như ngày cuối tuần chẳng hạn. Chính trong một đêm như thế Ngân đã xô vào tốc cái vỏ chăn của chị Hoa hàng xóm tìm chỗ nấp. Rõ ràng vừa thấy chị sửa soạn chỗ nằm, vừa thấy chị tung cái vỏ chăn phủ lên mình tránh hơi sương. Mà sao lúc đó... Chị Hoa chồm dậy tát bốp vào mặt Ngân. Trong bóng sao mờ, con bé hốt hoảng thấy mắt chị rừng rực sáng, và rúm lại sau mông chị là một thân hình đàn ông trần truồng.

 

Dĩ nhiên là Ngân lủi một mạch, im thin thít. Dĩ nhiên là không có chuyện tổ an ninh dân phố đến lập biên bản. Hồi đó vừa ngừng bắn và chỉ thế đã đủ khác lắm những ngày trước đó. Chứ còn thời đánh phá thì quên đi. Chắc những chuyện như thế vẫn diễn ra hàng ngày đấy thôi, nhưng vô phúc mà bị phát hiện thì... Như là chuyện nhà mấy đứa bạn chơi với Ngân, thân thiết mà lạnh lẽo đến nỗi chả đứa nào bị chế với đứa nào. Chưa có lệnh triệt để sơ tán, nhưng trẻ con thì đã được lệnh của bố mẹ chơi gì cũng phải loanh quanh gần mấy cái hầm. Bố thằng Vũ thằng Thắng là bác Nhật, kĩ sư trên bộ hẳn hoi, tập kết ra bắc với cái chân tươi chân héo nên sau đó xung phong bao nhiêu lần mà vẫn không được đi B. Bác Nhật có vợ là bác Nguyệt. Bố bảo bác Nguyệt là con nhà thế giá lắm, dù chỉ là con vợ lẽ. Chả biết thế giá là như thế nào, song mẹ bác còn thấy mặc áo bông gấm dù đã mòn cũ, già rồi mà vẫn guốc cao và bước rất nhanh, tóc bao giờ cũng búi độn và khăn nhung choàng ơ hờ quanh vai, lại còn hút thuốc lá tự quấn dài ngoằng, và thoa son nữa. Bác Nguyệt không lạnh lẽo và khinh khỉnh như bà cụ, song quả bác không giống nhiều bà nhiều cô trong khu. Ra máy nước bác không bao giờ giành giật, thấy đông là lặng lẽ cắp chậu về chờ tới tận khuya vãn hẳn người mới ra giặt giũ. Người bác mỏng mà thẳng, ăn mặc thì giản dị y như mọi người, mà cũng vẫn không hẳn vậy. Vạt áo phin kia nhìn kĩ thế nào cũng lấp ló một nét thêu, cứ như là hoa tàn bay rồi đậu lại đó vậy. Quần lụa bất kể người ta mốt gấu to hay gấu nhỏ, bác Nguyệt mặc bao giờ cũng kín gót chân và là kĩ không để nhăn ở khuỷu. Bác khác tất cả mọi người, nói nhẹ cười cũng nhẹ. Mẹ hay nhờ bác cắt quần áo cho để tự khâu tay, có lần bảo bố: 'Em thân với chị Nguyệt thế mà trước chị ấy vẫn cứ phải giữ lời là làm sao nhỉ? Làm sao mà vui thế nào cũng không thấy chị ấy ăn nói tào lao, mình cũng đâm ra e dè'.

Lại có lần Ngân nghe mẹ hỏi bố:

- Anh có nghe ông Nhật mê một cô văn thư trên bộ không?  Lạ nhỉ, đàn ông sao mà dại. Chả biết cái cô kia thế naò. Nhưng mà em nghĩ khó qua mặt chị Nguyệt được. Chị ấy thật là người hiếm. Em mà như chị ấy chắc ba máu sáu cơn từ lâu rồi.

Bố cười:

- Khéo chỉ vì bà chị không biết ba máu sáu cơn như em, lúc nào cũng như trăng suông thế mà ông ấy đâm ra thế.

- 'Anh thì chỉ...' - Mẹ buông lửng rồi lại chúi đầu vào đống tem phiếu. Không biết mẹ nghĩ gì. Chỉ nhớ lúc chuyện nhà bọn thằng Vũ thằng Thắng bùng ra thì câu chuyện về bác Nguyệt lại trở về trong bữa cơm chiều nhà Ngân:

            - Nghe nói chị Nguyệt uất lắm, chị ấy báo cho công an với tự vệ đấy chứ. Có người bảo lúc đó chị ấy đòi đưa cả đôi ấy ra trụ sở khối phố để giải quyết.

            - Không phải đâu mẹ. Bác Nguyệt mãi mới gọi được về. Lúc công an đạp cửa vào con cũng có đó mà. Lúc báo động bọn con thấy công an tự vệ vác súng vây cửa sổ nhà thằng Thắng thằng Vũ. Con theo hai anh em nó lủi vào nhà đứng mãi đến tận lúc bác Nguyệt về. Thằng Thắng thằng Vũ sợ mẹ cứ kéo con ra. Mà con nghe thấy hết.

            - Giời ơi là giời. Báo động chúng mày không ở trong hầm còn vác xác đi đâu? Ai bảo con vào đó làm gì? Việc của người lớn trẻ con biết gì mà hóng hớt. Thế bác ấy bảo gì?

            - Bác Nguyệt bảo chú Phạm công an khối là sao lại phá cửa nhà bác ấy. Chồng bác ấy nghỉ ốm, đóng cửa nằm nhà cũng là thường, khách đến thăm cũng là thường. Bác ấy bảo chú Phạm kiểm tra xong giấy tờ khách rồi thì xin để bác ấy nói chuyện với khách của nhà bác ấy.

            - ?

            - Bác ấy bảo với cái cô gì ấy đẹp lắm là bác Nhật sẽ giải quyết ổn thoả mọi chuyện. Thế rồi bác ấy uống nước xong lại xách túi đi. Thế thôi.

 

            Bố mẹ nhìn nhau. Không ai biết câu chuyện sẽ tiếp diễn ra sao. Chẳng lẽ người ta có thể bình tâm như thế?

 

*.

 

            Không ai biết chiều ấy bác Nguyệt cơm nước đàng hoàng hơn bình thường. Người đàn bà đã

nhắn cậu em trai sống với bà mẹ đến đón hai thằng cháu, chuẩn bị cho chúng đi sơ tán với bà ngoại. Người đàn ông tập tễnh đi đi lại trong nhà, như một con thú bị dồn đuổi.

         - Cô bỏ ngay cái mặt bao dung đểu kia đi. Tôi có tội, phải, tôi là thằng có tội. Cô cứ nói cho hai thằng bé biết, cô cứ ra trước bàn dân thiên hạ chửi thằng Nhật này như thế còn tốt hơn là cô vác cái mặt chịu đựng tha thứ kia.

         - Mình bình tĩnh lại. Mình muốn em phải có vẻ mặt đâm lê hay sao? Mình biết rồi, em không làm được thế. Em sẽ không bao giờ nói thế, bây giờ, sau này. Em sẽ nói với các con rằng ba các con không có lỗi gì với bất kể ai.

         Người đàn ông hổn hển:

         - Em nói gì vậy. Đúng là anh có tội. Nếu họ ập vào muộn hơn một chút thôi thì em cũng sẽ không thể bênh vực anh đâu.

         - Ngay cả như thế mình cũng không có tội. Em không biết mình nghĩ thế nào, còn em, chỉ nghĩ đến chuyện căn nhà mình ở có thể bị lục soát vì những lí do không dính gì đến ai em đã đủ muốn chết ngạt. Bây giờ, cái làm em nghĩ ngợi là mọi sự phải tiếp diễn ra sao. Nếu mình không ở đây thì mình có thể thu xếp được chỗ nào không?

            Một khoảng ngừng đông cứng. Người đàn ông cúi gục đầu. Cái cẳng chân teo đầy lông lá rũ

rượi dưới gầm bàn. Người đàn bà thở dài:

         - Nếu không thì để em thưa chuyện với bà, em đưa bọn nhỏ về trên đó ở chung với bà và với cậu Việt. Đằng nào bà với chúng nó cũng phải đi sơ tán đến nơi rồi. Để rồi xem sao... Có điều mình sẽ khổ ở cơ quan mình đấy. Mà ở trong cái khu tập thể này sau chuyện này thì cũng chả sung sướng gì. Nhưng mà thôi, thời nào muốn làm gì mà chả phải trả giá. Cô ấy cũng phải trả giá nếu như cô ấy tính chuyện yêu thương mình.

            Có một khoảng ngừng ngột ngạt. Người đàn bà thở dốc:

- Cô ấy được cái là mạnh khoẻ hơn em, và lại yêu mình. Mình ạ, có thể là ngày mai nhà mình sẽ không ở chung với nhau, trước khi em đưa con đi hay mình đi, em muốn nói với mình... Em xin lỗi mình. Em đã không yêu mình ngay từ ngày đó, ngày ta quen nhau... Em cũng không biết nữa. Có lẽ là như thế. Sau khi ông ngoại bọn nhỏ mất, nhà xảy đàn tan nghé hết, em đã phải làm từ đứa ở làm đi trước khi có lại cơ hội bước chân vào trường học. Hồi đó em sợ những ngày đã sống qua, sợ lắm... Và em lấy mình... Trong khi mợ lại bảo em rằng bọn mình không thể nào hợp nhau... Mợ bảo đã sống qua cảnh ấy rồi thì không còn gì đáng sợ nữa. Em không vững vàng như mẹ. Mợ thì lúc nào cũng vậy... hồi bố còn sống, còn chưa bị tù, còn cảnh cả lẽ trong nhà... mà đến lúc bố bị thế, mợ vẫn cứ như không. Thôi thì vợ chồng không ở được với nhau, mình coi hai đứa con và lời xin lỗi của em làm  vốn...

 

*.

 

         Người đàn ông hực lên. Giọt nước mắt bất lực và đắng cay không thể nào lăn ra nổi, lúc ấy, và cả sau này, khi ông đã mất hết, mất đảng, mất quyền, mất luôn biên chế nhà nước, để rồi khi giải phóng thì lọ mọ bò về quê như một thằng dân gì cũng sợ mà gì cũng không sợ nữa, vì chả còn gì để mất. Ông sẽ chỉ khóc khi hai mươi mấy năm sau ra lại Hà Nội, ngồi đúng chỗ đó, nhìn người vợ cũ đã bị thời cuộc là phẳng mà vẫn bình thản và dịu dàng đến độ tưởng chừng bà có một thế giới khác để mà sống. Nhưng giây phút đó người đàn bà trẻ con không biết, cũng không biết sau buổi gặp lại người chồng không li dị mà xa cách suốt bao năm, bà Nguyệt đã qua đường, nước mắt chan hòa núp sau lưng cây đa già khấn cho lòng người đàn ông bình thản lại. Ngân cũng không biết ông Nhật chia tay lần ấy với vợ con cũng đứng dưới gốc đa, nhìn theo sợi khói ẻo lả tan đi truớc khi vươn được tới cái cành gần nhất. Ông cứ nhìn lên, lên mãi, nơi màu xanh trời đan dệt trong vòm lá lục, lòng thầm khấn nguyện cho người vợ già được bình an bên những đứa con thành đạt mà ông không có công nuôi dạy bao năm ròng. Cây đa với dân khu tập thể của Ngân là một chứng nhân mà họ lúc quên lúc nhớ tùy thời buổi, song bao giờ cũng tìm về.

 

 

 

            Mấy phương án cho một lưỡi dao

   

            Nó hình như đã nổi tiếng từ khi thi sĩ TD dùng để tự cứa cổ

1. Người ta đã vứt nó như bất kì một vật trở nên vô dụng hoặc nguy hại nào

2. Người ta đưa nó vào viện bảo tàng, chỗ dính máu là chỗ rỉ trước nhất

3. Người ta giữ nó sáng loáng

 

 

 

         20.  

 

         Người cha có lẽ là người cuối cùng của khối cư dân lâu năm trong khu tập thể đã tìm tới bóng đa già. Cứ như là phản ứng tự vệ, ông gần như chả bao giờ để mắt tới mùa đi qua vòm đa. Có những ngày cây đa trút lá, khoảng phố đột nhiên quang hẳn, sáng bừng, mới mẻ. Có những ngày vòm đa lướt mướt tối sẫm lại vì mưa dầm. Có những ngày công an phường làm cho mấy bà bị coi là mê tín đứng tim vì kế hoạch giải tỏa khói hương theo những quyết nghị nọ kia chả ai biết tới. Và lại có những ngày sâm sẩm tối ông băng qua đường tới ngồi vào một trong những cái ghế con của hàng chè chén dựng dưới gốc đa, gọi một chén chè, thêm cái kẹo dồi chó cho con gái út, và ngẫm nghĩ. Không có gì liên quan tới cây đa chạm được vào ý nghĩ của người cha, dường như là thế, nếu không có những lúc nổi cáu bất ngờ khi vợ con đùa rằng ông chạy một mạch từ cây đa Tân Trào về tới cây đa Nhà Bò này thì dừng. Sẽ đến ngày những đứa con của ông đi xa và chĩ mãi tới khi ấy người cha mới trở về nơi đó lia camera lưu giữ cho con vòm cây nhớ thương.

 

*.

 

         Giữa mấy mươi năm, có một lần ông đưa chân ông phó giám đốc cũ từ miền Nam ra thăm lại nhà máy và bà con khu tập thể tới tận gốc đa già, đứng đó bùi ngùi. Ông Thản trông khắc khổ, nước da sạm lại khác hồi còn ở nơi này. Ông đi quanh quẩn khắp khu tập thể, dừng chân trước những bãi đất trước kia chỉ là cái kho tạm chứa nguyên liệu làm giấy than, mực, nến tráng giấy dầu hay những ngách nhỏ nơi đặt cái chuồng gà cải thiện của mấy gia đình đông con, lắc lắc đầu. Khu tập thể bây giờ chật ních người là người. Trẻ con lớn lên, đi làm đi ăn rồi, chồng vợ cả rồi mà không đủ sức rút cẳng ra khỏi nơi này. Những công nhân nhà máy năm xưa nhà bị bom được thu xếp về ở tạm nay đóng đô chặt lại ở đây. Và những cư dân mới không biết gì về những năm tháng xa xôi ấy. Ông Thản đi loanh quanh, ngần ngừ, chỉ tạt vào nhà ai là người thân quen cũ.

 

            Bố giục Ngân pha nước, ngùi ngùi:

         - Anh ra bao giờ? Tôi có nghe anh em nói anh về thăm nhà máy mà tiếc hôm đó không gặp được anh.

         - Cũng được gần một tuần rồi anh ạ. Chắc cũng là lần cuối cùng. Già rồi, nghĩ chuyện đi là ngại. Nhưng không đi thì lòng dạ cứ nôn nao.

            - Bao giờ anh lại vào trong đó?

            - Cũng định ở chơi lâu lâu, mà bà nhà tôi dạo này hay mệt, lại còn mấy nọc tiêu...

            - ?

            - Tôi không ở Sài Gòn anh à. Hồi bảy lăm chuyển công tác vào trỏng, hai đứa nhỏ nhà tôi cùng vào nhưng ở lại Sài Gòn, còn tôi thì về Tây Ninh tìm bả.

            - Thế ạ...

         - Hồi trước tôi có đọc lí lịch anh. Ngày đó không phải lúc nào tôi cũng tin vào những điều đã đọc đâu. Còn giờ thì tôi nghĩ tất cả là số phận anh à. Tôi nghiệm ra cứ muốn sống lành là chẳng thể nào sướng nổi. Được cái là sau đó suy đi tính lại vẫn tự bằng lòng được ít nhiều với mình.

         - Tôi biết là ngày đó anh biết cả về tôi và thông cảm lắm với tôi anh Thản ạ. Giờ anh đã nghỉ rồi, tôi cũng chỉ làm việc đôi ba ngày nữa, có lẽ anh em mình chả còn dịp nào gặp lại nhau, anh cho tôi nói lời cảm ơn anh. Anh không biết đâu, hồi đó, những lúc nhìn quanh so tính, tiếc cho mình, tủi cho vợ con, tôi lại nghĩ tới anh, tới cách anh cư xử với mọi người và lại hồi tâm được.

            - Thôi mà anh...

         - Thế hai cháu nhà anh độ ấy?

         - Con đầu trước là y tá miền, hồi ra bắc mang theo đứa con anh biết rồi. Chồng nó hi sinh trước giải phóng, nó về được cho đi học tiếp, giờ là bác sĩ, đậu gạo nấu cơm chung với một thằng trước là bạn chồng nó. Mà cơm không lành canh không ngọt anh à. Thằng rể tôi quyền chức, quên hết rồi, đến hồi rồi phát hiện ra bị gan thì mới biết nhớ ngày gian khổ. Vợ chồng hòa lại được với nhau, nhưng mà trong cảnh ấy... Còn con út, cái con bị thương vào mắt ấy anh, cái con ngày ở ngoài này cứ làm ầm ĩ chuyện cô Tam, hồi về nhất quyết không cho tôi gặp mặt má nó. Khổ, con mỗi đứa mỗi tánh anh à, cái con út nhà tôi thì hiểu ba nó hay không hiểu cũng cứ làm tôi rối ruột.

         - Tiện anh kể chuyện, anh cho tôi tò mò... Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh phải không anh?

         - Có gì đâu mà anh phải rào đón. Bà nhà tôi hồi tôi biệt tích có hai đứa con với ông sau này anh à. Cũng anh em đồng chí cũ với mình mà chiêu hồi. Nói theo kiểu bên mình thì ổng tội to nhưng phải nói là không hành hạ gì hai đứa con tôi. Mà con út nhà tôi thì cứng đầu lắm, bỏ học, hoạt động thành. Sau này con chị nó nói lại hồi đó nó thoát cũng là nhờ ông ta. Chứ... Ông ấy quả thực có lòng với má nó anh à. Mấy ba con ông ấy di tản từ hồi đó. Bà nhà tôi thì nhất quyết ở lại.

            -...

            - Mà bả cũng không có chịu gặp tôi. Con út về tìm má nói gì đó, bả bỏ về Tây Ninh, lên chùa, xuống tóc đàng hoàng. Tôi xin chuyển công tác từ Sài Gòn lên đó, mấy năm ròng, đả thông hết má đến con. Bây giờ bả về với tôi rồi, nói thực với anh sống cũng ngậm ngùi, có cười được chăng là lúc con cháu ngoại từ Sài Gòn về chơi. Chẳng qua cũng vì hoàn cảnh. Dù gì thì bả cũng có công nuôi nấng các cháu không có tôi phải không anh. Mà cái tình cái nghĩa nó là gì không biết mà dứt cũng không phải dễ.

            Ông Thản cười, đôi mắt đã đục nhìn bình thản:

         - Ông chồng sau của vợ tôi với hai đứa con vừa rồi gởi thư về. Bà nhà tôi cứ như mất hồn. Tôi mới bảo bả lo việc nhà cho tôi đi thăm anh em cũ. Cứ sốt ruột, e bả nghĩ tôi bực dọc điều gì.

 

*.

 

         Khi đó người đàn bà trẻ con làm gì nhỉ? Pha xong nước mời khách, Ngân bê rổ rau bí ra lan can ngồi tước. Hơi mưa từ cái mái tôn cơi nới của nhà tầng dưới hắt ngược, ẩm ẩm tanh tanh. Cái giọng lù rù gần như mất hết dấu vết ngôn từ Bắc của ông Thản vọng từ sau lưng lại chen với tiếng nói loé xoé của mấy bà hàng xóm vừa đi chợ về làm lòng Ngân nặng trĩu. Bao nhiêu mùa đã đổ xuống trên những bước chân đi qua cuộc đời như thế này.

 

         Lại vẫn là buổi chiều. Cuối hè. Hừng hực nóng. Bọn trẻ mang nhau ra đầu hồi nhà cao tầng, chính phía có căn phòng của ông Thản. Chỗ đó xưa là sân chơi, bể nước ngầm và vườn hoa rực rỡ. Nay, điện nước phập phù không bơm lên các tầng được, một ông thợ đục ống bắc ngay cái máy nước cho cả xóm dùng tạm rồi thành vĩnh viễn. Khu tập thể cũng không còn vườn hoa nữa. Vườn hoa đã bị phá để lấy mặt bằng xây thêm mấy dãy nhà cấp bốn cho công nhân nhà máy nhà cửa sạch bách vì bom. Đội quy tắc thành phố vẫn hoạt động song không còn riết róng phạt những nhà chăn nuôi trái phép. Các nhà con đàn nhất loạt bung ra trấn tất cả những ngóc ngách nào nhà máy không sờ tới để tăng gia sản xuất. Con gái thì vừa xếp hàng máy nước vừa tranh thủ đan móc hàng gia công đỡ gia đình. Con trai lăm lăm cái vợt sục sạo mấy cái cống để vớt bọ gậy về nuôi cá. Cái Hải con chú Triều chiều nào cũng phải ngồi ôm cái chậu tôn cũ xin vo gạo cho bà con cả dãy lấy nước về nuôi lợn chợt ngước lên:

            - Com măng ca vào nhà ai chúng mày ơi! Những hai cái kìa!

         - Đâu đâu? Đi về dãy mình đây này. Chị kia trông như giao liên quân giải phóng ấy chúng mày ạ. Vào nhà ai nhỉ?

            Hai cô gái, cô đầu dắt theo một đứa con gái chừng ba bốn tuổi, quần đen và áo bà ba xanh, cắt bằng thứ vải gì trông cưng cứng và nhóng nhánh như nilon, cô thứ hai trông chỉ như vừa qua tuổi lớn, cũng bà ba nhưng một màu đen. Cả hai cô đều đội mũ tai bèo. Xúm xít xung quanh toàn là đàn ông có tuổi. Ông người gầy gầy xăm xăm đi trước dẫn đường. Lũ trẻ vội vàng dẹp bớt xô chậu rổ rá lấy chỗ cho đoàn người.

 

            Tiếng khóc dậy lên từ cánh cửa ngay sau lưng làm lũ trẻ kinh ngạc. Bọn con trai lập tức quăng vợt tiếp cận mục tiêu mới. Thỉnh thoảng lại ngoái cổ thông tin cho cả lũ con gái ra chiều ý tứ vẫn tụ bên đống xô chậu song bao nhiêu tâm trí đã để hết vào những tiếng xôn xao ở sau lưng.

            - Con bác Thản chúng mày ạ.

            Đứa đứng gần lũ con trai nhất nhanh nhảu truyền tin. Cả lũ hóng cổ lên nghe.

            - Nhưng sao khóc như đưa đám thế? Bố mẹ tớ kể bác ấy biết tin con ra mấy hôm nay rồi cơ mà.

         - Từ từ đã nào. Hôm nay ủy ban Thống nhất mới đón được các chị ấy đưa đến đây. Bác Thản cũng khóc chúng mày ạ. Nhìn kìa... nhìn kìa... Hai chị ấy cũng khóc... Nghe nào... Chị đầu chồng quân giải phóng hi sinh rồi. Con bé kia là con chị ấy đấy... Đẻ ở rừng. Chị kia... chị kia chột mắt chúng mày ạ. Dũng sĩ diệt Mỹ. Thế là diệt được mấy thằng nhỉ?

 

         Thằng Tuân đầu gấu nhất bọn tuột từ trên gờ tường sát cửa sổ nhà bác Thản xuống bần thần vì câu hỏi mới tự đặt ra cho mình. Cả lũ cũng bần thần. Không phải vì cảm động xót thương mà là vì ý nghĩ bên kia bức tường có một dũng sĩ diệt Mỹ đang ngồi, đang nói những chuyện hết sức bình thường. Dũng sĩ diệt Mỹ! Là cái gì chỉ giống như là một khái niệm, một nhân vật trong sách mà cả lũ vẫn chuyền tay nhau, gần gũi hơn thì cũng vẫn chỉ là những cái tên trong truyện thiếu nhi hay trong các bản tin đài báo thường đưa. Đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc, đến thăm Bác Hồ. Hồ Văn Mên, Nơ Trang Lơn, Hồ Thị Thu, A Vai, Kan Lịch... Một con người như thế, từng đặt chông, ném lựu đạn, bắn súng, vừa đến đây, mang trên mình dấu tích của cuộc chiến tranh còn chưa đi qua hẳn, nhưng với cả lũ thì vẫn rất xa xôi, dù tất cả đều đã từng nếm mùi sơ tán. Một con người như thế đang ngồi khóc thút thít trước người cha lần đầu gặp mặt, và cái chính là chị dũng sĩ ấy thật ra chỉ hơn cả bọn có vài tuổi bọ.

 

         Kể từ hôm đó nhà bác Thản tuần nào cũng thấy đông người. Hai chị con gái bác đã làm cả khu tập thể quen dần với những bộ bà ba may từ thứ vải gì chất như nilon nhóng nha nhóng nhánh, với chiếc mũ tai bèo đội hờ trên đầu và đôi dép Thái Lan lệt xệt dưới chân. Rồi các chị ấy cũng dần dần mặc y như mọi người, nón lá thay vì mũ tai bèo, quần lụa áo hồng kông thay bộ bà ba lạ mắt. Mỗi lần về thăm bố, các chị lại ríu rít dắt nhau đi chợ và từ cửa sổ sát máy nước nhà bác Thản mùi mắm thơm lựng tỏa ra. Nhưng bác Thản sau những ngày con về trông lại thêm âm thầm.

 

*.

 

         Con bé Hằng An biết rõ nó không phải là con bác Thản và chính vì thế mà nó gọi bác là ba một cách hết sức tự nhiên một hôm bảo với Ngân:

         - Em không gọi ba Thản là ba nữa đâu.

         - Tại sao? Bác Thản vẫn gọi em là con cơ mà.

         - Tại chị Hằng Tâm ấy. Chị ấy chủ nhật vừa rồi tự dưng mò vào nhà em mắng mẹ em xơi xơi. Chị ấy tưởng cái dũng sĩ diệt Mỹ của chị ấy là to, mà giờ mới học lớp bảy ở trường văn hóa dành cho con em miền Nam, hơn em có hai lớp. Mẹ con em làm gì chị ấy nào. Mà mẹ em cứ ngồi yên nghe. Tức quá.

- ...

         - Em bảo mẹ em đổi tên cho em mà mẹ bảo không được. Khi nào lớn em sẽ tự đổi tên đổi họ để ba Thản đỡ khổ. Chị Hằng Tâm cứ một mực bảo mẹ em có gì với ba Thản thì tên em mới là Võ Hằng An, lại còn bảo mẹ em nếu còn để ba Thản qua lại thì sẽ báo cáo với nhà máy rằng nhà em lợi dụng. Đi mà báo cáo.

         - Kệ chị ấy. Ai chả biết là...

         - Có mỗi chị Hai nhà ba Thản tốt. Chị ấy ngay sau hôm ầm ĩ cũng vào nhà em. Chị ấy nói gì mà sau đó cả mẹ em và chị ấy cùng ngồi khóc chị Ngân ạ. Chồng chị ấy mới hi sinh đấy chị Ngân biết không?

            - ... Thôi, có bài nào hỏi thì đưa ra đây. Chị sắp phải về rồi. Mà em cũng đừng có chõ mũi vào việc của người lớn làm gì rồi khéo mẹ lại mắng cho đấy.

- Em chả sợ - Con Hằng An cười khì khì - à mà chị ra đây em cho nghe. Bên kia tường nhà em có hàng xóm mới đấy. Có điều chả quen được nhau. Nhà máy xây nhà kín thế này giờ chả chạy qua bờ đê xem mặt người ta được nữa. Có đến mấy nhà ấy chị ạ. Chả biết ở đâu về. Cứ về lại rì rầm rì rầm cãi nhau, mẹ em đập vách bảo hạ giọng thì lại vâng ạ vâng ạ lia lịa.

  

         Cô Tam ở cùng bé Hằng An trong cái ngách nhỏ sát bờ đê, nơi có chuồng lợn nuôi vụng của mấy nhà đông con, vẫn ra vào một ngõ chính với cư dân khu tập thể, song gần như biệt lập với cả khu. Nay nhà cô có hàng xóm chung lưng, dẫu ồn ào song con Hằng An thích là cũng phải. Nó chỉ không biết rằng mấy mái giấy dầu ấy sẽ là những số nhà đầu tiên của một xóm liều kéo suốt một triền đê, nơi những chàng Tây ba lô sau này cứ chạng vạng là lần tới và từ đó sẽ vọng qua khu tập thể những tiếng thì thầm âu yếm, mặc cả và cãi chửi tưng bừng ai nghe cũng đoán được hết nội dung dù chỉ hiểu đúng một phần tiếng Việt. Nó, và cả Ngân nữa không bao giờ ngờ rằng đấy sẽ trở thành một phần đời con Hằng An nhiều năm sau này trước khi con bé quắp một thằng Phần Lan bắt phải mang nó bay đi. Và trước khi bay đi, một đêm khuya lắm con Hằng An đã ra gốc đa già trong cái nhìn vừa nghi ngờ vừa khinh bỉ vừa đầy vẻ trêu ghẹo của mấy chàng công an phường trực ở đồn công an bên cạnh, đứng đó chìm đắm mãi trong bao nhiêu ý nghĩ.

     

            Này là tiếng tom

            Nỉ non tiếng đàn

            Này là tiếng chát

            Mấy người ngồi bên

            Này là khói hương

            Hồn tôi nhập đồng

           

            Những dải lụa màu phấp phới bay

            Nghiêng đời đổi lấy cơn say

    

         Vô thần III

 

            ???

 

                        21.

 

            Hồi còn con gái người đàn bà thường tiễn bạn ra tận ngoài phố, đứng bên này đường đối diện cây đa chuyện vãn tiếp. Bạn gái có khi còn tạt sang đường sà vào hàng quà rong, cắn ngập răng vào quả táo Thiện Phiến xanh ưng ửng chấm với muối ớt, chua chua mặn mặn cay cay, cười phá lên vì một câu chuyện không đầu không cuối. Còn với đám con trai... Đôi khi, chỉ đứng vậy, tay đặt hờ trên ghi đông xe đạp của bạn, ngước nhìn cây đa già và nhìn vào mắt nhau, lặng yên. Phố xao xác người xe, vỉa hè chưa có nhiều người bán hàng rong đỗ gánh như về sau này. Mùa đông, mây xám giăng theo chiều gió bấc, co ro trong cơn gió mùa mới tràn về hào phóng thổi, mà sao lòng cứ phơi phới và ấm áp khi soi vào đáy mắt nhau. Còn những mùa hè, gió nồm nam thốc từ ngõ ra lùa trong áo mỏng, khiến rùng mình bất chợt khi chợt nghĩ rồi có thể sẽ là như thế, những ngón tay nhau. Những ngày âu yếm quá. Những điều không cần nói. Những khát khao không lời vẫn cưu mang dẫu khó nghèo cùng cực. Những gương mặt gầy và mắt sáng. Bao nhiêu băn khoăn cơm áo gia đình tưởng chừng quên được cả. Tưởng chừng quên được cả những chuyện đời rối tinh xoè vẫn ngày ngày nghe thấy nhìn thấy. Quên được cả cái ngày mai phải ra trường chưa biết sẽ về đâu.

 

            Sau này nhiều khi Ngân kinh ngạc. Hồi ức về ngày tháng cũ giống như bếp lửa đã vạc rồi, tàn tro phủ kín rồi mà thỉnh thoảng lại hực lên một màu than đỏ. Sao nhiều reo vui thế, sao nhiều nỗi im lặng xôn xao. Chiếc áo vá suốt chiều đem mặc tối thứ bảy ngày ấy chưa bao giờ làm Ngân mặc cảm, nếu không nói là còn ngấm ngầm kiêu hãnh trước mấy đứa bạn gái ăn chơi rất đỗi nhiệt tình. Cả mái tóc dầy và bóng chưa bao giờ được âu yếm cuốn trong mấy cái lô. Cả cặp lông mày rậm rất không hợp giống số và cách như bọn bạn thường đùa. Tất cả. Trong khi trầy trượt chuồi theo đời sống, trong khi khó nhọc gạt khỏi lòng bao nỗi lo sợ và khắc khoải trước tương lai nhìn chung là vô vọng như cả lũ một năm sau khi ra trường đã có lần ngồi phân tích tổng kết, một cách hoàn toàn bản năng, người đàn bà trẻ con vẫn cố giữ lại cho mình một chút gì, có lẽ là dớ dẩn, nhưng nhờ thế mà còn giữ được cảm giác mình chưa bị xã hội hóa hoàn toàn.

 

            Chỉ có điều chính cái cảm giác mình vẫn còn là mình đó lại làm Ngân phiền muộn, sau những lúc phải đối mặt cùng quá khứ, cùng một người bạn cũ đã đi qua đời mình. Như lần gặp lại Vĩnh hay Phan. Lần nào cũng như lần nào, ngẫu nhiên, mà họ không bao giờ có được cái giọng của những người ngẫu nhiên gặp lại. Bao giờ cũng vẫn là cảm giác đó, cảm giác vừa chia tay nhau mới hôm qua, đột hiện và biến mất, nhường chỗ cho ý nghĩ về thực tại, nên trong mừng rỡ bao giờ cũng như chứa chở một chút gì buồn bã lắm.

 

            Vì thời gian trôi không chờ, không chờ ai. Người đàn bà nay đã mỡ màng ra. Vẻ mỡ màng đã mang cái nẫu nẫu của tuổi, trong ánh mắt bình thản và mệt mỏi, trong làn tóc bớt dần độ bóng buông uể oải trên vai, và cái chính là trong những ý nghĩ không hẳn là hài lòng với đời mình, nhưng cũng không còn những xót xa điên cuồng vì khao khát vẫn cưu mang. Khao khát, thì vẫn là khao khát. Nhưng người đàn bà trẻ con đã nhiều lần hiểu ra rằng vẻ đẹp của khao khát chính là ở chỗ nó chẳng bao giờ thành, và nếu như mình đã trải đời thì cũng chỉ là đủ để hiểu ra rằng không bao giờ còn có thể tự tin như từng thế, những mùa thu cũ.

     

            Chính là vào lúc đó, lúc yên tâm với đoạn đời sắp sống. Ngân đã gặp lại Phan. Lần đầu tiên hai   người trò chuyện lại với nhau kể từ buổi chiều giông gió ấy. Nhưng lần này: bắt buộc.

         - Xin giới thiệu với các anh chị: nhà tôi. Em! Anh.. bên... Chị bên... Các anh chị đây bên... Đây anh Phan - Giám đốc bên đối tác với bọn anh.

            Tại sao hai người phải chờ chồng Ngân giới thiệu mà không ồ à mừng rỡ ngay nhỉ. Phan nắm bàn tay Ngân:

            - Cảm ơn anh đã có lời mời cho tôi gặp lại bạn tôi. Chúng tôi là bạn học phổ thông ngày xưa đấy các anh chị ạ. Anh Hoàng không biết nhỉ: hồi bọn bạn cùng lớp viết thư kể chuyện Ngân đi lấy chồng, tôi đang làm chuyển tiếp sinh ở Nga, mất ăn mất ngủ mấy tháng đấy. Xây bao nhiêu mộng thế mà đến nay phải gọi người là cố nhân.

            Phan cười cởi mở. Nét cởi mở chuyên nghiệp quá làm Ngân lạ lùng. Nhưng mà câu thơ xưa vừa lẩy, và bàn tay Phan đang bóp nhẹ tay Ngân đây là thật. Thật Phan chăng?

            Chồng Ngân cười hồ hởi, lại cũng nét hồ hởi đã được giới ăn cơm văn phòng chuyên môn hóa.

            - Vậy là người nhà của bọn tôi rồi. Em này, em nói chuyện với Phan nhé. Anh bạn trẻ của em thế là có cơ hội để khỏi phải trăm phần trăm với bọn anh rồi.

 

*.

 

         - Bao nhiêu lần bạn bè cưới hỏi đúng dịp Phan về thế nào mà bọn mình toàn trượt gặp nhau nhỉ - Phan mở lời - Hồi cưới Việt lần hai, Phan còn cắt phép bay về làm phù rể, không ngờ không được gặp Ngân.

            - Ngân sinh con đầu hồi đó mà Phan. Có được xem ảnh Phan hộ tống Việt hôm đó. Nhà dâu nhà rể đón nhau long trọng cứ y như nguyên thủ quốc gia gặp nhau ấy nhỉ. Thiếu mỗi màn ôm hôn. Chẳng ai ngờ...

         - Biết sao được Ngân. Có gặng hỏi nhau, Việt bao giờ cũng nhận hết mọi lỗi lầm về mình trong mọi cuộc hôn nhân của nó, mà lỗi lớn nhất với tất cả các bà các cô đi qua đời gã là gã không yêu, không thể nào yêu.

            Ngân cười nhẹ, nhưng giọng nói đột nhiên thẳng thừng:

            - Phan làm như... Chẳng lẽ thiên hạ ở được với nhau lâu bền là bởi yêu nhau lắm lắm sao?

            - Phan không biết. Nhưng rất có thể vì không yêu nhau hoặc không yêu nhau nữa mà người ta lại sống được với nhau. Chẳng hẳn là ý thức trách nhiệm gì đâu. Cái chính là biết mình muốn gì ở người kia. Việt ta đi tìm tình êu. Chắc gã tưởng vẫn còn có thể tìm nó ở đâu đó sau khi đã mất.

            - Thế thì quý quá chứ sao. Là nói cái ý nghĩ đó của Việt ấy - Ngân dịu dàng, nét cười thành xa vắng. Làm sao có thể kể cho Phan hay rằng Việt vẫn rủ Ngân đi uống cà phê, vẫn kể cho Ngân những ý định bỏ vợ và cưới vợ, nhưng chưa bao giờ Ngân hỏi, và chưa bao giờ Việt nói vì sao? Như là chuyện của ai ai, như là chuyện dĩ nhiên phải thế. Mà biết đâu, Phan cũng biết tất cả về những lần gặp gỡ ấy. Và tại sao Ngân và Phan chưa bao giờ gặp nhau như Ngân thường gặp Việt? Có phải vì không dễ dàng gì nói chuyện với nhau sau tất cả những tin yêu đã thầm lặng cho nhau, và bởi thầm lặng nên không thể trách cứ nhau một điều gì, dù Ngân đã buồn đến thế. Những đêm một mình lang thang, bóng Việt đằng xa, góc phố, nỗi buồn nhớ những dòng thư từ Phan không bao giờ nhận hay gửi nữa, mùi hoa sữa bồn chồn sương mưa đầu thu. Người đàn bà nghe sống mũi cay cay và phải cố lắm để luồng hơi rất nóng đang cuộn dần lên trong ngực không dồn lên cổ, không phụt ra nghẹn ngào.

            - Phan giờ về làm việc hẳn trong nước à? Có tính đưa cả gia đình về luôn không?

            - Còn gia đình đâu mà đưa về. Cô ấy nuôi hai đứa nhỏ. E chừng rồi không còn nhớ được tiếng Việt nào nữa. Hồi trước cô ấy và ông bà bên cô ấy bực Phan lắm vì nói với con bằng tiếng Việt. Họ nghĩ chả cần. Đằng nào chúng nó cũng mang nửa dòng máu tây, lại quốc tịch tây và sẽ lớn lên, sẽ học hành nơi đó. Kể thì mọi người cũng có lí. Nhưng mà Phan không thể nào chịu nổi cảm giác tiếng của mình chỉ vì đất nước mình không là gì trên thế giới này mà nó mất ý nghĩa là tiếng của cha của mẹ và cũng cần phải học.

            Ngân cười tinh quái:

            - Thì lại lấy vợ, sinh con, và lại dạy con tiếng Việt. Giờ là ông chủ Việt kiều yêu nước dùng rồi, hoa hậu còn khó chứ á hậu hay người đẹp người mẫu các kiểu thì khó gì. Chỉ không biết Phan có đi tìm tình êu như Việt không thôi.

            - Lại cái kiểu đó rồi. Ngân vẫn không thể dịu dàng với bọn Phan được à? Phan không phải là Việt. Vả chăng, tình yêu chưa bao giờ mất đi trong lòng Phan. Hoặc giả là người ta có thể yêu nhiều người khác nhau, nhưng bằng những tình yêu khác.

 

Phan nói và nhìn thẳng vào mắt bạn. Ngân im bặt. Nghe gió từ những mùa lặng im xa lắm thốc dần lên trong lòng. Những tần ngần thắc thỏm nào trong một mùa nắng hạ. Khoảng trời nào quang quẻ vì cơn bão sớm vặt trụi cành. Cơn giông nào đã nổi trên hàng tre bên xóm vắng. Ngọn gió nào thì thào trong vòm đa đầu ngõ lúc tiễn chân nhau. Và góc phố Bà Triệu Trần Hưng Đạo, vào khuya, xe nước mía lọc cọc dọn về. Lá sấu rơi đầy trên lối, xao xác dưới chân Ngân, như tiếng vọng những xao xác trong lòng Ngân về người đàn ông giờ đây đang ngồi trước mặt - người con trai đã cùng Ngân lùa chân vào đống lá sấu khô, đêm trước ngày đi năm ấy, không một lời thề ước, chỉ gửi thư rất đều, rồi bỗng dưng thôi. Chỉ có thể đoán vì sao, một điều gì không cụ thể mà ám ảnh bạn như là mong mỏi về ngày sống bình ổn, thôi những toan lo vụn mọn, và thôi luôn những day dứt về hạnh phúc. Ngân nhìn bàn tay mình, đốt khô khô tố tuổi, rồi ngẩng nhìn Phan. Từng đã có một ngày mênh mang đến thế sao? Từng có một ngày hiểu nhau tận cùng đến thế? Để bây giờ như thể chẳng hề xa?

 

*.

 

 

 

Chiều vào đêm, có bao giờ không thế

         Khoảnh khắc bất kì - anh đã bên em

         Lại mơ ước thanh xuân, lại cầm tay, lại sẽ...

         Lại sẽ nhìn nhau, lại sẽ nhìn.

 

Chiều đã mòn dần: bóng tối

         Bây giờ em ở đâu?

         Dĩ vãng trong anh không phải là dĩ vãng

         Anh vẫn còn mong em.

 

         *

 

        

            Họ vẫn có thể lại ngồi lặng im như thể thời quá khứ đang tiếp diễn nếu góc phòng đằng kia không rộ lên những tiếng cười đã bắt đầu sền sệt trong men rượu. Chồng Ngân trịnh trọng bê lại mấy chiếc li, màu rượu vàng sóng sánh quanh đáy thủy tinh trong vắt:

            - Nào em. Nào ông Phan. Mừng tình bạn hội ngộ. Mừng mối quen biết giữa tôi và ông có nền tảng gia đình vững chắc thế này. Ít thôi. Một chút men làm phép ấy mà, em đừng sợ. Em cứ yên tâm ngồi lại, anh vừa gọi điện về Osin bảo cho các con đi ngủ trước rồi.

            Con! Thoắt cái người đàn bà lại là mình, chỉn chu phép tắc, cựu giáo học, đương kim công chức kiêm vợ quan chức, chủ một ngôi nhà mà ở đó hai đứa trẻ dẫu có Osin lo liệu vẫn đang ngóng mẹ về. Trừ những khi phải đi công tác, Ngân bao giờ cũng ở bên giường con, lắng nghe những câu chuyện  về lớp chính lớp phụ của chúng, về những cuộc thi đua ở trường ở lớp, cười cùng chúng và xót xa bởi con phải quay hết sức mình trong cái guồng học và dạy từng ngày. Đứa con gái đầu lòng của Ngân nay đã mười ba tuổi. Chỉ một năm nữa thôi là nó sẽ bằng Ngân ngày vào cấp ba, ngày thân với Vĩnh, Việt, Phan. Một cách bản năng, Ngân vừa khao khát cho con sau này có được nỗi nhớ về những tình bạn đẹp, như là Ngân đã có, vừa sợ hãi, bởi biết rồi ra như thế sẽ đau đớn lắm. Dĩ vãng buồn và đẹp có thực ai cũng cần không? Và liệu con mình có biết rứt ra khỏi dĩ vãng mà sống cho nhẹ nhõm?

 

*.

 

            - Thế cái lô đất ấy ông đã lo được sổ đỏ chưa? - Chồng Ngân - Xây nhà ở đó giờ là lí tưởng. Tôi tính còn hay hơn khu nhà tôi bây giờ. Cứ bảo có nhà ở hồ Tây, nhưng hồ thì cứ mỗi ngày một hẹp vì đủ thứ nhà nổi nhà chìm, muốn nhìn xa hơn thì đủ thứ chóp tròn chóp nhọn chọc tức cả mắt. Mạn Phú Thượng xa hơn một chút, nhưng rộng rãi hơn, nhìn sông có triển vọng hơn nhìn hồ ông ạ.

            - Chưa xong anh ạ. Khu đất tôi mua thuộc mấy chủ, đâm phiền. Chủ đất đi lo sổ đỏ về kể vừa ra tới xã là người ta đã hỏi bán đất phải không? Tôi phải ứng tiền thêm cho họ nộp lệ phí công với tư. Mấy ông cán bộ xã nhà mình làm tiền kiểu này kinh thật.

            - Bạo phát bạo tàn ấy mà. Cả đời không có, đến lúc có thì ngập lụt, mấy ai tỉnh được hồn. Ngày xưa ông xây bố đắp con bồi, giờ nhiều vị bố xây con phá. Cũng mệt.

 

            Câu chuyện vừa ròn rã vừa chủng chẳng. Ngân im lặng, giữ một nụ cười vô cảm như mỗi lần tham gia vào chuyện làm ăn của chồng, bàn tay xoay xoay cái cốc. Giọt rượu còn đọng lại lăn lăn. Như là hổ phách trong cái vòng chú Thái cho hồi nào. Cái vòng đó hồi sắp thi đại học thiếu tiền học thêm Ngân đã tiếc rẻ đưa chú Thái gia công lại và bán hộ. Giờ nó ở đâu? Trên cổ tay ai hay đã tung toé dưới đất cùng sỏi đá. Còn chú Thái thì nghe nói vẫn ở chỗ cũ. Con cái làm ăn nay đã mua lại cả dãy nhà ngang phá ra xây biệt thự to vật vưỡng chẳng kém gì ngôi biệt thự cũ sát mặt phố, nhưng không cửa cuốn mà là ốp kính mặt tiền gần như toàn phần, dành hẳn một phòng tầng trên cùng, cửa số sắt dẹt bao chặt bảo đảm an ninh cho bà mẹ dở người. Vậy là những người chủ cũ đã không còn muốn nhớ. Cũng phải thế thì mới có thể đi qua từng ngày chứ. Chưa bao giờ Ngân hiểu ra ý nghĩa của thời gian một cách cụ thể và đáng sợ đến như lần nghe bố kể về sự đổi đời lần này của gia đình chú Thái. Chẳng phải là con người mà chính thời gian tạo nên trật tự, trước hết là trật tự trong lòng người. Vậy là cả hai biệt thự đều rất to, rất đẹp, nhưng không có vườn. Phố không vườn. Còn đâu những mùi huơng khuya khoắt, nồng nàn như những đam mê? Người ta nay không còn thích là người ở phố. Cứ bốc lên là xoay ngang ra tìm đất ven đô. Nhưng mấy người trên tiền để dám có ý thích như thế. Đời nọ đời kia sinh sôi và tiếp tục đùm túm lấy nhau trong những căn phòng xuống cấp. Như là trong cái khu tập thể cũ của Ngân nằm đối diện với cây đa mà nay chỉ có bố thỉnh thoảng đảo về thăm.

 

*.

 

         - Thế nào mà một ông chủ đất Phan mua lại là hàng xóm của nhà Ngân ngày trước đấy. Ngân còn nhớ ông vác súng đòi bắn tay hàng xóm trèo tường vượt giường vợ ông ấy không?

            - Tay nào bất khuất gớm? Ai dám đánh đồn kiểu đó khi không có tay trong nhỉ?

            Ngân nhíu mày. Chẳng có gì để có thể bình luận vô cảm thế, dù thật là đúng. Phan nhìn Ngân, không trả lời câu hỏi bâng quơ giữ chuyện của chồng Ngân, tiếp tục, như cố tình gọi ngày cũ trở về:

         - Ngân nhớ buổi trưa ấy không? Khiếp! Không thể nào quên cái mùi nhà vệ sinh thiếu nước hôm ấy. Chưa cần vợ lung tung hay tay nào vờn quyến vợ mình, chỉ cần ngửi cái mùi ấy đã đủ có súng dùng súng có dao dùng dao rồi.

 

         Mặt Ngân đỏ dần, lan xuống cổ. Có chút gì bẽ bàng lắm khuất lấp bấy lâu nay lì lợm thức dậy. Cái bẽ bàng lẽ ra không phải có ở tuổi mới lớn nhiều ao ước. Nắng hanh hao dịu hẳn khi rướn tới mặt bàn nhỏ giữa hai đứa, nhảy nhót trên trang sách. Những bông thạch thảo tim tím Phan mang tới trông càng thêm dịu dàng. Nhưng gió ngoài kia dừng ở đầu hành lang vắng không đủ thổi bạt đi cái mùi khủng khiếp đày đọa cư dân cả dãy nhà tập thể suốt mấy ngày giời. Mất điện. Nước không bơm lên được. Phuy nước dùng cho nhà vệ sinh cạn rốc, ai đó buồn tình quăng luôn cái gầu cao su thủng xuống đáy. Phòng vệ sinh nào cũng ngập báo. Nhân Dân. Hà Nội Mới. Quân Đội. Lao Động. Từng tờ từng tờ rải chồng lên nhau, che kín cái phần khai thối không tống đi đâu được của người vừa ra cho khuất mắt mà bước vào đó, ngồi xuống, nín hơi mà rặn, mà tống tháo cho nhanh rồi rút. Không ai dám chửi ai dù hầu như ai bước ra khỏi cửa phòng nhà mình cũng cất lời chửi đổng. Sau này Ngân đã buồn buồn nghĩ rằng nghèo quả khó đi cùng sạch, và đến một mức nào đó thì người ta đâm phá phách, bất cần tất cả, bất cần chính cái ngày mai của mình. Mọi sự lãng mạn của mọi câu chuyện hay ho đến đâu cũng biến khi hoặc chủ nhà hoặc khách vừa lúng túng vừa ý nhị xin phép ra ngoài đôi ba phút. Ngân có cảm giác cái mùi khai thối nồng nặc kia, được gia tăng độ đậm đặc nhờ nắng gió hanh hao đầu thu thấm sâu vào tường hành lang khu tập thể, làm nó sần sùi thêm ra. Ngân có cảm giác tóc tai mình, quần áo mình cũng bị ám cái mùi đó, không thứ chấp hay chanh nào xua đi nổi, đến nỗi mỗi lần mất điện mất nước, mà điều đó thì thường lắm, đi đâu Ngân cũng tìm cách đứng xa xa bạn bè. Nhưng không phải cứ vào lúc đó là ai có súng dùng súng ai có dao dùng dao như Phan vừa đùa. Chỉ một lần duy nhất.

 

*.

 

         - Chuyện gì vậy Ngân - Phan thì thầm khi nghiêng người qua vai Ngân trên cái bao lơn nhỏ lủng củng những dây phơi, rổ rá và xô chậu.

            - Không biết - Cô gái tiếp tục nhòm xuống đám người đang tụ tập bên bể nước công cộng. Cô đã nhận ra, không phải là cuộc tụ họp bình thường vì mấy con vịt chưa hết lông măng hay cá bể ươn rất cần nước mà mậu dịch vừa bán khắp thành phố. Người đàn ông mặt mũi tím ngắt đứng giữa vòng người là chú Phúc bố thằng Phi con Hạnh mới phục viên về. Có một sự im lặng nặng nề từ đám đông dâng lên, khiến cô gái nhãng hẳn cái mùi nặng nề bao phủ không gian

            - Không biết - Ông kia kìa, trước là công nhân nguội, đi B trong đoàn cán bộ công nhân nhập ngũ đầu tiên ở nhà máy đấy. Cả đoàn còn có bốn người. Chú ấy bặt tin suốt từ 72, sau 75 cả năm trời mới thấy ra. Chính trị viên đại đội tiểu đoàn gì đấy. Chạy vào lấy cho người ta kính trên bàn với. Còn những ai nữa kìa.

         - Ông ấy cầm súng. Một bà đang quỳ dưới chân. Bố Ngân cũng vừa tới kìa. Ai da. Có vẻ kịch tính đấy.

       

            Không giống những lần cãi nhau điển hình của khu tập thể. Chỉ thấy người từ các phòng túa ra. Và im lặng.

            - Im nào. Không cần Phan bình loạn. Thôi đưa luôn kính Phan đây. Ôi kìa ... cô Thi ...

         Thoắt cái Ngân đã hiểu ra sự thể. Chỉ không hiểu làm sao đến giờ chuyện ấy lại bùng ra, sau khi chú Phúc đã trở về đến cả năm trời và cả năm trời, sau bao nhiêu những chầu chực phỏng chừng của hàng xóm láng giềng, hai nhà ấy vẫn thản nhiên sống, những người đàn bà vẫn ra đụng vào chạm ở bể nước, những người đàn ông vẫn đứng bàn chuyện thời sự với những người đàn ông khác. Họ không nói với nhau, hờ hững, dĩ nhiên rồi.

            Nhưng họ vẫn là cái bếp lò không lụn lửa.

     

            Người đàn bà đang quỳ dưới chân người đàn ông nói gì nhỉ? Trách móc vợ anh ta đã đầu mày cuối mắt và hơn thế nữa với chồng mình ư? Xin tha tội cho chồng mình ư? Hay phân trần kể khổ. Chị ta vừa đứng dậy, ôm vai ba đứa bé kéo lại gần mình, mặt mũi ba mẹ con nhợt nhạt.

            - Anh Phúc! Tôi lạy anh chẳng phải vì tôi có lỗi. Nhà tôi không dám có mặt ở đây và tôi xin lạy giùm anh ấy để tạ tội với anh. Tôi đã nghĩ... suốt bao năm qua tôi đã tưởng anh chết rồi. Tôi không xin anh cái điều không ai làm nổi. Tôi không xin anh không căm hận. Nhưng bây giờ... Căm hận ai? Tôi và anh? Căm hận ai? Anh đã trở về và anh còn các cháu. Tôi cũng còn các cháu.

         Bao giờ cũng thế, hễ khu tập thể có chuyện gì là người ta lại thấy cái bóng gầy gầy lặng lẽ của ông Thản. Ông nhẹ nhàng xin lỗi xin lỗi  những người đang háo hức chờ xem vở bi kịch tiếp diễn, tiến sát tới gần người đàn ông.

            - Anh Phúc à, cất súng đi anh. Sung sướng chi cái chuyện phải mang súng về nhà. Cái chính là anh còn sống, còn các cháu phải chăm lo. Anh để cho chị Thi phải năn nỉ anh thế được sao? Chị ấy đâu phải người làm nên tội. Chị ấy nhà anh cũng không phải là người có tội. Không ai!

Không ai biết vì sao người đàn ông điềm đạm đó đột nhiên nói to đến thế. Giọng Nam bộ hiền hậu vỡ ra trong vòm họng của ông, làm im bặt những tiếng can ngăn đầy khích động và cả những tiếng cười vô tâm đang nổi nổi chìm chìm xung quanh. Có một người đàn bà suốt từ lúc ồn ào vẫn đứng sau lưng người đàn ông cầm súng, mặt mũi cứng lại trong dáng vẻ của người bị xúc phạm. Chị ta thoắt rùng mình. Có cái gì vẫn giữ cho chị ta vẻ kiêu hãnh bấy lâu nay đột nhiên nhão ra, tan chảy. Chị ta, và tất cả những người đứng đây đều biết tấn bi kịch này đã bắt đầu một cách hài hước như thế nào.

 

         Một ngày là quen với thành công

         Một đời là quen với thất bại.

 

         *

 

         Bốn mốt tuổi không còn cơ hội thành công sớm

         Nhưng vẫn còn cơ hội thành công muộn.

         Dĩ nhiên

 

         *

 

         Không phải bao nhiêu nước chảy

         Mà là bao nhiêu cầu

                             bắc ngang dòng nước cuộc đời

 

         Đời sang bước ngoặt

         Sau mỗi chiếc cầu

         Đi ngược thời gian

         Gặp niềm hối tiếc

         Đi xuôi dòng nước

         Gặp nỗi hoài nghi

 

         Ta tìm một bàn tay cảm thông vẫy gọi

 

 

            22.

 

        Nửa đêm, khu tập thể đã đầy người trở lại sau hiệp định Paris lịm đi trong giấc ngủ. Tiếng hét bắt trộm đột ngột và chói lói, giật mọi người ra khỏi giường. Người lớn trẻ con nháo nhào chạy về phía căn phòng sáng rực cuối hành lang tầng một. Nhà cô Thủy cô Thi. Đấy chính là cái câu lạc bộ đã được nhà máy cho thợ tới ngăn ra bằng gỗ dán. Bức tường giả chỉ cao quá đầu người là con đường phiêu lưu đầy thú vị cho trẻ cả hai nhà những lúc người lớn đi vắng. Ngân nhớ những ngày tháng vừa qua bom đạn ấy bình an lắm. Nhà nhà đi đâu gửi khóa cho nhau. Có ra chợ xuống sân cũng chỉ móc hờ cái chốt. Ngày nóng nực quá còn rải chiếu nằm sàn, cửa phòng mở thông thống, cánh đàn ông tụ bên cái bàn mọt làm chén nước chè mậu dịch, nói những chuyện vợ con vẫn kêu là trời ơi đất hỡi, còn đàn bà con trẻ nằm ngồi ngổn ngang nói chuyện với qua nhà nhau cho đến khi mỏi mắt mỏi mồm ngủ lịm đi. Ai dám vào ăn trộm. Mà có gì để trộm trong cái thời buổi gieo neo này.

 

            Không ai dám tin vào mắt mình. Cô Thủy, áo hở nách cắt lại từ cái quần lụa nát xốc xa xốc xếch, cầm trong tay một cái quần đùi đàn ông vải phin Nam Định nhàu nhĩ trông chẳng ra màu gì. Lập cập đứng bên cái giường rẻ quạt của mấy mẹ con là chú Vinh bố thằng Quyết thằng Chiến, là ông hàng xóm sát vách nhà cô Thủy. Cái áo may ô trễ trên đôi vai so rụt, đôi chân vốn đã hơi cong trong tư thế này càng cong khoẻ, và trên hai cái cẳng chân, cao, cao hơn nữa, một túm thịt, đen đen xám xám trông chẳng ra hình thù gì, lủng lẳng. Cơ bụng người đàn ông giật giật.

            - Bà con nhìn xem có khốn nạn không cơ chứ. Vợ nó còn nằm ôm con dại bên kia. Thế mà nó dám mò sang đây lúc đêm hôm. Này thằng đểu kia! Chồng tao đi chiến trường sống chết bao năm không phải là để cho cái thứ  như mày ở nhà làm loạn nhé! Để tao gọi cả vợ con mày sang xem cái mặt mày luôn thể nhé!

         Thằng Phi con đầu lòng của cô Thủy gườm gườm nhìn mẹ. Bà ngoại nó ngồi, im lặng, như không nghe không thấy, tay vịn thành giường run lật bật. Lũ trẻ con hàng xóm mới thức dậy đã tỉnh như sáo sậu, rú lên cười từng chập, chỉ chỉ trỏ trỏ. Hàng xóm chuyển từ trạng thái kích động này sang trạng thái kích động khác. Thật chẳng mấy khi được xem kịch không yêu cầu như thế này:

         - Ôi anh Thản. Vâng vâng mời anh vào giải quyết ạ. Vụ này là phải có Bao Công đấy anh ạ. Chị Thi đâu vẫn chưa ra nhận người nhỉ? Ai lại để người ta bắt chồng cởi truồng thế kia. May mà hôm nay trời mát...

            Tiếng đỏng đảnh. Tiếng ồ ề. Bố quay lại mấy mẹ con Ngân:

         - Em bảo mấy đứa về đi ngủ tiếp đi. Anh ở lại vài ba phút với ông Vinh rồi cũng về ngay thôi. Thật cái cô Thủy làm chuyện này chẳng ra làm sao cả.

 

*.

 

         Khuya lắm bố mới về. Ngân vẫn chưa ngủ lại. Con bé nằm im lặng nhìn ra ngoài khung cửa. Đêm trong và mịn quá. Ngàn ngàn sao run rất nhẹ trên nền trời đen thẫm. Ngôi sao nào của riêng nó, đêm nay con bé không muốn tìm. Câu chuyện vừa xảy ra, dáng bà ngoại anh em thằng Phi im lìm hóa đá, mắt thằng Phi gườm gườm, vẻ nanh nọc của cô Thủy, cái bụng lép phập phà phập phù và túm thịt xấu xí lòng thòng giữa hai bẹn của chồng cô Thi làm con bé vừa tò mò vừa kinh kinh. Nó sẽ sống lại ấn tượng ấy giữa thời con gái, sẽ bực tức vì điều ấy ám ảnh một đời con gái của mình, làm hao hụt ở mình khả năng mù quáng trước những tiếng gọi giống loài. Chính vì thế mà Ngân đã tự dưng nổi cáu khi Phan tò mò muốn biết nguồn cơn bi hài kịch đang diễn ra dưới sân. Có thể giải thích được chăng, rằng người đàn ông vừa ở đâu lọt tọt chui vào giữa vòng người, quỳ sụp xuống vái như tế sao ông hàng xóm súng lục cầm tay đằng đằng sát khí, phải, chính người đàn ông còm cõi đó đã một thời là dũng sĩ của cả vợ mình lẫn bà hàng xóm, và của những bà những cô nào nữa có ma biết... những đêm thời chiến tranh. Có thể vừa cười vừa kể cho Phan nghe cái bà mặt mũi sưng sỉa đứng sau lưng ông chồng cựu chiến binh, đúng vẻ quả phụ quyết tâm bảo vệ gương trinh liệt kia đã sản xuất bằng chứng tiết hạnh của mình cho ông chồng vừa có tin trở lại bằng cách hi sinh người tình đêm đêm của mình, là cái người đàn ông đang so vai rụt cổ lạy sống vợ chồng bà. Ông ta làm sao có thể ngờ cái đêm lẽ ra phải rất nồng nàn với người đàn bà hàng xóm, với xen vượt tường, chui màn, ghì siết nhau đến tưởng phải rú phải gào mà vẫn phải cố kìm những tiếng hổn hển bên tai bà mẹ, người vợ và thằng bé con người tình đang thức, đang rình, đang im lặng... cuối cùng lại thành ra thế.  Tiếng thét có trộm bất ngờ từ người tình của ông ta, vòng tay độc địa ghì cứng trong khi ông ta chỉ còn độc cái may ô ba lỗ rách trên người giữa tiếng chân rầm rập chạy tới sẽ là căn nguyên bệnh liệt dương từ bấy đến giờ của ông, là căn nguyên nỗi đau không có ngày ngưng nghỉ của vợ ông. Ông chỉ không biết rằng người đàn bà, đạo diễn, diễn viên màn bi hài kịch cũng mắc bệnh lãnh cảm trước chồng từ đó. Dù thế nào thì bà ta cũng không thể đánh thức nổi mình để bù đắp cho người chồng bấy lâu đã mỏi mòn vì gian khổ, vì cách xa và thương nhớ. Dù thế nào bà ta cũng không quên những đêm nhàu nhĩ, bừng bừng, mê muội trong sự vụng trộm công khai. Và, dẫu thế, trong hai căn phòng tập thể sát nhau, chỉ có điều bức tường bằng gỗ dán năm xưa nay đã được xây con kiến tử tế, bốn người đàn ông đàn bà vẫn sống lặng lẽ suốt cả năm trời, cho tới ngày hôm ấy, ngày mà ấn tượng về nó với Ngân bao giờ cũng sắc nét hơn bởi cái mùi nhà xí thiếu nước không biết bay đâu.

 

*.

 

         - Anh đưa súng tôi cầm. Thế... Thế. Bà con mình ai việc nấy đi. Có chuyện gì còn phải nói thì mình ngồi lại với nhau. Hay là mời các anh các chị lên nhà máy. Hay là qua nhà tôi. Anh Vinh đứng dậy đi anh. Chuyện người lớn anh Phúc anh Vinh à. Chẳng nên để bầy trẻ chịu khổ nhục theo mình mãi. Để làm gì.

            Tiếng ông Thản. Dứt khoát và mệt mỏi. Vòng người giãn dần. Rồi bất chợt sững lại. Từ cánh cửa sau lưng cô Thủy chú Phúc, bà mẹ cô Thủy bước ra, tay xách cái đãy mây lồng phồng quần áo, trên chặn cơi trầu. Bà cụ chậm chạp đến bên người con rể:

            - Tôi xin anh, anh Phúc. Mẹ xin con, con ơi. Bỏ quá cho mẹ không giữ gìn được gia đình con cho tới lúc con về. Con sống về được đến đây, gìờ phải sống tiếp con ơi. Thằng Phi bỏ nhà đi từ bấy đến giờ, con đi tìm nó về cho mẹ. Nó vẫn vật vờ ở Cửa Nam với ở ngoài ga đấy. Mang nó về kiếm việc làm cho nó, cho hết cái cảnh bố mẹ con cái còn sống mà như chết, mà không dám nhìn mặt nhau... Mẹ xin anh, anh Phúc... Thủy! Mày còn định giở quẻ đến bao giờ. Mày có qùy xuống mà lạy chồng mày hay không? Hay để nó biền biệt bao năm chiến trường giờ lại vì mày mà lại phải biền biệt vì tù tội. Ối con ơi là con ơi. Đồ voi giày. Tao đâu có ngờ đẻ ra mày cán răng nuôi mày mà rồi có ngày phải chờ người băm vằm mày ra như thế này.

            Bà cụ sụm xuống. Người con rể ôm lấy vai bà mẹ vợ, ứa nước mắt. Cái đãy mây rơi khỏi tay bà cụ, cơi trầu tung toé. Chú Vinh, cô Thi, cô Thủy đứng như trời trồng. Cô Thi ngẩng mặt nhìn trời, chan hòa nước mắt. Giữa cô và bầu trời xanh rất xanh kia vẫn là bầu không khí ô nhiễm khai thối ù đầu. Bên Ngân là Phan: 'Cái gì thế Ngân. Cái gì mà có vẻ đầy kịch tính thế? Giờ thì ...nhìn kìa, nhìn bà cụ với ông kia kìa, giống không, bức ảnh chụp ở bên bờ Thạch Hãn hồi bảy hai ấy, tù binh và hòa bình. Giống không?...'

 

          Người con gái vùng vằng. Mắt thiếu kính nhìn gì cũng thấy như gần lại làm cô bướt hụt, suýt ngã khi từ ban công quay vào phòng. Cău con trai theo vào, cười cười.

            - Không muốn kể thì thôi chứ. May mà không ngã. Phan có biết cũng không dỗ đâu.

            - Làm như chúa lắm đấy. Nghe thì biết chứ còn hỏi cái gì.

            - Ừ, nghe thì biết.

         Phan trở lại nghiêm chỉnh bất ngờ. Cái nhìn của Phan, Ngân muốn đọc ra ở đó một nét buồn buồn, và màu hoa thạch thảo tím như là sắp phai bạc cả, và cả cái mùi khai thối kinh người cứ lẩn quất khắp nơi mãi mãi còn lẩn quất trong ý nghĩ. Thế nên dù có vẻ dửng dưng, người đàn bà chợt nhận ra mình muốn biết về số phận gia đình hàng xóm cũ:

         - Nhà ông bà bán đất cho Phan ấy, sau khi Phan sang Nga học ít ngày thì cũng đi. Ngân cũng không biết đi đâu. Giờ có đất mà bán thì chắc cũng khá lên rồi.

            - Khá cực ấy chứ. Nếu vụ kinh doanh nhà thổ này thành. Nhưng nhìn qua cũng biết là trước đến nay sống chật vật. Ông chủ nhà ngày xưa trông oai thế mà nay lọm cọm rồi. Bà vợ thì... chả ai ngờ một bà lão lẩn thẩn thế mà có thời cũng tung hoành đến khiếp - Người đàn ông mỉm cười - Phan hiểu đúng không Ngân.

            - Đúng! Thì sao?

            - Chẳng có gì. Nhưng mà đôi khi Phan cứ ngạc nhiên vì hiện tại của một người nào đó, ngay của Phan chẳng hạn. Rồi Phan lại nghĩ thế cũng đúng. Trời cho mỗi người một cuộc đời để sống. Tiêu trước thì khỏi tiêu sau. Cứ ai sống gấp quá, sống hết những cảm giác lẽ ra phải để dành cho cả đời mình thì y như rằng bão nổi lên rồi là chết đuối, là lẩm cẩm, là đủ thứ. Nếu mình xét bằng con mắt bị xã hội hóa của mình.

            Chồng Ngân hỏi, giọng bất chợt trầm khác thường:

            - Của mình? Anh Phan tự nghĩ vậy ư?

- Tôi đã từng mong như thế anh ạ.

 

            Vẻ chăm chú, âm trầm buồn bã khác lạ trong giọng nói của chồng làm Ngân bất ngờ. Cũng bất ngờ là lời đáp thẳng thừng của Phan, dù lâu lắm rồi Ngân vẫn tự biết là hình như thế.

            - Còn bây giờ?

            - Ngân!

Phan bật ra, riết róng. Câu trả lời của Phan, như một tiếng gọi đầy trách móc. Phan gọi gì? Chồng Ngân nhìn hai người, giấu một vẻ băn khoăn kín đáo, cầm chiếc li của mình bước tới bàn mấy ông bạn đang bàn cãi gì đó om sòm.

 

 

            Ilmenau

  

            Bây giờ đã đến lúc viết về những bờ lau bên hồ thời xa vắng

            Sao quá bơ vơ trước ước hẹn đầu đời

 

            Bây giờ đã đến lúc viết rằng khi ấy

                             máu trong người chậm lại lúc đôi nọ hôn nhau

                                            chiều, tuyết, mưa.

 

            Bờ lau mọc vào xuân

            Đứa bạn cùng đường nay đã chết

            Vẫn biết còn sống còn cơ hội bất tử

            Vẫn muốn dang tay vẫy lối bạn về

 

            Thời xa vắng không giữ được em

            Khao khát quá nhiều đời người quá hẹp

 

        Trở lại

        Hai mươi năm sau

        Hồ

        Những bờ lau

        Dập dờ

        Xanh

        Lửa

 

  

         23.

 

         Tiếng gọi trách móc của người bạn cũ, vẻ im lặng của chồng đột nhiên cho người đàn bà hiểu ra mình cô độc biết chừng nào, ích kỉ biết chừng nào. Ích kỉ, trong sự cẩn trọng trước mọi số phận khác. Ích kỉ, trong thái độ tự tin và đầy trách nhiệm, như một công chức, một người vợ, một người mẹ. Từng ngày qua đi là từng ngày người đàn bà trẻ con đánh đắm mình vào một thế giới riêng, tự xây đắp cho mình, tự hào một cách tuyệt vọng về nó. Tại sao, Ngân tự hỏi, tại sao mình không một lần nhìn thẳng vào mắt mọi người, nói với họ rằng mình nghĩ gì về họ, mình yêu họ biết bao và mình khao khát điều gì. Tại sao Ngân không bao giờ hỏi họ nghĩ gì về mình, chờ mong điều gì ở mình. Hỏi, như một cách thế yêu thương cảm thông với nhau và với chính mình. Tại sao không? Không! Với chồng. Không! Với bạn. Như ít nhất là Vĩnh, Việt, Phan. Tại sao Ngân có thể nói với mọi người về những ý nghĩ quái dị nhất nảy ra trong đầu mình, hay những cảm giác không dễ gì thông cảm, mà một điều giản dị như thế thì không. Không bao giờ.