logo

2










booker

Albanian beats literary titans to first international Booker prize
Jon Henley in Paris and Kirsty Scott
Friday June 3, 2005
The Guardian
Photo: AFP/Getty.
Ismail Kadare, a political exile whose work had to be smuggled out of Stalinist Albania in the 1980s, was being compared to Homer as he beat his better-known peers to the prestigious £60,000 prize.
Kadare has been a leading figure in Albanian cultural life for more than four decades.
Nhà văn lưu vong người Albania, viết về một nước Albania dưới chế độ độc tài Stalin những năm 1980, đã đánh bại tất cả những ông nhà văn khổng lồ, đợp giải Booker  Prize Intel [thế giới] đầu tiên.
On the telephone, he was rather less formal. "I did something entirely normal," he said. "I just did it in an abnormal country." Ôi dào, viết lách, chuyện thường mà. Có điều, cái xứ sở của tôi, nó thì bất thường.
"Being critical of a regime is a normal state of affairs for a writer".
"Thọi chế độ là một việc làm bình thường đối với nhà văn", ông nói.
*

Roth, Grass, Updike, Lessing, McEwan, Spark, Garcia Marquez…  toàn những thứ dữ [thú dữ?] kép độc, những ông nhà văn khổng lồ, nằm trong danh sách sau cùng để được vinh danh trao giải Man Booker Intel Prize [khác Booker dành cho những nhà văn thuộc “Đế Quốc Anh”]. Và người ta có thể tha thứ cho bạn, nếu trong danh sách trên, bạn bỏ sót một tay, vốn vô danh so với tất cả, tuy là một ông khổng lồ, trong thế giới văn chương Albania.

Nhưng, bữa hôm qua, 2 Tháng Sáu, 2005, Ismail Kadare, một nhà chính trị lưu vong, tác phẩm của ông từng được lén lút tuồn ra ngoài đất nước Albania sống dưới chế độ độc tài theo kiểu Stalin vào những năm 1980, đã được coi như là một Homer, khi ông đánh bại những nhà văn được nhiều người biết đến kể trên, và đoạt giải thưởng trị giá 60 ngàn Anh Kim.

Đêm qua, Kadare nói, ông hy vọng giải thưởng ban cho ông sẽ cho những người dân vùng Balkan thấy, họ có thể cống hiến nhiều thứ khác, thay vì tranh chấp, nội chiến, và làm cỏ sắc tộc. “Tôi ngạc nhiên khi nghe qua điện thoại”, ông nói hôm qua, tại căn hộ của ông tại Paris, nơi ông xin tị nạn chính trị từ năm 1990. “Cái danh sách chót không thôi, tự nó đã làm nên một gia đình văn học lạ thường rồi.”


Nguyễn Huy Thiệp lọt vô chung kết Man Booker!

TLS số đề ngày 1 Tháng Bẩy, mục Sổ Tay, bàn về giải Man Booker Quốc Tế, khác với Booker Prize, dành cho nhà văn Hồng Mao, cho biết một "tin động trời", đối với đám viết lách người Mít: Có tên Nguyễn Huy Thiệp trong danh sách những tác giả thượng hảo hạng, fisrt rate, được ban giám khảo lọc ra để lấy người đoạt giải.
TLS trích lời một ông giám khảo [Alberto Manguel], trên tờ Spectator  tháng vừa qua [Tháng Sáu], "trong danh sách những tác giả thượng hạng... chúng tôi đã phải gạt bỏ Peter Handke, Antonio Lobo Antunes.... Nguyen Huy Thiep, Pascal Quignard, và Christa Wolf, tất cả những người này đều, hoặc chưa được dịch sang tiếng Anh, hoặc đã dịch nhưng nay tuyệt bản".

*
Về tác giả Kadare, người đoạt giải, [Tin Văn đã loan tin] ban giám khảo dựa trên những bản dịch tiếng Anh, được dịch từ tiếng Pháp, dịch từ nguyên bản tiếng Albania, và điều này làm cho giải thưởng hơi mất giá, [hơi rẻ tiền], theo người bình luận trên tờ TLS.
Rẻ tiền, là 60 ngàn Anh Kim!
Nhưng, với tên Nguyễn Huy Thiệp trong danh sách, quả đúng như Kadare nhận xét, “Danh sách chót không thôi, tự nó đã làm nên một gia đình văn học lạ thường rồi.”
Và, Nguyễn Huy Thiệp kể như đã nhận được giải thưởng, bởi vì Kadare có thể coi như một Nguyễn Huy Thiệp của Albania.
Tin Văn tính giới thiệu bài viết về ông, trên Guardian, khi ông được giải, nhưng nay có bài viết trên TLS sẽ cống hiến các bạn dưới đây

*
kadare
Subtle dissent of a Balkan bard (1): Cuộc đời và tác phẩm của Ismail Kadare.
Robert Elsie, TLS số đề ngày 24 Tháng Sáu, 2005.
(1) Đọc giữa hai dòng chữ: Tính ly khai tinh tế của một nhà thơ vùng Balkan.

Chẳng nghi ngờ chi, Ismail Kadare, người vừa được Intel Man Booker Prize, là một nhân vật sáng tạo và uyên nguyên của giới văn học đương thời Albania. Thêm nữa, ông là nhà văn Albania độc nhất được hưởng [enjoy] tiếng tăm quốc tế ở bên ngoài xứ sở này. Tài năng của ông, qua bốn thập niên chẳng hề mất đi một chút nào sức mạnh của nó, một sức mạnh có tính "đổi mới" [innovative force]. Sự can đảm của ông, dám tấn công vào sự tầm thường, rẻ tiền, tồi tệ của văn học, ở bên trong một chính quyền Cộng Sản, đã đem một luồng gió mới, mát mẻ cho văn hóa Albania bao năm u ám trong vòng trói của sự đồng phục do nhà nước đặt để.
Sinh năm 1936 tại thành phố bảo tàng [museum-city] Gjirokastra, Kadare học Phân khoa Sử  học và Ngữ văn tại Đại học Tirana, và tiếp theo đó, tại Học Viện Gorky về Văn Chương Thế Giới, tại Moscow tới năm 1960, khi liên hệ giữa hai nước Albania và Xô Viết trở nên căng thẳng. Trở về quê hương, ông làm nghề ký giả, trở thành Tổng Biên Tập của một tờ báo định kỳ văn học bằng tiếng Pháp, Văn Học Albania [Les Lettres Albanaises], và còn giữ  một số chức vụ chính trị có tính hình thức [formal political functions], Ba mươi năm tiếp theo, Kadare sống cuộc đời của ông tại Tirana, thường trực dưới con mắt cú vọ của Đảng Cộng Sản và nhà độc tài Enver Hoxha [1908-85]. Ông khởi nghiệp như là một thi sĩ nhưng càng ngày càng thiên về văn xuôi, trong thể loại này, ông trở thành một bậc thầy không chối cãi, và một nhà văn phổ thông nhất trong toàn cõi văn Albania. Những tác phẩm của ông có một tầm ảnh hưởng hết sức lớn lao vào những năm 1970, tới 1980, và với rất nhiều độc giả, ông là tia hy vọng độc nhất ở trong nhà tù ảo não, là Chủ Nghĩa Cộng Sản tại Albania.
Ông được nhà nước ban cho đặc quyền, nhất là khi đã trở thành một khuôn mặt nổi tiếng quốc tế. Thực sự, ông dám đụng vô một số vấn đề, mà nếu không phải là ông, mà là người nào khác, thì bèn đi tù.

Nhưng Kadare biết rất rõ, ba thứ đặc ân đặc quyền như thế, chẳng bền, và chỉ cần một cơn hỉ nộ bất thường của nhà độc tài, là tiêu táng thoòng. Vào cuối tháng Muời 1990, chỉ hai tháng nữa là chế độ độc tài ngủm củ tỏi, Kadare rời Tirana, xin tị nạn chính trị tại Paris, một hành động cho phép ông, lần đầu tiên trong đời, hành sử nghề viết lách của mình, trong hoàn toàn tự do. Những năm sống lưu vong tại
Paris khiến ông viết được nhiều, thành công hơn, được công nhận hơn. Sau mười hai năm sống tại  đây, ông trở về lại Tirana.
Mặc dù Kadare vẫn được ngưỡng mộ, như là một thi sĩ tại Albania, danh tiếng quốc tế của ông, là do văn xuôi mà có, đặc biệt là những tiểu thuyết lịch sử. Cuốn nổi cộm đầu tiên của ông, Tướng Âm Binh, nguyên bản tiếng Albania xuất hiện vào năm 1963, bản tiếng Anh, The General of the Dead Army,1971. Nhìn thời gian cuốn sách được xb, tác giả khi đó chỉ mới hai mươi bẩy tuổi, Tướng Âm Binh có thể được coi như là một tác phẩm về tuổi trẻ, tuy nhiên, đây luôn là một trong những cuốn tiểu thuyết gây tác động, effective, nhất, của Kadare. Và được biết đến nhiều nhất.
"Như một con chim kiêu ngạo và cô độc, bạn sẽ bay trên đỉnh những ngọn núi thầm lặng và bi thiết kia, kéo những con người trẻ tuổi đáng thương của chúng ta, ra khỏi chốn bấu víu hiểm nguy, lởm chởm đá nhọn kia." Đó là viễn tượnng của viên tướng Ý, trên đường đi cùng một vị tu sĩ buồn bã, cả hai có nhiệm vụ tới Albania nhặt nhạnh xương cốt của
những binh sĩ của ông ta, đã ngã xuống hai mươi năm trước. Ông ta bắt đầu thực hiện những bổn phận, theo một nghĩa rất ư là lớn lao, rất ư là hiển hách, và cho rằng, chỉ những trách nhiệm cao cả như thế đó mới xứng đáng với cương vị một viên tướng. "Trách nhiệm mà ông đang thực hiện, thì có đâu thua gì sự cao cả của những người Hy Lạp, những cư dân thành Troy, sự trang nghiêm của những nghi lễ cúng tế, an táng thời Homer." Vị tướng thấy mình ở trong một xứ sở u ám, mưa liên miên, dân chúng thì u sầu ủ rột, như lúc nào cũng ăn năn, sám hối một điều gì, và trong một không khí như thế, ông ta bắt đầu thực hiện cái trách nhiệm cao cả của mình, là thu gom những tro than, những xương tàn của một đội quân đã nằm xuống trong tan hoang rã rời. Dần dà, và không thể tránh được, ông thấy mình đối đầu với những thực tại điêu đứng của quá khứ, và bị ám ảnh bởi tính phù phiếm, vô vị, chẳng ra cái thống chế gì, chính là nhiệm vụ cao cả của mình. Bao nhiêu dự  tính, bao nhiêu mộng đẹp, cao cả mà ông vẽ ra từ những thuở nào, nay trở thành cơn ác mộng cá nhân, của riêng ông, khi, mớ xương cốt của viên đại tá ghê tởm, Colonel Z, được một bà già điên khùng ném, ngay dưới chân ông

Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ.
Mưa xối xả trên kính trước chiếc xe díp nhà binh được dành riêng cho vị tướng là một ẩn dụ bình dị trong văn Kadare. Vào lúc Tướng Âm Binh được xuất bản, cơn mưa xối xả thường hằng [constant], và nhiều cảnh khác ở trong truyện cứ thế lừng lững đi thẳng vào văn học Albania. Những đám mây bão xám xịt, bùn, và thực tại ủ rột, đơn điệu của một ngày như mọi ngày,chúng đối chọi thật sắc bén với phương đông hồng sáng chói không thể nào khác được, cùng cả trăm ngàn những vinh quang, những chiến thắng của Chủ Nghĩa Hiện Thực Xã Hội. Cũng thế, là viên tướng Ý. Ở đây, chúng ta thấy một thủ thuật đắc ý nhất, của nhà văn, hơn bất cứ thủ thuật nào khác, nhằm đạt được tham vọng, kéo văn học của xứ sở của mình thoát ra khỏi sự dửng dưng, cả về văn phong lẫn đề tài của nó, thoát ra khỏi cái nhìn Albania xa vời và bị ám ảnh bởi quá khứ, dưới mắt ngây thơ và không thể nào hiểu nổi của người ngoại quốc. Ao ước của nhà văn, hay viễn tượng của ông, là làm sao tạo được hình dáng cho một xứ sở Âu Châu, đã trở nên tách biệt hẳn ra khỏi Tây Phương, còn hơn cả Tây Tạng, và còn giúp cho những người dân Albania, chính họ, nhìn rõ mảnh đất quê hương, như là những người khác sẽ nhìn nó như vậy.
Sau lần xuất bản đầu, 1963, và lần sau, có sửa chữa lại, 1967, chính bản dịch tiếng Pháp của tác phẩm, Tướng Âm Binh, Le Genéral de l’armée morte, 1970, đã đạt cơ sở cho sự nổi tiếng quốc tế của Kadare. Bản tiếng Anh, xuất hiện liền sau đó, đã được tái bản ít nhất là sáu lần.

Cái gì đã khiến cho Kadare, sống trong một chết độ Stalin tàn bạo nhất, không thể tưởng tượng được, có đủ can đảm để viết rồi xuất bản một cuốn tiểu thuyết với những nhân vật chính là một viên tướng Phát xít và một tu sĩ người Ý? Bởi vì can đảm là cần thiết, ở đây

 [còn tiếp]