I will win you away from every earth,
from every sky,
by Marina
Tsvetaeva
I will win you away from every earth,
from every sky,
For the woods are my place of birth,
and the place to die,
For while standing on earth I touch it
with but one foot,
For I'll sing your worth as nobody
could or would.
I will win you from every time and
from every night,
From all banners that throb and shine,
from all swords held
tight;
I'll drive dogs outside, hurl the keys
into dark and fog,
For in the mortal night I'm a more
faithful dog.
I will win you from all my rivals, and
from the one;
You will never enjoy a bridal, nor I a
man.
And in the final struggle I'll take
you—don't make a sound!—
From him by whom Jacob stood on the
darkened ground.
But until I cross your fingers upon
your breast
You possess—what a curse!—yourself:
you are self-possessed;
Both your wings, as they yearn for the
ether, become
unfurled,
For the world's your cradle, and your
grave's the world.
[Bản tiếng Anh của Joseph Brodsky]
Tôi sẽ thắng anh, từ bất cứ mảnh đất,
bất cứ vòm trời
Tôi sẽ thắng anh, từ bất cứ mảnh đất,
bất cứ vòm trời,
Bởi vì rừng là nơi tôi sinh ra, và là
nơi để chết,
Bởi vì chỉ một chân tôi đụng đất mà
thôi
Bởi vì ngoài tôi ra, không ai nhìn ra
chân giá trị của anh
Tôi sẽ thắng anh, từ bất cứ thời nào,
bất cứ đêm nào,
Giữa chốn ba quân, giữa cờ biển ngợp
trời, giữa rừng gươm
tua tủa (1).
Tôi sẽ đuổi lũ chó đó ra ngoài, và ném
những chiếc chìa khoá
vào trong bóng tối và sương mù,
Bởi vì trong đêm đen chí tử, đọa đầy
này, tôi còn hơn một
con chó trung thành.
Tôi sẽ thắng anh, từ bất cứ địch thủ,
nhất là từ kẻ đó;
Anh đừng bao giờ mong sánh vai cùng
một cô dâu, cũng như
tôi, chẳng hề mong một thằng đàn ông nào - ngoài anh ra, lẽ dĩ nhiên!
Và trong trận đánh cuối cùng tôi sẽ
giật lấy anh - đừng gây
một tiếng động! –
Khỏi cái kẻ mà Jacob đứng trên mặt đất
tối thui, chiến đấu
cùng với hắn (2).
Nhưng cho tới khi tôi đặt chéo hai tay
anh lên ngực anh.
Anh chiếm hữu chính anh. Còn lời trù
ẻo nào hơn là lời này:
Anh là kẻ tự mình nguyền rủa mình;
Hai cánh tay của anh ôm lấy thinh
không, và cứ thế xoải rộng
ra,
Bởi vì thế giới là cái nôi của anh,
còn nấm mồ của anh là
thế giới.
Chú thích:
(1): Chồng nhà thơ là một sĩ quan bạch
vệ, sau về với
"Cách Mạng": Tôi sẽ đuổi lũ chó đó ra ngoài....
(2) Nhân vật Cựu Ước, con trai Isaac,
và là cha 12 người con
trai, tổ tiên dân Do Thái.
Tiểu sử nữ thi sĩ
Tsvetayeva, Marina Ivanovna
Tên khi lập gia đình:
Marina Ivanovna Efron
Sinh ngày 26 tháng Chín, 1892, Moscow, Nga.
Mất ngày 31 tháng tám, 1941, tại
Yelabuga.
Nữ thi sĩ Nga, ít được biết tới ở nước
ngoài, nhưng được coi
là một trong những nhà thơ tinh tế nhất (finest) thế kỷ 20, của tiếng
Nga.
Những vần thơ của bà thật khác biệt, do tính uyên nguyên, do nhịp điệu
tách
rời, và do tính trực tiếp của chúng.
Bà trải qua những năm niên thiếu ở Moscow, cha giáo
sư đại học, giám đốc viện
bảo tàng, và mẹ nhạc sĩ dương cầm tài năng. Gia đình thường du ngoạn
nước ngoài
và vào năm 16 tuổi, bà vào Đại Học Sorbonne, Paris. Tập thơ đầu tay Vecherny albom
[Chiều,
Evening Album] xuất hiện năm 1910. Những vần thơ tuyệt vời nhất của bà
là ở
trong trường thi mang tính cổ tích Tsar – devitsa (1922, Tsar-Maiden).
Tsvetayeva tỏ ra thù nghịch với cách
mạng Nga. Chồng của bà,
Sergei Efron, là một sĩ quan Bạch Vệ, và rất nhiều vần thơ của bà vào
thời kỳ
này, là để vinh danh lực lượng kháng chiến chống lại Bôn-sê-vích. Trong
số đó,
có tập thơ thật đáng kể là Lebediny stan [The Swans’ Camp] được sáng
tác thời
gian 1917-21, nhưng mãi đến năm 1957 mới được xb tại Munich. Đây là một
“Chinh
Phụ Ngâm” mang tính ký sự, trữ tình, và cảm động, về Cuộc Nội Chiến
nhìn dưới
cặp mắt và tình cảm của một người vợ sĩ quan Bạch Vệ.
Tsvetayeva rời Liên Bang Xô Viết vào
năm 1922, tới Berlin và
Prague, và sau cùng, vào năm 1925, định cư ở Paris. Ở đây, bà cho in
một vài
tập thơ, trong đó có Stikhi k Boky [1922, Những vần thơ gửi thi sĩ
Blok], và
Posle Rossii [1928, After Russia:
Sau Nga xô], đây là tập thơ chót xb khi bà còn sống. Bà cũng làm hai
tập thơ
lấy đề tài bi kịch cổ điển, Ariadne (1924), Phaedra (1927), một vài
tiểu luận
thơ, trong có Moy Pushkin [Puskin của tôi, 1937]. Vòng thơ chót của bà,
Stikhi
k Chekhii (1938-39, Những vần thơ cho Xứ sở Czech), là phản ứng của nhà
thơ
trước sự kiện Nazi xâm lăng đất nước này.
Vào thập niên 1930 thơ của bà thấm đậm
chất hoài hương của
người lưu vong, tha phương nơi xứ người, nhớ quê nhà, như Toska po
rodine
(1935, Homesick for the Motherland, Nhớ Quê Mẹ), và Rodina (1936, Quê
Mẹ). Vào
cuối thập niên 1930, chồng bà quay đầu về với những người cộng sản, và
trở lại
Liên Bang Xô Viết, mang theo cùng với ông người con gái. [Cả hai, cha
và con,
sau trở thành nạn nhân của khủng bố Stalin). Vào năm 1939, nhà thơ theo
chồng
và con, định cư tại Moscow,
ở đây, bà làm công việc dịch thuật. Cuộc di tản tại Moscow trong Cuộc Đệ Nhị khiến bà
phải tới ở
tại một thành phố xa lạ, không một bạn bè, không một trợ giúp. Bà tự
huỷ mình
vào năm 1941.
[Tài liệu từ Bách Khoa Britannica, de
luxe].
Kỳ tới: Nhà thơ Nobel văn chương Nga,
Joseph Brodsky, nói về
Marina Tsvetayeva, một “sư phụ” của ông.
Jennifer
Tran giới
thiệu.