
Nguyễn Quốc Trụ
phụ trách
CHUYỂN NGỮ
|
Trong Căn Phòng Rưỡi
Gửi L. K.
Joseph Brodsky
Căn Phòng Rưỡi (không hiểu một đơn vị không gian như vậy có ý nghĩa gì
không, ở
trong tiếng Anh), trong đó, gia đình chúng tôi gồm ba người sống, có
một cái
sàn bằng gỗ, và mẹ tôi không chịu cho bất cứ người đàn ông nào trong
gia đình,
đặc biệt là tôi, đi lại trong phòng mà lại mang vớ ở chân. Bà nhắc nhở
chúng
tôi, hãy luôn luôn mang giầy, hoặc dép. Nếu khi nào bực quá, bà nhắc
tới sự dị
đoan của ông bà già người Nga, mang vớ như thế là xui xẻo, trong nhà
thế nào
cũng sẽ có người chết
Lẽ dĩ nhiên, việc mang vớ đi
trong phòng như thế, đối với bà, giản dị chỉ là một thói xấu, thiếu văn
hoá.
Chân đàn ông vốn có mùi. Tuy nhiên, tôi cho rằng, sự thực là, nếu mang
vớ, có
thể té ngã, nhất là thứ vớ len, dạ. Và nếu một người già cả, lụm cụm,
té như
thế có khi mang họa. Sự gần gụi của cái sàn với gỗ, với đất…. trong trí
tưởng
của tôi cứ thế được mở rộng ra, tới bất cứ nơi nơi mà chân cẳng bà con,
gần
hoặc xa, sống trong cùng một thành phố, giẫm lên trên. Chẳng cần khoảng
cách xa
hay gần, vẫn là chung mặt đất. Ngay cả chuyện nếu sống ở phía bên kia
con sông,
nơi tôi sau này sẽ muớn một căn hộ, hoặc một căn buồng riêng cho mình,
cũng
không thể khác đi, bởi vì trong thành phố này có nhiều sông và
kênh rạch.
Và, mặc dù những con sông, một số khá sâu đủ cho tầu biển đi lại, thần
chết,
theo tôi nghĩ, vẫn coi là nông, theo cái tiêu chuẩn cõi âm phủ của nó,
và sẽ bò
qua, ở dưới đáy của chúng.
Bây giờ, bà cụ và ông cụ thân
sinh ra tôi đều đã mất. Tôi đứng ở bờ biển Đại Tây Dương: bao la là
nước biển
chia cách tôi với hai bà cô và anh em cô bác: Sự cách ngăn mới lớn lao,
mới
thật sự làm sao. Đến thần chết cũng còn lầm không biết ai là kẻ tới số.
Bây
giờ, tôi có thể thoải mái mang đôi vớ ở chân, đi đi lại lại, bởi vì tôi
đâu còn
thân nhân ở lục địa bên này. Cái chết độc nhất trong gia đình, là cái
chết của
chính tôi, chắc hẳn thế, mặc dù giả dụ như thế là lầm lộn máy phát tin
với máy
nhận tin, theo nghĩa, người mang vớ là tôi, còn người nhận cái xui xẻo
phải là
người khác. Sự may rủi ở trong trường hợp này thì quá nhỏ, và đây là
điều phân
biệt giữa máy móc điện tử, với mê tín, dị đoan. Tuy nhiên, nếu tôi
không giẫm
lên những tấm ván sàn làm bằng gỗ cây phong ở Gia Nã Đại thì điều này
không phải vì tin vào khoa học, hay là vì mê tín dị đoan,
giống
như một thứ bản năng sợ chết, nhưng là do mẹ tôi sẽ không chấp nhận
chuyện đó.
Tôi nghi là tôi vẫn cố tình giữ làm sao cho mọi chuyện vẫn y nguyên như
ngày
xưa trong gia đình của chúng tôi, cho dù bây giờ chỉ còn tôi trơ cu lơ
ở trên
cõi đời này.
2
Có ba chúng tôi trong căn
phòng rưỡi của chúng tôi đó: cha tôi, mẹ tôi, và tôi. Một gia đình,
theo đúng
kiểu Nga, vào thời kỳ đó. Thời đó, là sau chiến tranh, và rất ít gia
đình chịu
nổi, ngay chỉ ý nghĩ ngông cuồng này, hay là tụi mình có thêm một đứa
con nữa,
là hai? Một số gia đình còn không thể chịu nổi, chuyện, ông già của
mình còn
sống, hoặc sờ sờ ra đó: Khủng Bố Lớn và chiến tranh đã thu gom gần như
hết
giống đàn ông Nga, ở trong những thành phố lớn, nhứt là thành phố quê
hương của
tôi. Vì vậy, kể như gia đình tôi là may mắn, nhứt là còn sự kiện này
nữa: chúng
tôi là dân Do Thái. Tất cả ba chúng tôi sống sót cuộc chiến (tôi nói,
cả ba,
bởi vì tôi cũng ra đời trước cuộc chiến, vào năm 1940); cha mẹ
tôi, tuy
nhiên, còn sống sót những năm 1930.
Tôi nghi, hai ông bà nghĩ rằng họ
may mắn, mặc dù cả hai ít nói về chuyện này. Nói chung là, cả hai chẳng
để ra
sự thất thần, về chính họ, ngoại trừ ngày một thêm tuổi, và ba thứ bệnh
lẩm cẩm
bắt đầu ảnh hưởng tới họ. Ngay cả khi đó, họ cũng không nói về họ, và
về cái
chết theo kiểu làm kinh hoàng người nghe, hoặc khiến cho người nghe đâm
ra cảm
động, hoặc thương hại. Thường thì hai ông bà chỉ ca cẩm tí tí, về chứng
đau
lưng, nhức đầu, hoặc bàn bạc về ba thứ thuốc men này nọ. Cùng lắm, là
bà cụ tôi
có thể nói như vầy, khi chỉ bộ chén dĩa kiểng bằng sành, sứ Trung Hoa:
Cái đó
sẽ là của con, khi có vợ… và tới đó, là bà ngưng. Tôi nhớ, có một lần,
bà từ
một ca bin điện thoại ở đường phố bước ra, trong khi tôi chờ bà ở bên
ngoài, và
tôi nhận ra có vẻ gì khác thường trong cái nhìn của bà, trong đôi mắt
ẩn đằng
sau cặp kính lão gọng đồi mồi của bà. Tôi cúi về phía mẹ, ấy là bởi vì
khi đó
tôi đã khá lớn, và cao hơn mẹ, và hỏi, bà bạn của mẹ đã nói gì, và mẹ
tôi trả
lời: “Bà bạn của mẹ biết bà ta sắp sửa chết, và khóc với mẹ trong điện
thoại.”
Lẽ dĩ nhiên, ông già bà già của
tôi hiểu thật rõ, trời cho chi thì nhận vậy. Và ông trời cho ông bà, hệ
thống
nhà nước chết tiệt đó, sự bất lực, sự nghèo khổ đó, và đứa con trai độc
nhất,
nối dõi tông đường đó. Họ chỉ cố, làm sao làm được điều tốt nhất, từ
mọi thứ
trời cho họ: làm sao có thức ăn bầy lên bàn - và cho dù là thức
ăn chi
chi, cũng bầy biện thành những miếng nhỏ, vừa miệng ăn; cố gắng trang
trải mọi
chuyện, theo kiểu cháo húp quanh, nợ trả dần – và, mặc dù gia đình chỉ
trông
vào đồng tiền kiếm được từng ngày, cũng cố làm sao dành dụm vài đồng lẻ
cho
thằng bé đi coi phim, đi coi viện bảo tàng, mua sách vở, dăm ba cái
bánh ngọt,
hay vài cục kẹo. Đồ đạc, vật dụng trong nhà, bát dĩa, quần áo thay đổi
hàng
ngày… tất cả là cứ sạch sẽ ngăn nắp, phẳng phiu, bóng loáng. Ba cái tạp
dề lúc
nào cũng thơm phức, ba cái chụp đèn sạch bụi, ôi, còn cái sàn gỗ thì
khỏi nói,
lúc nào cũng sạch như li như lai.
Điều ly kỳ nhất, là hai ông bà
chẳng bao giờ tỏ ra buồn bực, chán nản. Mệt mỏi có, nhưng chán nản,
không bao
giờ. Hầu hết thời gian ở trong nhà, ông bà đi đi lại lại, ít khi ngồi:
nấu
nướng, giặt giũ, hết việc bếp thì đi lên phòng trên, phòng của tôi,
phòng của
ông bà, thì cũng vẫn trong căn phòng rưỡi đó. Khi họ ngồi, ấy là ở bàn
ăn, để
dùng bữa, nhưng với bà cụ của tôi, bà ngồi, như tôi còn nhớ được, chủ
yếu là ở
bàn máy may, cặm cụi với cái máy hiệu Singer, nào là sửa chữa, may vá
mấy bộ
đồ, lộn cổ áo phía trong thành phía ngoài, nới rộng, hay cắt ngắn ba
quần áo
cũ. Còn với ông cụ, thời gian độc nhất ngồi trên ghế, là khi ông đọc
báo, hay
một cái gì đó, ở nơi bàn của ông. Thỉnh thoảng, vào buổi tối, họ ngồi
coi phim,
hoặc một buổi hòa nhạc, từ chiếc TV đời 1952. Rồi thì, ông bà cũng được
an vị,
trên ghế, trong căn phòng rưỡi của chúng tôi: một người láng giềng đã
thấy ông
cụ tôi mất, trong khi ngồi như thế, một năm trước đây.
3
Ông cụ tôi thọ hơn bà cụ
mười ba tháng. Bà cụ 78 tuổi trời, còn ông cụ tám mươi. Tôi chỉ được
sống chung
với cả hai, ba mươi hai năm. Tôi gần như chẳng biết một tí gì, về
chuyện hai
ông bà đã làm quen với nhau trong dịp nào, ra làm sao; tôi còn chẳng
biết hai
người lấy nhau vào năm nào. Chẳng biết cách họ sống, cách họ xoay xở,
trong
mười một hoặc mười hai năm sau cùng của cuộc đời của họ, những năm
không có
tôi. Kể từ khi chẳng hề biết như vậy, tôi đành nhủ thầm, rằng mọi
chuyện thì
cũng theo thường lệ, và, biết đâu, hai cụ còn cảm thấy dễ xoay sở hơn,
khi
không có tôi ở kế bên, cả về mặt tiền bạc chi dụng hàng ngày, lẫn việc,
hết còn
phải thấp thỏm, về chuyện tụi nó bắt bớ giam cầm thằng con.
Ngoại trừ chuyện, tôi đã không
được phụng dưỡng bố mẹ khi ông bà đã già yếu, ngoại trừ chuyện, hai cụ
mất
không có tôi ở kế bên. Tuy nhiên, tôi nói như vậy không hoàn toàn là do
mặc cảm
tội lỗi. Ao ước làm sao đi đúng con đường của bố mẹ, theo tôi, có thể
là một ao
ước ích kỷ, bởi vì, mọi đứa trẻ, cách này hay cách khác, đều lập lại
thành công
của bố mẹ chúng. Tôi chỉ có thể nói như thế này, nói cho cùng, con
người muốn
học, từ bố mẹ của mình, về tương lai của chính mình, của riêng mình, về
tuổi
già của riêng mình; con người muốn học, từ bố mẹ của nó, bài học tối
hậu này:
làm sao chết, chết thế nào. Ngay cả khi chẳng muốn bất cứ một điều gì
vừa nêu
trên, thì con người vẫn hiểu ra điều này, tuy không cố tình muốn hiểu,
rằng,
khi mình già, liệu có khác ông via bà via mình chút nào không, hay cũng
rứa?
Liệu những gì gì, giọt máu đào hơn ao nước lã, là như vậy, liệu cái
bệnh đau
tim này, là di truyền?”
Như vậy là tôi không, và sẽ chẳng
bao giờ biết, ông cụ bà cụ cảm thấy thế nào, những năm cuối cùng của
cuộc đời
của họ. Họ đã phải sợ hãi bao nhiêu lần? Bao nhiêu lần họ đã cảm thấy
đã được
sửa soạn, để chết, và sau đó, sau khi đã bình tâm, liệu có khi nào họ
mong ước,
cả ba chúng tôi sẽ có cơ hội lại đoàn tụ? “Con trai của mẹ,” bà cụ sẽ
gọi điện
thoại cho tôi, và nói, “điều độc nhất mà mẹ muốn từ cuộc đời này, là,
lại được
nhìn thấy con. Đó là điều khiến mẹ còn níu kéo cuộc đời này". Và một
phút
sau, “Con đang làm gì đó, mẹ muốn nói, năm phút, trước khi con gọi cho
mẹ?”
“Con đang rửa chén dĩa.” “Ô, vậy thì tốt quá. Đó là điều thật tốt để mà
làm.
Đôi khi nó còn làm cho con khoẻ mạnh, một cách trị bịnh tuyệt vời đấy,
con trai
của mẹ.”
4
Căn Phòng Rưỡi của chúng
tôi đó, thuộc dẫy phòng chiếm một phần ba của cả khu phía bắc tòa
building sáu
tầng lầu, nhìn ra ba con phố, và một quảng trường. Tòa nhà là một trong
những
phúc lợi kỳ diệu nhất, được xây dựng theo kiến trúc của người Moor,
đánh dấu
bước ngoặt thế kỷ tại vùng Đông Âu. Được dựng lên vào năm 1903, năm
sinh của
ông già tôi, nó là một trong những nguồn cảm hứng về kiến trúc, đối với
thành
phố St. Petersburg vào thời kỳ đó, và Anna Akhmatova có lần đã kể cho
tôi nghe,
là ông cụ bà cụ của bà đã đẩy một chiếc xe trẻ con, trên có cô con gái
của hai
cụ, tức là nữ thi sĩ lớn lao của nước Nga sau này, tới viếng thăm kỳ
quan kiến
trúc, là tòa building nói trên. Về phía Tây, nó nhìn ra một trong những
đại lộ
nổi tiếng nhất của văn học Nga, đại lộ Liteiny Prospect, nhà thơ lớn
Alexander
Blok có thời gian có một căn phòng tại đây. Riêng về dẫy nhà của chúng
tôi, một
trong căn phòng đó đã từng được một cặp văn nhân tài tử cư ngụ. Cặp này
đã có
thời ngự trị văn đàn thời tiền Cách Mạng Nga, và cả sau này, thời kỳ
lưu vong
tại Paris, vào thập niên 1920, và 1930, đó là Dmitry Merezhkovsky và
Zinaida
Gippius. Và cũng chính từ bao lơn căn phòng rưỡi của chúng tôi mà
Zinka, khi
còn trứng nước, đã buông lời lăng nhục đám thuỷ thủ cách mạng.
Sau Cách Mạng, với chính sách
“cài răng lược” đám trưởng giả, dẫy nhà trên đã được xẻ banh ra, mỗi
gia đình
một mẩu. Tường cứ thế thi nhau dựng lên, ngăn những phòng lớn ra. Lúc
đầu thì
còn là tường gỗ lớp, plywood. Rồi thì là, theo năm tháng, đủ thứ loại
tường,
ván, gạch… cũng góp phần làm nên tiêu chuẩn, mẫu mã kiến trúc. Không
gian không
triển nở mãi ra, nhưng mà là cứ thế co rúm lại. Do co rúm lại như thế,
lạ lùng
thay, không gian lại trở nên nhất trí hơn. Cấu trúc hẳn hòi ra, và có
nhiều
tên gọi: xà lim, buồng kín, một cái mả, cái huyệt. Như những cánh tay,
những cái vòi, chúng cứ thế vươn ra, ôm
trọn lấy
những khoảng trời.
Trong Liên Bang Xô Viết, tiêu
chuẩn chỗ ăn chỗ nằm, là 9 mét vuông cho một người. Chúng tôi phải nghĩ
là mình
là may mắn, bởi vì được chia tới 40 mét. Để được sự may mắn thái quá
đó, ông cụ
bà cụ đành phải bỏ hai căn phòng rời, ở hai nơi khác nhau, trong thành
phố, nơi
cả hai đã từng sống, trước khi lấy nhau. Một quan điểm về trao đổi như
vậy,
phải nói là chia chác, do mục đích sau cùng của nó, người nước ngoài
thật khó
hình dung nổi. Những luật lệ về tài sản thì bí ẩn, ở đâu thì cũng vậy
thôi,
nhưng có vài thứ bí ẩn hơn những thứ khác, đặc biệt là, khi chủ nhà của
bạn
chính là ông nhà nước. Tiền bạc không ăn thua gì ở đây, thí dụ vậy, bởi
vì kể
từ khi sống dưới chế độ toàn trị, đồng lương cố định, chế độ tem phiếu,
mọi
người ai cũng nghèo như… người đứng kế bên. Bạn không mua, [tiền
đâu mà
mua], phần ăn ở nhà nước đã chia cho bạn, nếu có chăng, là đòi cho được
phần mà
bạn đã được chia, trước đó. Nếu bạn có hai người, và nếu bạn quyết định
sống
chung, như vậy là cả hai được chia, phần hai bên trước đó sống riêng
rẽ, bây
giờ cộng lại. Và mấy anh chị công nhân viên sở nhà đất là người quyết
định
chuyện này. Đừng mua chuộc họ, bởi là vì đẳng [đảng] cấp giữa đám người
này, tới
lượt nó, thuộc loại “siêu” bí ẩn, và bản năng đầu tiên của họ, khi vừa
nhìn
thấy bạn, là, hãy chia cho nó, càng ít càng tốt!
Những cuộc đổi chác cứ thế mà
tiến lên, năm này qua năm khác, và đồng minh độc nhất của bạn là sự mệt
mỏi,
hoặc là bạn chơi trò chai lì, không chịu dọn tới một nơi chốn ẹ hơn, và
cứ ở,
cho tới khi, không nó, thì bạn, xụm xuống. Không kể sự tính toán số học
thuần
tuý, điều làm đám công viên sở nhà đất đi đến quyết định, là cả một
mạng lưới
rộng lớn những gìả dụ, những ví thử, những nếu mà chẳng bao giờ thành
luật, về
tuổi tác, quốc tịch, sắc dân, nghề nghiệp, về tuổi, trai hay gái của
mấy đứa
con, gốc gác xã hội, quê quán của bạn, ấy là chưa kể ấn tượng đầu tiên
về bạn,
khi bạn vừa chường mặt ra ở sở nhà đất. Chỉ mấy người công nhân viên ở
đó biết
xó xỉnh nào còn trống, chỉ họ phán đoán đâu là khinh đâu là trọng, làm
sao
thiến ở chỗ này một tí, đắp vô chỗ kia một tị, một mẩu vài thước vuông.
Ôi
chao, sự khác biệt mới lạ lùng làm sao! Với một tí một mẩu như thế, bạn
có thể
có được một nơi cho cái kệ sách, hay sung sướng thay, một cái bàn để mà
ngồi
làm việc, hay mơ mộng.
5
Ngoài cái chuyện may mắn có
thêm được tới muời ba mét vuông, chúng tôi còn may mắn khủng khiếp ở
chỗ, cộng
đồng nơi chúng tôi dọn tới đó, thật là nhỏ bé, tôi muốn nói, khu vực có
căn phòng
rưỡi của chúng tôi đó, gồm tất cả sáu phòng, nhờ trời, chỉ có bốn gia
đình trú
ngụ. Kể cả chúng tôi, chỉ có mười một mạng sống ở đó. Một khi không còn
cuộc
sống tập thể, cư dân của nó có khi tới con số một trăm mạng. Trung bình
ra, thì
là từ hai mươi lăm tới năm mươi. Riêng gia đình chúng tôi thì kể như
rất ư là
khiêm tốn, tôi muốn nói, nhỏ nhoi.
Lẽ dĩ nhiên, chúng tôi cùng
dùng chung một nhà cầu, một phòng tắm, và một cái bếp. Nhà bếp nói
chung cũng
rộng rãi, nhà cầu thì rất ư tươm tất, thoải mái. Còn phòng tắm, thói
quen của
người Nga liên quan tới công việc vệ sinh là, mười một mạng cũng ít khi
bị coi
là chật chội, không đủ chỗ, khi cả một đống người như thế dùng chung
một nhà
tắm, hay làm luôn công việc giặt giũ cơ bản [hoặc cái xà lỏn, hoặc cái
xú
chiêng], cũng ở một nơi bé tí đó. Người đang chờ tới phiên mình thì
lăng quăng
ở hành lang nối phòng trên với nhà bếp, và người ta thuộc nằm lòng,
người hàng
xóm của mình có mấy cái xà lỏn, xì líp, hay xú chiêng!
Hàng xóm, là hàng xóm tốt.
Vừa như là những cá nhân tốt, vừa là do, tất cả họ đều đi làm và như
thế, vắng
mặt gần như suốt ngày. Còn điều này, họ không hề báo cáo công an; đúng
là một
điểm tốt ngay cả khi còn kiểu sống tập thể. Nhưng, ngay cả bà ta, một
người đàn
bà lùn tịt, chẳng có eo ếch gì hết, một phẫu thuật viên tại một bệnh
viện đa
khoa gần đó, cũng sẽ ban cho bạn một lời khuyên về một căn bệnh hay một
thứ
thuốc nào đó, giữ cho bạn một chỗ đứng, khi phải xếp hàng mua một thứ
thực phẩm
khan kiếm bằng tem phiếu, hay trông chừng nồi cháo đang sôi có thể trào
ra
ngoài. Dòng thơ của Frost, trong “The Star-Splitter” hình như là nói về
điều
này? “Bởi vì sống với xã hội, với người khác, là phải biết tha thứ”?
[For to be
social is to be forgiving].
Trong tất cả những khốn khổ
khốn nạn của cuộc sống tập thể đó, vẫn có một tí gì mang tính cứu rỗi.
Nó đẩy
cuộc đời về những cơ bản của nó. Nó xóa sạch mọi ảo tưởng về bản chất
của con
người. Nghe tiếng rắm ở trong nhà cầu, là bạn biết ngay, ai đang ở
trong đó.
Bạn còn biết, ông/bà láng giềng đó đã xơi món gì, trong bữa cơm chiều,
hoặc bữa
điểm tâm. Bạn nghe ra những tiếng động, của người nào nguời nào, khi cọ
quậy
trên giường, và biết, khi nào những người đàn bà có tháng. Thường
xuyên, bạn là
người mà người hàng xóm tóm lấy, để mà thở than, ca cẩm, về nỗi đau,
nỗi buồn
của ông ta hay bà ta. Và cũng chính người đó, sẽ kêu xe cứu thương, nếu
chẳng
may bạn lên cơn đau tim hay gặp điều gì còn tệ hại hơn. Và cũng chính
ông ta,
hay bà ta, đã khám phá ra bạn, nằm chết ngay đơ, trên chiếc ghế vẫn
ngồi thường
ngày, nếu bạn là người sống độc thân, hay là ngược lại.
Những nhận xét, mách bảo
thuốc thang hay cách nấu món này, món nọ, ở cửa hàng nào có món khoai
lang, rau
muống cọng vừa dài lại vừa xanh, non… những trao đổi như vậy thường là
ở nhà
bếp, khi mấy bà vợ đang lo bữa ăn chiều. Đây là nơi người ta học những
điều
thiết yếu, hệ trọng của cuộc sống: bằng một cái nhếch tai, một cái nháy
mắt. Bi
kịch nào đang diễn ra ở đây, khi một người nào đó đột nhiên đổi giọng,
với một
người nào khác! Học ở đâu cách ăn nói đó! Xúc động sâu xa tới mức nào
đã khiến
cho cột sống lưng cứng đờ vì giận dữ, khiến dáng đứng như trời trồng
thế kia!
Những mùi vị nào, hương thơm nào, uế khí nào bồng bềnh trong không khí,
quanh
ngọn đèn vàng một trăm oắt lửng lơ như một giọt nước mắt treo trên một
sợi dây
điện sặc sỡ rối tít mù. Có một cái gì hình như là bộ lạc ở đây, trong
căn hầm
mờ mờ sáng này, một cái gì nguyên thuỷ, hoặc nếu muốn, bạn có thể gọi
nó là
tiến hóa; và những nồi niêu xoong chảo treo lơ lửng trên bếp ga, chúng
giống
như những chiếc trống cơm của một thời tiền sử.
6
Tôi nhớ lại tất cả những gì vừa
kể ra trên, không phải là do hoài hương, nhưng bởi vì đó là nơi mẹ tôi
trải qua
một phần tư cuộc đời của bà. Người trong gia đình ít khi kéo nhau đi ăn
tiệm,
thay cho một bữa nấu tại gia; ở Nga, hầu như chẳng bao giờ. Tôi không
nhớ hình
ảnh bà cụ, hoặc ông cụ, qua một bàn ăn tại nhà hàng, hay tại một tiệm
cà phê.
Bà mẹ tôi là người nấu ăn số một mà tôi đã từng được biết, trừ một
ngoại lệ, có
lẽ, là Chester Kallman; nhưng tay này, nói cho cùng, chỉ hơn bà cụ tôi,
là có
trong tay nhiều gia vị hơn! Tôi nhớ cụ nhất, thường là khi cụ ở nhà
bếp, với
cái tạp dề, mặt đỏ ửng, và cặp kiếng mắt mờ đi vì hơi nước, cụ xua tôi
ra xa
khi xán gần bếp, tính nhón món này hay món nọ còn nóng bỏng ở trong lò.
Môi
trên bà long lanh mồ hôi; mớ tóc ngắn, cắt gọn, khô đỏ nhưng mà là mầu
xám, thì
rối bù. “Đi chỗ khác!” bà la lên. “Con không đợi được hả?” Tôi sẽ chẳng
bao giờ
còn được nghe những lời như thế nữa.
Tôi cũng chẳng bao giờ nhìn
thấy mẹ mình mở cửa [làm sao bà mở được nhỉ, hai tay bận ôm cái nồi,
hoặc hai cái chảo bự, bà chỉ còn có cách hạ chúng xuống đè vào then cửa
và phăng phăng tiến vào, mang cho
chúng tôi bữa chiều/bữa xúp/bữa trà/bữa điểm tâm. Cha tôi, lúc đó đang
đọc báo,
còn tôi, sẽ không rời cuốn sách nếu không được ra lệnh, và, mẹ tôi biết
rất rõ,
chẳng hy vọng gì ở hai người này, bởi vì bất cứ phụ giúp nào của hai
cha con
chúng tôi, chỉ làm chậm, hoặc có khi lóng ngóng đến làm hỏng bữa ăn!
Hai bố
con, tức những người đàn ông trong gia đình của bà, đã hiểu rất rõ, thế
nào là
lịch sự, hơn là chính họ có thể chủ động, ở trong những công việc cần
tới lịch
sự như thế. Ngay cả khi cả hai đều đang đói. “Mày lại đang đọc Dos
Passos của mày hả?”, bà cụ có thể sẽ đưa ra một lời nhận xét, trong khi
dọn bàn. “Thế thì ai sẽ đọc
Turgenev? "Thế thì mẹ mày hy vọng gì ở thằng cha Turgenev đó?," cha tôi
sẽ trả lời, như một
tiếng vang
đáp lại, trong khi gấp tờ báo. “Hắn ta chỉ là một kẻ ăn không ngồi rồi”.
7
Làm sao tôi có thể tưởng
tượng, cũng có tôi ở trong một khung cảnh như vậy? Nhưng mà rõ ràng là
như vậy
đấy, như tôi nhìn rõ cả hai ông bà. Lại một lần nữa, ở đây, không phải
là hoài
nhớ tuổi trẻ của tôi, quê hương xa xưa của tôi. Không, còn hơn cả thế,
bây giờ,
khi hai cụ đều đã mất, tôi nhìn thấy cuộc đời của họ, như cuộc đời của
hai cụ
đã từng như thế; và như thế, cuộc đời của hai cụ ôm, gồm cả tôi. Và
cũng thế,
họ cũng sẽ nhớ về tôi, ngoại trừ bây giờ, họ có được cái khả năng quí
báu là có
mặt ở tất cả mọi nơi, và vào lúc này, đang quan sát đứa con trai của
họ, ngồi
trong phòng bếp của một căn hộ thuê của trường học, viết những dòng
này, bằng
một thứ chữ mà cả hai đã không hiểu, mặc dù bây giờ cả hai đều không
cần tới
chúng nữa. Bây giờ cả hai đều thuộc về một thế giới khác. Đó là dịp may
độc
nhất mà họ có, để được nhìn thấy đứa con trai của hai cụ, ở bên Mỹ. Và
đó là
cách độc nhất, để tôi nhìn thấy hai cụ, và căn phòng của chúng tôi.
8
Căn phòng của chúng tôi,
trần cao chừng mười bốn feet, có thể hơn. Cũng vẫn theo kiểu Moor cộng
thêm
những vết nứt rạn, những loang lổ, do ống nước từ những phòng phía trên
dò rỉ
xuống, nó biến thành một tấm bản đồ chi tiết thật chi li, thuộc về một
siêu
cường chưa từng hiện hữu hoặc một quần đảo. Có ba cửa sổ rất cao, hình
vòng
cung, qua chúng, chúng tôi có thể nhìn, chẳng thấy gì, ngoại trừ, ngôi
trường
trung học, ở bên kia con phố, nếu không nhìn từ cửa sổ chính, vốn còn
được dùng
như là lối ra bao lơn. Từ bao lơn, chúng tôi có thể nhìn dọc theo hết
con phố,
đúng kiểu phố St.
Petersburg.
Cuối tầm
nhìn, là bóng dáng đẹp vô song, của vòm cung nhà thờ St. Panteleimon,
hay, nếu
nhìn về phía bên phải, là công trường lớn, và ở ngay trung tâm của nó,
là Vương
Cung Thánh Đường [Cathedral of the Savior of Her Imperial Majesty’s
Transfiguration Battalion].
Vào thời gian chúng tôi dọn
tới kỳ quan Moor, tức Căn Phòng Rưỡi của chúng tôi đó, con phố vẫn còn
mang tên
Pestel, một trong những thủ lãnh của nhóm Decembrists, đã bị hành hình.
Tên
khởi thuỷ của nó, là theo tên nhà thờ ở mãi cuối phố:
Panteleimonovskaya. Ở đó,
khi con phố cùng đường, nó bèn vòng theo ngôi nhà thờ và chạy về phía
sông
Fontanka River, vượt qua cây cầu Police Bridge, và đem bạn tới Vườn Mùa
Hạ,
Summer Garden. Pushkin đã từng ở tại khu phố này, và đâu đó, trong thư
viết cho
vợ, ông nói, là, “sáng nào cũng như sáng nào, trong chiếc áo ngủ, chân
mang đôi
giầy mềm, tôi băng qua cầu, làm một cuộc đi dạo Vườn Mùa Xuân. Cả Vườn
Mùa Xuân
là khu vuờn của tôi, my orchard…”
Nhà của ông, Số 11, tôi
nghĩ vậy. Còn của chúng tôi, Số 27, và đó là cuối con phố, khi nó trầm
mình vào
quảng trường nhà thờ. Còn điều này nữa, vì building chúng tôi nằm ở nơi
con phố
cắt đại lộ đã đi vào huyền thoại, Liteiny Prospect, thành thử địa chỉ
thư tín
của chúng tôi là Liteiny Pr. #24, Apt. 28. Đó là nơi chúng tôi nhận thư
từ của
chúng tôi; đó là nơi tôi viết trên những chiếc phong bì của những lá
thư nhà,
gửi cho hai cụ. Tôi nhắc tới ở đây không phải bởi vì nó có một chút ý
nghĩa gì
đặc biệt, nhưng là do, ngòi bút của tôi, có thể thông cảm với chủ nhân
của nó,
rằng, đây là lần cuối cùng, và rồi ra, nó sẽ chẳng bao giờ phải viết
địa chỉ đó
nữa.
9
Lạ một điều, ba thứ đồ đạc
trong căn phòng lại tỏ ra ăn ý với phía bên ngoài cũng như là phía bên
trong
building. Chúng như quấn quit, bận bịu với nhau, bằng những đường cong,
bằng
tính hoành tráng toát ra từ cái vẻ mốc meo của vôi, của vữa, ở mặt
tiền, hay ở
những tấm ván, những cột trụ, từ bên trong tường nhô ra, cuộn trên cột,
là
những vòng hoa vữa, những trái cây được trang trí theo kiểu hình học.
Cách
trang trí, cả ngoại lẫn nội thất, làm tỏa ra một cái bóng dáng mầu nâu
nhạt
trộn mầu sữa cô ca. Tuy nhiên, hai cái tủ lớn của chúng tôi, giống như
thứ ở
nhà thờ, có ô kéo, thì lại bằng gỗ sồi, đánh véc ni đen, nhưng chúng
cũng thuộc
về cùng một thời kỳ, tức bước ngoặt của thế kỷ, như tòa building, chính
nó. Có
thể chính vì thế mà lối xóm tỏ ra dễ chịu với chúng tôi, ngay từ đầu.
Có thể
chính vì vậy, cũng nên, mới chưa đầy một năm, mà chúng tôi đã có cảm
giác, sống
ở đây hình như là, tự muôn đời. Cái cảm giác đó lây lan đến cả những đồ
đạc,
rằng, hai cái tủ lớn của chúng tôi sau cùng đã kiếm ra nhà của chúng,
rồi cái
cung cách vòng vo này nọ, sao đó, khiến cho chúng tôi nhận ra rằng,
chúng tôi,
cũng vậy, như vậy là đã an cư, và sẽ chẳng còn dời đổi nữa.
Hai cái tủ hai tầng, to
lớn, cao mười feet của chúng tôi đó [bạn phải tháo mấy cạnh tủ ra khỏi
cái đáy
chân voi, mỗi lần muốn di chuyển], chúng chứa đựng gần như tất cả những
gì gia
đình chúng tôi nhặt nhạnh được, dòng dã suốt cuộc đời của chúng. Cái
vai trò
của gác xép, hay hầm nhà, ở mọi nơi khác, trong trường hợp của chúng
tôi, là do
hai cái tủ trình diễn. Những máy quay phim, đủ thứ hầm bà lằng của cha
tôi,
dụng cụ rửa phim, phim ảnh, chính chúng, những dĩa, đồ sứ, vải lanh,
khăn trải
bàn, hộp đựng giầy với những đôi bây giờ quá nhỏ đối với ông, nhưng vẫn
còn
rộng đối với tôi, những dụng cụ kìm kéo, tuộc vít, những cục pin, bộ đồ
lính
thuỷ cũ rích của ông, những chiếc ống nhòm, an-bum gia đình, mũ nón,
khăn quàng
của mẹ tôi, mấy lưỡi dao cạo râu Solingen bằng bạc, ba thứ đèn chụp
hình hết
xài, mớ huy chương nhà binh của cha tôi, những bộ kimonos nhiều mầu của
mẹ tôi,
thư từ trao đổi giữa hai người, kiếng đeo mắt, thứ dùng khi đi coi nhạc
hội,
hoặc coi diễn kịch, ba cái quạt máy, những món đồ kỷ niệm này nọ - tất
cả được
nhét vô đáy tủ, và mỗi lần mở ra, là mở ra một mùi quần áo cũ, và một
mớ bụi.
Phần dưới tủ, ngay phía bên trên, giống như trên mặt lò sưởi, hai cái
bình thuỷ
tinh, đựng rượu, ngồi chung với hai ngư ông người Tầu, bằng sành, đang
kéo câu.
Mẹ tôi, cứ hai lần trong một tuần, mở ra, và lau bụi cho mấy món đồ này.
Ba thứ đồ lẩm cẩm, linh
tinh đó, nói gì thì nói, khi phải nhìn ngoái lại, chúng có thể được coi
như một
thứ tâm tư góp nhặt theo dòng đời của gia đình chúng tôi, nối kết lại
với nhau,
nhưng vào lúc đương thời của chúng, tôi chẳng hề để ý tới. Ít nhất thì
nó là
như vầy: tất cả những đồ vật đó, chúng là một phần của ý thức của cha
mẹ tôi,
những dấu hiệu của hồi nhớ: về những nơi chốn, những thời kỳ trước tôi;
về quá
khứ chung, và riêng, trước khi gặp nhau, của ông bà, về tuổi trẻ và
tuổi thơ
của riêng từng người, về một thời đại khác biệt, một thế kỷ khác biệt.
Vẫn theo
dòng nhìn ngoái lại đó, tôi có thể nói thêm, điều này: về sự tự do của
ông bà,
bởi vì họ sinh ra tự do, và lớn lên tự do, trước khi có cái mà đám cặn
bã ngu
đần kia gọi là Cách Mạng, nhưng với họ, và nhiều thế hệ khác, nó có
nghĩa là nô
lệ.
10
Tôi viết thư nhà này bằng tiếng
Anh, bởi vì tôi mong cha mẹ tôi được hưởng một chút tự do, một chút tự
do này,
rộng hẹp ra sao, là còn tuỳ thuộc vào con số những người muốn, hoặc
thích đọc
thư nhà này. Tôi muốn ba má tôi, Maria Volpet và Alexander Brodsky, có
được
thực tại dưới “qui tắc ngoại về lương tâm” [a “foreign
code of
conscience”]. Tôi muốn, những động từ tiếng Anh, về sự chuyển động,
diễn tả
những chuyển động của hai cụ. Điều này không làm cho hai cụ sống lại,
nhưng văn
phạm tiếng Anh ít ra cũng chứng tỏ được một điều, đó là con đường giải
thoát
tốt đẹp hơn, từ những ống khói lò hỏa táng của nhà nước, so với văn
phạm tiếng
Nga. Viết về họ bằng tiếng Nga chỉ có nghĩa kéo dài thêm sự giam cầm
của họ,
đẩy họ vào sự vô nghĩa, vô lý, do cái việc hư vô hóa một cách máy móc
kia. Tôi
biết, không nên đánh đồng nhà nước với ngôn ngữ, nhưng chính là xuất
phát từ
thứ tiếng Nga đó, mà hai người già cả, đã mò mẫm hết cơ quan này tới cơ
quan
kia, hết ông cán này tới ông cán khác, với hy vọng có được tờ giấy phép
đi ra
nước ngoài để thăm đứa con trai độc nhất của họ, trước khi họ chết, và
liên
tiếp được trả lời, trong mười hai năm trời ròng rã, là nhà nước coi một
tờ giấy
phép như thế, là “không thích hợp, không có mục đích” [“unpurposeful”].
Chỉ nội
chuyện đó không thôi, sự lập đi lập lại một “lời phán” khốn nạn
như thế,
nó chứng tỏ một sự quen thuộc nào đó, của nhà nước, với tiếng Nga.
Ngoài ra,
ngay cả chuyện, nếu tôi viết tất cả, bằng tiếng Nga, những từ này cũng
chẳng
mong chi có một ngày đẹp trời của nó, nhìn thấy ánh sáng mặt trời, dưới
bầu
trời Nga. Ai sẽ đọc chúng? Một dúm di dân Nga mà cha mẹ của họ, đã
chết, hoặc
sẽ chết, dưới những hoàn cảnh tương tự? Họ, chính họ, hiểu rõ chuyện
này hơn ai
hết. Họ hiểu, cái cảm tưởng đó là như thế nào, khi không được phép nhìn
mẹ cha
của họ, khi ông hay bà nằm trên giường chờ chết; sự im lặng tiếp theo
yêu cầu
của họ, về một giấy nhập cảnh khẩn cấp, để dự đám tang của người thân.
Và rồi
thì, mọi chuyện đều quá trễ, và người đàn ông, hoặc đàn bà đặt chiếc
ống nghe điện
thoại xuống, bước ra khỏi một cánh cửa, bước vào một buổi chiều ở nước
ngoài,
cảm thấy một điều mà chẳng ngôn ngữ nào có từ ngữ để diễn tả, và dù có
la, rú,
hét, khóc than cỡ nào cũng vô ích… Tôi sẽ phải nói với những người đó
điều gì?
Bằng cách chi, tôi có thể an ủi họ? Chẳng có một xứ sở nào đã luyện
được cái tay nghề tài tình trong việc huỷ diệt linh hồn của dân mình
như nước Nga. Và
chẳng có một nhà văn nào lại có
thể làm
lành lặn linh hồn đó; không, chỉ có Trời, Phật, Thần Thánh mới có
thể làm
được điều này. Chính là vì lý do đó, mà Đấng Thiêng Liêng kia mới có
mặt trong
suốt Thời Gian Của Người. Xin cho tiếng Anh làm cái nhà cho những người
thân quá cố của tôi. Trong tiếng Nga, tôi được sửa soạn để đọc, viết
những dòng thơ, hay lá
thư. Tuy
nhiên, với mẹ cha tôi, bà Maria Volpert và ông Alexander Brodsky, tiếng
Anh
mới chính là thứ
ngôn ngữ dâng cho họ một cõi sau xem ra tươm tất hơn và có thể đó là
cõi duy nhất mà họ có được ngoài cái trí nhớ của bản thân tôi về họ ra.
Còn về bản thân tôi, khi viết bằng tiếng này, thì cũng chỉ như là rửa
chén dĩa mà thôi, rất tốt cho sức khỏe, như mẹ tôi đã mừng rỡ khi biết
thằng con của bà vừa
rửa một
mớ chén dĩa xong, là bèn gọi điện thoại cho mẹ liền!
11
Cha tôi là ký giả - nhiếp ảnh
viên nhật báo, chính xác là vậy - mặc dù ông cũng viết báo nữa. Ông
viết chủ
yếu cho những tờ báo nhỏ, và như thế, chúng chẳng hề được đọc, và hầu
hết bắt
đầu bằng những dòng “Những đám mây bão nặng nề trên vòm trời biển
Baltic…”, ông
tin rằng, mở ra bằng một tin tức thời tiết như thế sẽ khiến cho người
đọc cho
rằng đây là một cái tin đáng đọc, đáng tin cậy. Ông có hai cái bằng,
một về địa
dư, của Đại học Leningrad, và một, báo chí, của Trường Báo Chí Đỏ
[School of
Red Journalism]. Ông học môn thứ nhì, sau khi biết rằng, những cơ may
đi du
lịch, đặc biệt là du lịch nước ngoài, kể như tiêu: là một người Do
Thái, con
trai một người chủ tiệm in, lại không phải là Đảng viên, thôi đừng mơ
những
chuyện hão huyền đó nữa nhé, ông đành nói với mình như vậy.
Báo chí [tới một mức nào đó] và
chiến tranh [cơ bản] tạo được sự cân bằng, làm mất đi sự bất công kể
trên. Hai
chân ông phủ lên một phần sáu bề mặt trái đất [đây là định nghĩa tiêu
chuẩn bề
mặt lãnh thổ Liên Bang Xô Viết], và không nhỏ, những sông ngòi, biển
cả. Mặc dù
thuộc Hải Quân, chiến tranh khởi sự đối với ông, là vào năm 1940, ở
Phần Lan,
và chấm dứt vào năm 1948, tại Trung Hoa, nơi ông được phái tới, cùng
với một
nhóm cố vấn nhà binh để giúp đỡ me-xừ Mao trong những cuộc tấn công nổi
dậy của
ông ta, và chính từ đất nước này, mà chúng tôi có được hai ngư ông
người Tầu
bằng sành, và bộ đồ ăn Trung Hoa mà mẹ tôi muốn chuyển giao cho tôi,
khi tôi
lấy vợ. Giữa thời gian đó, ông còn hộ tống Allies’ PQ tại biển Barents
Sea,
chống giữ và sau đó thất thủ Sevastopol tại Biển Đen, gia nhập – sau
khi pháo
thuyền của ông bị chìm – đơn vị Thuỷ Quân, Marines, như khi đó gọi vậy.
Trong
thời gian thành phố Leningrad bị vây hãm, ông được phái tới tiền phương
mặt
trận Leningrad, chụp những tấm hình thật là đẹp, như tôi đã từng được
nhìn
thấy, khi được in ra, về thành phố bị vây hãm, và sau đó, ông tham dự
cuộc giải
vây, [phần này của cuộc chiến, theo như tôi tin tưởng, là phần ảnh
hưởng sâu
đậm nhất tới ông, vì nó quá gần với gia đình của ông, tới nhà của ông.
Nhưng,
nếu nói về những gì gần gụi ông nhất, thì ông đã mất căn phòng của ông,
người
chị/em độc nhất của ông: vì bom, và vì chết đói]. Sau đó, ông được phái
trở lại
vùng Biển Đen, đổ xuống khu vực tệ hại là Malaya Zemlya, chống giữ nó;
rồi thì,
khi mặt trận chuyển về hướng Tây, đi theo đơn vị pháo thuyền đầu tiên
tới
Rumania, đổ quân tại đây, và, trong một thời gian ngắn, là vị toàn
quyền nhà
binh của Constanza. “Chúng tôi đã giải phóng Rumania”, đôi lúc, ông hào sảng về mình như vậy, và có
khi còn hảo
sảng thêm một chút nữa, nghĩa là nói về những lần gặp gỡ giữa ông với
nhà vua
King Michael. Đó là ông vua độc nhất mà ông đã từng gặp; còn Mao, Tưởng
Giới
Thạch, không nói tới Stalin, ông chỉ coi là những tên tiếm ngôi, soán
nghịch.
12
Chuyến đi Tầu của cha tôi, cho dù
là vì một công chuyện tinh ma quỉ quái gì gì đi chăng nữa, thì chỉ có
căn nhà
kho nhỏ bé, mấy chiếc tủ, và mấy tường nhà, được hưởng lợi. Những nghệ
phẩm lần
sau chót được đem ra trình diễn, đều là từ Trung Hoa: mấy bức tranh
bần, mầu
nước, những cây kiếm của mấy ông samurai, những bức màn nhỏ bằng lụa.
Hai ông
ngư ông lúc nào cũng như có chút men ở trong người, là những nhân vật
cuối cùng
xuất hiện trong đám cư dân bằng sành, gốm, những con búp bế, và những
con chim
cánh cụt đội nón, chúng dần dần biến mất, nạn nhân của những cử chỉ cẩu
thả,
hơi mạnh tay, hoặc là phải nhường chỗ cho những món quà sinh nhật của
bà con
chú bác. Cũng biến đi chỗ khác cho được việc, là những cây kiếm, chúng
đành
phải đầu hàng mấy tay thu gom của nhà nước, lý do là, những khí giới
nguy hiểm
như thế không phải thứ thường dân có thể nghịch ngợm, táy máy! Chơi dao
có ngày
đứt tay: Đúng là một lời khuyên bảo hữu lý, nhất là lúc sau này, thằng
con trai
độc nhất của hai cụ khiến đám công an tới Căn Phòng Rưỡi của chúng tôi,
để hỏi
thăm sức khoẻ của hai cụ hơi nhiều! Còn bộ đồ ăn bằng sứ Trung Hoa, cái
này thì
thật kỳ, tôi muốn nói sự biến mất của chúng, nhưng bà mẹ của tôi không
muốn
nhìn, không muốn nghe thấy nói tới, dù chỉ một cái dĩa kiểu, ở trên bàn
ăn “của
chúng tôi”: “Những thứ của quí đó đâu để cho những con người nhếch
nhác”. Cụ sẽ
nhẫn nại vô cùng, khi giải thích cho chúng tôi. “Mà mấy người thì thật
là nhếch
nhác. Quá nhếch nhác!”. Vả chăng, những chén dĩa mà chúng tôi đang dùng
thì
cũng lịch sự chán. Quá lịch sự là đằng khác. Mà lại rất ư là cứng cáp,
khoẻ
mạnh, không mảnh khảnh, làm dáng như ba thứ đồ Tầu, đồ Sứ!
Tôi còn nhớ, một buổi tối âm u,
lạnh lẽo, vào tháng Chạp năm 1948, trong căn phòng nhỏ, mười sáu mét
vuông, nơi
mẹ tôi và tôi sống, trong và sau khi chiến tranh chấm dứt. Buổi chiều
hôm đó,
Cha tôi từ Trung Hoa về. Tôi nghe tiếng chuông cửa, mẹ tôi và tôi chạy
ra trước
cửa, chỗ đèn sáng mờ mờ bỗng như tối hẳn đi với những bộ đồng phục Hải
quân:
cha tôi, bạn của cha tôi, và đồng ngũ, Đại Uý F.M., và một nhóm quân
nhân đi vô
hành lang, khiêng ba cái thùng lớn, có móc cài của người Trung Hoa, bốn
phiá
chung quanh trang trí những chữ Trung Hoa giống như những con bạch tuộc
khổng
lồ. Và sau đó, Đại Uý F.M. và tôi ngồi ở bàn, trong lúc cha tôi mở mấy
chiếc
thùng, và mẹ tôi, trong chiếc áo dài bằng nhiễu Trung Hoa mầu vàng
hường, vừa
vỗ tay vừa la lên, “Ach, oh wunderbar!”, bằng tiếng Đức, thứ tiếng thời
thơ ấu
của bà tại Latvia, và thứ tiếng hiện bà đang sử dụng, vì bà làm thông
ngôn
trong một trại tù binh chiến tranh người Đức. Và Đại Uý F.M., một người
đàn ông
cao, thon, rắn chắc trong bộ đồ quân phục xanh đậm, không cài nút, tự
rót cho
mình một ly từ cái bình rượu, và nháy mắt với tôi, như với một người
lớn. Những
chiếc thắt lưng lỉnh kỉnh ba cái móc neo, ba cái bao súng ngắn thì được
để trên
thành cửa số. Chiến tranh hết rồi, bây giờ là hoà bình. Tôi thì còn nhỏ
quá, để
mà nháy mắt đáp lại ông Đại Uý.
13
Bây giờ, tuổi ở vào đúng tuổi của
cha tôi, buổi chiều tháng Chạp năm đó: Tôi bốn muơi lăm tuổi, và tôi
lại nhìn
thấy khung cảnh bữa đó, thật là rõ ràng đến không thể tin được, cứ như
thể nó
đang xẩy ra trước mắt tôi, mặc dù tất cả những người ở trong khung cảnh
đó thì
đều đã chết, trừ tôi ra. Tôi nhìn thấy cảnh đó quá rõ, quá thật đến nỗi
tôi có
thể, và bèn nháy mắt lại với Đại Uý F.M…. Nhưng làm như thế, là có
nghĩa gì?
Giữa hai cái nháy mắt, cách nhau gần bốn chục năm, liệu có một ý nghĩa,
và ý
nghĩa này, nó chừa tôi ra, nó tránh né tôi? Liệu, đời sống là như vậy
đó? Nếu
không phải như vậy, thì tại sao có sự rõ ràng đó? Rõ ràng như vậy, là
để làm
gì? Câu trả lời độc nhất đối với tôi,là: Rằng, cái giây phút đó, khung
cảnh đó
hiện hữu, rằng, không thể nào quên được, cho dù những diễn viên đã bỏ
đi, kể cả
chính tôi. Chỉ bằng cách như vậy bạn mới thực sự hiểu ra được điều quí
giá biết
là chừng nào này: chiến tranh hết rồi, và bây giờ hòa bình tới. Nó tới,
và nó
lừng lững đi vào trong một gia đình, là gia đình tôi. Cũng cùng một
“dấu ấn”
như vậy, bạn sẽ hiểu ra được những giây phút, những thời điểm, rằng
chúng “có
đó”. Hãy kể ra này: Sự trở về, từ chiến trường, của một ông bố, sự mở
ra, một
cái thùng, mang từ Trung Hoa về. Chính vì thế mà nó rõ ràng, nó hiển
hiện, như
vừa xẩy ra, như đang xẩy ra. Hay là, biết đâu đấy, có khi chỉ vì bạn là
con
trai của một ông bố nhiếp ảnh viên, và cái hồi ức của bạn, nó mở ra,
giản dị
như một cuộn, một thước phim. Chụp với hai con mắt, với tầm nhắm, của
chính
bạn, hầu như từ bốn chục năm về trước. Chính vì vậy, cho nên bạn mới
không thể
nháy mắt đáp lại, vào lúc đó.
14
Cha tôi mặc bộ đồ Hải Quân chừng
hơn hai năm. Đó là đúng vào lúc mà tuổi thơ của tôi bắt đầu, bằng tất
cả sự hồ
hởi của nó. Ông là sĩ quan nhiếp ảnh, thuộc bộ nhiếp ảnh Viện Bảo Tàng
Hải
Quân, tọa lạc tại một tòa building đẹp nhất trong toàn thành phố. Nói
rõ hơn,
trong toàn đế quốc. Toà building này trước thuộc Viện Hối Đoái, từ thuở
xa xưa
lắm rồi, và nó cũng thật xa xưa, nghĩa là ở cuối con đảo Basil
[Island], ở
miệng con sông Neva [River], nơi nó há thật rộng ra.
Vào thật xế chiều, tan học, tôi
theo những con phố tới tận con sông, đi qua cây cầu Palace [Bridge], và
chạy vô
viện bảo tàng để đón cha tôi, và hai cha con cùng đi về nhà. Tuyệt vời
nhất, là
những lần, ông là sĩ quan trực buổi chiều, khi viện bảo tàng đã đóng
cửa. Ông
sẽ xuất hiện, đâu đó, từ hành lang dài bằng cẩm thạch, thật là uy nghi,
thật là
bệ vệ, với tấm băng mầu xanh trắng xanh của vị sĩ quan trực đeo vòng
qua cánh
tay trái, bao súng phía bên phải, và cùng với nó, là sợi dây lưng; mũ
Hải Quân,
lưỡi trai bóng loáng và cái “salad” [cái dĩa] mạ vàng ở phía trên che
cái đầu
hói thường làm ông lúng túng. “Xin chào, Trung Tá,” tôi sẽ nói như vậy,
vì đó
là cấp bực của ông; ông cười, và, vì còn cả tiếng nữa mới hết giờ trực,
ông để
mặc tôi thơ thẩn trong viện bảo tàng.
Tôi tin tưởng một cách sâu xa,
rằng, ngoài văn học hai thế kỷ vừa qua, và có lẽ, kiến trúc của thủ đô
cũ, điều
độc nhất còn lại mà người dân Nga tự hào, đó là lịch sử Hải Quân của
họ. Không
phải bởi vì những chiến công hiển hách, mà cũng chẳng có nhiều, nhưng
mà là
tinh thần hải quân phong nhã của nó. Coi đây là một phong cách riêng,
hay quá
nữa, một bệnh tưởng, thì cũng được, nhưng cái đầu óc trẻ con của một
tay “viễn
mơ” độc nhất, trong số những hoàng đế Nga, Đại Đế Peter đó, có vẻ như
với tôi,
đúng là của một kẻ vượt qua đường ranh giữa văn chương như đã nói ở
trên, và
kiến trúc. Mô phỏng Hải Quân Anh, nhưng có tính trình diễn nhiều hơn là
để làm
việc, trang bị bằng tinh thần khai phá, hơn là tham vọng bành trướng,
thú cái
thú làm một cử chỉ anh hùng, làm một hành động tự hy sinh, hơn là
sống
còn bằng mọi giá, một Hải Quân như thế đó đúng là một viễn ảnh: của một
trật tự
hoàn hảo, hầu như mang tính trừu tượng, được nẩy sinh từ bên trên những
vùng
trời nước của những đại dương của thế giới, không thể nào với tới nổi,
cho dù
đứng ở bất cứ nơi chốn nào, trên mảnh đất Nga.
Một đứa trẻ thì luôn luôn, trong
tất cả mọi chuyện, là một tay thẩm mỹ, mê cái đẹp. Nó đáp ứng liền tù
tì với
những vẻ ngoài, những bề mặt, những hình dáng, những thể loại. Đứa trẻ
là tôi
hồi đó, mê nhất trên đời, là mấy ông đô đốc, râu ria cạo nhẵn thín,
nhìn thẳng,
hay nhìn nghiêng, trong những khung mạ vàng, mờ mờ hiện ra giữa một
rừng những
cột buồm, trên những kiểu mẫu tầu, chúng như đang cố làm sao để trở
thành những
con tầu thực. Trong đồng phục thế kỷ 18 và 19, với những viền ren,
những khăn
cổ cao, những đai, gù, tóc giả, băng xanh quàng chéo ngực, chúng giống
như
những dụng cụ [nhằm phục vụ] cho một lý tưởng tuyệt hảo, trừu tượng,
cũng chẳng
kém chính xác, nếu so với những astrobales mép viền đồng, dùng để đo độ
cao mặt
trời, các vì sao, những chiếc la bàn, những hộp phi từ tính, những kính
lục
phân xác định vị trí tầu. Long lanh, Lấp lánh, chúng có thể tính
ra vị
trí của một con người, dưới những vì sao, với một sai sót nhỏ hơn, nếu
so với
chính những sư phụ của chúng! Và người ta chỉ còn mong, có một điều,
chúng có
thể đã từng cai trị những đợt sóng người, cũng bảnh như vậy, theo
nghĩa: những
làn sóng nhân sinh này được bầy ra, trước những nghiêm ngặt của môn
luợng giác
chứ không phải trước cái mặt dầy của những nhà ý thức hệ. Là một tưởng
tượng
của một viễn tưởng, tức một cái nhìn xa trông rộng, có lẽ, một ảo ảnh,
thay vì
là một phần của thực tại. Cho tới ngày này, tôi vẫn nghĩ, đất nước sẽ
khấm khá
hơn nhiều, hoặc sẽ không khốn khổ khốn nạn như vậy, nếu nó không lấy
cái mảnh
vải khốn kiếp đó làm quốc kỳ: một con gà hoàng gia hai đầu khùng, hay
cái búa
cái liềm của một hội kín, của đám mafia, và, thay vì lá quốc kỳ khốn
kiếp đó,
thì là ngọn cờ của Hải Quân Nga: ngọn cờ hiển hách, đẹp không thể có cờ
nào đẹp
hơn, lá cờ St. Andrew: một chữ thập chéo mầu xanh trên một nền trắng
trinh
nguyên.
15
Trên đường về nhà, cha con tôi sẽ
ghé tiệm, mua đồ ăn, hay vật liệu dùng trong phim ảnh, như phim, thuốc
hoá học,
giấy in, hay dán mắt vào những khung cửa kính. Vì con đường về nhà đi
qua trung
tâm thành phố, cha tôi sẽ kể cho tôi nghe lai lịch những cơ ngơi, cửa
hàng, cái
nào có trước chiến tranh, hoặc trước năm 1917. Ai là nguời kiến trúc,
ai là
chủ, ai ở đó, và chuyện gì đã xẩy ra cho họ, và theo quan điểm của cha
tôi, tại
sao lại xẩy ra như vậy. Ông Trung Tá Hải Quân cao mười feet biết khá
nhiều về
cuộc sống dân sự, và dần dần, thằng con nhìn bộ quân phục của ông bố
giống như
là một thứ giả trang, hay rõ hơn, ý thức phân biệt giữa, thế nào là
hình thức,
thế nào là nội dung, bắt đầu bén rễ ở trong tôi. Bộ đồng phục của ông
phải đối
phó với hậu quả này, thì cũng không khác gì cái cơ ngơi mà ông đang giơ
tay
chỉ, phải ứng phó. Trong cái đầu của một đứa học sinh, chính cái hiện
tượng
“xanh vỏ đỏ lòng” này, lẽ tất nhiên, là một mời gọi, hãy nói láo, nói
dối. Nói
như vậy không có nghĩa là, tôi cần một lời nói dối. Như tự trong thâm
tâm, tôi
hiểu ra một điều, hãy cố mà giữ cho được một bề ngoài, cho dù trong
lòng mi sôi
sục ra sao.
Tại nước Nga, lính tráng khó
thành dân sự, ngay cả ở nhà của họ. Điều này, một phần, là do cái tủ
quần áo,
vốn chẳng bao giờ rộng; nhưng chủ yếu, đây là vấn đề liên quan tới quan
niệm về
quyền thế gắn liền với bộ đồng phục và từ đó, tới vị thế của bạn trong
xã hội.
Đặc biệt hơn, nếu bạn là sĩ quan. Ngay cả mấy ông giải ngũ, hay về hưu
cũng suốt
ngày đóng bộ quần áo bộ đội, ở nhà, ở giữa chốn bàn dân thiên hạ: coi
kìa, cái
ông kia như vậy là trước ở “R”, ở “B” đấy nhé! Cái áo đại cán kia, bộ
ghệt cao
đó, lại còn ngôi sao vàng nữa chứ, đâu phải anh bộ đội Cụ Hồ nào cũng
có được,
phải là dân ra vô Bắc Bộ Phủ… Bởi vì đã có một thời ta làm quan, có
nghĩa là
suốt đời ta làm quan, đúng không nào? Hơn nhau ở bộ quần áo, mà bộ đồng
phục
Hải Quân, là số dách, bởi vì cái khăn quàng mầu trắng của nó, mới ấn
tượng làm
sao!
Trong nhà của chúng tôi, có cả
đống, ở trong ngăn kéo trên của cái tủ lớn. Những năm sau đó, khi tôi
đã lên
lớp bẩy, đồng phục được đưa vô trường học, mẹ tôi bèn cầm mớ quần áo
của bố,
ướm lên thằng con, rồi cắt xén thành bộ đồng phục học sinh. Bởi vì bộ
đồng phục
đó thì cũng một nửa là lính: áo tunic, dây lưng có khoá, quần áo đi đôi
với
nhau, một cái mũ có luỡi che mặt bóng loáng. Mấy anh tưởng bở, nghèo mà
ham, đã
nghĩ về mình như là một “chiến sĩ”, tốt hơn nữa, là một anh bộ đội Cụ
Hồ! Thì
cũng tốt thôi, ngay cả đối với tôi, nhưng có điều, tôi không khoái, cái
mầu của
bộ đồ, nó giống như của đám bộ binh, hay tệ hơn, của một anh công an,
tức một
chú bò vàng! Chẳng làm sao bì được với cái áo khoác ngoài của cha tôi,
với hai
hàng nút vàng, cứ như là một đại lộ về đêm! Và khi ông bố của tôi cởi
từng cái
nút áo, để lộ ra bộ đồng phục tunic xanh đậm, với cũng hai hàng nút áo
y chang:
một đại lộ tù mù trong đèn đêm, một thứ ngoại ô đèn vàng đây chăng?
[Cả đoạn trên, là phóng tác, không phải dịch. NQT]
“Một con phố ở trong một đại lộ”,
“A street within an avenue”, đó là ý nghĩ của tôi, về ông bố của mình,
khi lé
mắt nhìn ông, trên đường từ bảo tàng viện về nhà.
16
Có hai con quạ ở sân sau nhà tôi,
ở đây, tại South Hadley. Hai con quạ lớn, loại kên kên, và chúng là
những gì đầu
tiên mà tôi nhìn thấy, mỗi lần đi, hoặc về nhà. Chúng xuất hiện từng
con một:
con đầu, cách đây hai năm, khi mẹ tôi mất; con thứ nhì, năm ngoái, ngay
sau khi
cha tôi mất. Có thể, đây chỉ là cách mà tôi nhận ra sự hiện diện của
hai con
quạ ở sân sau nhà mình. Bây giờ, thì chúng cùng tới, và cùng vỗ cánh
bay đi, và
cả hai đều quá lặng lẽ, so với những con quạ khác. Tôi cố không nhìn
chúng; ít
ra, tôi cố không theo dõi chúng. Tuy nhiên, tôi nhận ra một điều là hai
con quạ
này thường đậu ở đám rừng thông bắt đầu từ cuối sân nhà tôi và chạy dài
chừng
một phần tư dặm đường, tới bãi cỏ ở ven thung lũng nhỏ có mấy tảng đá
thật lớn
ở mãi cuối thung lũng. Tôi không bao giờ đi bộ tới cuối thung lũng nữa,
vì sợ
rằng là, sẽ nhìn thấy hai con quạ nằm ngủ trên đỉnh hai tảng đá, duới
ánh sáng
mặt trời. Tôi cũng chẳng bao giờ kiếm cách nhìn thấy chúng, ở trong tổ.
Hai con
quạ đen, nhưng tôi để ý thấy ở phía bên trong cánh của chúng có chút
mầu tro
ướt. Thời gian độc nhất mà tôi để ý không thấy chúng, đó là lúc trời
mưa.
17
Vào năm 1950, theo tôi, cha tôi được giải ngũ,
cùng với
nghị quyết của Trung Ương Đảng, theo đó, nhân dân nào gốc Do Thái thì
không nên
giữ cấp bậc cao trong quân đội. Nghị quyết này, nếu tôi không lầm, do
Andrei
Zhdanov phát động, khi phụ trách kiểm tra ý thức hệ trong toàn cõi nhà
binh.
Vào thời gian đó, cha tôi đã bốn muơi bẩy tuổi, và như vậy là, ông lại
phải bắt
đầu cuộc đời của ông, làm lại nó như mới, nói như vậy cho thật đẹp. Cha
tôi bèn
quyết định trở lại với cái nghề ký giả, với cái nghề phóng sự bằng hình
ảnh.
Tuy nhiên, muốn làm vậy, ông cũng phải được tuyển dụng bởi một tạp chí,
hay một
nhật báo. Việc này hóa ra khó vô cùng: thập niên 1950 quá bết bát cho
những
người Do Thái. Chiến dịch chống “đám vô tổ quốc không có gốc rễ”
[rootless
mosmopolites] đang vào lúc cao điểm nhất của nó; rồi thì, vào năm 1953
lại xẩy
ra “Trường hợp mấy ông Bác sĩ”, và, nếu vụ này không kết thúc bằng một
biển máu
như thường lệ phải như thế, ấy là do chính Đồng chí Stalin, người khởi
xướng,
không hiểu sao, bất thình lình bỗng suy sụp, bèn tung hê tất cả. Nhưng
thời
gian dài trước đó, và một thời gian sau đó, đã đầy những lời đồn, những
rỉ tai,
là Bộ Chính Trị đang lên kế hoạch càn quét đám Do Thái, tái định cư đám
loài
vật thuộc “phần năm” [paragraph five] này vào khu Siberia phía Đông,
một vùng
có tên là Birobidzhan, gần biên giới Trung Hoa. Còn có cả một lá thư
được lưu
hành, thư này được ký tên bởi những cá nhân nổi tiếng nhất trong “phần
năm” -
những kỳ thủ, những nhà soạn nhạc, và những nhà văn – nội dung của nó
là một
lời thú nhận tội lỗi gửi tới Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, và cá nhân
Đồng Chí
Stalin, xin cho phép chúng tôi, những người Do Thái, được cứu chuộc,
bằng lao
động khổ sai tại những vùng thật là xa xôi, về những tội ác lớn lao mà
chúng
tôi đã gây ra đối với nhân dân Nga. Lá thư này sẽ xuất hiện trên nhật
báo Sự
Thật, trong bất cứ một ngày đẹp trời nào đó, như là cái cớ, the
pretext, cho
việc tống xuất đám Do Thái chúng tôi.
Ô hô, ai tai, thượng hưởng: Tuy nhiên, điều xuất
hiện trên
tờ Sự Thật, sau cùng lại là thông báo về cái chết của Stalin, mặc dù
vào thời
gian đó, chúng tôi đang sửa soạn đi du lịch và đã bán cái piano kiểu
đứng của
chúng tôi, vì chẳng ai trong gia đình có thể đàn [mặc dù má tôi mời một
người
bà con xa tới tập cho tôi: Tôi chẳng có một tí tài đàn, ấy là chưa kể,
chẳng có
một tí kiên nhẫn]. Tuy nhiên, trong tình trạng vào lúc đó, đừng trông
mong một
tạp chí hay một nhật báo tuyển dụng một tên Do Thái, lại không phải là
Đảng
viên, thế là, a lê hấp, cha tôi lên đường.
Trong vài năm, ông làm nhiếp ảnh viên tự do trên
toàn xứ
sở, qua khế ước với cơ quan Triển Lãm Canh Nông Toàn Liên Bang tại Moscow. Nhờ vậy, thỉnh thoảng trên bàn ăn cũng có món
trân quí -
cà tô mát hộp, loại bốn pound, hay hộp trái cây, táo và đào; nhưng tiền
công
ngày càng giảm, và cả ba chúng tôi vưỡn còn sống được, chủ yếu là nhờ
tiền
lương của má tôi, nhân viên hội đồng phát triển khu vực. Đó là những
năm mất
mùa của chúng tôi, và rồi thì cả hai người bắt đầu bịnh. Nhưng gì thì
gì, cha
tôi vẫn tỏ ra thích giao du, và thường dẫn tôi xuống phố, gặp bạn bè
Hải Quân
của ông, lúc đó trông coi một câu lạc bộ thuyền buồm, chăm sóc mấy bến
tàu cũ,
huấn luyện mấy người trẻ. Ông có khá nhiều bạn, và những người đó luôn
luôn tỏ
ra rất mừng vì gặp ông (nói chung, tôi chưa hề gặp một ai, đàn ông hay
đàn bà,
tỏ ra bực bội đối với ông). Một trong số những người đó, trưởng biên
tập một
nhật báo ngành, thuộc Hải Thương, Merchant Marine, một người Do Thái
nhưng có
một cái tên đọc lên như người Nga, sau cùng đã muớn cha tôi, và cho tới
khi về
hưu, ông làm cho cơ sở xuất bản này, tại cảng Leningrad.
Dường như suốt đời ông, là đi bộ, [“Phóng viên,
thì cũng
như chó sói, sống bằng chân cẳng của chúng”, ông thường nói vậy], giữa
những
con tầu, những thuỷ thủ, những ông đại uý thuyền trưởng, những cần cẩu,
những
kiện hàng. Trong cái nền sau, hay nói một cách bóng bẩy, ở nơi hậu
trường của
đời ông, là một dải nước xám bạc, lăn tăn gợn sóng, những cột buồm, cái
đuôi
tầu, một khối kim loại kếch xù, với vài con chữ, đầu, hoặc cuối, của
một cái
tên bến cảng quê nhà của nó. Ngoại trừ mùa đông, cha tôi luôn đội cái
nón đen
Hải Quân có cái lưỡi trai bóng như sơn mài. Ông thích cận kề nước, ông
mê biển.
Đó là nơi cận kề nhất với tự do. Chỉ nội nhìn biển không thôi, là đôi
khi cũng
đủ lãng quên tù đầy rồi. Và thế là ông cứ nhìn biển, chụp hình biển,
hầu như
suốt cuộc đời của ông.
18
Tới tuổi, tuỳ theo đứa, đứa trẻ nào cũng muốn
làm người
lớn, đòi ra khỏi nhà, ra khỏi cái tổ giam cầm áp bức nó. Đi ra ngoài!
Nhập vô
cuộc đời thực! Nhập vào thế giới rộng lớn. Nhập vào đời, với những qui
luật của
chính mình.
Thì cũng tới một lúc nào đó, thằng bé thỏa được ước muốn. Trong một
thời gian,
nó loay hoay với những viễn ảnh mới, bận bịu xây tổ riêng, xây thực tại
của
riêng nó.
Rồi thì một ngày, khi thực tại mới đã vào lề thói, khi những qui luật
của riêng
nó được ban hành, được thực thi, nó bất thình lình nhận ra, tổ cũ đã
mất tiêu,
những người đem cho nó cuộc sống, đã chết.
Vào cái ngày đó, nó bất thình lình nhận ra, mình giống như có hậu quả
mà không
có nguyên nhân. Sự mất mát này lớn lao quá khiến nó không làm sao hiểu
được.
Cái đầu của nó, do mất mát trở nên rỗng tuếch, và bắt đầu chao đảo, và
càng
khiến cho sự mất mát tăng thêm mãi.
Nó nhận ra rằng, do đòi hỏi của thời mới lớn, làm sao có “đời thực”,
nên bỏ nhà
ra đi, và sự kiện rời khỏi tổ của nó, khiến cho cái tổ trở nên yếu ớt,
không
còn khả năng phòng thủ.
Thế cũng đã quá tệ rồi, nhưng ít ra, nó còn có thể đổ vạ cho thiên
nhiên, cho
bản chất.
Điều nó không thể ăn vạ thiên nhiên, bản chất, đó là, sự thành tựu của
nó, thực
tại nó làm ra thì chẳng có giá trị gì, nếu so với thực tại tổ ấm của bị
bỏ rơi
kia. Và nếu có một điều chi là thực, ở trong đời của nó, thì chính là
cái tổ
kia, cái tổ áp chế, làm nghẹt thở, mà nó chỉ lăm le bỏ chạy. Bởi vì cái
tổ đó
được xây nên bởi “những người khác”, những người đã cho nó đời sống,
chúng
không phải do nó xây, nó, kẻ biết rất rõ giá trị thực sự
của việc
làm của mình, kẻ, sau cùng mới hiểu ra được rằng, hoá ra là mình “sử
dụng” cuộc
đời được những kẻ khác ban cho.
Nó biết, những thành quả của nó đó, chúng đã được ước mong, tính toán
như thế
nào. Và sau cùng, tất cả đều chỉ là tạm bợ. Và ngay cả, không tạm bợ mà
là
lâu bền, cách tốt nhất mà nó có thể đưa chúng ra sử dụng,
thì cũng
hiển nhiên như là tài năng của mình mà nó vẫn thường huênh hoang.
Tuy nhiên, nếu nói về tài năng, làm sao nó có thể tái xây dựng cái tổ
hoang sơ,
khoẻ khoắn, nơi đã từng nghe tiếng khóc đầu tiên của nó khi vào đời. Nó
cũng
chẳng thể nào tái xây dựng những người để nó vào đó. Như là một hậu
quả, làm
sao nó có thể tái xây dựng nguyên nhân của nó?
19
Đồ đạc lớn nhất của chúng tôi – hay nói đúng ra,
món đồ
chiếm chỗ nhiều nhất – là cái giường của ba mẹ tôi. Cám ơn cái cối cái
chầy,
cám ơn cái cọc cầu ao, cám ơn cái giường, nhờ có nó mà có tôi, tôi nghĩ
vậy.
Đây là một cái giường rộng, “thứ của vua nằm” [“king sized”], những
đường nét
trang trí của nó, lạ sao, lại thật xứng hợp, về một mức độ nào đó, với
toàn thể
căn phòng còn lại, mặc dù chúng được chạm trổ theo phong cách hiện đại
hơn
nhiều. Thì cũng vẫn mô- típ hoa lá cành, nhưng sự thực thi, the
execution, thì
đong đưa, oscillated, ở giữa Nghệ Thuật Mới và ấn bản thương mại của
chủ nghĩa
Kiến Tạo, Constructivism. Cái giường này là niềm tự hào lớn của mẹ tôi,
vì bà
mua nó, rất ư là hời, vào năm 1935, trước khi mẹ tôi lấy cha tôi. Bà
nhìn ra nó,
cùng với cái bàn trang điểm có gắn ba cái gương rất hợp với nó, trong
một tiệm
bán bàn ghế cũ. Hầu hết cuộc đời chúng tôi là xoay quannh, hoặc bị hút
về
[gravitated] phía cái giường thấp đó, và những quyết định nhớ đời trong
gia
đình, thì xẩy ra khi cả ba chúng tôi quây quần, không phải quanh cái
bàn, mà
trên mặt giường, với thằng con ngồi ngay dưới chân cha mẹ.
Theo tiêu chuẩn Nga, cái giường đó đúng là một
thứ xa xỉ
phẩm. Tôi thường xuyên ban cho mình, cái ý nghĩ, đúng là do cái giường
nó đã dụ
được cha tôi lấy má tôi, bởi vì ông mê ngủ nướng, nằm ườn trên đó, hơn
bất cứ
điều nào khác ở trên đời. Ngay cả khi hai ông bà mạnh miệng, hầu hết
những lần
“ông nói bà cũng nói này” là liên quan tới vấn đề quản lý ngân sách của
chúng
tôi, [“Vậy là bà lại cúng hết tiền cho tiệm chạp phô đó rồi, chẳng chừa
cho tôi
một xu!”, tiếng cha tôi vượt qua bức tường, là những kệ sách ngăn “nửa”
của tôi
với “căn phòng” của ba má tôi. “Tôi bị đầu độc, đầu độc trong ba mươi
năm trời,
bởi cái tính hà tiện của ông!”, mẹ tôi đáp lại], ngay cả tới lúc căng
thẳng như
thế đó, cha tôi cũng rất ngần ngại rời cái giường, nhất là vào buổi
sáng. Một
vài người đã tỏ ra chẳng eo hẹp, khi dụ khị má tôi nhường cho họ cái
giường. Nó
thực sự chiếm quá nhiều chỗ, trong căn phòng rưõi. Nhưng gì thì gì,
ngay cả khi
túng bấn nhất, cha mẹ tôi cũng không tính đến chuyện bán giường. Nó
đúng là một
cái gì thái quá, một cái thú chơi ngông, mà tôi tin rằng, cha mẹ tôi
thì thật
thích chơi ngông, và thích cái giường, chính là vì vậy.
Tôi nhớ ông bà ngủ ở trên cái giường đó, thường
là quay
lưng vào nhau, và ở giữa họ là đống chăn mền. Tôi nhớ ông bà đọc sách
báo ở đó,
nói chuyện với nhau ở đó, uống thuốc uống thang cũng ở đó, chống cự con
bịnh
này, cái bệnh kia, cũng ở đó. Cái giường như là nơi ẩn náu an toàn
nhất, và
cũng là nơi bầy ra nỗi bất lực, không trông mong bất cứ giúp đỡ, từ bất
cứ ai,
bất cứ đâu, đối với cả hai, theo tôi. Đó đúng là nơi chốn riêng tư nhất
của ông
bà, hòn đảo tối hậu, nơi bất khả vi phạm bởi bất cứ một ai, trừ thằng
con ra,
của ông bà trên vũ trụ này. Cho dù nó đứng ở đâu bây giờ, nó đứng như
khoảng
chân không, một tách rời, a vacuum, ở bên trong trật tự thế giới. Một
chân
không bề ngang năm, bề dài bẩy feet. Gỗ thông mầu nâu nhạt bóng loáng,
và chưa
hề bao giờ kêu cót két, cọt kẹt.
20
Nửa của tôi nối với phòng của cha mẹ tôi bằng
hai cái vòm
cao gần đụng trần nhà, và tôi trường kỳ chất lên đó đủ thứ kệ, thùng,
hộp đựng
sách, để ngăn đôi, giữa thằng con với cha mẹ, hòng có được một chút tư
riêng.
Một chút, một tí, một mức độ nào đó, chứ đừng hòng hoàn toàn riêng tư,
bởi vì,
hai cái vòm, cao như thế, rộng như vậy, lại thêm đường ven trên được
trình bầy
theo kiểu Moor, thật vô phương tách riêng nửa phòng của tôi với phòng
của hai
cụ. Ngoại trừ, lẽ dĩ nhiên, nếu bạn lấy gạch xây lấp luôn, hoặc che kín
đôi bên
bằng một bức tường gỗ! Làm như vậy, là chống lại nhà nước, bởi vì, họ
ban cho
chúng tôi một nửa phòng, với một phòng. Ngăn riêng hẳn ra như vậy, là
thành hai
phòng. Chẳng cần kiểm tra viên, ngay lối xóm, dù dễ chịu cách mấy, cũng
chẳng
thèm đợi dăm bữa nửa tháng, mà báo cáo liền tù tì vi phạm trầm trọng
này.
Chỉ có thể làm sao cho được tí nào hay tí đó, và
đó là tham
vọng mà tôi đã đeo đuổi và cố gắng thực hiện từ cái tuổi mười lăm gấp
sách lại
đứng nghe đó. Tôi đã thực hiện những sắp xếp, những công trình ngăn đôi
bờ cõi
gây kinh hoàng, và có lúc, còn tính nghĩ đến chuyện, trám vô đó, nguyên
một cái
hồ nuôi cá cao 12 feet, ở giữa có một cái cửa nối nửa của tôi với phòng
của ông
cụ bà cụ. Chẳng cần phải nói, một công trình kiến trúc như thế vượt ra
khỏi tài
năng của tôi. Và những giải pháp tiếp tục theo nhau ra đời, kệ sách rồi
kệ sách
- về phía nửa của tôi - và phiá bên kia, những lớp màn vải, ngày càng
nhiều
thêm, và dầy thêm ra. Cũng chẳng cần phải nói, ông cụ bà cụ không làm
sao ưa nổi,
bất cứ giải pháp nào, và luôn cả vấn đề nhức nhối đẻ ra những
giải pháp
như thế.
Gái, cũng như trai, nếu nói về số lượng, thì
tăng chậm hơn,
so với sách; ngoài ra, cái món sau thì cứ ỳ ở đó. Chúng tôi có hai cái
tủ, cửa
tủ là những tấm gương. Chúng khá cao, nhưng cũng chỉ có thể hoàn thành
một nửa
trách nhiệm chứa sách của chúng. Chung quanh hai cái tủ, và ở trên nóc
tủ, tôi
bầy ra một chiến tuyến, là những kệ sách, chỉ để lộ ra một lối nho nhỏ,
tôi thì
quá dễ dàng đi lọt, nhưng ông cụ bà cụ phải nghiêng mình lách, mỗi lần
vượt
chiến tuyến, qua nửa phòng của thằng con, và sau đó, trở về bên phần
đất của
mình. Cha tôi không thoải mái, với cái vụ sắp xếp như thế, nhất là, kể
từ khi
ông làm một phòng tối để rửa phim, ở mãi tít cuối “nửa” của tôi. Phần
lớn thu
nhập trong gia đình là nhờ vào nó.
Có một cái cửa ở phía cuối nửa của tôi. Khi ông
cụ không
làm việc ở trong phòng tối, tôi ra vô nửa của mình bằng cửa đó. “Như
vậy đỡ làm
phiền bố mẹ”, tôi nói với ông cụ bà cụ, nhưng thực ra là để tránh hai
ngườì
đừng soi mói thằng con, và cũng tránh phải giới thiệu mấy thằng ông
mãnh bạn bè
của tôi, và ba chuyện lòng vòng khác nữa. Mỗi lần có tụi nó, là tôi bèn
mở lớn
cái máy hát, và ông cụ dần dần đâm ra ghét thậm tệ J.S. Bach.
Tuy nhiên, khi mà sách và nhu cầu riêng tư ngày
một tăng
lên một cách đáng sợ, tôi cật lực tái sắp xếp nửa của mình, sao cho mấy
cái tủ
làm hết chức năng của chúng, để ngăn cách giường và bàn của tôi, với
phòng tối
của ông cụ. Tôi chơi thêm một cái tủ nữa, vốn để không ở nơi hành lang.
Tôi phá
bỏ cái lưng đụng tường nhưng để nguyên cánh cửa tủ. Kết quả là, một
người khách
sẽ vô cái Lebensraum [Không gian, môi trường sống riêng]
của tôi
qua hai cái cửa, và một bức màn. Cửa thứ nhất đưa tới hành lang; tới
đó, bạn sẽ
thấy mình đứng trong căn phòng tối của cha tôi, và đưa tay vén bức màn;
việc
làm tiếp theo của bạn, là mở cửa tủ. Bên trên đầu mấy cái tủ, tôi chất
tất cả
những thùng sách mà chúng tôi có. Nhiều lắm, nhưng cũng không làm sao
đụng tới
trần nhà. Đúng là một hàng rào kẽm gai, một chiến tuyến, có thể nói như
vậy; và
đằng sau hàng rào kẽm gai, thằng bé cảm thấy mình an toàn, và một nàng
Marianne
sẽ khoe, không chỉ có bộ ngực, mà còn thêm một vài món hàng khác nữa.
21
Cái nhìn mờ mờ của ông cụ và bà cụ về thằng con,
qua hàng
rào chướng ngại vật được dựng lên như thế đó, bỗng như sang sáng lên,
khi hai
cụ nghe tiếng gõ cọc cọc của cái máy đánh chữ, mà những bức rèm, hàng
rào chiến
lược không làm sao làm bặt đi được. Cái máy đánh chữ Nga, thì cũng là
từ chuyến
đi Trung Hoa của cha tôi mà có được, có điều ông không ngờ nó lại được
thằng
con đem ra sử dụng. Tôi để nó trên bàn, bên trong một cái ổ được chế
tạo từ cái
cửa trước đây dùng để nối căn phòng rưỡi của tôi với phần còn lại
của dẫy
nhà. Cái cửa cũ, tưởng là đồ phế thải, không ngờ lại được việc như thế
đấy! Kể
từ khi nhà hàng xóm có cây đàn dương cầm cho cô con gái, cây đàn này
lại đặt ở
ngay phía bên kia bức tường, tôi bèn tăng cường, ở phía bên tôi, những
chiếc
thùng đựng sách, và thế là có cái ổ để máy đánh chữ.
Một bên là hai cái tủ và lối đi ở giữa, một bên
cửa sổ cao
có bức rèm, bậu cửa cách cái đi văng khá rộng rãi mầu nâu trông thật dị
hợm của
tôi đúng hai feet; phiá sau là cái vòm, với những thùng sách chất lên
tận đường
biên kiểu Moor ở phiá trên cùng của nó; một cái tổ bằng những chiếc hộp
đựng
sách, và cái bàn với cái Royal Underwood ở ngay trước mũi tôi: Đó là
cái Lebensraum
[Không gian] của tôi. Bà cụ sẽ lau chùi, dọn dẹp cho nó, ông cụ sẽ
đi qua
đi lại, khi tới căn phòng tối của ông; thỉnh thoảng, sau một trận lời
qua tiếng
lại nho nhỏ, ông cụ, hoặc bà cụ, sẽ tới ngồi trong chiếc ghế bành đã cũ
nát
nhưng thật sâu, thật rộng của thằng con, như tìm chút ẩn thân. Ngoài
những giây
lát như thế, toàn cơ ngơi mười thước vuông đó là của tôi. Và chúng là
mười thước
vuông tuyệt vời nhất, đẹp đẽ nhất là tôi đã từng có, từng biết tới. Nếu
không
gian có một tâm hồn của riêng nó, và tự nó có quyền phân chia san sẻ,
nếu như
vậy, thì có thể có một cơ may, rằng, một vài thước vuông trong số mười
thuốc
vuông đó, vẫn còn nhớ tới tôi, một cách thật là thân thiết. Nhất là vào
lúc
này, dưới một cái chân khác.
22
Tôi đã được sửa soạn để tin tưởng rằng, với
người Nga, rứt
ra khỏi những rằng buộc, hệ luỵ, thì khó khăn hơn nhiều, so với bất cứ
một
giống dân khác. Nói cho cùng, chúng tôi, một dân tộc được định cư quá
kỹ, kỹ
hơn cả những giống dân thuộc cựu lục địa (Đức hay Pháp], họ hay đi lòng
vòng,
không hẳn chỉ vì họ có xe hơi, hoặc không có biên giới. Với chúng tôi,
căn
phòng, là cho suốt đời; thành phố, cả đời; xứ sở, mọi đời. Những quan
niệm về
sự trường tồn, về điều hoài hoài, do đó, cũng mạnh hơn nhiều, so với
những sắc
dân khác. Và, lẽ tất nhiên, nỗi đau mất mát, đau hơn nhiều. Đau hơn
hoạn. Tuy
nhiên, một quốc gia đã từng mất, trong một nửa thế kỷ, gần sáu chục
triệu con
người, cho cái nhà nước ăn thịt người đó (gồm cả hai chục triệu bị giết
trong
chiến tranh), một quốc gia như thế chắc chắn là thừa sức để là “cập
nhật hoá”
cái cảm quan về sự vững bền của nó. Không chỉ vì, những mất mát như vậy
là phải
gánh chịu, cốt sao vẫn nguyên trạng. Bởi vậy, nếu một người nào cố bám
vào tất
cả những chuyện đó, như vậy không nhất thiết có nghĩa, con người muốn
tuân theo
bản chất tâm lý của “ao nhà”, [thí dụ, nước mưa ở nơi lưu vong này thì…
chua
ngoét]. Nhưng theo tôi, có lẽ, cơ sự này phải cắt nghĩa ngược lại,
nghĩa là,
giữa hiện tại và điều được tưởng nhớ, có gì đó không ăn ý vói nhau. Hồi
ức,
giống như suy nghĩ không tưởng, khi nó phản ánh bản chất thực tại của
một con
người. Thực tại mà tôi đang đối mặt chẳng mắc mớ gì tới căn phòng rưỡi,
và hai
người sống ở trong đó, ở bên kia biển cả, và bây giờ chẳng còn hiện
hữu. Chọn
lựa gì được, nếu ở trong hoàn cảnh của tôi bây giờ? Sự khác biệt, là,
giữa hai
nửa địa cầu, giữa ngày và đêm, giữa thành phố và nhà quê, giữa người
chết và
người sống. Những điểm chung độc nhất, là, cái bộ mặt của tôi đây, và
cái máy
đánh chữ. Tuy khác kiểu. Chữ cũng khác.
Tôi giả dụ, có mình lòng vòng bên cạnh, trong
muời hai năm
cuối cùng của ông cụ bà cụ, có mình lòng dòng bên cạnh, khi ông cụ bà
cụ mất,
nếu như vậy, có khi, sự tương phản, giữa ngày và đêm, hay giữa một con
phố ở
trong một thành phố Nga với một con đường nhỏ ở miền quê Mẽo, nó sẽ bớt
sắc nét
đi, bớt cay đắng đi; sự dữ dằn của hồi ức sẽ phải đối phó với sự dữ dằn
của suy
nghĩ không tưởng. Sự mất mát hao mòn hoàn toàn sẽ làm mờ cảm nhận, đủ
để con
người chấp nhận thảm kịch, coi nó là tự nhiên, và sẽ tự nhiên quên đi,
như mọi
chuyện ở trên cõi đời này. Tuy nhiên vẫn còn một vài điều tỏ ra có ích,
khi
đánh giá con người, khi nó phải nhìn ngoái lại, phải hồi tưởng;
cũng
tương tự như vậy, điều tốt về một bi kịch giả tạo, nhân tạo, là, nó làm
cho con
người chú ý tới cái gọi là sự giả tạo, nhân tạo, the artifice.
Cái xấu bạ cái gì cũng vớ lấy. Ở đây, tôi vớ
lấy, cái cảm
quan của mình, về tội lỗi.
23
Đúng là thứ tình cảm dễ vớ lấy, dễ làm chủ. Nói
cho cùng,
đứa trẻ nào thì cũng cảm thấy tội lỗi đầy mình đối với bố mẹ, bởi vì,
nó biết
rằng, bố mẹ sẽ đi trước mình. Bởi vậy, tất cả những gì mà nó cần, để
cho nhẹ
tội, là cầu mong cha mẹ mình có được một cái chết tự nhiên: chết bịnh,
chết
già, hay là cả hai. Tuy nhiên, làm sao bạn có thể mong muốn điều này,
tôi muốn
nói, một cái chết tự nhiên, cho một kẻ nô lệ? Một kẻ mà, khi sinh ra tự
do,
nhưng sau đó, tự do của người đó bị… ngăn chặn?
Tôi thu hẹp định nghĩa, về một người nô lệ, như ở trên, không bởi vì
những lý
do hàn lâm, hay vì thiếu rộng lượng. Tôi thực sự muốn nuốt trôi quan
điểm này,
rằng một người sinh ra trong nô lệ, biết, rằng tự do là một điều hoặc
mang tính
di truyền - có ở trong máu - hoặc mang tính trí thức - người có học thì
mới
biết tự do nghĩa là gì: qua sự đọc, hoặc nghe người ta nói như vậy.
Vâng, đúng
như vậy, nhưng tôi muốn nói thêm một tị về vấn đề tự do có ở trong máu,
là, như
mọi thứ khắc họa, dù vào trong máu, tới một mức độ nào đó, nó có trục
trặc, thí
dụ như, bạn cảm thấy tự do ở trong máu, nhưng cái đầu, cái tay của bạn,
chúng
không cảm thấy như vậy. Do đó mà có sự độc ác, và hung bạo chẳng hề có
mục
đích, ở rất nhiều cuộc nổi dậy. Cũng do đó mà có những cuộc thất bại
của những
cuộc nổi dậy như thế, nói một cái khác, có độc tài. Chết, như thế, đối
với một
nô lệ, hay những bà con, hoá ra lại là một giải thoát, (câu nói nổi
danh của
Martin Luther King, Jr, “Tự do! Tự do! Tự do, sau cùng!” [Free! Free!
Free at
last!].
Nhưng, còn về một người nào sinh ra tự do, nhưng chết trong nô lệ, thì
sao?
Liệu ông, hay bà đó, cảm thấy đó, như là một điều dễ chịu – xin hãy gạt
bỏ mọi
quan niệm mang tính thiên chúa giáo ở đây. Có thể chứ, tại sao không,
nhưng còn
hơn thế nữa, ý tôi muốn nói, ông, hay bà đó sẽ cảm thấy đây là một điều
sỉ nhục
tối hậu, một sự ăn cắp tối hậu, tự do của họ. Đó là điều mà bà con họ
hàng, hay
con cái của họ, nghĩ, đó là điều mà nó là, đích thị như vậy. Sự ăn cắp
sau
cùng.
Tôi nhớ một lần, mẹ tôi đi mua vé xe lửa đi xuống miền nam, tới Viện
Điều Dưỡng
Nước Khoáng. Bà có hai muơi mốt ngày nghỉ sau hai năm làm việc tại cơ
quan lo
phát triển khu vực, và bà tới viện điều dưỡng đó là vì gan của bà có
vấn đề gì
đó, [bà không hề biết bà bị ung thư]. Tại văn phòng bán vé, sau khi
đứng xếp
hàng ba tiếng đồng hồ, bà khám phá ra rằng cái bóp của bà đã bị mất
cắp, trong
đó có bốn trăm rúp là tiền mua vé xe lửa. Bà không làm sao để tỏ ra là
mình
được an ủi. Bà đi về nhà và đứng trong căn bếp tập thế đó, và cứ thế
khóc, và
khóc, và khóc. Tôi đưa bà mẹ tôi về căn phòng rưỡi của chúng tôi; bà
nằm trên
giường, và tiếp tục khóc. Lý do tôi nhớ chuyện này, đó là, chẳng bao
giờ bà
khóc, ngoại trừ những lần đưa đám người thân.
24
Sau cùng, cha tôi, mẹ tôi, và mẹ tôi,
chúng tôi cũng
thu xếp xong xuối vấn đề tiển bạc, và bà đi viện điều dưỡng.
Tuy nhiên, không phải vì mất tiền mà bà khóc…
Nước mắt là
của hiếm, trong gia đình chúng tôi; điều này một cách nào đó, được nâng
lên tới
mức độ toàn nuớc Nga. “Hãy để dành, khi nào cần”, bà mẹ tôi vẫn thường
nói với
tôi như vậy, khi tôi còn nhỏ, và tôi sợ rằng, tôi thực hiện điều này,
quá cả sự
đòi hỏi của mẹ tôi.
Tôi còn nghĩ, bà chẳng muốn tôi viết về chuyện
này. Cha
tôi, thì cũng vậy. Ông là một người đàn ông kiêu hãnh. Khi đụng chuyện
phải
khiển trách, hoặc ghê sợ, mặt ông tỏ ra chua chát, cay đắng, nhưng cùng
lúc,
còn mang vẻ thách đố. Như thể ông muốn nói, “Muốn thử ta hả, thì thử
đi!”, như
thể, ông đã từng trải qua những điều còn quá thế nữa, thứ này nhằm nhò
gì! “Bạn
trông mong gì, ở ba thứ đó?”, sẽ là nhận xét của ông trong những tình
huống như
vậy. Một nhận xét khiến ông nhẫn nại, chịu đựng.
Không phải thứ chủ nghĩa vị kỷ ở đây. Làm gì có
chỗ cho một
thế cách ở đời, hay một triết học sống, cho dù thu nhỏ tới cỡ nào,
trong những
ngày tháng đó. Thời kỳ mà con người đành phải làm hòa với mọi thứ
tội,
nhân nhượng với mọi thứ phạm, với mọi hình thái, biểu hiện của sự ngần
ngại,
làm sao cho hoàn toàn khuất phục so với phía đối nghịch. (Chỉ có những
người đã
không trở về từ những trại tù, chỉ có họ, mới có thể vỗ ngực tự hào,
rằng, ta
đã ỉa vào mặt chế độ; còn những người từ đó trở về, thì cũng cứt đái
như nhau,
như cả lũ chúng mình mà thôi). Tuy nhiên đừng nghĩ là tôi giở trò đểu
giả, xi
níc ở đây. Đó chỉ là một cách, làm sao cho lưng của mình đừng có cụp
xuống,
trong những trường hợp chẳng còn một chút danh dự, chẳng có một chút gì
đáng tự
hào, nghĩa là cố làm sao mở mắt ra. Đó là lý do, nước mắt hả, hãy đi
chỗ khác
chơi.
25
Đàn ông thế hệ đó thì… cũng vẫn là đàn ông. Với
con cái của
họ - rất rành rọt trong vấn đề hiểu và làm theo ý ông bố [điều này có
ích vộ
cùng] - những ông bố này có vẻ như những hình nộm, những cả quỷnh. Như
tôi đã
nói, họ không tự ý thức về mình một cách khủng khiếp đâu. Chúng tôi,
những con
cái của họ, được nuôi nấng – hay đúng hơn, tự lo thân, tự xoay sở lấy
mình - để
tin tưởng về sự đa dạng của thế giới, về nói một đằng nghĩ một nẻo,
dzậy mà
không phải dzậy, về chuyện gợi ý, về những vùng xam xám, những sắc thái
tâm lý
của cái này, hay cái nọ. Bây giờ, tới tuổi họ, vào thời kỳ đó, có bộ
dạng như họ,
ăn mặc quần áo cùng một số như họ, chúng tôi nhìn sự vật thì cũng vẫn
như họ,
tức cũng vẫn cùng một nguyên lý dạ không/dạ có [yes/no principle].
Chúng tôi
phải mất gần cả cuộc đời để hiểu được cái điều mà họ chỉ cần con ruồi
bay qua
là đã biết đực hay cái, tức cái kiểu biết ngay từ đầu: rằng thế giới là
một nơi
chốn rất ư là như thế đấy, cái thế giới trần trụi đó cũng chẳng thể nào
xứng
đáng hơn, như là nó là. Rằng hai tiếng dạ được/dạ không đủ ôm trọn cả
thế giới,
chẳng bỏ cái chi, tất cả cái đa dạng của cuộc đời, như chúng ta đã từng
và đang
từng khám phá, ve vuốt, hít hà, hơn thế nữa, lại còn muốn tái sắp xếp…
chúng
làm mất tiêu gần như tất cả sức lực của chúng ta
26
Nếu như họ tìm một phương châm để diễn tả cuộc
đời của họ,
thì có ngay đây, mấy dòng, từ bài thơ “Northern Elegies” [Bi Khúc
Bắc
Phương], của Akhmatova:
Just like a river,
I was deflected by my stalwart era.
They swapped my life: into a different valley,
Past different landscapes, it went rolling on.
And I don’t know my banks or where they are.
[Như một dòng sông,
Tôi bị đổi dòng, bởi cái thời dũng mãnh của tôi.
Chúng xô đời tôi; vô một thung lũng khác,
Qua những cảnh khác, cứ thế trôi đi.
Tôi không biết đâu là bến bờ của tôi, chúng ở đâu.
Họ, tôi muốn nói, ông cụ bà cụ của tôi, chẳng
bao giờ nói
cho thằng con trai của cụ, về tuổi thơ của họ, về gia đình họ, về ông
cụ bà cụ,
hay ông nội bà nội của họ. Tôi chỉ biết, ông ngoại tôi là một người bán
máy may
hiệu Singer, tại một tỉnh thuộc vùng Baltic cũng thuộc vào đế quốc [Lithuania, Latvia, Ba Lan] còn ông nội, chủ tiệm photo tại St. Petersburg. Sự kín tiếng không phải là do bịnh lãng trí,
nhưng vào
thời kỳ đó, người ta thường giấu nhẹm tông tích, lai lịch, như là một
mánh lới
để sống sót, thì cũng vẫn cái kiểu nín thở qua sông, mà lị. Ông cụ vừa
mới tính
mở màn, ông già tôi ngày ấy… là bị cặp mắt xám của bà cụ đưa ra một cái
nhìn
cảnh cáo, thế là ông cụ bèn chuyển hướng và nói về cái hồi còn mài đũng
quần
tại một trường trung học! Còn bà cụ, bà sẽ chẳng thèm nhỏng cái tai
lên, khi
nghe một người bộ hành kế bên xổ ra một câu tiếng Tây, trên đường từ
nhà một
người bạn của tôi trở về, mặc dù, có lần, tôi gặp bà mẹ của mình đang
cầm
bản dịch tiếng Tây một trong những tác phẩm của thằng con! Hai mẹ con
nhìn
nhau, thế rồi thì là bà mẹ tôi để lại bản dịch tiếng Phờ Lăng Xa vào kệ
sách và
rời “Không gian của thằng con”, My Lebensraum.
Một con sông bị đổi dòng, chảy qua miền xa lạ, rơi vào
con nước lớn do con
người tạo nên. Liệu có người nào mô tả, gán ghép con nước lớn nhân tạo
đó, với
một ngọn triều của sông, của biển? Nghĩa là do những nguyên nhân tự
nhiên? Và
nếu có một người nào đó, làm được điều này, xin hỏi, vậy thì cái dòng
sông đó
rồi sẽ vận hành ra sao, tiến trình như thế nào? Còn cái tiềm năng của
con
người, bị giản trừ, bị vận hành sái đi như thế, từ phía bên ngoài, thì
nó sẽ ra
sao? Liệu có ai ở đó, để mà tính toán cái thua cái được, do bị chuyển
đổi dòng
như thế đó? Và liệu có một người nào như thế? Và trong khi hỏi những
câu hỏi
như vậy, tôi không bỏ qua cho cái sự kiện là, cái cuộc đời bị lệch
hướng, bị
chỉ đạo trật như thế, nó có thể sản xuất ra một cuộc đời khác, như cuộc
đời của
tôi đây, vào lúc này, chẳng hạn, thế nhưng, liệu nó có thể có mà đếch
cần những
câu hỏi nhiêu khê cà chớn như trên, đếch thèm để ý gì đến những giản
trừ, những
hạn chế, những bị ngăn chặn khả năng, khả thể của nó? Không, tôi để ý
đến luật
xác xuất ở đây. Tôi không mong muốn cha mẹ tôi gặp phải những tình
huống như
vậy. Tôi đang hỏi những câu hỏi đó, bởi vì tôi là dòng sông bị đẩy ra
khỏi dòng
của nó. Sau hết, tôi tự nhủ, đây là tôi nói với chính tôi, theo kiểu
nói chuyện
với đầu gối.
Vậy thì khi nào, và ở đâu, tôi tự hỏi mình, một cuộc di chuyển, từ tự
do thành
nô nệ, nó có cái gọi là “thân phận của mày là như thế, không thể tránh
được”,
[the status of inevitability]? Khi nào thì chuyện đang tự do chuyển
thành nô lệ
có thể chấp nhận được, nhất là, đối với một người qua đường vô tội? Vào
cái
tuổi nào thì vô hại, nếu bị chuyển đổi, đang từ tự do, trở thành nô lệ?
“Còn
tuổi nào cho em”, ấy tôi muốn nói, vào tuổi nào, thì ký ức con người
không bị
ảnh hưởng, bởi cú đánh đó? Năm em mười lăm? Năm cháu lên mười? Lên năm?
Hay còn
ở trong bụng mẹ? Chỉ là những câu hỏi theo kiểu tu từ, phải vậy không?
Chắc
không hẳn như vậy. Một tay cách mạng, hay một tay chuyên môn đi chinh
phục,
chắc là có câu trả lời đúng, cho những câu hỏi như thế. Thành Cát Tư
Hãn, thí
dụ vậy, biết câu trả lời. Ông ta chỉ việc phạt một cú, đi một
đường mã
tấu, bất cứ kẻ nào mà đầu nhỉnh hơn cái trục bánh xe. Vậy là năm tuổi,
cỡ đó.
Nhưng vào ngày 25 tháng Mười 1917, [cuộc cách mạng vĩ đại của giai cấp
vô sản
bung nổ ra ở Nga], cha tôi khi đó, may quá, đã mười bốn tuổi; má tôi,
mười hai.
Bà đã võ vẽ vài chữ Phá Lãng Xa; còn ông cụ, một tí tiếng La Tinh.
Chính vì vậy
mà tôi hỏi những câu hỏi này. Chính vì vậy mà tôi hỏi những câu hỏi đó,
cho
chính tôi.
27
Vào những buổi chiều mùa hạ, cả ba cửa sổ cao
của chúng đều
được mở rộng, và những làn gió nhẹ từ mé sông cố len lỏi tới tận mấy
bức màn
bằng vải tuyn. Sông không xa, từ toà nhà chúng tôi đi bộ chừng mười
phút. Chẳng
có gì là quá xa: Khu Vườn Mùa Hạ, Nơi Ẩn Dật, Cánh đồng Mars. Ngay từ
hồi còn
trẻ hơn, so với thời kỳ sau này, cha mẹ tôi cũng ít khi đi dạo, cùng
nhau, hoặc
xé lẻ. Sau cả một ngày đi đứng, cha tôi không còn hứng thú lại đi dạo
phố. Còn
mẹ tôi, đứng sắp hàng tám tiếng đồng hồ tại văn phòng là đã quá ớn
chuyện tản
bộ; ngoài ra, ông cụ bà cụ còn quá nhiều chuyện để mà làm, tại nhà. Nếu
có đi
ra ngoài, thì là để gặp gỡ, tụ họp với bà con họ hàng [vào một dịp sinh
nhật
hay kỷ niệm đám cưới], hay là đi coi phim, rất ít khi ông bà đi coi hát.
Sống gần ông cụ bà cụ gần như suốt cuộc đời của
mình, tôi
gần như chẳng ý thức gì tới cái chuyện già cả của cả hai. Bây giờ, khi
hồi ức
của tôi nhẩy từ thập niên này qua thập niên khác, tôi nhìn thấy bà cụ,
từ bao
lơn theo dõi cái bóng dáng loạng quạng của ông cụ ở bên dưới đất, và
tôi nghe
mẹ tôi lẩm bẩm, ở bên dưới hơi thở của bà, “Đúng là một ông già, ông
già kia
ơi!”. Và tôi nghe ông cụ đáp lại, “Bà còn muốn theo dõi tôi tới tận nấm
mồ!” Đó
là những đối đáp sau cùng, kết thúc những cuộc cãi cọ của thập niên sáu
mươi,
thay cho một cú đập đóng cửa thật mạnh, và sau đó là tiếng chân bước
mỗi lúc
một xa dần của ông cụ, thập niên trước đó. Và tôi thấy, cọng râu bạc
của ông
cụ, khi cạo râu của mình.
Nếu trí tưởng của tôi loanh quanh với những hình
ảnh của
ông cụ bà cụ, khi họ đã già, có thể là do khả năng khôn ngoan và khéo
léo của
hồi ức, khi nó cố làm sao giữ cho được tốt đẹp nhất, những ấn tượng sau
cùng
(Cũng phải thêm vào đây, sự mê hoặc, phải nói là nghiền, tính lô gíc về
đường
nét, như câu thơ của một nhà thơ diễn tả, “nét cong, môi hồng mắt tình
cờ, ngực
hoa bối rối” [Thanh Tâm Tuyền], luôn cả sự mê tới nghiền, nguyên lý
tiến hoá,
thí dụ như, phát minh tuyệt vời của con người về nghệ thuật chụp hình).
Nhưng
tôi còn nghĩ thêm một tị, là về tuổi già của mình, nó cũng chơi một trò
chơi giống như thế: con người rất ít khi mơ, ngay cả về, một cái
thời
tuổi thơ, tuổi trẻ xa lắc xa lơ của chính nó, thí dụ như, khi nó mười
hai tuổi.
Nếu tôi có một quan niệm nào về tương lai, thì nó cũng được tạo nên
giống như
vậy. Chúng là những “Kilroy [?] thì có đây” của tôi, cho ngày hôm
sau
ngày mai, thì cứ nói chuyện trước mắt như vậy.
28
Như hầu hết đám đực rựa, tôi có nhiều nét giống
ông cụ hơn
bà cụ. Tuy nhiên, khi còn là con nít, tôi quanh quẩn bên bà cụ nhiều
hơn - một
phần là do chiến tranh, một phần còn là do cuộc đời rong ruổi một mình
của ông
cụ sau đó. Mẹ tôi dậy tôi đọc chữ, khi tôi lên bốn, hầu hết những điệu
bộ, cách
ăn nói, cử chỉ, thói quen này nọ, của tôi, là từ bà cụ mà ra, tôi nghĩ
như vậy.
Một vài thói xấu nữa, thí dụ như, thói hút thuốc.
Theo tiêu chuẩn Nga, bà cụ như vậy là khá cao,
năm feet ba,
duyên dáng, mập mạp. Tóc bà mầu nâu nhạt, suốt đời bà để tóc ngắn. Mắt
bà mầu
xám. Bà thú vị lắm, về cái chuyện tôi thừa hưởng từ bà, cái mũi thẳng,
chẳng
khác gì mũi của người La mã, chứ không phải từ cái mũi khoằm khoằm của
cha tôi,
mũi như vậy mà bà lại mê, thế mới lạ! “Ah, cái mỏ đó!”, bà sẽ bắt đầu,
chi li,
rành rọt từng chữ, từng lời, bài nói chuyện của bà, với những ngừng,
nghỉ.
“Những cái mỏ như thế”, ngưng, “đã được rao bán ở trên trời”, ngưng,
“sáu rúp
một cái”. Tuy rất giống một trong cái mũi nếu nhìn nghiêng [kiểu]
Sforza, của
Piero della Francessa, cái mỏ đó là của dân Do Thái, và bà mẹ của tôi
có lý do
để mà hài lòng, rằng may mắn quá, phúc đức quá, thằng con trai không có
cái mũi
tố cáo dòng dõi Do Thái của ông bố!
Mặc dù tên hồi còn con gái (bà vẫn giữ nó, khi
đã có gia
đình), “chương, đoạn thứ năm” [qui thành phần Do Thái] không ảnh hưởng
lắm tới
bà, ấy là nhờ ở cái nhìn của bà. Bà thật là quyến rũ, theo kiểu chung
của vùng
Bắc Âu, tôi muốn nói, vùng biển Baltic. Theo một nghĩa nào đó, đây là
lộc Trời
ban cho bà. Bà chẳng gặp rắc rối trong tìm kiếm việc làm. Như là một
hậu quả,
bà phải làm lụng suốt cả cuộc đời, như là một con người có ý thức,
rằng, ai
sinh ra ở đời, mà chẳng phải làm, không việc này thì việc nọ. Cứ giả dụ
như là
bà đã thất bại trong việc giấu diếm lý lịch không phải ba, mà chắc là
nhiều
đời, không thuộc giai cấp bần cố nông, nhưng mà là gốc gác tiểu tư sản,
thế là
bà không được nhà nước cho phép, và bà đành từ bỏ những hy vọng ăn học
cao, và
thế là bà trải qua cả cuộc đời, hết văn phòng này tới văn phòng nọ, khi
thì thư
ký, khi thì nhân viên kế toán. Chiến tranh đem thay đổi: bà trở thành
thông dịch
viên trong một trại tù dành cho tù binh chiến tranh Đức, và có được cấp
bậc
trung uý, thuộc lực lượng của Bộ Nội Vụ. Khi Đức Quốc Xã tuyên bố đầu
hàng, bà
được hứa hẹn thăng chức và trở thành một nhân viên có hạng trong hệ
thống của
bộ này. Không khoái chuyện gia nhập Đảng, thế là bà đành từ chối ân huệ
của bộ,
của nhà nước, và lại trở về với ba cái hồ sơ, bốn cái bàn tính. “Tôi
không có ý
định, trước tiên là phải chào chồng mình”, bà nói với cấp trên của bà.
“ Và tôi
không muốn biến cái tủ áo của nhà mình thành một kho vũ khí”.
29
Chúng tôi gọi bà là “Marusya”, “Manya”, [cách
gọi vắn tắt
của cha tôi, và mấy chị em của mẹ tôi], và “Masya”, hay “Keesa”, hai
cách gọi
sau là do tôi nghĩ ra. Cùng với năm tháng, hai cách gọi sau ăn khách
hơn, và
ngay cả cha tôi cũng đã gọi mẹ tôi như vậy. Ngoại trừ “Keesa”, tất cả
những
cách gọi kia đều là từ tên của mẹ tôi đọc vắn lại. “Keesa” phát xuất từ
một
cách gọi thân yêu dành cho những “miêu cô nương”, và mẹ tôi lúc đầu đã
không
chịu cách gọi này. “Con dám gọi mẹ như vậy hả?”, bà đã từng tức giận
với thằng
con trai. “Và nghe mẹ nói đây này, đừng bao giờ sử dụng tất cả
những từ
chỉ mèo cái như thế! Nếu không, sẽ có ngày óc của con sẽ biến thành óc
mèo!”
Điều này thực ra là bà muốn nói tới cách ăn nói
của tôi,
khi còn là một thằng con nít, tôi có thói quen phát âm những từ có
những nguyên
âm, theo kiểu meo meo, mèo mèo. Thí dụ như từ “meat” [thịt], và vào lúc
tôi
mười lăm, trong gia đình tôi như bị lây cái tật meo meo này của tôi.
Cha tôi là
người đầu tiên, và chúng tôi bắt đầu gọi nhau bằng những từ như “Mèo
Lớn”, “Mèo
Nhỏ”. Một “meomeo” hay một “mimi”, hay một “miêu miêu”… những từ như
vậy thay
cho những từ biểu lộ tình cảm khác, thay vì "ôkê" thì là
"ômiêu-eo, thí dụ vậy, hay những tình cảm như nghi ngờ, dửng dưng, cũng
đành, tin cậy…. Dần dà, mẹ tôi cũng bắt đầu sử dụng chúng, nhưng
chủ yếu
là để biểu tỏ thái độ tách ra khỏi cái trò chơi này.
Tuy nhiên, cách gọi “Keesa” đó bám chặt lấy bà,
nhất là khi
bà đã có tuổi. Đã già. Phốp pháp, quàng thêm vài cái khăn mầu nâu, với
khuôn
mặt dịu dàng, thanh thoát, trông bà mới dễ chịu làm sao, và cũng thật
mình ên,
chẳng muốn làm phiền ai, và cũng chẳng muốn ai làm phiền mình. Như thể
bà sẽ âm
ư, ừ ừ, một cách rất ư là hài lòng. Nhưng thay vì ư u ừ ừ, như loài
mèo, thì bà
sẽ nói, “Sasha, ông trả tiền điện tháng này chưa?”, hay chẳng nhắm vào
ai,
“Tuần tới nhà mình làm vệ sinh căn hộ.” Có nghĩa, cọ rửa, lau chùi sàn
nhà nơi
hành lang, và nhà bếp, làm vệ sinh nhà tắm, nhà cầu. Bà sẽ nói, mà
chẳng nhắm
vào ai, bởi vì, bà biết, bà là người sẽ làm những việc đó.
30
Làm sao họ có thể xoay xở với tất cả mọi chuyện,
nhất là ba
cái vụ cọ rửa, làm tổng vệ sinh như thế đó, trong muời hai năm sau
cùng. Tôi
chẳng làm sao biết. Cuộc ra đi của tôi, lẽ dĩ nhiên, có nghĩa đỡ đi một
miệng
ăn, và họ có thể thuê mướn một người nào đó, thỉnh thoảng, khi nào quá
cần, để
đỡ đần công chuyện. Tuy nhiên, hiểu quá rõ vấn đề tiền nong của hai cụ
(hai món
hưu rất ư là thanh bạch, nghĩa là nhẹ hẫng), cộng thêm tính bà cụ, tôi
không
tin, họ sẽ cho phép họ xài sang, nghĩa là mướn người làm, dù chỉ là làm
giờ,
theo kiểu part time. Vả chăng, trong cuộc sống tập thể ở đó, cái việc
làm này
còn hiếm. Nói cho cùng, tính sa đích do bản chất mà ra, của đám láng
giềng láng
tỏi, cư dân ở miền đất đó, cái tính sa đích khốn kiếp đó, nó cần, một
mức độ
nào đó, cái gọi là sự thoả thuê, hài lòng, nếu không muốn nói, thấy
ngưòi hàng
xóm đau khổ, bên này, bên nhà mình sướng điên lên được! Một bà con, lúc
tối lửa
tắt đèn, còn được, một người làm mướn, [một ô sin hả?], không bao giờ,
ở cái xứ
đã thanh toán tới tận cùng tội ác người bóc lột người!
Tuy giầu có “như ông hoàng”, thì cứ cho là như
vậy, với
đồng lương đại học của tôi, nhưng ông cụ bà cụ sẽ chẳng bao giờ biết
chuyện đổi
tiền đổi nong, từ đô la đế quốc Mẽo thành đồng rúp. Họ coi đổi tiền
theo giá
nhà nước là một hình thức ăn cướp, nhưng cả hai đều rất kỹ tính, và rất
sợ dây
dưa với chợ đen chợ đỏ. Lý do sau cùng này là mạnh nhất, và họ vẫn còn
nhớ như
in vụ tiền hưu của họ bị nhà nước “ách" lại, vào năm 1964, khi họ ban
cho
thằng con năm năm tù. Và thế là họ lại phải đi tìm kiếm việc làm. Vì
vậy, những
gì mà tôi hay gửi về nhất, thì không phải là tiền, mà là quần áo, và
sách nghệ
thuật, thứ này mấy ông mê sách mê lắm. Ông cụ bà cụ bèn tân trang ba mớ
quần áo
cũ, nhất là của ông cụ, vốn ăn vận rất kỹ càng, và đem gửi ở chỗ bán
quần áo
cũ. Còn mấy sách nghệ thuật, thì họ giữ cho họ. Để mà ngắm nghiá, sau
khi làm
tổng vệ sinh căn phòng tập thể, ở vào tuổi bẩy mươi lăm của cuộc
đời.
31
Họ rất thích đọc sách đạo thiên chúa, bà cụ còn
ưa cổ điển
Nga. Cả ông cụ lẫn bà cụ đều không có những ý nghĩ rạch ròi về văn
chương, âm
nhạc, nghệ thuật, theo kiểu, nó phải thế này, thế nọ, mặc dù khi còn
trẻ, họ
đều quen biết một số nhà văn, nhà soạn nhạc, họa sĩ ở Leningrad
(Zoshchenko,
Zabolotsky, Shostakovich, Petro-Vodkin). Hai ông bà chỉ là những độc
giả - độc
giả buổi chiều, rõ hơn – và họ rất cẩn thận, khi làm mới, renew, thẻ
mượn sách
thư viện. Từ chỗ làm trở về nhà, trong giỏ xách của bà cụ, thường là
một bịch
đầy khoai tây, hay cải bắp. và sách thư viện, được bọc kín bằng nhật
trình, để
không bị lấm bụi.
Đó là bà cụ tôi, đã gợi ý thằng con, khi nó mười
sáu tuổi
đang làm việc tại một xưởng thợ, con nên “đăng ký” làm thẻ mượn sách
tại thư
viện thành phố; và tôi tin rằng, khi gợi ý như vậy, không hẳn cụ chỉ
nghĩ, mình nên tránh cho thằng bé khỏi lang thang, lêu lổng, la
cà hết
ngã tư đường này, tới hẻm phố kia. Về một mặt khác, theo như tôi hiểu
được, bà
muốn nó sau này sẽ là một họa sĩ. Bằng bất cứ giá nào, những căn phòng
và những
hành lang bệnh viện cũ của thành phố, ở bên hữu ngạn của con sông
Fontanka
[River] phải là nơi bắt đầu sự hư hỏng của tôi, và tôi còn nhớ, cuốn
sách đầu
tiên tôi hỏi, ở đó, theo lời cố vấn của mẹ tôi. Đó là cuốn Gulistan
(Vườn
Hồng), của một thi sĩ Ba Tư, Saadi. Bà cụ tôi hoá ra rất mê thơ Ba Tư.
Cuốn
tiếp theo, tôi hỏi, cũng ở đó, do chính tôi cố vấn cho tôi, là cuốn Căn
Nhà
Tellier, của nhà văn Pháp Maupassant.
32
Hồi ức có cái chung với nghệ thuật, đó là, tính
tuyển chọn,
thích xoáy vào chi tiết. Khen đấy, mà chửi cũng đấy, ấy là bởi vì, hồi
ức vốn
chỉ chứa chi tiết, chứ không trọn gói, trọn hình, [làm sao quên cái
răng khểnh
của một bông hồng đen, thí dụ vậy!]; hãy gạch đít, gạch chân,
highlights, nếu
bạn muốn, nhưng đừng trọn cả “sô”! Theo tôi tin tưởng, thì đây là do
con người,
một khi phải nhớ trọn một em, thì thường là theo kiểu “mài mại”, và cái
rất ư
niềm tin để cho muôn thú muôn loài cứ thế mà tiếp tục cuộc đời của
chúng, đó là
“không nền”, groundless, đó là “mài mại”.
[Và Gấu tôi sợ rằng, câu thơ “em cứ hẹn nhưng em
đừng đến
nhé”, nổi danh là theo ý nghĩa này. Để anh suốt đời nhớ “mài mại” về
em!].
Hơn bất cứ cái gì khác, hồi ức của con người, nó
giống một
thư viện mất trật tự, hổ lốn, không theo một bảng xếp loại abc nào, với
không
tuyển tập, của bất cứ một ai.
33
Thay vì như người ta, muốn “xem nó ăn uống ra
làm sao, có
cao thêm được tí nào, so với năm ngoái”, thường là bằng cách, cầm cục
vôi hay
cục phấn, bắt đứa bé đứng sát tường, thẳng người lên tao coi, rồi làm
dấu, rồi
gật gù - cha tôi, vào ngày sinh nhật của thằng bé, bèn lôi nó ra bao
lơn, và
làm một ‘bô’ hình. Những bức hình như thế, đều có cái nền, là quảng
trường khu
phố, mà trung tâm của nó, là Nhà Thờ, The Cathedral of the Savior of
Her
Imperial Majesty’s Tranfiguration Batallion. Vào những năm chiến tranh,
hầm mộ
nhà thờ được dùng làm hầm trú ẩn tránh bom, và những lần phi cơ dội bom
mẹ tôi
bắt tôi chui xuống đó, ở trong một cái hộp lớn đầy những dòng chữ tưởng
nhớ. Có
thể coi đây là một ân sủng, hoặc món nợ của tôi, đối với Chính Thống
Giáo. Và
điều này liên quan tới hồi nhớ.
Toà nhà thờ, là một kiến trúc cổ điển sáu tầng,
chung quanh
có một cái vườn đáng nể, đầy những cây sồi, chanh lá cam, phong, và là
sân chơi
của tôi những năm sau chiến tranh, và tôi vẫn còn nhớ những lần mẹ tôi
ra tóm
cổ thằng bé (má tôi đẩy, còn thằng nhóc trì lại, miệng la, hét:
một ẩn dụ
về sự hiểu lầm [độc giả Xóm Cầu Mới của Nhất Linh chắc còn nhớ cảnh
nước lụt,
phải đưa lợn sơ tán lên nhà trên, anh cu Tí đánh lừa con vật “ngu như
lợn”,
bằng cách thay vì kéo lên nhà, thì xoay con vật ngược đầu trở lại, rồi
nắm đuôi
kéo về phiá chuồng...], và kéo tôi về nhà, bắt phải làm cho xong mớ bài
tập.
Cũng nhớ như in như vậy, là cảnh mẹ tôi, ông tôi, và cha tôi, ở lối đi
nhỏ hẹp
trong vườn, cố tập cho thằng bé đi xe đạp hai bánh [một ẩn dụ về một
mục đích
chung - nói theo mấy ông nhà văn vi xi, về “nghĩa cả” - hay là một ẩn
dụ về sự
chuyển động]. Ở bức tường phiá sau, về phiá đông nhà thờ, được che phủ
bằng một
tấm kính dầy, là một bức tranh lớn, mờ mờ, trình bầy cảnh Biến Hình
[Tranfiguration]:
Chúa Giê Su bay trên không, bên dưới là đám tông đồ sững sờ lui lại.
Chẳng ai
có thể giải thích cho tôi ý nghĩa của cảnh đó; ngay cả bây giờ, tôi
không nghĩ
là tôi đã nắm bắt hoàn toàn. Có rất nhiều những đám mây ở trong bức
tranh, và
một cách nào đó, tôi gán ghép chúng với khí hậu thời tiết trong vùng.
34
Bao quanh khu vườn, là một hàng rào bằng gang
đen, với
những cây cột cách đều nhau, là những khẩu cà nông lộn ngược nòng. Đây
là những
chiến lợi phẩm của binh lính thuộc Tiểu Đoàn Biến Hình [the
Tranfiguration
Battallion], trong cuộc chiến Crimean War với người Anh. Thêm vào cảnh
sắc đó,
là những nòng súng, trên một cái bệ đá, nối với nhau bằng những sợi dây
sắt
nặng, và trẻ con thường chơi trò nguy hiểm, hè nhau tung đi tung lại,
lắc lên lắc
xuống những sợi sên này, và khi mất đà, hoặc lỡ trớn, chúng té lộn tùng
phèo
xuống đám hoa oải hương ở bên dưới, hoặc để nghe những tiếng lenh keng.
Chẳng
cần phải nói, chơi với hàng rào gang, thú thì cũng thú, nhưng sao bằng
bên
trong nhà thờ, chỉ nội ngửi cái mùi nhang khói của nó, ấy là chưa kể
nhiều trò
tĩnh hơn nhiều, so với lay sợi xích. “Nhìn mấy cái kia kìa?”cha
tôi hỏi,
tay chỉ mấy mối nối những sợi sên. “Chúng làm con nhớ tới cái gì nào?”.
Tôi lúc
đó học lớp hai, và cu cậu trả bài: “Chúng giống như một cái hình tám
góc”.
“Đúng rồi”, cha tôi nói. “Nhưng con biết hình tám góc là biểu tượng cho
cái gì
nào?” “Những con rắn”. “Gần đúng thôi. Chúng là biểu tượng của sự vô
cùng”. “Vô
cùng gì chứ, bố?”. “Cái đó thì con phải hỏi ở kia kìa.” Ông nói, nhe
răng cười,
còn tay thì chỉ về phía nhà thờ.
35
Tuy nhiên cũng chính ông, giữa ban ngày ban mặt,
tóm thằng
con, ở giữa ngay mặt lộ, hỏi, cớ chi mà giờ này lang thang ở đây, lại
trốn học
hả? Và khi nghe thằng con ấp úng, con đau răng quá, bèn tức tốc đưa
thằng con
tới bệnh viện răng, và thế là tôi phải trả giá cho những lời nói dối
của mình,
bằng hai giờ khủng khiếp. Và cũng chính ông, đứng về phía thằng con khi
nó bị
đưa ra Hội Đồng Sư Phạm, và đề nghị tống ra khỏi trường vì vi phạm kỷ
luật.
“Làm sao ông lại bênh nó, ông, một người mặc đồng phục của Quân đội
chúng ta!”.
“Hải Quân, thưa Bà.” “Và tôi bảo vệ thằng bé, vì tôi là cha nó. Đâu có
gì là
ngạc nhiên trong chuyện này. Ngay cả loài vật còn bảo vệ con của chúng.
Ngay cả
Brehm cũng nói vậy.” “Brehm? Brehm? Tôi…. Tôi sẽ báo cáo Chính Uỷ đơn
vị của
ông”.
Và bà ta đã làm chuyện này. Lẽ dĩ nhiên.
36
“Vào ngày sinh nhật của con hay là Năm Mới con
nhớ luôn
luôn mặc một cái gì hoàn toàn mới tinh. Ít nhất, thì cũng phải là những
chiếc
tất mới”, đó là giọng mẹ tôi. “Luôn luôn ăn một tí gì rồi mới đi gặp
những
người bậc trên của con: ông sếp, hay sĩ quan. Dằn bụng một chút vẫn
hơn, con
ạ”. (Đây là ông cụ nói). “Nếu con đi ra khỏi nhà, nhưng lại phải quay
vội trở
lại, vì quên một cái gì, nhớ nhìn lại mặt mày trong gương trước khi lại
ra khỏi
nhà. Nếu không, con sẽ gặp rắc rối” (Lại giọng bà cụ). “Đừng bao giờ để
ý, đã
xài bao nhiêu tiền. Hãy nghĩ, kiếm được bao nhiêu.” (Ông già nói.)
“Đừng bao
giờ đi ra phố mà không vận áo ngoài.” “Để tóc đỏ là tốt nhất con ạ. Kệ
cho họ
nói gì thì nói. Bố để tóc nâu đen, và nâu đen có lý hơn.”
Tôi nghe những lời cảnh cáo, những lời dặn dò
của ông cụ bà
cụ, nhưng chỉ là những mẩu đoạn, những chi tiết. Hồi ức bội phản tất cả
mọi
người, nhất là về những người mình hiểu rất rõ về họ. Nó là một đồng
minh của
quên lãng, một đồng minh của cái chết. Một cái vợt, cái lưới lủng đáy.
Nước nôi
không mà cá mú cũng không. Bạn đừng mong tái tạo một cái gì, khi nhờ vả
tới cái
gọi là hồi ức, ngay cả chỉ là tái tạo ở trên mặt tờ giấy.
Thế là thế nào? Thế thì còn cả triệu triệu tế
bào thần
kinh, tế bào não, không lẽ đồ bỏ? Thế còn câu thơ nổi tiếng của
Pasternak,
“Thèm chút mồ hôi trên ngấn cổ" [“Great god of love, great god of
detail”]? Nhưng chi ly, nhưng chi tiết như thế nào, mà bạn phải chi ly,
để mà được…
nhớ?
37
Tôi nhìn thấy khuôn mặt của cha tôi, của mẹ tôi,
thật là rõ
ràng, và những nét vui buồn, lúc này lúc nọ, nhưng cũng chỉ là những
mẩu đoạn:
những lúc, những thoáng, những trường hợp, Chúng, lẽ dĩ nhiên, là hơn
hẳn một
bức hình, với nụ cuời của hai cụ, thật là nhức nhối khi nhớ lại, nhưng,
cũng
vẫn chỉ là vụn nát, manh mún, tản mạn. Đã nhiều lần, tôi bắt đầu hồ
nghi, hay
là thằng con, tức là tôi, đang xây dựng một hình ảnh có tính tích luỹ,
và được
tổng quát hoá, về bố mẹ mình, theo cái kiểu kiến tha lâu đầy tổ, hoặc
như là
một nét ký, một công thức, hay một phác họa, từ đó, thằng con trai có
thể nhận
ra, à đây là ông via bà via của tớ. Một toan tính có tính ổn định, một
lần cho
xong, đại khái như vậy. Tôi nghĩ là tôi có thể, nhưng sau cùng nhận ra,
đúng là
một việc làm phi lý. Những nét, những lúc, những trường hợp như thế đó,
chúng
thiếu tính liên tục. Nói rõ hơn, bạn đừng quá trông mong vào hồi ức.
Bạn đừng
trông mong, vào một cái việc làm thật là tiếu lâm như thế này: vô trong
một căn
phòng tối thui, vận sáng hồi ức lên, rồi giơ cái máy chụp hình, bấm vài
phát
cho chắc ăn, rồi đem đi rửa! Lẽ dĩ nhiên, ở đâu ra một thằng khùng như
vậy. Tuy
nhiên, bạn chẳng đã đem tấm hình của người yêu, đến nhờ một ông thợ
“tân
trang”, nghĩa thêm một vài nét còn thiếu, hoặc đã mất?
38
Thì cứ coi toàn thể vấn đề đại khái là như vầy:
Rằng sẽ
chẳng có liên tục, của bất cứ điều gì. Rằng thất bại của hồi ức thì
cũng chỉ là
một bằng chứng cho thấy, cái gọi là “sinh tử lão bịnh”. Chẳng có cuộc
đời nào
đáng được gìn giữ, bảo tồn. Trừ khi, đó là ông vua Pha a ông, còn ngoài
ra,
chẳng ai muốn biến thành xác ướp. [Nhất là Bác Hồ. Bác chẳng đã từng di
chúc,
hãy đốt xác ta, thiêu ta ra tro, rồi đem rải ra bốn phương trời mười
phương
đất. Bác không chỉ sợ đệ tử lợi dụng xác ướp, không chỉ sợ nhân dân xếp
hàng
viếng thăm, không sợ Bút Tre làm thơ chửi xỏ, mà còn sợ cái cảnh đã
từng xẩy ra
cho bức tượng của Stalin, hình như là ở Budapest thì phải, trong cuộc
nổi dậy ở
đây…]. (1). Thì cứ cho rằng, con người, một khi sưu tầm những kỷ vật,
là hàm
ý trang
trọng đối với người đã qua, và điều này làm chúng ta “tha thứ” cho hồi
ức, một
khi nó rách việc, nhớ nhảm, nhớ ba thứ lèm bèm, linh tinh, chẳng đáng
nhớ.
Nhưng, một con người bình thường chẳng mong chuyện bất thường, theo
nghĩa, chỉ
ba cái đồ mặt dầy, mặt mo, mới cứ ỳ ra đó, cứ liên tục chường mặt ra
đó, với
hiện tại, với tương lai, với hậu thế, với lịch sử. Con người bình
thường chẳng
mong ước sự liên tục, ngay cả cho chính anh ta, tác phẩm của anh ta thì
cũng
rứa! Một người bình thường không nhớ sáng hôm qua mình điểm tâm cái món
gì.
Chuyện đời, chuyện thường ngày xẩy ra ở huyện, là để quên đi, chứ không
phải để
nhớ mãi. Nhưng, điểm tâm, ăn sáng, cho dù là ở Tim Hortons, hay bún ốc
Bà Ba
Bủng, Passage Eden, là một chuyện, những người yêu thương, trân quí,
trân
trọng, lại là một chuyện khác. Tốt nhất nên thu xếp làm sao cho nó tiện
gọn,
đừng tốn chỗ, đừng chiếm nhiều không gian. Đây là vấn đề tiết kiệm.
Và trong trường hợp như thế, con người có thể
dùng mớ tế
bào não dành dụm được đó, để tự hỏi, những thất bại của hồi ức phải
chăng đó
chính là tiếng nói câm nín của sự nghi ngờ, của một người nào đó, rằng,
chúng
ta, nói cho cùng, đều là những kẻ lạ, giữa kẻ này với người kia. Rằng
cái cảm
quan tự chủ, một mình một chợ thì vẫn mạnh hơn là ba cây chụm lại thành
một đơn
vị, hãy để riêng nguyên lý nhân quả ra một bên. Rằng, một đứa trẻ không
nhớ bố
mẹ, ấy là vì nó muốn tung tẩy, muốn ngó về tương lai. Nó, đứa bé, cũng
dành dụm
đầu óc của nó, để sử dụng cho tương lai. Hồi ức của bạn càng ngắn bao
nhiêu,
bạn càng sống lâu bấy nhiêu, một câu châm ngôn đã dạy. Cũng thế đó,
tương lai
của bạn càng xa, càng dài bao nhiêu, hồi ức của bạn càng cụt thun lủn
bấy
nhiêu. Đó là một cách thức để tính đếm vấn đề trường thọ, để mà bàn về
tính cha
chú, bề trên, phải nói là, tính bố già của tương lai. Nhưng bên này co
thì bên
kia kéo lại, bố già hay không bố già, tự chủ hay mắc míu, chúng ta, nói
cho
cùng, đều lập đi lập lại, mình làm sao thì con mình làm thế, mình ăn
mặn thì
con mình khát nước, thành ra, có Một Ông Lớn Nào Đó, sẽ dành dụm Não
Của Ông
Ta, để mà tính đếm cho tất cả lũ chúng ta.
*
(1). Trường hợp ông Hồ còn làm người ta nhớ tới cái tục ma xó của người
Thượng. Thêm một lý do khiến đệ tử phản bội di chúc của ông.
39
Không phải là do thù hận ba thứ siêu hình, hay
ghét bỏ
tương lai, nhưng chủ yếu là như thế này, được bảo đảm bởi phẩm chất của
hồi ức
của chính mình, và chính cái phẩm chất này nó khiến tôi cứ nghiền ngẫm
hoài về
nó, thay vì làm những cú trở đi trở lại. Sự hoang tưởng về mình của một
người
viết, hay là sự sợ hãi phải đối diện với lời buộc tội, rằng mi toa rập
với
những định luật của thiên nhiên, để mà vờ bố mẹ, ba trò đó thật sự
không mắc
míu với vấn đề ở đây. Tôi giản đơn nghĩ rằng, những định luật thiên
nhiên,
chính chúng từ chối tính liên tục của bất cứ một người nào, và sự khiếm
khuyết
của hồi ức, là để phục vụ những quyền lợi quốc gia, nhà nước. Tới giờ
này, tôi
chưa hề muốn làm gì, cho sự tiến bộ của chúng.
Lẽ dĩ nhiên, những hy vọng để rồi thất vọng, rồi
lại hy
vọng để rồi lại thất vọng, ròng rã mười hai năm trời, chầu chực hết văn
phòng
ông cán này tới ông cán khác, sau cùng là tới nhà hoả táng nhà nước,
những
chuyện như vậy, chính chúng, cũng lập đi lập lại, không chỉ về thời
lượng, mà
còn về những trường hợp tương tự, đối với bất cứ một cặp ông bà già nào
khác.
Tuy nhiên, tôi không quan tâm nhiều tới chuyện dành dụm não bộ của
mình, cho sự
đơn điệu, buồn tẻ đó, mà là lo cho Ông Giời, và sự dành dụm bộ não của
Chính
Ông Ta. Cái của tôi, dù sao, thì cũng bị hư ruỗng rồi. Ngoài ra, nhớ mà
nhớ
bằng tiếng Anh thì cũng chẳng lợi lộc gì cho nhà nước hết. Vậy mà lại
tốt cho
tôi, để cứ thế tiếp tục.
40
Cũng thế, hai con quạ ngày càng thêm tỉnh bơ.
Bây giờ,
chúng hạ cánh ngay nơi cổng, và thăm thú đống gỗ cũ ở đó. Hai con quạ
đen
tuyền, và mặc dù tôi tránh nhìn chúng, có vẻ như hai con hơi khác nhau,
về hình
vóc. Một con thấp hơn con kia, theo cái kiểu bà cụ chỉ đứng tới vai ông
cụ; tuy
nhiên, hai cái mỏ thì y hệt nhau. Tôi không phải là một chuyện gia về
loài cầm,
nhưng tôi tin là giống quạ sống dai; ít nhất thì giống quạ lớn như kên
kên này.
Tuy không làm sao đoán chúng đã bao nhiêu tuổi, nhưng xem chừng, đây là
một cặp
quạ đã từng ăn ở với nhau lâu rồi. Mỗi lần qua lại, tôi không xua đuổi,
mà cũng
không tìm cách làm thân. Tôi cũng còn nhớ ra một điều là quạ không phải
là một
loài chim thiên di, dời đổi. Nếu như nguồn gốc của cái môn thần thoại,
huyền
thoại học của tôi, là sợ hãi và cô lập, thì cứ coi như tôi là cô lập,
trơ cu lơ
mỗi một mình, chẳng sao hết. Và tôi nhận ra rằng, biết bao nhiêu là
chuyện làm
tôi nhớ tới ông cụ bà cụ. Thì cũng là một cách nói, với cái kiểu thăm
viếng
bằng tưởng tượng như thế này, ai mà chẳng cần tới một trí nhớ tốt?
41
Một
dấu hiệu chỉ ra sự khiếm khuyết của hồi ức, đó là nó nhớ
ba chuyện lẩm cẩm. Như số điện thoại đầu tiên, vào lúc đó năm số, ngay
sau khi
chiến tranh vừa chấm dứt. Nó là 265-39, và tôi cho rằng, cho tới giờ
này, tôi
vẫn không quên, đó là do điện thoại được lắp đặt đúng vào lúc tôi phải
thuộc
bản cửu chương. Nó đâu còn ích lợi gì cho tôi nữa, vào lúc này: cũng
vậy, là số
điện thoại sau cùng, trong căn phòng rưỡi của chúng tôi, cũng đâu còn
dùng vào
việc gì nữa. Tôi không nhớ số điện thoại sau cùng này, mặc dù suốt mười
hai năm
trời ròng rã, tuần lễ nào tôi cũng gọi. Thư từ thì chịu thua ông nhà
nước rồi,
thế là đành xoay sở với cái điện thoại. Nghe lén điện thoại thì dễ ợt,
so với
chuyện mở thư ra kiểm tra, rồi cho đi. Ôi chao, những cú điện thoại
hàng tuần
đi Liên Xô! Cái hãng điện thoại ITT của Mẽo mới ba trật bốn vuột làm
sao!
Trong
những lần nói chuyện như thế, đâu có dám nói nhiều, mà
toàn là nói vắn tắt, xa xôi, cố tạo rửng rưng, ra điều không quan
trọng. Hầu
hết, ba chuyện thời tiết, sức khoẻ, không được nhắc đến tên của bất cứ
một ai;
chủ yếu là căn dặn, ăn uống phải cẩn thận, phải kiêng khem như thế nào.
Chủ yếu
là nghe giọng của ông cụ, bà cụ, và ngược lại, hình dung ra được, hai
cụ đang
gật gù, đúng là giọng thằng con trai của chúng mình rồi! Thì cũng y
chang cái
kiểu loài vật nhận ra nhau, bằng cách hửi hửi, hếch hếch mũi. Đâu có
mắc mớ gì
đến ngôn ngữ, đến lời ăn tiếng nói. Tôi cũng chẳng còn nhớ, những chi
tiết đặc
biệt, từ những cuộc trò chuyện như vậy, ngoại trừ một lần, là câu trả
lời của
Ông Cụ, vào ngày thứ ba mẹ tôi nằm bệnh viện. “Mẹ sao, Bố?” Tôi hỏi.
“Ờ, Mẹ
không còn nữa, con biết rồi mà”, ông nói. Cái khúc “con biết rồi mà” có
đó, là
bởi vì, ngay cả trong trường hợp này, ông cụ vẫn cố gắng nói một cách
thật là
rửng rưng, coi như không phải chuyện quan trọng.
42
Thì
vẫn chuyện nhớ lẩm ca lẩm cẩm, là chiếc chìa khoá, nổi
ngay lên mặt, sờ sờ trước mắt: một chiếc chìa khoá dài, không trầy, bỏ
vào túi
quần thật khó chịu, nhưng gọn ơi là gọn, ở trong bóp của bà cụ. Nó là
chìa khoá
mở cái cửa cao, mầu trắng, và tôi không thể hiểu, tại sao giờ này tôi
vẫn còn
nhớ, trong khi cái cửa không còn. Tôi ngờ rằng, ở đây có cái gì liên
quan tới
biểu tượng, và là biểu tượng dục cảm, erotic symbol, bởi vì, giữa ba
chúng tôi,
có ba ấn bản gập lại, replicated versions. Về vấn đề này, tôi không
hiểu tại
sao mình lại nhớ mấy nếp nhăn trên trán ông cụ, và ở dưới cằm, hay là
má bên
trái bà cụ, đỏ, như hơi bị lửa ăn [bà bảo, đó là do “ăn không ngồi rồi”
gây
nên], bởi vì những dấu vết đó, và ngay cả những người mang chúng, đều
không còn
nữa. Chỉ còn, là giọng nói của họ, đâu đó sống sót ở trong tôi: có thể
là do ý
thức của riêng tôi nhập vào những giọng nói đó, theo cách những dáng
dấp của
tôi hoà nhập với của họ. Nhũng cái còn lại – da thịt của họ, quần áo
của họ,
cái điện thoại, cái chìa khóa, những sở hữu của chúng tôi, đồ đạc, bàn
ghế -
tất cả đều mất tiêu, chẳng còn gì nữa, và chẳng thể nào tìm lại được,
như thể
căn phòng rưỡi của chúng tôi đã ăn một trái bom. Không phải bom hạt
nhân, bởi vì
bom này ít ra cũng để cho bàn ghế còn nguyên vẹn, nhưng một trái bom
thời gian,
nó cày nát hồi nhớ của bất cứ một người nào. Cái toà nhà thì vẫn sững
đó, nhưng
nơi chốn được dọn dẹp sạch sẽ, và những người ở mới, không, những toán
binh sĩ,
đã dọn vô ở: đó là tất cả những gì về trái bom thời gian. Bởi là vì, đó
là thời
chiến.
43
Ông
cụ bà cụ thích giọng opera arias, tenors, và những ngôi
sao màn bạc hồi trẻ của họ, không để ý gì lắm tới tranh vẽ, có một quan
niệm
của họ, về nghệ thuật “cổ điển”, thích chơi trò giải mấy ô chữ, và rất
ư là hãi
hùng, và bực bội, về những theo đuổi văn học của thằng con trai. Họ
nghĩ thằng
con đi lầm đường, rất ư là lo lắng về cung cách ăn ở chơi bời của tôi,
nhưng họ
giúp đỡ thằng con, nhiều như là họ có thể, bởi vì tôi là thằng con trai
của họ,
chứ còn gì nữa! Sau đó, khi thấy thằng con loay hoay, lúc thì in cuốn
này, lúc
cuốn nọ, hai cụ tỏ ra hài lòng, và có những lúc, tự hào về nó nữa, thế
mới
sướng chứ! Nhưng tôi biết tỏng tòng tong, là, nếu mà tôi có vấp ngã, có
thất bại,
có chẳng làm nên vương tướng gì, thì hai cụ vuỡn cứ thương yêu, lo
lắng, giúp
đỡ thằng con của hai cụ y chang như vậy, thế mới lại càng sướng chứ! Họ
yêu tôi
còn hơn cả họ yêu họ, và chẳng hề hiểu được cái tình cãm tội lỗi của
thằng con,
của bất cứ một thằng con nào, đối với bố mẹ. Tất cả những vần đề, là:
bánh mì ở
trên bàn, quần áo giặt giũ sạch sẽ ở trong tủ, và ăn ở thì làm sao cho
vệ sinh,
cho mạnh khỏe. Tất cả những thứ đó đồng nghĩa với tình yêu của họ, và
tình yêu
của họ thì hơn tình yêu của tôi.
Lại
nói thời chiến, vào lúc đó, họ chiến đấu thật là dũng
cảm. Họ biết rằng, một trái bom sẽ nổ tung, nhưng chẳng bao giờ họ thay
đổi
phương cách sử sự. Khi nào còn đứng thẳng, là họ đi lại, mua đồ ăn, đồ
dùng và
chuyển thực phẩm tới những bè bạn phải ở trên giường, những bà con; cho
quần
áo, tiền bạc dành dụm được, và cho trú ẩn lúc này lúc nọ, những con
người lâm
đường cùng. Họ luôn luôn sống như vậy, như là bây giờ tôi vẫn còn nhớ
về họ, y
như vậy; không phải bởi vì họ cho rằng thi ân thì sau này sẽ được lên
thiên
đường, hay vô nước Chúa. Không, đây là một sự rộng lượng hết sức là tự
nhiên,
không có tính toán, của những người lo lắng cho môi trường chung quanh,
cho
những người khác, hơn là cho bản thân. Điều này lại càng hiển hiện hơn
thêm
lên, một khi mà cái người khác kia, thật thân cận với họ, là tôi, đã đi
xa rồi,
không còn được ở kế bên hai cụ. Và chính điều này, đối đế mà nói, đã
làm cho
tôi cảm thấy an lòng, ấy là nói về phẩm chất của cái gọi là hồi nhớ,
của tôi.
Rằng,
cái chuyện các cụ muốn gặp thằng con một lần cuối
trước khi chết, thật sự ra chẳng mắc mớ gì tới ước muốn, hay toan tính
của họ,
là làm sao cho trái bom tịt ngòi, làm sao ngăn chặn vụ nổ. Họ không hề
muốn dời
đổi, di chuyển, vượt biên, vượt biển, và sống những ngày cuối cùng của
họ ở cái
xứ Huê Kỳ. Họ cảm thấy quá già, cho bất kỳ một sự đổi thay, và đúng như
thế,
Huê Kỳ là cái chỗ mà thằng con của hai cụ đang ở, giá mà tới đó được để
mà gặp
nó thì thú lắm đấy! Điều này chỉ thực đối với họ, khi xoay quanh cái
thực đó,
là biết bao hồ nghi, về cái chuyện không biết có khi nào, và tới khi
nào, ông
nhà nước sẽ cho phép họ đi du lịch để thăm thằng con. Và, những trò mèo
chuột
gì nhà nước tính chơi, và họ phải chơi với cái đám cặn bã đó, để đổi
lấy tờ
giấy phép? Bà cụ sẽ phải làm đơn xin đi, một mình cụ thôi, ra ý cụ sẽ
chẳng bao
giờ dám bỏ chạy đất mẹ Liên Xô vĩ đại, bởi vì chồng của bà đang bị nhà
nước bắt
giữ, như là con tin, hay là một đảm bảo, khiến cho cụ bắt buộc phải trở
về. Rồi
thì cả một thời gian, họ chẳng thèm làm đơn làm điếc gì hết, ra ý hai
tớ chán
quá rồi, đếch thèm xin xỏ gì nữa! Thì cứ coi đây như là một cách hai
người già
chứng tỏ với nhà nước, rằng, họ hiểu, đất nước còn bao điều khó khăn,
còn bao
điều khẩn cấp, nào là bọn xấu chuyển lửa, bọn xấu âm mưu diễn tiến hoà
bình,
nhất là, lúc này, bang giao giữa nhà nước và đế quốc Mẽo đang căng
thẳng. Rồi
thì họ chỉ xin đi đúng có một tuần lễ, hoặc xin đi Phần lan, hay Ba
Lan, chứ
không xin đi Mẽo. Rồi thì họ đi tới thủ đô, xin yết kiến vị Chủ Tịch
nhà nước,
hay gõ cửa đủ mọi ông bộ trưởng, ngoại giao hay nội vụ. Tất cả đều vô
ích; hệ
thống, từ đầu cho tới đít, và từ đít cho tới đầu, chẳng bao giờ phạm,
chỉ một
lỗi lầm, dù là nhỏ xíu cỡ nào đi chăng nữa. Như hệ thống nhà nước xã
hội của
chúng ta, nó có thể tự hào về chính nó, về phương hướng, thành quả.
Nhưng, cái
gì vô nhân, thì cái đó thật dễ dàng tổ chức thành hệ thống. Về cái việc
làm
này, Liên xô chẳng cần đồ ngoại nhập. Hơn thế nữa, nếu muốn cho nó ngày
một
giầu có hơn, thì cứ việc xuất cảng hệ thống phi nhân đó.
44
Và
đúng như vậy. Xứ sở vốn được coi là cái nôi của cách mạng
vô sản đó, đã xuất cảng hệ thống phi nhân của nó đi khắp năm châu bốn
bể, ngày
ngày một tăng, in ever-increasing volume. Tuy nhiên, có thể bạn vẫn rút
ra
được, một chút thoải mái nào đó, nếu
không muốn nói, nhất thiết phải là hy vọng, từ sự kiện, nếu không phải
muốn
nói, tiếng cười sau cùng, nếu như vậy, thì lời nói cuối chắc chắn thuộc
về mã
truyền giống, theo cái kiểu như trên tôi đã nói, một giọt máu đào hơn
ao nước
lã, con vua thì lại làm vua, con thầy chùa thì chỉ có quét lá đa, hay,
con
chúng ông là con chúng ông, con chúng mày thì lẽ tất nhiên, vẫn là con
chúng
mày, chứ không lẽ con hàng xóm?
Bởi
vì, thằng con trai này, [là nhà thơ Nobel, Joseph
Brodsky], rất biết ơn bố mẹ của nó, không chỉ ở việc, cho nó một đời
sống, mà
còn là, đã không thất bại, trong việc nuôi dưỡng nó trở thành một con
người,
chứ không phải một tên nô lệ. Họ đã cố gắng làm được những gì tốt nhất,
như là
họ có thể làm được, để, không chỉ cứu thằng con, chống lại thực tại xã
hội khốn
kiếp mà nó được đẻ ra từ đó, mà còn cố làm sao cho thằng con đừng biến
thành
một tên tà lọt, điếu đóm, một tên thưa dạ bảo vâng, vâng ạ, của nhà
nước, một
thằng đảng viên trung thành. Rằng, họ đã không thành công, rằng, họ đã
phải
nhắm mắt trả giá cho việc làm kể trên, không bởi thằng con đã không
được như ý
của họ, mà là bởi cái bàn tay khốn nạn vô danh của nhà nước, điều đó
chứng tỏ,
không phải họ lỏng lẻo, lơ là [trong việc dạy dỗ thằng con], nhưng
chính là nhờ
dòng dõi của họ, cái dòng dõi đó, cái thứ máu huyết đó, đã chung đúc
lại, và
tạo ra một cơ thể mà hệ thống khốn kiếp kia không làm sao đánh bật ra
được, cho
dù là nó rất ư là xa lạ, rất ư là ngoại lai, đối với hệ thống đó. Hãy
nghĩ tới
điều đó, còn mong gì tốt đẹp hơn thế nữa, hãy nghĩ tới cái sức mạnh
được hoà
hợp lại, của họ, để chịu đựng, và sống còn?
Nếu
điều này nghe ra có vẻ lớn lối, thì kệ cha nó, mặc mẹ
nó! Sự kết hợp của hai dòng máu đó thật đáng để phách lối, tại sao
không? Chẳng
phải là, nó tỏ ra đề kháng, đếch coi nhà nước đó là cái con củ xê gì
[state-resistant]? Không giản dị chỉ là nhà nước, mà còn là Nhà Nước Xã
Hội Chủ
Nghĩa Đầu Tiên Của Loài Người, như nó vẫn tự huênh hoang khoác lác, tự
biên
nhận về chính nó như vậy: một nhà nước đặc biệt là rất ư thành thạo
trong việc
ghép tạo, lai giống [gene-splicing]. Đó là lý do giải thích tại sao tay
của nó
lúc nào cũng ngập ngụa máu, do ngày đêm giết người, do những kinh
nghiệm, do sự
thành thạo của nó, trong việc cô lập, làm tê liệt những tế bào chuyên
lo về ý
chí, quyền năng của một con người. Chính vì việc xuất cảng đại trà và
ngày ngày
một tăng hệ thống nhà nước phi nhân mà tôi đã nói ở trên, thành thử bây
giờ,
nếu có người nào đó tính chuyện ăn đời ở kiếp, muốn xây dựng một gia
đình,
người đó nên hỏi, không chỉ về nhóm máu, hay về của hồi môn của người
bạn đời,
mà còn nên hỏi cả cái mẫu máu DNA của người đó nữa. Đó là lý do tại sao
bây giờ
người ta hay ngờ vực, hoặc không tán thành, những cuộc hôn nhân dị
chủng [mixed
marriages].
Có
hai bức hình của ông cụ và bà cụ của tôi, chụp khi họ còn
trẻ, khi mới đôi mươi. Ông cụ, đứng trên boong một con tầu chạy bằng
hơi nước:
ông cười, tỏ ra chịu chơi, ở đằng sau là ống khói tầu; bà cụ, ở trên
bục, và
đang tính bước lên một chiếc xe lửa, tay vẫy vẫy cái bao tay trẻ con
của bà cụ,
đằng sau là bộ đồng phục của người tài xế xe lửa. Chẳng có ai là thèm
để ý tới
ai, chẳng ai thèm để ý đến sự hiện hữu của cái nửa kia của mình, có hay
không,
ở trên đời, và lẽ tất nhiên, chẳng có ai, là tôi, ở trong đó. Ngoài ra,
thật vô
phương, khi cảm nhận bất cứ ai, rằng người đó có đó, một cách khách
quan, một
cách vật chất, mà không mượn tới chính cái khối xương thịt, là chính
mình đó,
“…. Bố Mẹ mà/đâu phải hai người dưng”, như [hai câu thơ của] Auden nói.
Và mặc
dù tôi không thể sống lại quá khứ của họ, ngay cả như là một phần nhỏ
bé nhất,
của ông cụ hay của bà cụ, nhưng: cái gì có đó, ai có đó, để mà ngăn cấm
thằng
này, rằng bây giờ ông bà không còn hiện hữu một cách khách quan, tách
biệt hẳn
ra khỏi cái thân thể, chẳng còn giây mơ dễ má với cái thân thể này,
rằng nó có
quyền nói một cách hùng hồn rằng, nó, là tổng số, là tương lai, của ông
cụ bà
cụ?
Nhưng,
liệu tôi ôm lấy mình, mà nghĩ rằng thì là, mình đang
ôm ông cụ bà cụ? Liệu tôi đành ổn thoả, với ý nghĩ, rằng thì là, tất cả
những
cái gì còn lại, của ông cụ, bà cụ, là cái thằng tôi ở trên cõi đời này?
Ô
kê, con gà đen, thì cứ coi là như vậy, thằng này là nhất,
nói theo chưởng Kim Dung, hay, nói theo Hư Trúc, đệ tử của Thiên Sơn
Đồng Mỗ,
người đã từng thành thạo môn võ công Thiên Thượng Địa Hạ, Duy Ngã Độc
Tôn. Và
tôi giả dụ, tôi không cưỡng lại chuyện, họ co rút, phân thân, biến
thành linh
hồn của tôi, lẽ dĩ nhiên, nhỏ hơn là linh hồn của họ. Giả dụ làm được
chuyện
đó. Và thế là tôi “meo meo” với tôi, sau khi nói “Kessa?” Và như thế,
trong ba
căn phòng, tôi chạy vô căn phòng nào, để làm cho tiếng “meo meo” của
tôi có
tính thuyết phục?
Tôi
là họ, lẽ dĩ nhiên. Chứ còn gì nữa! Tôi bây giờ là gia
đình của tôi. Tuy nhiên, ấy là bởi vì, biết ra sao ngày sau, nghĩa là,
chẳng ai
biết tương lai của mình, tôi ngờ rằng, cách đây chừng bốn mươi năm, vào
một đêm
tháng Chín năm 1939, có một tia sáng loé lên ở trong họ, hay là, họ
chợt ngộ ra
rằng, hai đứa mình sẽ ra sao, ngày sau. Tuyệt nhất, theo tôi, đó là, họ
nghĩ,
hay là hai đứa mình cho một đứa bé ra chơi với đời? Hay là hai đứa mình
khởi sự
một gia đình, một mái nhà? Còn khá trẻ, lại sinh ra đời tự do nhất trên
đời, ở
trên đỉnh của tự do, họ đâu có ngờ rằng, trong cái xứ sở mà họ sinh ra
đó, sau
này trở thành một nhà nước, và nhà nước này quyết định, gia đình nào
thì được
nhà nước cho phép chỉ được có một mống con. Và nhà nước đó quyết định
luôn cả
chuyện, thằng nào, con nào được quyền lập gia đình. [“Nghe đây, thằng…
Sài, con
lào lấy mày, nà do… tao quyết định”!].
Khi họ nhận ra điều này thì đã quá trễ, cho đủ mọi chuyện, trừ hy vọng.
Đó là
điều họ đã làm, cho tới phút chót, cho đến khi họ chết: hy vọng. Họ là
những
con người luôn coi gia đình là trọng, họ đâu có thể nào làm khác: họ hy
vọng,
cố gắng xoay sở, đầu này, đầu nọ.
45
Nói
trộm viá hai cụ, thằng con của hai cụ chỉ mong, hai cụ
đừng trông mong nhiều quá. Có lẽ bà cụ tôi làm được điều này, nhưng đây
là do
bản tính dịu dàng của cụ, và về điều này, ông cụ thường chẳng bỏ qua
một dịp
nào, để mà chọc quê, “Tự [hào phóng] về mình thì dễ ợt, bà nó ơi,
Marusya ạ.”
Còn
về phần ông cụ, tôi nhớ lần hai cha con cùng tản bộ, một
buổi chiều vàng nắng tại Vườn Mùa Hạ, khi tôi đã tròn mười chín, hoặc
đôi mươi.
Hai cha con ngừng lại nơi khoảnh vườn ban nhạc hải quân, Marine Brass
Band,
đang chơi mấy điệu luân vũ cổ, ông cụ muốn bấm vài bô hình ban nhạc
này. Mờ mờ
sáng, tối, chỗ này, chỗ nọ, là mấy bức tượng cẩm thạch trắng phủ lên
những bóng
dâm vằn vèo, người đi lại trên những lối đi sỏi cát, trẻ nô đùa nơi hồ
bơi, và
hai bố con nói về chiến tranh và những người Đức. Đưa mắt nhìn ban
nhạc, tôi
thấy mình đang hỏi ông cụ, trong hai trại tù, theo bố, cái nào khốn
kiếp hơn
cái nào: trại tù của người Đức, hay là của chúng ta?
“Về
phần bố,” ông trả lời, “Thà rằng bố ra tro liền tù tì,
trong một cái lò thiêu người, còn hơn là cứ thế ngắc ngoải, chết không
chết, mà
sống cũng chẳng xong, cứ kéo dài một cái chết chậm, và trong khi chết
chậm như
thế, khám phá ra ý nghĩa của tiến trình mười năm trồng cây, trăm năm
trồng
người.”
Và ông bấm liền mấy bô hình.
1985
Joseph
Brodsky
Nguyễn
Quốc Trụ dịch
3.3.2005
|