Khu Chợ Đũi,
Huỳnh Phan
Anh, và tôi
Hồi
mới tới Sài-gòn, nơi chốn đầu tiên mà tôi làm quen, là
khu chợ Vườn Chuối.
Chuyến
đó ở trên tầu Rắn Biển, Marine Serpent hơi lâu, vì
phải đợi ngài Hồng Y Spellman ghé thăm và ban phước lành cho đồng bào
di cư.
Trong khi chờ đợi, chẳng biết làm gì, họ kéo nhau lên boong, ăn hột vịt
lộn từ
mấy chiếc ghe nhỏ chuyền lên, ngắm thành phố, làm con tầu khổng lồ
nghiêng hẳn
sang một bên. Xưa quá rồi Diễm ơi, nhưng sao thỉnh thoảng vẫn mơ thấy
những con
sóng đuổi theo con tầu như cố níu kéo, mấy bà Bắc-kỳ hè nhau mở cánh
cửa khoang
tầu thay vì nhẹ nhàng vặn vô lăng, mấy đấng đàn ông đứng ngay trên
boong
"mở cửa sổ ngó xuống biển", gió tạt vào mấy anh lính thuỷ hạm đội 7 ở
phía dưới. (A, thì ra đó là lý do tại sao nước biển mặn. Cả triệu con
người chứ
ít ỏi gì! Nhân vật Nguyễn của nhà văn thèm giang hồ, nhân một chuyến đi
xa,
đành soi gương, vuốt tóc, bằng bãi nước anh ta vừa thải, đám di cư còn
"cơ
may" tới được Miền Nam, đâu có suốt đời phải "phóng uế" nơi đất
người; phải có "căn phần" mới được như Tôn Ngộ Không đi khắp ta bà,
tận cùng thế giới, tè một "phát" mà vẫn chưa ra khỏi bàn tay của quê
nhà, ôi cái thú ăn, ngủ nơi quê hương, dân lưu vong dễ gì có được!)
Dải đất hình chữ S xa xa, dọc theo con tầu, lúc ẩn lúc
hiện...
Chuyến
đó đi một mình. Bà cụ cố vớt vát được đồng nào hay
đồng đó, ở những phiên chợ Trời mọc lềnh khênh suốt thành phố Cảng.
Chúng mới
được di cư từ Hà-nội xuống. Thủ đô lúc này đã được tiếp quản, nhưng
Hải-phòng
còn chút ân huệ 300 ngày.
Chả
là, ông anh rể lấy bà chị họ, làm nhân viên Nha Thông
Tin, sở làm ngay kế bên Bờ Hồ; khi xẩy ra vụ di cư, ông nhẩy qua quân
đội, lãnh
chức sĩ quan đồng hóa, và lo việc tiếp rước đồng bào tại đầu cầu
Hải-phòng. Bà
mẹ và đứa em ở lại đi chuyến chót, cùng ông anh. Cho thằng em vào trước
lo việc
học.
Rời
con tầu, mỗi người được phát 300 đồng. Những chuyến
trước, tiền di cư "tính liền", nhưng chuyến đó, chỉ nhận được một mẩu
biên nhận, mấy ngày sau tới Tổng Uỷ Di Cư, ở đường Trần Hưng Đạo đổi
lấy tiền
mặt. Nếu không đến nhà bà chị ở khu Vườn Chuối, biết đâu lại có dịp tái
ngộ
người bạn Hà-nội, Đỗ Tiến Đức ở Nhà Hát Lớn thành phố, hoặc quen Viên
Linh ở
khu lều di cư Phú Thọ, ngay khúc trường đua. Xưa quá rồi Diễm ơi.
Trường
Nguyễn Trãi khi đó bị xóa sổ. Đây là nói về trường
Nguyễn Trãi di cư, như Chu Văn An di cư, không phải trường Nguyễn Trãi
sau này,
ở miệt Khánh Hội. Mò đến Hồ Ngọc Cẩn; thầy giám thị phán, "mê Hà-nội
vào
trễ, học lại lớp cũ." Tiếc một năm đèn sách, đành nhẩy ra trường tư.
Ngày
ngày lãnh trách nhiệm xách một thùng nước cho bà chị có sạp bún chả tại
chợ
Vườn Chuối, rồi băng con hẻm cắt ngang Phan Đình Phùng, Trần Cao Vân,
Hồng Thập
Tự. Trường Văn Lang của thầy Nguyễn Khắc Kham nằm trong một con hẻm ở
đường Ngô
Tùng Châu, kế nhà thờ Huyện Sĩ. Nhà của Huỳnh Phan Anh nằm ngay đầu con
hẻm ăn
ra đường Hồng Thập Tự, Khu Chợ Đũi. Nhà "cô bé" cũng kế đó. Gần ngã
tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng. Trường học của cô bé, trường Kiến
Thiết cũng
kế đó, cách con hẻm "Huỳnh Phan Anh" vài chục bước chân. Khu này vốn
nổi tiếng vì mấy tiệm sách cũ, Huỳnh Phan Anh và tôi đã từng lục lọi
những số
báo nrfẠ, những cuốn tiểu thuyết đen, série noire. Ít người Sài-gòn
quên được
món cơm xá xíu ngay đầu con hẻm Kiến Thiết. Mấy đứa em của Huỳnh Phan
Anh có
đứa học chung với cô bé. Đó là những chuyện sau này.
Tôi
ở khu chợ Vườn Chuối tới năm học Đệ Nhị, rồi qua Thủ
Thiêm trọ học, nhờ bà cô mỗi tháng từ Pháp gửi tiền về, cộng thêm tiền
làm nghề
"trợ giáo". Mãi sau này, khi quen cô bé, tôi mới lại lảng vảng ở khu
đầu đường Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng. Rồi khi quen Huỳnh Phan Anh,
mới trở
lại con hẻm cũ.
Tôi
"biết" Sài-gòn, phần lớn là qua "ông
thầy" Huỳnh Phan Anh. "Thằng chả" dậy tôi chơi banh bàn, bi da.
Quán bi da nổi tiếng mà lâu ngày tôi quên mất tên, ở khu Ngô Tùng Châu,
gần
trường Nguyễn Bá Tòng, là nơi hai đứa nhiều ngày đứng suốt buổi, khi ra
khỏi
quán hai chân rã rời, kéo nhau băng qua đường, leo lên gác xép ngủ. Nhà
Huỳnh
Phan Anh là nơi lần đầu tiên tôi nhìn thấy cái bàn ăn "dã chiến", khi
ăn mở ra, ăn xong xếp lại. Đứa em trai nói ngọng. Mấy chị em là nguồn
kinh tế
của hai đứa chúng tôi. Rồi thằng chả dậy tôi "xóm" nghĩa là gì.
Sau
này học trò vượt ông thầy. Tôi sa xuống mãi đáy Sài-gòn,
những nơi chốn mà bạn tôi đã từng căn dặn chớ mò tới. Cái trò đọc sách
trong
một quán chệt, chỉ cần một ly cà phê túi, hoặc ly hồng xà (hồng trà),
rồi cứ
thế ngồi suốt buổi, là cũng do anh truyền cho tôi. Và hai đứa chia nhau
kinh
nghiệm đọc, nhờ nó. Có lần anh kể cho tôi nghe, bữa trước đọc Buồn Nôn,
La
Nausée, tới đoạn Roquentin đi trong thành phố Bouville, "một mình mà
như
cả một đoàn quân đang xuống phố"; "đọc tới đây, thú quá tao cũng bỏ
ra ngoài đường lang thang một hồi...", và có lần cũng cảm thấy, như
Roquentin, "tương lai đang chờ đợi ở một ngã tư đầu đường". Tôi cũng
có những kinh nghiệm y hệt như vậy.
Qua
anh tôi có được quá nhiều bạn: Dương Văn Ba, Nguyễn Xuân
Hoàng, Nguyễn Đồng, Hoàng Ngọc Biên, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật
Duật... Có
thời gian tôi "cộng tác" với báo Điện Tín, là do anh. Thân nhất, có
lẽ là lúc anh đang học Sư Phạm Đà Lạt. Tuần nào tôi cũng nhận được thư.
Anh vốn
là một con người rất cứng rắn, "dur", ít khi bộc lộ tình cảm. Những
lá thư là một Huỳnh Phan Anh "đích thực", đối với tôi.
Lần
đầu tiên tôi biết Đà Lạt là lần lên thăm anh. Đúng vào
dịp Giáng Sinh, với một người bạn. Cả ba đi lang thang ngoài đường đến
gần
sáng, say, hát, la, rống dọc theo những con dốc. Lần đó, tôi có cảm
tưởng sống
lại Hà-nội, và mơ hồ hiểu được tâm trạng của những người lính lê dương
nhớ nhà,
say sưa giữa thành phố, giữa cuộc chiến "không phải của họ".
Với
Huỳnh Phan Anh, tôi chỉ ân hận một điều, anh dậy tôi
nhiều quá, còn tôi, chỉ có một bài học, đúng ra là một kinh nghiệm, mà
không
làm sao nói lại cho anh hiểu: tại sao bỏ vào Nam.
Nhưng
câu hỏi đó, cho đến nay tôi cũng vẫn chưa trả lời
được, cho chính tôi.
Cuốn
truyện đầu tay của tôi là cuốn mở đầu nhà xuất bản Đêm
Trắng do anh chủ trương. Thoạt tiên "gạ" ông Nguyễn Đình Vượng, nhưng
gặp Trần Phong Giao cản đường. Của đáng tội, thư ký tòa soạn báo Văn
không tin
cuốn sách sẽ bán được. Tác giả cuốn sách cũng nghĩ vậy. Huỳnh Phan Anh
"xúi", thì bỏ tiền ra in, tao làm nhà xuất bản. Anh nhờ Nguyễn Đồng
làm bìa. In 2000, đến nhà phát hành Sống Mới, gặp ngay Nguyên Vũ, hình
như đang
là tác giả có sách bán chạy nhất lúc đó. Anh nói vô, ông chủ mua cho
300 cuốn.
Còn lại bán lai rai, cũng thu đủ vốn. Khi đọc tên tác giả, tác phẩm:
đứng hàng
thứ bẩy, trong danh sách 12 nhà văn phản động đồi truỵ, trên báo Tin
Sáng, ngay
sau khi Việt Cộng vào Sài-gòn, (đây là danh sách đầu tiên, sau được bổ
sung
thêm, thành 19, rồi cả Miền Nam, trừ mấy anh nằm vùng, tất nhiên), tôi
sợ,
(có), hãnh diện, (có), nhưng thật sự ngạc nhiên. Bởi vì tôi không thể
tin, cuốn
sách được mấy ổng chiếu cố kỹ đến như vậy. Tôi không tin cuốn sách còn,
nếu có
chăng, may ra ở trong thư viện.
Đã
bao lần tôi cầu mong nó quên tôi, như tôi quên đã quên
nó.
NQT