Tiểu
Thuyết Mới ở Việt Nam
Trong bài
phỏng vấn do Nguyễn
Mạnh Trinh thực hiện, đăng trên Văn Học (Hoa Kỳ), Nguyễn Xuân Hoàng cho
biết,
trong số những người viết được gộp chung vào một nhóm, Huỳnh Phan Anh
là người
mặn mà nhất với cái gọi là tiểu thuyết mới.
Theo tôi,
người xứng đáng
"đại diện" cho tiểu thuyết mới ở Việt Nam phải là Hoàng Ngọc
Biên. Anh
không những là người đầu tiên giới thiệu trào lưu tiểu thuyết mới tại
Pháp tới
độc giả Việt Nam, như Nguyễn Xuân Hoàng cho biết trong bài phỏng vấn,
nhưng còn
đem áp dụng lối viết đó, vào trong tác phẩm, trong tập truyện "Đêm ngủ
ở
tỉnh" của anh. Người mà anh "mặn" nhất, là Michel Butor. Hồi đó,
tụi này thường gọi đùa, "Voilà Monsieur Biên-Butor ", mỗi lần anh
tình cờ ghé quán Cái Chùa, ở đường Tự Do Sài-gòn.
Cũng trong
bài phỏng vấn,
Nguyễn Xuân Hoàng cho biết, Nguyễn Đình Toàn đã có tác phẩm, và đã nổi
tiếng,
trước khi "la cà đàn đúm" với đám tiểu thuyết mới. Với cá nhân người
viết, Nguyễn Đình Toàn đọc những bài viết của tôi trên Nghệ Thuật, rồi
nhân một
bữa cùng ăn sáng tại quán phở 44, (ngay phía trước Đài Phát Thanh
Sài-gòn, số
5, Phan đình Phùng, nơi anh làm việc, còn tôi làm việc tại building số
7 kế
bên), anh đề nghị tôi viết cho Văn. Đó là lần đầu tiên tôi quen biết
Toàn. Anh
cũng là người "khám phá" và đưa Huỳnh Phan Anh tới với tạp chí Văn,
khi cả đám chúng tôi đã trở thành thân thiết.
Trong Văn
Học Tổng Quan, Võ
Phiến coi Dương Nghiễm Mậu có lẽ là người thành công nhất và sớm sủa
nhất, sử
dụng các kỹ thuật mới vào văn chương Việt Nam. "Trong cuốn truyện dài
Con Sâu chẳng hạn, 'tôí không phải là một nhân vật nào, khi là nhân vật
này,
khi lại là nhân vật nọ; sự chuyển vị xẩy ra thoăn thoắt làm nổi bật sự
thay đổi
đột ngột những quan điểm nhìn sự vật khác nhau". Trong một bài viết của
Mai Thảo, trong "Chân dung nhà văn", ông lại coi người tài hoa nhất
của nhóm tiểu thuyết mới tại Việt Nam là Nguyễn Đình Toàn. Cả hai nhận
định
trên đều đúng, nếu chỉ nói về khía cạnh tài năng, nỗ lực cá nhân khi cố
gắng
làm mới văn chương Việt Nam.
Nhưng bảo hai nhà văn nổi tiếng nói trên là thuộc nhóm tiểu thuyết mới,
tôi
muốn nói, như những người sáng tác theo quan điểm tiểu thuyết mới tại
Pháp,
điều này sợ chưa đủ sức thuyết phục.
Lucien
Goldmann, trong bài viết
"Tiểu thuyết mới và Thực tại", in trong cuốn "Xã hội học về tiểu
thuyết", cho thấy, trong khi nhiều nhà phê bình, và đa số công chúng
thưởng ngoạn, nhìn tiểu thuyết mới, như là những kinh nghiệm hoàn toàn
có tính
hình thức, hay một toan tính chạy trốn thực tại xã hội, hai tác giả đại
diện
chính của trào lưu này là Nathalie Sarraute và Alain Robbe- Grillet,
ngược lại,
đã muốn nói với chúng ta rằng, tác phẩm của họ được sản sinh từ một cố
gắng -
càng chân xác, càng cơ bản chừng nào hay chừng đó - nắm bắt thực tại
thời đại
của chúng ta. Họ là mhững tác giả hiện thực cơ bản nhất, triệt để nhất
trong số
những nhà văn hiện thực Pháp, nếu chúng ta quan niệm chủ nghĩa hiện
thực trong
văn chương là sáng tạo bằng tưởng tượng ra một thế giới mà cơ cấu của
nó tương
ứng với cơ cấu thiết yếu của thực tại xã hội - một xã hội mà tiểu
thuyết đã
được viết ra từ trong lòng của nó. Một xã hội đã cưu mang, thai nghén
ra tiểu
thuyết. Và đây là giả thuyết của Goldmann: Trong các dạng văn học, tiểu
thuyết
là dạng liên can, tức thời nhất, và trực tiếp nhất, tới cơ cấu kinh tế,
theo
một nghĩa hẹp nhất của từ này. Tới những cơ cấu trao đổi và sản phẩm
thị
trường. Thực tại thời đại chúng ta cho thấy, nếu trước đây, con người
là trung
tâm vũ trụ, bây giờ đồ vật trở thành "thần vật". Liên hệ người-vật
ngày càng nghiêng về phía đồ vật. Thế nhất quán mang tính cơ cấu "nhân
vật-đồ vật" ngày càng biến đổi cùng với sự biến mất của nhân vật nhường
chỗ cho đồ vật làm chủ. Từ đó, tiểu thuyết mới mang đủ thứ tên,
phản-tiểu
thuyết, phản-con người, phản-văn chương...
Nhìn
từ quan điểm đó, chúng ta
không thể nào coi Nguyễn Đình Toàn và Dương Nghiễm Mậu là những nhà văn
tiểu
thuyết mới. Nhân vật của Dương Nghiễm Mậu là những con người có một ý
thức sáng
suốt đến chua xót về sự cô đơn, bất lực của mình trong một xã hội đang
manh nha
tan rã, cuối cùng lao vào những hành động "phá phách, nổi loạn", cố
tìm một thái độ đạo đức bằng những hành xử vượt ra ngoài quan niệm đạo
đức
thông thường. Thế giới, khung cảnh truyện của ông "khô, đầy bụi", đầy
"tóc rối", trong khi ở Nguyễn Đình Toàn, là một khí hậu ẩm, ướt, với
những nhân vật hầu hết là nữ. Truyện của hai tác giả giống như hai mùa
mưa nắng
ở Miền Nam, trong khi chờ đợi cơn bão tố chiến tranh xóa sạch tất cả.
Giả
thuyết của Lucien Goldmann
dựa vào lý thuyết nổi tiếng của Marx, trong Tư Bản Luận, lý thuyết về
sự thờ
phụng đồ vật, phương tiện phục vụ, tiện dụng, của xã hội Tây phương,
tức xã hội
tư bản hiện nay. G. Lukács có một từ rất hay, rất chính xác để gọi hiện
tượng
này là vật hóa (reification).
Cũng trong
bài phỏng vấn kể
trên, Nguyễn Xuân Hoàng cho biết, ông không "mặn" với cái món tiểu
thuyết mới. Nhưng theo tôi, trong những tác phẩm đầu tay, trong cuốn
Sinh Nhật
chẳng hạn, ông đã không chấp nhận nhân vật tiểu thuyết như một con
người có cá
tính, có một đời sống tâm lý, sinh lý, có một hoàn cảnh xã hội đặc
biệt... Ông
chọn một con người không có cá tính, đại khái như vậy. Và như thế, vô
hình
chung ông đã chấp nhận, một cái gì đó, của tiểu thuyết mới, khi trào
lưu này
không thể nào quan niệm một thứ văn chương đồng hóa con người vào những
tình
cảm ỷ ôi, sướt mướt, con người như là một con vật bị "raped" (hãm
hiếp) bởi thất tình, hỷ nộ ái ố...
Tuy
dựa vào lý thuyết Mác-xít
để giải thích sự xuất hiện của trào lưu tiểu thuyết mới, như L.
Goldmann đã
làm, trên thực tế, ngay tại Pháp, và tại những nước Cộng Sản, trào lưu
này đã
không tránh khỏi những chỉ trích nặng nề là đã không có trách nhiệm
(lack of
commitment) với văn chương, lịch sử, với con người... "Một sự từ chối
cái
thực. Không thể hiện những mâu thuẫn trong xã hội tư bản. 'Trong mê
cung'
('Dans le labyrinthé , của A. Robbe- Grillet) là cái quái gì nếu so với
Việt Nam?"
Sartre đã từng phát biểu, ông không thể đọc Robbe-Grillet trong một xứ
sở kém
phát triển. Câu nói của ông sau được ghi lại trong bài viết của Claude
Simon,
Orion aveugle, (Geneva, 1970, trang 106), trong bài nói chuyện của một
thành
viên tham dự một hội nghị văn chương bàn về nghĩa vụ xã hội của nhà
văn, được
tổ chức tại một xứ Mỹ Châu La Tinh: "Hình như đối với tôi, chúng ta hội
họp ở đây để bàn về những vấn đề này (không phải những vấn đề mang tính
hàn
lâm), những vấn đề về sáng tạo văn chương mà những dân tộc bị áp bức
chẳng có
gì mắc mớ với chúng". "Nhóm" tiểu thuyết mới tại Việt Nam đã
từng bị những người theo Cộng Sản, như Lữ Phương chẳng hạn, gọi là nhóm
văn
chương "viễn mơ".
Người xưa
nói, đừng đem thành
bại luận anh hùng. Trong "cõi văn chương", tất cả những tác phẩm
thành công đều là những kinh nghiệm về sự thất bại. Hoặc chính là sự
thất bại.
"Hết thuốc
chữa, chuyện
anh có mặt trên trái đất này", Hamm nói với Clov trong Tàn Cuộc,
Endgame
(Beckett), hay như trong Tiến lên
Tàn
Mạt, Worstward Ho (cũng của Beckett): "Hãy thua. Thua nữa. Thua cho
bảnh."
("Fail. Fail again. Fail better.") Theo ông, đó là chức năng tuyệt
vọng của người nghệ sĩ hiện đại, kẻ bị kết án phải trung thành với sự
thất bại.
Nhìn theo
cách thế đó, tiểu
thuyết mới và các tác giả của nó chính là một sự thất bại, như James
Joyce, như
Beckett, như Kafka... đã từng thất bại.
Nguyễn Quốc Trụ