HPA @ home,
Sgn, 2002
Thư Gửi
Nhóm Sáng Tạo
Phan
Thị Vàng Anh
Gặp Gỡ Cuối Năm
|

Gặp gỡ cuối
năm
Nhà văn Guenter Grass, khi Đức quốc còn bị chia đôi - bởi vì tên ông
luôn được nhắc tới, ròng rã trên hai thập kỷ - ông vẫn thường tự hỏi,
tại
sao không chia giải thưởng Nobel, cho hai nhà văn thuộc hai miền của
một
đất nước bị chia cắt, cho Christa Wolf, và tôi? Và, "hàng năm cứ vào
cuối
thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng
bạc…",
khi mấy ông Hàn Thụy điển đóng kín cửa phòng lo tranh cãi, bàn bạc,
Guenter
Grass bảo cô thư ký, họ lại ỳ ra thôi, và chúng ta sẽ có một mùa thu
tuyệt
vời!
Khi nghe tin được giải, ông nhắc lại đề nghị, nhưng mấy ông Hàn lắc
đầu.
Và ông kết luận: may mắn thay, cả hai chúng tôi đều sống sót.
Grass cho rằng, cũng như ông, Wolf, bằng tác phẩm đã cố gắng ngăn chặn
một sự "chia cắt vĩnh viễn" nước Đức. Tình bạn và sự kính mến giữa hai
người, đã có từ nhiều năm. Nhân dịp sinh nhật thứ 70 của ông, Wolf đã
viết thư
chúc mừng, kể kỷ niệm, về cảm giác lúc nào cũng thấy ông hiện diện,
nhưng
không đâu bằng, ở Dantzig-Gdansk. "Bạn đã 70 tuổi rồi. Không có bạn,
tôi
không thể nào tưởng tượng ra được phong cảnh văn hóa Đức. Hãy cứ khỏe
mạnh.
Và hãy lấy cái ống vố ra khỏi miệng nhé!"
Theo Grass, sau chiến tranh và suốt chiến tranh lạnh, nước Đức bị tuyệt
đối chia cắt về kinh tế, ý thức hệ, quân sự, nhưng hai nền văn chương,
không bao giờ bị đứt đoạn. Trong bài phỏng vấn trên tờ Magazine
Littéraire,
sau khi được Nobel, ông nhớ lại những chuyến vượt bức tường qua Đông Bá
Linh gặp bạn văn, trong những căn hộ ấm cúng, khi ra về trời đã khuya,
vui
như Tết, hồn thoáng chút hơi men, và tội nghiệp cho mấy tay mật vụ suốt
buổi ở bên ngoài trời lạnh!
Người viết cứ luẩn quẩn với những điều Grass viết, nhân chuyến gặp gỡ
ông bạn cũ Huỳnh Phan Anh, ở nơi xứ người. Bên chai rượu đỏ, tại sao
chúng tôi không có quyền đi một đường cảm khái: may mắn thay, cả hai
vẫn còn
sống!
Nhưng gặp ở đâu, chứ ở Paris thì còn ca cẩm gì nữa!
Huỳnh Phan Anh, sau 1975, có vẻ như không gặp rắc rối gì nhiều với chế
độ mới. Nhưng có lẽ đó chỉ là bề mặt của câu chuyện. Lần đầu tiên, anh
cho biết, vợ và hai con gặp tai nạn khi vượt biển. Tôi đã được nghe,
cũng chỉ có vậy, và anh cũng không nói thêm chi tiết, như chỉ muốn xác
nhận một
chuyện mà bất cứ một người dân Miền Nam nào cũng biết, cũng hiểu. Như
chỉ
muốn xác nhận, tao vẫn vậy, vẫn "dur" (cứng rắn), như ngày nào. Và anh
quyết
định cho cháu gái may mắn, không có mặt vào giờ chót ở chuyến trước, đi
chuyến
liền sau đó. Bà chị lớn hiện ở Mỹ, nhân dịp này đi cùng cháu gái qua
Paris
thăm anh. Tôi hỏi về cô em gái, tên Như, trong nhà gọi Bé. "Nó ở Đức.
Cả
nhà tao vẫn mến mày như ngày nào." Cô em, bây giờ đã có gia đình, vậy
mà
vẫn chưa quên, cái cảm giác sững sờ, khi nhờ bạn ông anh giải giùm một
bài
toán hắc búa. "Nó nói, chưa bao giờ gặp một người giỏi toán như vậy!"
Cô Bé này, học cùng lớp với "cô bé" của tôi, những năm đầu trung học.
Anh bạn chắc vì thương tình, không nhắc chuyện, khi em anh đọc truyện
tôi, về cái cảnh thất thểu chạy theo "cô bé" nơi cổng trường Đại Học
Khoa Học...
"Nó đọc và khóc vùi! Đúng là cải lương!", anh kết luận, về văn chương
của tôi!
Bạn cứ thử tưởng tượng, hai thằng bạn văn, người Việt, sau cuộc chiến
30 năm vui sao nước mắt lại trào, sau thống nhất 29 năm (lúc này trên
tháp Eiffeil, là dòng chữ tiếng Pháp 59 ngày trước năm 2000), vậy mà
muốn gặp nhau phải... hẹn hò ở Paris!
Nhờ hên thôi, anh nói. Qua mấy ngày gặp, anh vẫn còn "nắc nỏm", tao
không thể tưởng tượng, có ngày lang thang ở Paris!
Anh cho biết, chỉ riêng năm vừa qua, có 10 đầu sách xuất bản, toàn là
sách dịch. Tôi hỏi về tin, anh được nhà thơ Pháp Yves Bonnefoy, với tư
cách cá nhân, bỏ tiền túi ra mời anh qua thăm Paris. (Anh có dịch một
tuyển
tập thơ của ông Tây này, xuất bản dưới dạng song ngữ). Anh nói, "lúy"
có
viết thư, gợi ý hai lần, nhưng tao không ưng (thấy ngại quá!). Chuyến
đi
này, là do một tay Tùy Viên Sách (Attaché du Livre) của Tòa Đại Sứ
Pháp.
Đề nghị lâu rồi, không đi được, không phải nhà nước ngăn cấm, mà vì
không đào đâu ra tiền giấy máy bay. Cuối cùng người tùy viên tốt bụïng
lại phải lo giùm thêm khoản này.
Huỳnh Phan Anh được học bổng đi Pháp ba tháng, nghiên cứu về "trường"
(champ) dịch thuật. Nghe nói, giới dịch thuật "chính thức" trong nước
có vẻ "bực" (hay nực?) vì chuyện này. Nhưng đây là tại "thằng Tây" nó
muốn
cho ai thì cho chứ mắc mớ gì tới chuyện Nam Bắc kỳ, chia để trị, (văn
sĩ)
chính thống hay tề ngụy!
Lớp học trò chúng tôi, đa số biết Paris qua... Thanh Tịnh. Con đường
tới Paris bắt đầu bằng cảnh: mẹ tôi âu yếm dẫn tay tôi trên con đường
làng, tôi vẫn quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tôi thấy lạ. Con
đường làng Việt Nam dẫn hai đứa chúng tôi tới những lối đi nơi vườn Lục
Xâm Bảo, và bầu trời hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng
nhiều, và trên không có những đám mây bàng bạc của Thanh Tịnh, bỗng lẫn
vào bầu trời chập chùng Mùa Thu Paris, những chiếc lá vàng rơi trên
những pho tượng trần, những bữa
cơm tối ăn dưới ánh đèn... ôi chao, tôi lại thấy cảnh này, ở nơi vườn
Bờ
Rô Sài Gòn, những ngày quen cô bé...
Thanh Tịnh, là của thời con nít. Gần gụi hơn, là những câu thơ, thí
dụ như "hãy cho anh một tí Paris, để anh làm thi sĩ...", (mô phỏng thơ
Thanh Tâm Tuyền), hoặc "ga Lyon đèn vàng..." của Cung Trầm Tưởng....
hay
là những trang nhật ký của Roquentin, mùi củi ướt tại một xưởng thợ, và
câu văn khép lại cuốn Buồn Nôn của Sartre: Ngày mai trời sẽ mưa trên
thành
phố Bouville. Chúng đã khiến cho những chiếc lá của Anatole France trên
một con đường làng Việt Nam đột ngột sống lại, cùng với thời mới lớn
của
lũ chúng tôi.
Không biết Thanh Tâm Tuyền đã làm một chuyến ngao du "Về Miền Tây" nào
chưa, nhưng thay vì một tí Paris, là những dòng thơ ở giữa chiến tranh
và trại tù. Còn nhớ, những ngày đài phát thanh Sài Gòn, bằng một cái
giọng thật ư là đều đều, đọc danh sách những người phải trình diện, tôi
bảo ông, bữa trước có nghe tên một người bạn của anh..., ông vỗ đùi
đánh đét, thế là
sắp tới tao rồi! Thanh Tâm Tuyền trước đó đã mất hai năm lính, vừa được
giải
ngũ ít lâu thì xẩy ra vụ Mậu Thân, và sau đó là lệnh Tổng Động Viên.
Hồi
còn la cà ở Quán Cái Chùa, đường Tự Do Sài Gòn, tôi và Huỳnh Phan Anh
hay
được dịp ngồi chung bàn với ông. Huỳnh Phan Anh cho biết, sau khi ông
đi
cải tạo về, có gặp, và một lần có kéo ông tới một "căng-tin", làm vài
hơi
bia. Trong số những cô gái phục vụ, có một cô rất mê thơ Thanh Tâm
Tuyền. Bài hát tủ của cô: Lệ Đá Xanh. Cô bé thật tình muốn trổ tài
trước nhà thơ, nhưng ông lắc đầu. Tôi nghĩ thầm: sau một trận tù dài
như thế, vừa mới về nhà gặp vợ gặp con chưa hoàn hồn làm sao mà Giang
Châu Tư Mã đầm đìa áo xanh cho được!
Chưa hoàn hồn... tôi lại nhớ tới một "tục lệ" của người dân ngoài Bắc,
mà tôi đã được trải qua. Lần đó, mê chơi bi, hòn bi lăn mãi tít vô gầm
chiếc rương lớn chứa thóc. Lui cui bò vô, hai chiếc mễ gỗ quá mục, sụp
xuống,
chiếc rương thóc đè lên thằng nhỏ. Người lớn lôi ra, thằng bé ngơ ngác,
mắt lé xệch. Mấy người lớn tuổi nói: nắm cho nó mấy nắm cơm đi, để
chuộc
lại ba hồn bẩy vía.
Lại nói
chuyện dịch. Huỳnh Phan Anh
"khoe", nếu mày về Sài Gòn, vào tiệm sách, là thấy sách của tao bầy la
liệt...
Anh dịch khủng khiếp thật! Trước 1975, cuốn "đắc ý" của anh, có lẽ là
"Ca Ngợi Triết Học", dịch Merleau-Ponty, một trong hai người chủ trương
tờ Thời Mới. Sartre ca ngợi bạn, trong khi ông còn mê mải với hiện
sinh,
Merleau-Ponty đã bước qua hiện tượng luận. Ông còn là một trong những
chuyên
gia "nghiêm túc" về chủ nghĩa Cộng Sản, và đã tìm ra những mắt xích dễ
gẫy
của nó. Không hiểu vào những năm 1960, trước bóng ma của một chiến
thắng
của Miền Bắc, anh bạn tôi khi dịch Ca Ngợi Triết Học, có nghĩ tới những
dòng
của Merleau-Ponty, trong cuốn Ký Hiệu (Signes, 1960): "Chủ nghĩa
Mác-xít
tìm thấy trong lịch sử, những thảm kịch trừu tượng về Hữu thể và Hư vô
và
đặt vào đó, một gánh nặng siêu hình lớn lao; điều này đúng, vì nó nghĩ
tới
bộ khung, tới kiến trúc tính của lịch sử, tới sự xen lấn, bổ sung, giữa
vật
chất và tinh thần, giữa con người và thiên nhiên, giữa hiện hữu và ý
thức,
trong khi triết học chỉ đưa ra một bài toán đại số, và bản thiết kế.
Thu
tóm toàn bộ nguồn gốc nhân loại, chính trị cách mạng đi qua trung tâm
siêu
hình này. Nhưng trong thời kỳ gần đây, chính trị chỉ là thủ đoạn, một
chuỗi
đứt đoạn những hành động, những giai đoạn không có ngày mai, và người
ta
'buộc' vào đó tất cả những hình thức của tinh thần và cuộc sống. Thay
vì
nối kết những đức hạnh, triết học và chính trị chỉ trao đổi cho nhau
những
cái xấu: người ta có, một thực hành quỉ quyệt và một tư tưởng mê tín".
Là
một người ở trong nước, chắc chắn là anh có thẩm quyền hơn tôi, để nói
về
quỉ quyệt và mê tín.
(Anh than, về chuyện giới viết lách ở trong nước coi anh là một trong
những người sống bằng ngòi bút: cần tiền quá!)
Trong một bài viết cho tờ Việt ở Úc, người viết có đưa đề nghị, cái
dịch là cái mới, và cái mới nằm trong cách người viết, người đọc trân
trọng một bản văn, khi nó được chuyển dịch ra khỏi nơi chốn, thời gian
"thực" của nó, thí dụ như dòng văn chương hải ngoại chẳng hạn, vốn được
viết bởi những người Việt phải từ bỏ quê hương, ở khắp nơi trên mặt
đất, tụ lại với nhau qua "bản văn tiếng Việt". Nhìn theo viễn tượng đó,
với riêng tôi, dịch thuật là... cánh cửa mở vào thiên niên kỷ đối với
chúng ta.
Gerald. L. Bruns, trong bài viết "On Difficulty: Steiner, Heidegger,
and Paul Celan" (1) - kinh nghiệm của cả ba đều liên quan tới Nazi, tới
Lò Thiêu - cho rằng chỉ những kẻ bị tống xuất, bị ruồng bỏ (outcasts),
những
kẻ lang thang vất vưởng (wanderers), nếu không muốn nói, chỉ những thi
sĩ, mới có thể trở thành những dịch giả số một. Tại sao vậy?
Tác giả đặt câu hỏi: Điều gì làm cho một bản văn (hay bất cứ một cái gì
khác) cưỡng lại mọi cố gắng nhằm hiểu nó? Theo ông, đây là kinh nghiệm
cơ bản đối với người dịch. Và là một kinh nghiệm vừa mang tính đạo
hạnh, vừa bỏ ngỏ: "anh này (one) cố gắng lột trần anh kia (the other),
bằng một ngôn ngữ, ở bên trong khung văn hóa riêng, nhưng anh kia không
thể nào bị biến thành đối vật theo kiểu này, bởi vì anh (cũng lại)
thuộc về thế giới riêng, và không thể bị bứng lên mà không phải dùng
tới vũ lực. Cổ đại La-tinh hiểu điều này, khi gắn dịch với chiến thắng
những thành phố, bắt nô lệ, và cướp bóc của cải."
"Nói ngắn gọn, đây là sự thành lập đế quốc."
Nhưng dịch có những hậu quả không thể kiểm soát được. Gần mực thì đen,
chơi dao có ngày đứt tay: người dịch phải đối đầu với một điều vượt ra
ngoài căn cước, bản sắc riêng. Hậu quả là, theo Steiner, "cái kia" (the
otherness) chui vào bên trong chúng ta, làm cho chúng ta thành kẻ
khác.... Chẳng thể có dịch thuật, ngoại trừ dưới điều kiện khủng hoảng
tri thức luận (There
can be no translation except under conditions of epistemological
crisis). Nhìn như thế mới thấy một sự thực cay đắng chua chát: chỉ mấy
anh/mấy chị xẩy nhà ra thất thổ, mất quê hương, sống đầu đường xó chợ,
mất mẹ căn cước mẹ đẻ, mới hiểu thế nào là dịch thuật: chiếm tiếng
người làm tiếng mình!
Trường hợp dịch của ông bạn tôi, có thể giải thích, bằng nhận định của
G. Grass. Phản ứng trước hiện tượng "không giờ" của văn chương (hãy
chui vào tháp ngà, hãy nói chuyêän cái mỹ, hãy làm đao phủ thiền....),
ông tuyên bố: kẻ nào muốn thống nhất nước Đức, kẻ ấy phải ôm riết lấy
(lò thiêu) Auschwitz.
Điều này giải thích tại sao, trong cuốn sách vừa mới xuất bản tại Việt
Nam ("Tao đi đây, phải nhắn họ mang tiền nhuận bút tới cho bà xã ở
nhà"), "Không gian, Khoảnh khắc Văn chương" (Tiểu luận-Phê bình, người
biên tập Lại Nguyên Ân, nhà xb Hội Nhà Văn, 1999), không nói tới những
tác giả đã qua đời như Tản Đà, Nhất Linh, Đinh Hùng, giữa những tên
tuổi như J.M.G. Clezio, Claude Simon, Heinrich Boll... bạn tôi đặt vào,
chỉ một tác giả Việt Nam, "mới": Phan Thị Vàng Anh.
Đây là một cuốn sách thâu gom những bài viết phê bình, tiểu luận, rải
rác trước và sau 1975. Huỳnh Phan Anh cho biết, cũng phải nhờ một nhà
phê bình thuộc diện nhà nước, cuốn sách mới ra được: "Mày thấy không,
một tác giả chuyên về 'hư vô' như tao, sống giữa một xã hội 'không hư
vô' một chút nào, với những bài viết từ trước 1975, đấy không phải là
một dấu hiệu đáng mừng của 'văn chương' hay sao?"
Một dấu hiệu đáng mừng, liệu người ta có thể nhận ra nó, khi đọc Phan
Thị Vàng Anh?
Một trùng hợp khá thú vị: Đọc Vàng Anh, tôi cũng liên tưởng tới
Francoise Sagan, nhưng không hẳn như Huỳnh Phan Anh nhận xét: "Họ
(những nhân vật trẻ tuổi của Phan thị Vàng Anh) đáng yêu hơn những nhân
vật của Sagan mà người đọc có thể liên tưởng tới khi đọc Vàng Anh bởi
sự buồn nản; sự nổi loạn không đẩy họ tới những buông thả, phá phách,
suồng sã, mù quáng một cách vô duyên cớ, đặc trưng của một tuổi trẻ nào
khác, ở một nơi nào khác."
Phan Thị Vàng Anh, theo tôi, cũng nằm trong hiện tượng "không giờ" của
văn chương. Ở đây, còn có sự nuông chiều (một trong những hậu duệ, của
"con cưng" chế độ). Có sự õng ẹo, với văn chương chữ nghĩa. Với tuổi
trẻ. Với cái nhìn xuống, khi bóng gió xa xôi, về nỗi cơ cực của những
con người quanh "cô bé". Cô bé đôi lúc cũng đăm chiêu về phận người,
theo kiểu "Buồn Ơi, Chào mi!" của Sagan.
Khi "Buồn ơi…" xuất hiện tại Pháp, người ta chào đón nó như một loài
chim quí. Với Vàng Anh, một loài chim quí, để nuôi trong lồng, như một
dấu
hiệu đẹp đẽ về một chế độ không đẹp đẽ. Giới phê bình Tây Phương cũng
đã
nhận ra điều này với bao nhiêu tác phẩm của Sagan: trong bao nhiêu năm,
người
Pháp đã giữ riêng cho họ, một người tình.
Nhưng xã hội Tây Phương (nước Pháp), khi Sagan mô tả, là những năm kinh
tế khá ổn định, và giới tính đang được mùa.
Có còn hơn không. Khi Sagan được đón nhận, "như một con chim hiếm",
người ta biết, cái khí hậu văn chương hiện sinh cần một thái độ đạo
đức-phi
đạo đức như vậy. Cũng cần phải phân biệt, phi đạo đức khác với vô đạo
đức. Phi đạo đức, một cách nào đó, là treo lửng đạo đức bên trên ngòi
bút. Với Vàng Anh, độc giả trong nước có một cô bé õng ẹo, giữa một đám
đao phủ đang
ngồi thiền là thế hệ cha chú của cô. Vậy cũng là dấu hiệu đáng mừng
rồi!
Huỳnh Phan Anh đã nhận ra điều này, nhưng ông nói, với một sự châm
chước,
của một người đã lớn tuổi: "Có lẽ họ nhẫn tâm với chính họ hơn là với
cuộc
sống".
[Vàng Anh là con gái nhà thơ Chế Lan Viên. Nghe nói, những bản viết
đầu tay của cô là do bố sửa sang, đánh bóng lại. Một anh bạn cho biết,
trong một truyện ngắn viết về người bố, sau khi mất được hỏa thiêu,
nhìn
hũ tro cốt, "cái còn lại" của một đời người cúc cung với chế độ, cô cay
đắng hỏi chủ nghĩa, hỏi chế độ, hỏi đời, hỏi chính mình, "Chỉ có thế
thôi
à?"]
NQT
|