Phỏng vấn George Steiner
Ronald A. Sharp
Lời người dịch:
Lần đầu tiên, tôi ((NQT) làm quen với G. Steiner, nhân
chuyến ghé thư viện Toronto, Canada, tình cờ cầm cuốn Ngôn Ngữ và Câm
Lặng, lật
đúng bài Nhà Văn và chủ nghĩa Cộng Sản, trong có nhắc tới cuốn Bác Sĩ [Dr] Zhivago của
Pasternak, vốn là một trong những cuốn
vỡ lòng của tôi. Thế
là photocopy ngay tại chỗ, về nhà dịch liền, gửi đăng trên tạp chí Hợp
Lưu ở
Mỹ.
Thuở mới lớn, tôi "mê" Roland Barthes, cách ông
đặt vấn đề ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ phê bình... G. Steiner mở cho
tôi
chiều sâu tối đen của ngôn ngữ, sự câm lặng:
"Thi sĩ phải thôi đi sao? Trong một thời đại mà con
người bị khiến phải thổi kèn đồng [hãy nhớ những dòng thơ xưng tụng
Stalin của
Tố Hữu, chẳng hạn], hoặc tru tréo nỗi khổ đau của mình như sâu bọ, như
lũ
chuột, tiếng nói văn chương, thứ tiếng mang tính người nhất trong tất
cả mọi
thứ: liệu có còn được không?"
(Should the poet cease? In a time when men are made to pipe
or squeak their sufferings like beetles and mice, is literate speech,
of all
things the most human, still possible?)
Ronald A. Sharp, người phỏng vấn Geprge Steiner, là giáo sư
môn Anh văn (the John Crowe Ransom Professor of English) tại trường Kenyon College.
Ông là đồng-biên tập The Norton Book of Friendship, cùng với Eudora
Welty, và
là người biên tập cuốn Đọc (Reading)
George Steiner.
Lời người phỏng vấn: Cuộc phỏng vấn
được thực hiện vào mùa
thu năm 1994, vài ngày trước khi G. Steiner đảm nhiệm kiêm khai sáng bộ
môn văn
chương so sánh (the first occupant of the Lord Weidenfeld Professorship
of
Comparative Literature), tại đại học Oxford.
Từ 700 năm nay, đây là lần đầu tiên có một chức vị như thế, tại Oxford
hay
Cambridge, bởi vì nước Anh trước đó chưa chấp nhận giá trị môn học này,
và
Steiner thường được đón nhận ở Anh như một thế giá phức tạp, gây tranh
cãi; sự
bổ nhiệm ông đã được đón nhận bằng một sự quan tâm nhiệt liệt của giới
báo chí,
và họ coi đây như là sự trở về của đứa con hoang đàng.
Sinh tại Paris,
vào năm 1929. Cha mẹ người thành Vienne,
gốc
Do Thái. Steiner qua Mỹ vào năm 1940. Tốt nghiệp Cử Nhân (B.A.) đại học
Chicago, Cao Học (M.A.), Harvard, và Tiến Sĩ (D. Phil.), Oxford; tại
đây, như
ông sẽ hóm hỉnh nhắc lại cùng với cử tọa, trong bài thuyết trình mở ra
khóa
học: khi soạn luận án tiến sĩ, bản văn đầu tiên của ông đã bị [mấy ông
thầy]
loại bỏ, vì quá gần gụi với một môn học mà Oxford không giảng dậy những
ngày
đó: văn chương so sánh.
Ông dậy tại nhiều đại học Mỹ, như
Stanford, Đại Học New York
(NYU), và Princeton, nhưng Anh Quốc và Thụy Sĩ mới là những khung cảnh
chính
trong sự nghiệp giảng dậy ở đại học của ông (the main settings of his
academic
career) (1). Tại đại học Geneva,
ông giữ chức giáo sư môn văn chương so sánh cho tới khi ông nghỉ hưu.
Tại đại
học Cambridge, ông giữ chức vị được phong suốt đời là Nghiên Cứu Sinh
(Người
Bạn Khác Thường, Extraordinary Fellow) của Học viện Churchill. Ông hiện
đảm
nhận những khóa giảng ngắn ngày tại nhiều đại học Ý, và ở Geneva.
Danh sách tác phẩm của ông thật dài.
Trong đó bao gồm phê
bình văn chương, triết học, và văn hóa: Tolstoy hay là Dostoevsky
(1959), Cái
Chết của Bi Kịch (1961), Ngôn Ngữ và Câm Lặng (1967), Ngoại Địa
(Extraterritorial 1971), Trong Lâu Đài Yêu Tinh Râu Xanh (In
Bluebeard's
Castle, 1971), Lực Trường (Fields of Force): (kỳ thủ) Fischer và
Spassky tại
Reykjavik (1973), Sau Babel (After Babel, 1975, ấn bản sửa chữa, 1992).
Về Sự
Khó Khăn và Những Tiểu Luận Khác (On Difficulty and Other Essays,
1978), Martin
Heidegger (1978), Antigones (1984), George Steiner: Độc Bản (A Reader
1984), và
Những Hiện Diện Thực (Real Presences (1989). Thêm vào đó, là ba tác
phẩm thuộc
loại giả tưởng: Năm của Chúa (Anno Domini): Ba Truyện Ngắn (1964), tiểu
thuyết
The Portage to San Cristobal of A.H. (1981), Chứng Cứ và Ba Dụ Ngôn
(Proofs and
Three Parables, 1993). Ông phụ trách biên tập (cùng với Robert Fagles)
Homer:
Tuyển Tập những Tiểu Luận Phê Bình (1962), và Cuốn Sách Thơ Dịch Hiện
Đại của
nhà xb Penguin (1966). Những tác phẩm mới nhất của ông gồm một tuyển
tập giả
tưởng: The Deeps of the Sea (Biển Sâu, nhà xb Faber&Faber, 1995),
Mê Đắm
Chẳng Hoài (No Passion Spent, tuyển tập tiểu luận, nhà xb Yale
University,
1996), và Đính Chính (Errata), một dạng hồi ký.
Chính vì kinh lịch đa dạng, sở học bao
la, cho nên thật khó
mà khép ông vào bất cứ một phạm trù hiện thời nào, như văn học, trí
thức, hay
văn hóa. Dịch thuật được ông quan tâm suốt sự nghiệp, nó đưa ra một ẩn
dụ đẹp
nhất, về việc làm của ông: dịch thuật theo nghĩa vượt biên giới, biên
cương; và
băng từ môn này qua môn khác.
Điểm đặc thù trội bật, ở cả Steiner
lẫn tác phẩm của ông:
trí tuệ, luôn trong dạng học vấn bao la, trong khiếu kể chuyện tuyệt
vời. Ngay
cả khi suy lý nhất, lý thuyết nhất, họa hoằn Steiner mới dằn được, việc
nêu ra
một giai thoại minh họa. Và cái lạc thú khi ông kể những câu chuyện
này, còn
toát ra từ thân thể ông.
Mặc dù về tâm tính có khoan dung phi
thường, nhưng tinh quái
có tính truyền kỳ vẫn lồ lộ ở nơi ông. Ông có thể tranh luận "tới
chỉ", ông "mê" một phát biểu hay ho (good argument), nhất là khi
gặp một đối thủ xứng tay; khi những thách đố, đặt cuộc trí tuệ, là ở
trên đỉnh.
Những lần nói chuyện diễn ra ở hai
nơi, ở văn phòng rất
thoáng của Steiner tại Học viện Churchill, và tại phòng khách ở nhà
riêng,
trong vùng Cambridge.
Trên giá sách, người ta thấy hàng chục bộ cờ, phản ảnh một trong những
say mê
sâu thẳm của ông, nằm kề [sưu tập] những bản in lần đầu, của Heidegger
và Kant,
của Coleridge và Byron. Thoải mái trong áo len dệt, quần thụng, Steiner
chồm
tới vuốt ve Jemi, loại chó chăn cừu cổ xưa của Anh, mớm cho cô nàng
những miếng
bánh ngọt có sô cô la sau bữa ăn chiều. Suốt ngày chuông điện thoại
reo, từ
những người chúc mừng nhân dịp ông được bổ nhiệm vào ghế văn chương so
sánh tại Oxford.
Steiner
thoải mái chuyển từ tiếng Anh qua tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý. Chỉ
vài ngày
nữa, hơn một ngàn người sẽ chen vào giảng đường Phục Hưng tại Oxford,
nghe ông
mở ra khóa học.
Người phỏng vấn: Ông có lần nhắc tới
"kiên nhẫn nắm
bắt" (patience of apprehension), và "hỏi tra phơi mở"
(open-endedness of asking), theo đó giả tưởng có thể nhập cuộc; nhưng
ông lại
mô tả những giả tưởng của ông như là "những ám dụ tranh luận, những dàn
dựng tư tưởng". Liệu ông vẫn coi chúng là "những dàn dựng tư
tưởng"?
George Steiner: Đúng là như vậy. Văn
giả tưởng của tôi, nằm
trong tổng mục chung chung, của những giáo sư, những nhà phê bình, học
giả;
những người thích thử thách chính bàn tay của họ, một hoặc hai lần
trong đời,
thể loại giả tưởng. Những truyện đầu cho thấy một gợi ý về câu hỏi
trung tâm
của tôi. Tôi cho rằng The Portage
to San Cristobal
of A.H (2) còn hơn thế nữa. Cuốn sách
này có thể có một cuộc đời nào đó. Proofs
là một dụ ngôn khác, một dụ ngôn trí thức; những diễn văn trong A.H., những phần đoạn trong cuốn tiểu
thuyết, có lẽ thực sự làm người đọc xúc động, chúng cũng là những tiểu
luận.
Tôi biết điều đó. Chúng là những phát biểu, tuyên bố đề thuyết, niềm
tin, xác
tín, tra hỏi. Sự bí mật, theo đó, bằng cách nào, một nghệ sĩ sáng tạo -
chúng
ta chưa có câu trả lời - tạo ra được một tiếng nói, một nhân vật
ba-chiều,
mười-chiều, có được một cuộc sống độc lập, sự bí mật này thật ít dính
dáng tới
những quyền năng thuần lý trí, hay mang tính hệ thống, phân tích. Có
những tiểu
thuyết gia hết sức thông minh, Trời biết, và có thể Proust là một cái
đầu mạnh
mẽ nhất của thế kỷ, theo một số cung cách nào đó, nhưng rất nhiều người
không
theo cung cách như vậy. Họ chẳng thể nào cho biết chuyện hội ngộ - giữa
họ và
ngôn ngữ - tạo nên sự sống động, cái điều (đang) diễn ra trước mắt bạn,
khiến
bạn quên cả tên tác giả. Đó là thiên tài, đó là sáng tạo, và chắc chắn
là tôi
không có nó. Hai trang của Chekhov đem đến cho bạn cả một thế giới, và
không
thế nào bạn quên nổi những tiếng nói. Chúng đây này, chúng có đó. Đó là
một điều
khác hẳn, mà một người nào đó như tôi, có thể làm được.
-Như vậy, vai trò tư tưởng trong giả
tưởng chỉ là phụ thuộc?
-Đúng là một câu hỏi hắc búa. Có những
cuốn tiểu thuyết mà
người ta gọi là lớn, chúng sống do nội dung mang tính ý thức hệ, mang
tính trí
thức. Khá nhiều tiểu thuyết của Thomas Mann là theo kiểu này. Cuốn Người Không Phẩm Chất (Man Without
Qualities) của Musil, được hằng hà những triết gia cũng như là
những nhà
phê bình văn học bàn về nó. Nhưng cái này hiếm. Đừng đòi một chuyện như
thế, ở
nhà tạo giả tưởng dị thường nhất của thời đại chúng ta - đừng cười tôi
chứ,
bạn! - người đó là Georges Simenon (3). Tôi có thể lấy trên giá sách
của tôi,
chừng 10 hay 12 cuốn về Maigret, và nếu phải so với 5 hay 10 trang của
Balzac,
hay 20 trang của Dickens (ông này nhẩn nha thuộc bậc thầy, Balzac cũng
vậy):
Simenon chỉ cần hai hoặc ba đoạn. Có một cuốn Maigret mở ra với một
tiếng ồn
lớn. Ba giờ sáng tại khu Pigalle, khu phố cổ đèn đỏ Paris, tay chủ quán rượu kéo tấm sắt
đóng cửa
tiệm. Rầm một tiếng. Dội ra từ đó, là tiếng xe giao sữa, tiếng chân kẻ
ăn sương
trở về nhà kiếm giấc ngủ, tiếng người đi vô Khu Cầu Muối (Les Halles)
kiếm đồ
ăn sẵn, cho một ngày đang ló dạng. Simenon không chỉ đem đến cho bạn
một thành
phố, không chỉ một điều không một sử gia nào có thể vượt được, về nước
Pháp,
nhưng còn điều này: rằng hai hoặc ba con người liên quan tới câu
chuyện, đã sẵn
sàng trước mắt bạn. Bằng một cách nào đó, Simenon cho bạn nhận ra rằng
những
bước chân của người đàn ông vừa đóng sập tấm cửa, rồi những tiếng chân
rời xa
quán, cách chúng lết đi gợi sự tò mòø. Và thế là bạn nhập vô mấu chốt
quan
trọng thứ nhất của câu chuyện. Đó là cái gọi là mysterium tremendum
(điều rất
thiêng) (4), về sáng tạo ra một nhân vật tự chủ. Nhưng vâng, đó có thể
là ý
thức hệ. Tôi may được quen Arthur Koestler, biết được cái điều: ai mà
chẳng dám
đánh đổi tất cả, nếu viết được một tác phẩm như là Bóng
Đêm Giữa Ban Ngày: một trong những hành động tối thượng của tư
tưởng. Đối với tôi, đây là một trường hợp biên cương [giữa văn học và ý
hệ]. Nó
sẽ vẫn còn được đọc, không chỉ vì Gletkin và Rubashov là những nhân vật
giả
tưởng, mà còn vì những tranh luận về chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Marx,
về sự
tra tấn, và khủng bố: đâu là bản chất của sự dấn thân tới chết, với ý
hệ? Đâu
là bản chất của dối trá, nhằm bảo vệ chính nghĩa? Đúng là một cuốn sách
giầu
có. Koestler đưa vô, khá đủ độ đậm của cuộc sống, khiến nó không nghèo
nàn như
là một kịch bản về ý hệ.
-Ông vẫn còn thích viết giả tưởng?
-Vâng, nhưng tôi chưa vươn tới tầm,
xứng với những đề tài
làm tôi đứt ruột đứt gan. Tôi cứ trở đi trở lại hoài với khởi đầu một
câu
chuyện, hay là một cuốn tiểu thuyết nho nhỏ, về một đề tài như sau:
chúng ta
hoặc đang ở một hòn đảo Hy Lạp thời kỳ mấy ông tướng, hay ở Thổ Nhĩ Kỳ,
hay Nam
Mỹ: bất cứ một nơi nào trên trái đất, nhưng phải là một chế độ cảnh sát
trị.
Một người đàn ông trở về nhà với vợ con, và vào cái lúc họ đi vô giường
ngủ,
hay ở bàn ăn, bà vợ ngửi thấy mùi tra tấn ở ông chồng (anh ta đã tra
tấn người
suốt buổi). Anh ta chẳng bao giờ nói về chuyện đó, vậy mà các bà biết:
họ biết
họ đang chia giuờng sẻ gối với những người đàn ông đã làm gì với thân
thể của
những người đàn ông đàn bà khác. Cội nguồn xa xưa nhất của nó, là từ
Lysistrata, của Aristophanes, về những người đàn bà không chịu ngủ với
chồng,
cho tới khi họ ngưng chém giết. Ở đây, không chỉ là chuyện họ không
chịu ngủ
với chồng, nhưng một căn bệnh khủng khiếp bắt đầu xâm nhập vô ngay
chính hành
động ái ân, và sau cùng những người đàn bà bắt đầu làm thịt mấy ông
chồng. Lại
còn chuyện những đứa trẻ nữa: làm sao chúng sống, với sự hiểu biết về
điều
người cha làm?
Nhưng chuyện này phải
do tay một bậc thầy, mà tôi thì không.
Tôi cứ quanh quẩn hoài với nó, mà cứ thấy nó cay nghiệt, riết róng,
cứng ngắc,
và trừu tượng thế nào ấy. Một bậc thầy sẽ biết phải nói gì về bữa ăn
tối, về
tiếng động nhỏ nơi giường ngủ, và ông ta sẽ để chúng cứ thế diễn ra.
Ông ta sẽ
tóm được bạn.
Một câu chuyện khác
tôi đang đánh vật với nó, thuộc loại nhẹ
nhàng hơn. Tôi theo dõi những thảm kịch hôn nhân hiện nay, đặc biệt là
bây giờ,
chúng ta sống thọ hơn trước. Tôi làm ghi chú thật tỉ mỉ một câu chuyện
theo đó,
một hôn nhân biến thành một tình bạn sâu xa, nhưng lẽ dĩ nhiên, dục
vọng bỏ đi,
và theo một nghĩa nào đó, tình yêu cũng bỏ đi mất tiêu, bởi vì tình bạn
không
phải là tình yêu. Đề tài xoay quanh một câu của Rilke, trong thư gửi bà
vợ mà
nhà thơ từ giã, ngay thuở thoạt đầu, và chẳng bao giờ thực sự gặp lại:
"Hãy nhớ rằng, trong một cuộc hôn nhân tốt, người này trở thành thiên
thần
hộ mạng, cho nỗi cô đơn của người kia". Đúng là một câu nói kỳ tuyệt!
Tôi
ao ước vô cùng mở ra nghịch lý này: rằng dục vọng và sự sống động của
hôn nhân
có nhiều cơ may sống còn, một khi có thù nghịch sâu xa ở trong đó.
Đó là hai đề tài tôi
đang loay hoay với chúng, nhưng cần một
tiểu thuyết gia thứ thiệt, mà tôi thì không.
-Thế còn thơ? Ông vốn
có làm thơ.
-Vâng, tôi có in ở
Oxford, trong tạp chí Thi Ca, vào những
ngày hiển hách của nó, ngay cả ở tờ Điểm Sách The Paris Review. Học vấn
Pháp ở
trung học (lycée) của tôi, may còn giống thế kỷ 19, bằng cái việc học
thuộc
lòng, học cú pháp tiếng La Tinh, Hy Lạp. Điều này đặt để trên giả định,
rằng
một văn nhân (a literate man) - có lẽ tôi nên thêm, một người đàn bà có
học
nhưng như thế hóa ra là dởm đời, [bởi vì] thời đó thiết yếu là chỉ đàn
ông -
anh ta có thể làm thơ (write verse). Chúng tôi phải bắt chước một đoạn
La Tinh
nổi tiếng, phải tìm ra tiếng La Tinh của riêng chúng tôi; rồi tới tiếng
Pháp:
làm những biến thiên về một đề tài văn chương quá quen thuộc. Làm sao
làm thơ
theo đúng luật một cách thật nghiêm ngặt: [thể thơ] sonnet, ode,
couplet hùng
tráng. Chẳng ai mong trong lũ chúng tôi có một thiên tài tự phát, nhưng
mà là
một "thủ công" (a craft), một tay nghề khéo (a techne), một từ Hy Lạp
cho chúng ta những từ như là kỹ thuật học (technology), hay kỹ thuật
(technique). Đó là "một tới mức, một thành tựu" (accomplishment), một
từ mà ý nghĩa của nó đã không còn, theo tự vựng của chúng ta hiện giờ -
như
công việc thêu đan, hay chơi piano cho mấy thiếu nữ nhỏ tuổi, hay như
môn mầu
nước.
Tôi đã được huấn
luyện theo đường hướng như vậy, và khi tôi
hoàn toàn nhập vào thế giới ngôn ngữ tiếng Anh, tôi làm thơ, một vài
bài có vẻ
khá hơn là mấy thứ kể trên. Có một ít ánh lên tí lửa, yêu cầu riêng tư,
nhưng
nói chung, chúng đều là những câu văn vần (verse), và khoảng cách giữa
văn và
thơ là phải tính bằng những năm ánh sáng. Trong một bài thơ thực sự, sự
liên hệ
giữa thể (set form), và cái mà chúng ta gọi là nội dung, liên hệ này
thật là
hữu cơ, đến nỗi, nếu chúng ta hỏi một nhà thơ thứ thiệt, tại sao bài
thơ này
lại là ode, tại sao nó không là thơ tự do, tại sao chỗ này lại là độc
thoại,
ông ta sẽ trả lời, "Đừng ngu si như thế chứ. Hãy đọc nó! Nó không thể
khác."
Tuy nhiên, đừng quá
lãng mạn về chuyện này. Ben Jonson viết
những tóm gọn thơ xuôi (prose summaries), và rồi sản xuất được một số
những
khúc trữ tình (lyrics) thần kỳ nhất. Dryden và Pope lao động, từ thơ
xuôi thành
thơ vần: một vài câu văn vần tuyệt vời nhất của họ, là một thứ văn xuôi
được
đẩy cao lên. Nhưng chắc chắn là, kể từ thời kỳ Lãng Mạn, đây không phải
là điều
người ta quan niệm về "sự tràn bờ tức thời của những tình cảm mãnh
liệt", theo một công thức của Wordsworth. Giáo dục tại lycée trái ngược
hẳn: nếu bạn chiều theo sự tràn bờ, bạn lau chùi sạch nó.
-Chuyện gì xẩy ra cho
truyền thống những "văn
nhân" mà ông nhắc tới ở trên?
-Nó đang bị nghi ngờ
nặng nề. Chúng ta hãy bắt đầu bằng một
câu chuyện nho nhỏ. Văn nhân tiêu biểu cho một kiểu "nhất trí", về
khiếu thưởng ngoạn, và sự quan tâm, trong xã hội của anh ta. Người ta
muốn nghe
về văn chương, nghệ thuật, từ một tay không phải chuyên viên, nhưng có
học (a
cultivated nonspecialist). Maculay, Hazlitt - những văn nhân có hạng -
hầu như
đã viết cả một cuốn, về một bài điểm sách; còn nhiều người nữa. Đây là
thời để
in ấn xuất bản loại này. Văn nhân cũng có thể làm thơ, viết truyện
ngắn, tiểu
thuyết, hay tiểu sử, và ở Anh truyền thống này chưa chết. Chúng ta còn
có
Michael Holroyd, một người học trò cũ của tôi là Richard Holmes hiện
đang rất
được hoan nghênh, chúng ta có Cyril Connolly, Pritchard - một người
viết truyện
ngắn tuyệt vời, thường xuyên phê bình, điểm sách - Và tôi cũng không
phải là
người coi khinh J.B. Priestley. Những người coi khinh Priestley ắt hẳn
sẽ tự
móc mắt, để đổi lấy một chút đỉnh tài năng của ông ta. Robert Graves
vừa là phê
bình gia, người viết tiểu sử, viết hồi ký, vốn là một nhà thơ tinh tế,
chính là
một văn nhân tuyệt vời.
Bất cứ một người nào,
trong những đối thủ của tôi, bất cứ
người nào trong số những người phê bình tôi, đều có thể nói cho bạn,
rằng tôi
là một thứ "người tổng quát" (a generalist), viết hời hợt về mọi thứ,
trong một thời đại không ai còn làm như thế nữa, một thời mà kiến thức
có trách
nhiệm là kiến thức chuyên môn hóa. Khi cuốn Sau Babel của tôi xuất bản
lần đầu
tiên, có một bài điểm sách do một nhà ngôn ngữ kiệt xuất, bây giờ ông
ta già
rồi, nhưng vẫn còn sống, và là một người mà tôi hết sức kính trọng: vị
tiên chỉ
trong làng quan viên (the high priest of the mandarins). "After Babel
là một
cuốn sách
tồi", bài điểm sách bắt đầu, "nhưng than ôi, đây là một cuốn sách cổ
điển." Thế là tôi viết thư cho ông ta, nói, chưa có một bài điểm sách
nào
vinh danh tôi hơn thế, nhất là cái từ ‘than ôi’ mà ông phải ép lòng nói
ra,
thật là tuyệt vời. Tôi có thể sống với nó. Ông ta viết trả lời, một
điều thật
thú vị. Ông ta nói, rằng chúng ta đã đạt tới điểm mà không một cá nhân
lẻ loi
nào có thể bao trùm toàn thể bộ môn ngữ học và thi học về dịch thuật
Ông bảo,
lẽ ra cuốn sách đó nên để 6, hay 7 chuyên gia phụ trách, còn ông đóng
vai chủ
biên. Thế là tôi viết trả lời, "Không, đừng như vậy. Mất thời giờ, phí
phạm, và cuối cùng chỉ là thu gom bụi bặm trên những giá sách kỹ
thuật".
Tôi thích may rủi lớn. Trong cuốn sách thực sự có những lầm lẫn, có
những điều
không chính xác, bởi vì một cuốn sách đáng sống, là hành động của một
giọng
nói, hành động của đam mê, hành động của một "nhân vật" (persona).
Chúng tôi bất đồng, nhẹ nhàng, nhưng thật sâu đậm. Ông ta nói, không,
điều đó
không thể làm được. Nó có thể làm được, cho tới Đệ Nhất Thế Chiến,
nhưng sau
đó, tri thức tự xé lẻ, phân hạt... đến nỗi, ngay trong địa hạt nhân
văn, những
cái đầu mạnh mẽ nhất cũng phải bỏ ra cả đời, chỉ để sao cho chuyên
ngành của
mình đúng hơn, nhiều hoặc ít, chứ đừng nói tới toàn cảnh. Đây là một
bất đồng
thật cơ bản. Như vậy George Orwell, thí dụ vậy, là gì, nếu không phải
là một
văn nhân (man of letters), hay Edmund Wilson, người mà tôi kế vị, ở tờ
Người
Nữu Ước, The New Yorker, cách đây 27 năm? - văn nhân ngày một
thêm bị
nghi ngờ.
-Nói một cách tổng
quát, phải chăng liên hệ giữa văn chương
và phê bình đã biến cải?
-Tôi nghĩ vậy. Chúng
ta có thể nói 10 giờ [về đề tài này].
Cái nhìn của tôi là thứ say mê cay đắng, như thể chúng ta đang ở trong
thời kỳ
Byzantine, hay thời kỳ Alexandrine, theo đó vị ngự sử, và cái tháp ngự
sử của
ông ta cao hơn là nguyên tác. Sainte-Beuve khi chết còn cay đắng nhận
xét:
"Chưa từng có ai tạc tượng, cho nhà phê bình". Trời hỡi! Ông ta mới
lầm lạc làm sao. Bây giờ, chúng ta được người ta nói cho mà biết, rằng
có lý
thuyết phê bình, rằng phê bình trấn áp - nào giải cấu trúc, ký hiệu
học, hậu cơ
cấu, hậu hiện đại. Đúng là một khí hậu kỳ quặc, tất cả là do một người,
một
thiên tài không ai nghi ngờ: Ngài Derrida, khi ông nói rằng mọi bản văn
là một
"tiền-văn bản" (pretext). Đây là một trong những trò chơi chữ lầm lạc
khủng khiếp, phá hoại khủng khiếp, tầm phào một cách thật sáng láng, đã
từng
được phóng ra. Như vậy nghĩa là gì? Rằng bất cứ thế giá nào của một bài
thơ: nó
[phải] đợi nhà phê bình giải cấu trúc; nó có đó, nó chỉ là cơ hội cho
sự thao
tập. Đối với tôi, không từ ngữ nào diễn tả nổi sự lố bịch này. Walter
Benjamin
nói, một cuốn sách có thể đợi một ngàn năm, không được đọc, cho đến khi
một độc
giả mắt xanh chợt ghé vô. Những cuốn sách, chúng đâu có vội vã. Một
hành động
sáng tạo, cũng đâu cần hối hả: nó đọc chúng ta, nó "đặc quyền" chúng
ta, một cách vô cùng. Quan niệm theo đó, đây chỉ là cơ hội cho chúng ta
phô tài
khéo, nó khiến tôi hết đỗi bàng hoàng, chua cay, và phẫn nộ. Quan niệm
cho rằng
học sinh ngày nay đọc những thứ phê bình của phê bình cấp hai và cấp
ba, và
ngày càng đọc văn ít đi, thực sự, nói một cách triệt để, chính là cái
chết của
trật tự tiền hậu bình thường, ngây thơ, và thuận lý (the death of the
normal
naive and logical order of precedence).
Nguời phỏng vấn: Liệu
nhân văn đã thất bại trong việc nhân
bản hóa [con người]? Liệu ông vẫn tin rằng việc học văn, trớ trêu làm
sao, lại
nuôi dưỡng độc ác chính trị, và chủ nghĩa man rợ?
G. Steiner: Chủ nghĩa
Quốc Xã, chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa
Stalin đã thuyết phục tôi, về một nghịch lý trung tâm này: tính từ
chương
(bookishness), từ tiếng Anh cổ này, là một từ rất hay: bookishness, sự
biết đọc
biết viết ở mức cao nhất, mọi kỹ thuật về tuyên truyền văn hóa và dậy
dỗ, chẳng
những có thể song hành với tính thú vật, sự áp bức, độc tài bạo quyền,
nhưng ở
một điểm nào đó, còn nuôi dưỡng chúng. Trọn cuộc đời, chúng ta được dậy
dỗ,
huấn luyện dài về trừu tượng, về giả tưởng, và chúng ta phát triển một
quyền
năng nào đó - tạm gọi là quyền năng - để đồng nhất với giả tưởng, để
giảng dậy
nó, làm sâu nó (Phu nhân Macbeth có bao nhiêu con cái nhỉ? (5) Rồi thì
chúng ta
xuống đường, và có tiếng la thét, và nó có một cái gì đó hư ảo lạ lùng.
Hình
ảnh tôi muốn sử dụng ở đây: Ngay giữa trưa, tôi ở trong một rạp chiếu
bóng, coi
một phim rất hay. Trời nắng đẹp. Khi tôi bước ra khỏi cuốn phim, nhập
vào ánh
nắng của buổi trưa thành phố, tôi thường cảm thấy buồn nôn, một sự mất
thăng
bằng lộn mửa. Phải mất nhiều giây, nhiều phút, có khi lâu hơn, tôi mới
lại có
thể chú mục vào thực tại.
-Ra khỏi cái hang của
Plato? (6)
-Còn mãnh liệt hơn
thế nữa, do cung cách lạ, theo đó tác
dụng của cuốn phim ắt phải là một tác dụng hoàng hôn. Tại làm sao ban
ngày đi
coi phim lại quái gở và không ổn như vậy? Bây giờ tôi khai triển kinh
nghiệm
đó: Tôi trải qua trọn ngày với những sinh viên trong một căn phòng,
chung quanh
một cái bàn thảo luận ở Geneva.
Chúng tôi cố gắng tới được một điểm nào đó, về sự diễn tả cực kỳ súc
tích đối
với vai trò của Cordelia trong Vua Lear, vỏn vẹn chưa đầy 90 câu thơ.
Không ai
tin điều này, cho tới khi đếm từng dòng. Hay là những sự im lặng lớn
lao trong
văn chương, những nhân vật xuất hiện và chẳng nói gì - từ Aeschylus tới
Dostoevsky - hay chỉ nói vài lời. Hay là người khờ ở cuối [cuốn kịch
thơ của
Puskhin] Boris Godunov: anh ta hát hai tiếng, hai tiếng đi trọn thế
gian trong
nỗi tuyệt vọng và kinh hoàng của chúng. Và những sinh viên đáp ứng, bạn
đáp
ứng, bạn biết tới tận tim gan cái đó, nó thấm tẩm vào bạn, và bạn rời
chỗ,
xuống đường, và bạn nhìn hàng chữ lớn trên trang báo: "Một Triệu Người
Chết Ở Rwanda".
Không phải chỉ là chuyện, bạn trở nên vô cảm trước những sự ghê rợn
diễn ra
hoài hoài của thế kỷ chúng ta: chúng chẳng gây được một chút tác động
nào, lên
trí tưởng tượng của bạn.
Đối với riêng tôi,
"điểm ngoặt" chính là Pol Pot.
"Vào thời điểm đó" [Thế Chiến II], rất ít người biết, về Auschwitz. Vâng, cái lũ khốn nạn, cái lũ chó đẻ
biết, và
không tin chuyện đó, nhưng chúng chỉ là thiểu số. Sự che đậy của Nazi
về Lò
Thiêu đã có một hiệu quả huyễn hoặc. Những cánh đồng giết người là ở
đài phát
thanh, truyền hình, trong lúc đang xẩy ra, và chúng ta được biết là Pol
Pot
đang chôn sống một trăm ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ con. Bây giờ tôi
không thể
gắn một ý nghĩa trung thực cho câu: "chôn sống một người đàn ông, một
người đàn bà, hay một đứa trẻ." Một trăm ngàn! Tôi hầu như không còn
cái
đầu, vào những ngày này, khi cảm thấy mình cay đắng bất lực. Tôi bị ám
ảnh, vì
hy vọng, rằng Nga xô và Hoa Kỳ sẽ nói, "Chúng ta không biết cái mớ bòng
bong địa lý chính trị khó có thể tin được này, phải trái ra sao, nhưng
45 năm
sau Lò Thiêu, hay là sau Gulag, chúng ta không thể cạo râu vào buổi
sáng, chúng
ta không dám nhìn vào chính mặt mũi của mình, khi biết rằng một trăm
ngàn người
đang bị chôn sống; lưỡi dao cạo không còn chạm vào da. Không một người
đàn bà
nào có thể đánh phấn thoa son, và còn nghĩ rằng mình là người. Nếu mi
không
chấm dứt trò này, bọn tao sẽ nhẩy vào can thiệp." Trước đây, tôi đã
từng hy
vọng, vì những lý do hiển nhiên, Israel hẳn sẽ ra một tuyên
bố như
thế. Câm lặng hoàn toàn, câm lặng hoàn toàn về bất cứ một ngăn chặn hay
can
thiệp. Pol Pot cứ tiếp tục chôn sống người, giết một triệu rưởi người
khác,
thiến sống người ta ở giữa đồng, và hôm nay, chúng ta đang bán vũ khí
cho hắn.
Bây giờ, đối với tôi,
Cambodia
là một điểm ngoặt, về một
bất lực tuyệt đối, tuyệt vọng cùng cực. Sau đó tới Rwanda,
và ngày mai, đến phiên x,
y, hay z. Và giờ này, chúng ta biết. Tôi sẽ làm - tôi dùng một từ khá
trang trọng
- một sự phân biệt mang tính bản thể học, phân biệt thuộc về yếu tính,
giữa một
thời đại mà chúng ta chẳng biết gì hết, hay có lẽ chẳng có thể làm được
gì hết,
về chuyện đó (chúng ta có nên ném bom các đường xe lửa hay là không:
đây vẫn
còn là một trong những luận cứ chua chát nhất về lò thiêu Auschwitz;
chúng ta
có lẽ nên thử; OK) và lúc này - một khi chúng ta biết, đối phương chỉ
là một
con cá lòng tong - chẳng thể nào so sánh được với quyền uy của cả thế
giới còn
lại: Me-xừ Pol Pot và đám Khờ Me Đỏ khùng của ông ta. Chúng ta chẳng
làm gì
hết, và chúng ta bây giờ đang tái vũ trang hắn.
-Với tư cách là một
người giảng dậy, tất cả những chuyện đó
hàm ý gì?
- Tôi cực kỳ bối rối
vì nó. Hàm ý của tôi: tôi tiếp tục cố
gắng thổi điều này vào trong đầu những con người đang học đọc cùng với
tôi. Tôi
yêu thích biết bao: được nhắc nhở tới, như là một người thầy tốt, về
việc đọc.
Đọc như một phương thuốc chữa trị, theo một nghĩa đạo đức sâu thẳm:
rằng cái
đọc sẽ đưa chúng ta tới một tầm nhìn (a vision), sẽ nhập thân nhân loại
tính
của chúng ta, làm cho chúng ta đỡ lơ là bỏ mặc mọi chuyện cho qua đi.
Nhưng tôi
không biết tôi có thành công chưa, hoặc cho những người khác, hoặc cho
chính
tôi.
Liệu có một thứ học
vấn, dậy thơ, nhạc, nghệ thuật, nó làm
người ta không thể cạo râu buổi sáng - hãy tha thứ cho hình ảnh tầm
thường này
- bởi vì tấm gương ném trả một cái gì phi nhân, hay thấp hơn con người?
Đó là
điều tôi tiếp tục dùi mài trong suy tư, trong viết lách của mình. Thế
cho nên,
trong cuốn Những Hiện Diện Thực, tôi đã chuyển qua cái góc khó khăn vô
cùng để
hướng về thần học. Thế còn những thi sĩ lớn, nghệ sĩ lớn, những người
biết về
những điều như thế - Dante thí dụ vậy, hay là Shakespeare? Liệu có điều
nào có
thể khiến chúng ta không còn vô tri giác được nữa, không còn có thể mù
lòa, câm
điếc được nữa? Liệu có điều nào có thể làm cho trí tưởng tượng phải
mang trách
nhiệm và phải trả lời cho những nguyên lý thực tại để làm người quanh
ta? Đó là
vấn đề.
-Vậy thì đã 50 năm
rồi, ông thẩm định ra sao, về câu châm
ngôn nổi tiếng của Adorno: "Không có thơ, sau Auschwitz"?
-Với tôi, đó là thời
điểm quyết định, cực kỳ tự nhiên để nói
ra [1945]. Và nó cầu mong một phản bác. Đã có phản bác, bằng thi ca của
Paul
Celan. Thơ của ông phản bác một nhận định như thế - và Adorno biết điều
này,
trước khi mất. Chúng ta hãy trở lui vài bước. Vấn đề tục tằn, việc "đếm
đầu xác chết" không nêu ra ở đây, nhưng tôi gộp những trại tập trung,
dù
là ở Ba Lan, ở Đức, hay ở khắp những nơi chốn khốn kiếp nào: hiện tượng
tù đầy,
loại trừ tập thể hàng triệu con người từ đầu này tới mút kia của thế
giới. Một
trong những giải đáp khả hữu: toàn bộ nền văn hóa của chúng ta đã chứng
tỏ hoàn
toàn bất lực, và không tự vệ. Hơn nữa, văn hóa của chúng ta còn tô điểm
cho cái
việc giam giữ và giết người. Trong những đêm mà người ta có thể nghe
những
tiếng la thét thất thanh của những con người, bị nhốt kín trong những
toa xe
lửa ở nhà ga Munich, trên đường tới trại tập trung Dachau, ngay ngoại ô
Munich,
thì Gieseking vẫn trình diễn toàn bộ nhạc dương cầm của Debussy. Những
tiếng la
thét có thể nghe, thấu suốt phòng hòa nhạc. Điều này được ghi lại.
Không hề có
một nhân chứng, dù là mỏng manh nhất, nói rằng, đêm đó ông chơi thiếu
tuyệt
diệu, hay là khán thính giả của ông không hoàn toàn đáp ứng, không sâu
xa xúc động.
Bởi vậy, đã có phê
bình mang tính hư vô, như của Adorno; hay
như được công thức hóa, qua câu nói của Walter Benjamin: "ở nền của mọi
tác phẩm nghệ thuật lớn, là một đống man rợ." Bạn có thể chấp nhận câu
nói
đó, như nhiều người thuộc trường phái Frankfurt,
theo một nghĩa nào đó, cũng đã chấp nhận. Họ còn nhấn thêm một bước
nữa, và nói
rằng: "Thôi chúng ta hãy tạm câm đi một lúc." Tôi thường có một ước
mơ, về sự trì hoãn không bàn tới những điều này - trong 10 năm, 15 năm,
một
trăm năm - cố gắng không giảm trừ chúng, thành lời. Nói lên thành lời,
đó là
cung cách lạ lùng, khiến chúng có thể chấp nhận được. Đó là điều Adorno
thực sự
muốn nói: Hãy coi chừng! Ngay cả tiếng gào thét lớn lao, nếu nó được
kiểu thức
hóa, giả dụ thành vần, thành điệu, thành khổ, thì vẫn làm cho hiện
tượng kia có
thêm một sự huyền nhiệm, về điều khả dĩ chấp nhận được (a mystery of
acceptability).
Bước thứ nhì, và là
bước khó khăn nhất trong tất cả mọi
bước, đó là nói: "Không, mặc dù tất cả những chuyện đó, tôi vẫn có thể
chuyển chở, truyền đi một điều gì về kinh nghiệm cốt tuỷ." Trong trọn
mớ
văn chương hằng hà sa số viết về Lò Thiêu, chỉ có 3 hoặc 4 người viết,
làm được
điều này.
-Họ là những ai?
-Celan, trên tất cả.
Không nghi ngờ chi, còn Primo Levi, nhà
văn Ý gốc Do Thái: tối thượng, tối cao cả. Không có một từ nào trật bản
lề;
đúng là một phép lạ. Một hay hai người Đông Âu không được biết đến
nhiều, một
vài truyện ngắn Latvia
tuyệt vời. Có lẽ chỉ chừng 5, hoặc 6 bản văn mà tôi dám nói là đã biện
minh cho
cái toan tính táo bạo không thể nào tin được kia. Nhưng cuối cùng, tổn
thất mới
ghê gớm làm sao! Celan tự tử. Primo Levi tự tử. Jean Améry tự tử. Mãi
sau đó.
Như thể, đã xong nhiệm vụ làm nhân chứng, đâu còn ý nghĩa gì cho đời
mình, cho
ngôn ngữ mà mình sử dụng. Điều làm tôi kinh hoàng, là bất cứ một toan
tính trục
lợi nào đối với những chất liệu này, bởi những kẻ hoàn toàn không kinh
qua nó.
Người phỏng vấn: Nói
về Lò Thiêu theo đường hướng này, tức
là nói về điều không thể nói được, phải chăng đây (cũng) là điều ông
quan tâm,
khi viết The Portage?
Steiner: Vâng, chắc
chắn như vậy. Tôi thật tình muốn mọi
người quan tâm tới tính hàm hồ khủng khiếp trong tất cả ngôn ngữ, trong
tất cả
những hành động nói. Vật lý học nói – tôi không hiểu nghĩa, nhưng thật
đáng yêu
– rằng có một vũ trụ phản-vật chất phản chiếu y hệt vũ trụ chúng ta,
rằng, khi
vật chất và phản-vật chất đụng nhau, cái nọ huỷ diệt cái kia. Tôi đã
tìm cách
chứng tỏ trong ngôn ngữ của Hitler, có phản-vật chất, phản-ngôn ngữ, nó
huỷ
diệt, theo nghĩa siêu việt, sự thật và cái nghĩa. Và nó phải đụng với
Do Thái
giáo, vốn là một niềm tin, một văn hóa, một sự tin cậy có lẽ hoàn toàn
dựa trên
từ ngữ, dựa trên tính nói lên được, và sự khả hữu của cái nghĩa, và dựa
trên
cuộc thoại hoài hoài, ngay cả với Thượng Đế. Điều này thực đáng suy
nghĩ. Tại
sao Người lại nói? Do Thái giáo luôn luôn tin vào định đề, về một
Thượng Đế rất
ham nói.
Vậy thì vâng, tôi
thật sự lo lắng về chuyện đó, và chắc chắn
là, tôi không dám trở lại với nó. Nói cho cùng, tôi chưa hề ở trong
tình huống
[như vậy], và có lẽ, đừng ai nên thử. Về mặt khác, liên quan tới những
cuộc tấn
công nhắm vào William Styron (7). Tôi hoàn toàn ở phía đối nghịch.
Styron là
một tiểu thuyết gia tuyệt vời, và ông hoàn toàn có quyền thử nghiệm một
nhân
vật như Nat Turner, hay Sophie. Không ai có quyền nói, rằng ông ta chưa
từng là
một người da đen nô lệ, hay chưa từng ở Auschwitz.
Chúng ta có thể nói, "Ông không thuyết phục nổi tôi". Chúng ta có thể
nói, "Xin lỗi, cái đó chưa ra ngô ra khoai". Nhưng theo tôi, thử là
quyền năng tuyệt đối của một nghệ sĩ.
Trong những thế kỷ
sắp tới, biết đâu, một tân Dostoevsky,
hay một tân Faulkner sẽ tìm ra con đường xấn tới trái tim – và làm sáng
ra -
thực tại không thể nói, không thể nghĩ, không thể chịu đựng được này.
Thật ngu
xuẩn khi đặt vấn đề như vậy, nhưng Shakespeare sẽ nói gì? Tôi cứ suy
nghĩ hoài,
rằng Shakespeare sẽ có một tên hầu ngựa thứ năm, hay một người đầy tớ
thứ bẩy ở
cuối một màn quan trọng, có thể là một màn tiếu lâm; một kẻ mà, bằng
một cách
nào đó, cho chúng ta biết rằng anh ta đang ở trong một trại tù (8). Bây
giờ,
bạn chớ có chế nhạo tôi, nhưng chưa có một vở kịch nào trên thế gian
làm cho tôi
buồn hơn là Đêm Thứ Mười Hai (kịch Shakespeare) Tôi thực sự bị ám ảnh,
như là
với Cosi Fan Tutte (nhạc Mozart): chúng bề ngoài có vẻ vui nhộn, theo
kiểu
"mưa, mưa rơi mọi ngày". Những bài hát của Feste, tên hề, chúng như
thuộc trong số những bài hát bi thảm tuyệt vời nhất, đối với tôi: Ớ cái
này, ớ
cái kia. Tôi cứ tưởng tượng ở đâu đó, có một người hầu trong căn nhà
Quận công,
hay của Olivia, hay Viola, và Shakespeare, trong một vài thoáng chốc,
làm cho
chúng ta hiểu, về những gì người hầu đã nếm trải qua. Điều này chắc là
có thể
chấp nhận được trong tương lai. Như vậy, nó là điều chưa biết. Nó là
mảnh đất
giấu mặt lớn lao (the great terra incognita), của trí tưởng tượng. Tình
huống
này [bên ngoài cười nói như thường, bên trong đoạn trường từng khúc],
có mặt
trong mọi điều tôi viết, mọi thứ tôi giảng dậy, mọi suy nghĩ của tôi,
và trên
tất cả, là cuộc sống của tôi tại Âu Châu.
-Rõ ràng là có một
nối kết sâu xa giữa hiểu biết về Lò
Thiêu, và lý thuyết dẫn giải của ông. Ông có thể nói một chút về chuyện
này không?
-Vấn đề then chốt, đó
là cảm quan về một điều không thể phân
tích hay giải thích. Hành vi chủ chốt trong việc dẫn giải, là ngày càng
tới gần
tâm điểm của tác phẩm, nhưng chẳng bao giờ tới quá gần. Chính sự thất
bại,
chính cái khoảng cách bất lực, về một dẫn giải lớn lao, là khoảng cách
kích
thích người đọc. Chính sự bất lực này lại năng động, gợi ý, hùng biện
và hoạt
bát. Những hành động đẹp nhất của việc đọc, chúng là những hành động
chưa hoàn
tất (9), những hành động của trực giác manh mún, của chuyện từ chối
(một cách
đọc) hoa hòe hoa sói, siêu-đoạn (metaphrase), điều sau cùng: "Cái hay,
cái
tuyệt ở đây, tôi chưa chạm tới được". Nhưng chính cái điều làm cho sự
không thể này không phải là một thất bại nhục nhã, hay một mẩu huyền
bí, nhưng
là một thứ mời gọi vui: rằng, hãy đọc lại.
Bây giờ, vẫn ở trong
mỹ học, nhưng tôi sẽ đi tới câu hỏi của
ông về nối kết với Lò Thiêu, và tôi hy vọng rồi thì câu chuyện sẽ rõ
ràng hơn.
Một lần, có một đứa nhỏ, Paul Klee, thường bị nhà trường đưa đi chơi
giã ngoại
(pinic), ra khỏi thành phố Bern, nơi cậu sinh trưởng, đó là những dịp
buồn tẻ
nhất trong sinh hoạt ở Thụy Sĩ. Một bữa lớp cậu được dẫn tới xem một
cây cầu
máng La Mã, và ông thầy giải thích, nó chuyên chở được bao nhiêu lượng
nước, và
được kiến tạo ra sao. Lúc đó Paul Klee mới mười một tuổi, và cậu luôn
mang theo
tập vẽ nháp, thế là cậu hí hoáy cây cầu máng, và cho nó mang giầy. Kể
từ ngày
đó, tất cả những cây cầu máng đều biết đi; bạn không thể nhìn một cây
cầu máng
không biết đi. Picasso xuống phố. Ông thấy chiếc xe đạp ba bánh
(tricyle) của
con nít. Cả tỉ người thấy nó, trên đường phố. Picasso nhấc chiếc xe
lên, lấy
yên xe làm mặt con bò, chiếc ghi đông thành hai cái sừng (10). Chưa
từng có ai
làm như vậy, và kể từ ngày đó, cái xe đạp con nít tấn công người lớn,
bằng hai
cái sừng cứ thế húc tới. Chẳng hề có ai giải thích điều này, cũng chưa
hề có ai
giải thích, điều mà [nhà nhân học người Pháp] Lévi-Strauss gọi là sự bí
mật tối
thượng của mọi tri thức nhân loại: "sự phát minh ra giai điệu" (the
invention of melody) (11). Đây là một trong những câu quan trọng nhất
đối với
tôi. Nó làm tôi rạng ngời, theo nghĩa này: sự không thể vẹn toàn, của
những
toan tính say mê, của một người nào đó, khi cố gắng tới gần hơn, gần
hơn nữa.
Đây là sự huyền diệu của nó. Chơi xong rồi thì buồn, dân leo núi kể cho
bạn
nghe, nỗi buồn như thế nào, sau khi đã lên tới đỉnh một ngọn núi trước
đó chưa
ai lên tới, nhưng chúng ta không bao giờ tới đỉnh bản thể học về cái
mỹ, hay
câu hỏi về cái nghĩa của nghĩa (the meaning of meaning), hay câu hỏi về
cội
nguồn của ngôn ngữ.
Xét về mặt cái chết,
sự tra tấn, tàn sát, thế kỷ của chúng
ta là một trong những thế kỷ đen thui. Tôi đọc, với một niềm kính trọng
chân
thực, những nhà kinh tế – những người nói với chúng ta, rằng có thể sử
dụng một
lý thuyết tốt đẹp về kinh tế, về kỹ nghệ, để giải thích chủ nghĩa Cộng
Sản, chủ
nghĩa Phát Xít; hay là những nhà xã hội học – những người nói [với
chúng ta về]
những cuộc đấu tranh giai cấp, về cơ cấu xã hội học của đô thị, vào
thời đó, và
cứ thế, cứ thế. Tất cả những sử gia cũng có ý tưởng này, tư tưởng nọ.
Như tất
cả mọi người, tôi cũng cố bắt kịp với những người nói rằng, "Tôi có thể
giải thích điều đó cho bạn". Nhưng đúng là, tôi chịu thua. Có thể có
chút
tia sáng lý thú ở đó, thí dụ như quan niệm cho rằng trong những trại tử
thần,
có những sắc thái của một nhà máy. Tốt thôi, đúng là một phát giác hay
ho. Tôi
muốn nghĩ về điều này. Có thể nó gây hứng khởi. Hay là khi tôi được bảo
cho
biết, rằng chủ nghĩa Nazi khác biệt với chủ nghĩa Stalin, sự khác biệt
này dựa
trên những bất ổn và những phẫn nộ của giai cấp trung lưu, tôi rất quan
tâm.
Nhưng những giải thích này, dù có quan trọng, chúng chẳng giúp gì cho
tôi,
trong việc nắm bắt sự kiện.
Sự kiện là, khi bộ tư
lệnh của Hitler nói với ông ta,
"Thưa Lãnh Tụ, chúng ta rất đỗi là cần, những chuyến xe lửa chở xăng
dầu,
vũ khí, chỉ xin Quốc Trưởng [dành] cho chúng tôi 4 tuần lễ ngưng chở
người tới
trại tử thần," ông ta trả lời, chiến thắng cuộc chiến chưa quan trọng
bằng
việc tận diệt bọn Do Thái. Quan niệm rằng ông ta khùng chẳng thuận tai
tôi một
chút nào, ở đây. Ông ta rất không khùng. Tôi cũng chẳng thấy thuận tai
chút
nào, khi biết rằng Stalin đã huỷ diệt một phần lớn đám dân có học của
ông ta,
một cách hệ thống, trong khi lên kế hoạch tạo thành sự vĩ đại của Liên
Bang Xô
Viết.
Vì thế tôi xoay sở
với những dẫn giải hoàn toàn khác. Trong
thời kỳ Ánh Sáng, vào những năm đầu của thập niên 1760, Voltaire, sau
khi chống
đỡ thành công cho một số người, đã đưa ra khẳng định: Một điều chắc
chắn, là sẽ
không có việc sử dụng tra tấn nữa, tại Âu Châu văn minh.". Vài năm sau
đó,
Thomas Jefferson, một trong những cái đầu sắc sảo nhất, cứng cựa nhất,
chưa
từng có vào thời kỳ đó, nói, ông ta có thể hứa hẹn – ông ta đúng là đã
dùng từ
"hứa hẹn" (promise) – rằng sẽ chẳng bao giờ có việc trở lại, với
chuyện đốt sách. Tôi có cả một tuyển tập những khẳng định như vậy.
Không phải
bởi những thằng khùng ngây thơ, nhưng bởi một vài, trong số những cái
đầu cứng
cựa nhất, châm biếm nhất. Có một tư tưởng gia thuỷ tổ-phát xít theo
Ca-tô giáo,
tên là Joseph de Maistre; ông ngồi trên bờ [giữa hai phe tranh chấp],
cười đến
sái quai hàm, và viết một tuyệt tác thuần túy, đặt tên là Những Buổi
Chiều ở
St. Petersberg. Ông ta nói rằng, cứ cái đà này, thế kỷ thứ 20 sẽ chìm
vào biển
máu ở Âu Châu; rằng sẽ có những trại tù dành cho việc làm thịt nhân
loại một
cách có hệ thống. Ông ta làm việc với một lý thuyết hoàn toàn khác
biệt, khởi
đi từ tội tổ tông.
Sự thực, de Maistre
nói, "Làm ơn giải thích cho tôi về
bản chất của lịch sử". Nếu chúng ta là những Con Người Khôn Ngoan (Homo
sapiens), thuần lý đang trên đường thăng tiến, như vậy chúng ta đang
làm gì
nhau đây? Tại sao những cuộc chiến tranh của chúng ta ngày càng giết
chóc nhiều
hơn? Tại sao những trận đói ngày càng lớn hơn? Về mặt khác, nếu có một
kiểu
mẫu, cho cái gọi là mất ân sủng nguyên thuỷ – (original) dis-grace, một
từ rất
ư là mãnh liệt, khi chúng ta tách bạch bằng một cái gạch như trên –
ghét bỏ
(disgrace) trở thành một từ tẹp nhẹp ở đây; dis-grace: sa khỏi ân sủng
(fall
from grace), ngắt triệt mối tương thông với Thượng Đế – như vậy lịch sử
sẽ là
một sự trừng phạt, và chúng ta sa chân vào lịch sử, chủ yếu là để chịu
đựng đau
khổ, và chúng ta cứ thế tiếp tục chịu đựng cho đến tận cùng, cho tới
khi nào
chúng ta làm thịt lẫn nhau sạch sẽ không còn mống, bằng bom nguyên tử,
bằng nội
phá (implode) đô thị, hay là có một trận đói, hay sau cùng có một thứ
bệnh AIDS
không làm sao ngăn chặn được. Trọn một lý thuyết về tội tổ tông. Bằng
cách nào,
bạn xử lý (operate) với một lý thuyết như thế? Tôi không biết. Tôi gọi,
đây là
một ẩn dụ [để] làm việc (a working metaphor).
-Nó đòi hỏi niềm tin,
ở nơi Thượng Đế?
-Vâng, hay – nguy
hiểm hơn nữa – niềm tin vào địa ngục. Một
lần, vào lúc sáng tinh mơ, Đức Giáo Hoàng Pius XII tiếp Paul Claudel,
để vinh
danh nhà viết kịch nổi tiếng và nhà thơ Ca-tô giáo. "Con của ta,"
ngài nói, với nụ cười mỉm, "con quá tin vào địa ngục, thế mới khổ cho
con;
[còn ta], ta không quá chắc mẩm, về thiên đường, đến thế đâu". Đây là
một
hình thức đặc biệt về dị giáo. Một hình thức của chủ nghĩa nhị nguyên
(Manichaeanism). Và tôi tự coi tôi là một [người theo thuyết] nhị
nguyên, một
Manichaean khá bối rối. Vâng, tôi là một kẻ hèn nhát: tôi trốn vào chỗ
an toàn
nhất, vững chắc nhất, nếu nói về bảo hiểm nhân thọ, còn vượt quá cả một
nơi chốn
như là hãng bảo hiểm Lloyd’s. Immanuel Kant – một trí tuệ lành lặn
nhất, trầm
tĩnh nhất, cân bằng nhất – tin vào cái ác nhập thể (incarnate evil),
không hẳn
như của Aristotle – cái ác là sự vắng mặt của cái thiện – chính niềm
tin này gỡ
bạn ra khỏi mọi câu móc. Kant không định nói về một kẻ nào đó có sừng
có đuôi,
nhưng cái ác là một sức mạnh nhập thể, một tác nhân tích cực.
Chỉ bằng cách này,
tôi hiểu tại sao những công chuyện tuyệt
vời nhất của chúng ta lại chuyển mầu địa ngục. Hãy suy nghĩ về những
tài liệu
gốc của chủ nghĩa quốc gia Do Thái (Zionism) – cha tôi có mặt trong
nhóm đầu
tiên với Herzl: một giấc mơ không tưởng về bình đẳng, sự thông cảm trọn
vẹn về
sắc tộc, biến Jeremiah và Isaiah thành hiện thực ("vũ khí biến thành
lưỡi
cày"). Bây giờ, hãy nhìn sự đau khổ. Hãy nhìn xứ sở được võ trang này:
để
sống sót, phải là một trong những xã hội trọng binh (militaristic) trên
mặt
đất. Chúng ta tới xứ sở Mogadishu,
để mang thức ăn, để giúp đỡ, và cuối cùng là địa ngục, nơi xác người bị
kéo lê
trên đường phố.
Đó là điều minh chứng
hoàn toàn, nhận xét của Shakespeare:
"Như bầy ruồi đối với lũ trẻ tinh nghịch, thân phận của chúng ta với
chư
thần cũng thế thôi / Chư thần giết
chúng ta để
đùa chơi" (As flies to wanton boys, are we to the gods, / They kill us
for
their sport.) Hay như trực giác này của ông, "Cái tệ nhất còn chưa tới
/
Chừng nào ta còn hỏi: Thế đã là tệ nhất chưa? (The worst is not / So
long as we
can say "This is the worst?") Cái gì đã khiến cho, chuyện cứ xẩy ra
hoài, ra mãi, những thiện ý, những bác ái từ bi, những xã hội ước mơ
của chúng
ta, cứ biến thành địa ngục? Điều này cần tra hỏi.
-Phải chăng chủ nghĩa
quốc gia là một trong những thí dụ đầu
tiên của ông?
-Vâng. Tôi bị chỉ
trích rất nhiều vì điều này, tôi chán
ghét, tôi ghê tởm chủ nghĩa quốc gia. Tôi ở nhà, ở bất cứ đâu, khi mà
có cái
máy đánh chữ. Tôi coi những lá cờ, những tờ giấy thông hành là rác rưởi
nguy
hiểm. Tôi tin tưởng rằng chúng ta là những khách trọ của cuộc đời – ở
đây, tôi
là một người theo Heidegger. Chúng ta không biết tại sao chúng ta sinh
ra,
chúng ta đâu chọn lựa điều này, chúng ta không chọn lựa được sinh ra
trong một
cộng đồng, trong một thời đại, trong một giai cấp xã hội nào; chúng ta
không
chọn lựa, được sinh ra, câm điếc, giữa những người ăn mày, những kẻ bị
tim la, hay
mang vi khuẩn HIV, hay là một triệu phú, hay là có một tài năng phi
thường.
Trước hết, chúng ta là những vị khách trọ của đời sống trên trái đất
này, nơi
chúng ta đang cướp bóc, phá phách, huỷ diệt, làm ô nhiễm một cách có hệ
thống,
như chúng ta biết đấy. Tôi tin tưởng chúng ta phải học, để là những
người khách
của nhau. Để mà sống sót; rằng số mệnh Do Thái, bi đát, đặc biệt: cố
sống (với)
cái công chuyện thật là khó khăn: cảm thấy ở nhà, bất cứ ở đâu. Tôi đã
từng ở
nhà, với nhiều, thật nhiều mảnh đất.
Người phỏng vấn: Tuy
nhiên, qua tất cả những chuyến đi như
vậy, ông vẫn bám rễ tại Cambridge?
Steiner: Chỉ bán-thời
gian thôi. Chúng mình hãy trở lui một
chút. Tôi đúng là đẻ bọc điều. Mẹ tôi từ một gia đình Do Thái, dân
thành Vienna,
biết nhiều thứ
tiếng. Ông chú/bác vĩ đại của bà là một nhà văn rất nổi tiếng, người đã
khám
phá ra bản thảo Woyzeck của Georg Buchner, trong một cửa tiệm thuốc.
Cha tôi,
từ một làng cách Lidice 8 cây số, một làng dân du mục (Bohemian) ở phía
bắc,
nơi mọi người đều bị giết, tàn sát trong một cuộc trả thù vì đã giết
tên cầm
đầu Gestapo. Cha tôi tới Vienna
khi còn là một đứa trẻ. Ông có một sự nghiệp tuyệt vời ở Áo, và quyết
định, vào
năm 1924 - mặc dù mẹ tôi làm trận làm thượng - phải rời Vienna, nơi cả
hai đều
yêu thương gắn bó, bởi vì ông đã nhìn ra chuyện đang tới. Ông cứ nói
hoài,
"Hitler là người Áo, chớ quên điều đó." Vậy là ông bà tới Paris, và tôi đã
ra đời
vào năm 1929, trong một căn nhà xó xỉnh nào cũng có sách vở, âm nhạc,
và văn
hóa: truyền thống Do Thái Trung Âu. Má tôi bắt đầu một câu bằng một
ngôn ngữ,
và chấm dứt, hầu như vô tình, bằng một vài ngôn ngữ khác, vậy là tôi
lọt lòng
trong cả ba thứ tiếng. Cha tôi bắt đầu đọc Homer, với tôi, trước khi
tôi tới
tuổi đi học; ông bắt đầu dậy cho tôi những tác phẩm cổ điển, ngay dưới
cái bóng
ngày một vươn lên, khủng khiếp, của Hitler.
Vào năm 1934, một vụ
bê bối tài chánh lớn lao đã nổ ra ở
Pháp, có liên can đến người Do Thái, và những đám đông bài-Do Thái diễn
hành
ngay kế trường học của tôi, vốn là một trường gần như thuần Do Thái.
Thế là bà
vú, bà nữ gia sư của tôi – vào những ngày đó, chúng tôi vẫn có những
gia sư –
chạy tới trường đưa tôi về nhà. Tại nhà, má tôi hạ mấy tấm màn cửa sổ
xuống,
rồi ngó ra đường, nhìn đám người bên ngoài la hét, "Giết lũ Do Thái!"
Ba tôi về nhà, nói, "Hãy kéo mấy tấm màn cửa sổ lên!", và ông nắm tay
tôi tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài. Tôi như bị mê hoặc, lẽ dĩ nhiên; bất
cứ đứa
trẻ nào cũng vậy thôi. Và ông nói, "Con không bao giờ được khiếp sợ;
cái
con đang nhìn, người ta gọi là lịch sử." Tôi nghĩ câu nói đó đã tạo nên
vóc dáng cho trọn cuộc đời của tôi.
-Lúc đó, ông mấy tuổi?
-Năm. Đúng là một
điều tuyệt vời để nói, với một đứa bé.
Theo nghĩa đó, tôi chẳng bao giờ khiếp hãi nữa. Tôi thật quá, quá may
mắn, và
tôi quan tâm thật là khủng khiếp đến lịch sử, đến việc nhìn ra bên
ngoài cửa
sổ, nhìn điều đang diễn ra, bất kể nó là cái gì.
-Ông hãy kể thêm cho
chúng tôi nghe, về những năm đầu đời
của ông đi.
-Rồi thì chiến tranh,
và cha tôi được thủ tướng Pháp trao
cho sứ mạng thương lượng với người Đức, về việc mua chiến đấu cơ
Grumman. Một
chuyện quá đỗi lạ lùng đã xẩy ra. Mọi người hầu như đều quên hẳn một
điều, New York
là một thành
phố trung lập, vào năm 1940. Nơi đây đầy những phái bộ mãi dịch, phái
bộ ngân
hàng, kỹ sư Quốc Xã. Cha tôi được mời ăn trưa, nhân dịp vinh danh Uỷ
Ban Thương
Mại (Trade Purchasing Commission), tại Câu Lạc Bộ Phố Tường (Wall Sreet
Club).
Tại bàn của ông, là đại diện ngân khố Mỹ, ngân hàng, và phái đoàn Pháp.
Người
hầu bàn mang đến cho cha tôi một tờ giấy gấp lại, và nói, một vị khách
tại một
bàn khác, đã yêu cầu anh ta mang lại cho cha tôi. Cha tôi liếc quanh
một vòng,
và nhìn thấy một phái bộ mãi dịch Quốc Xã, chữ thập ngoặc trên ve áo.
Hoàn toàn
hợp pháp: họ cũng đang mua trang bị, và dàn xếp những vụ vay mượn dầu
lửa (oil
loans), cùng với Ngân Hàng Chase, và rất nhiều ngân hàng khác. Cha tôi
nhận ra
một người, vốn là bạn làm ăn rất thân, nhưng ông đã không liên lạc kể
từ năm
1933 khi Hitler lên cầm quyền. Thế là cha tôi thẳng thừng xé nát mẩu
giấy, rồi
thả những mảnh vụn xuống sàn. Ông đứng dậy, đi vào nhà vệ sinh; người
đàn ông
đang đợi ở đó, ông ta nắm lấy cha tôi, và nói, "Dù muốn hay không, tốt
hơn
ông hãy lắng nghe tôi. Tôi không thể chi tiết. Tôi không biết tí gì.
Chúng tôi
sẽ vô nước Pháp, đầu hôm sớm mai." (Đó là năm 1940). "Bằng mọi giá,
đưa gia đình ông đi ngay" (12).
Đây là một tay chóp
bu, của xí nghiệp quan trọng nhất về
điện khí ở Âu Châu, hãng Siemens. Cuộc họp về "giải pháp chót" (the
final solution: tận diệt dân Do Thái. CTND), chưa xẩy ra. Nhưng ở Ba
Lan, những
vụ tàn sát diễn ra rồi, và giới chóp bu Siemens đã biết một điều gì. Họ
không
biết chi tiết, bởi vì bạn sẽ bị bắn bỏ ngay lập tức, nếu bạn xin nghỉ,
và nói
về chuyện đó; nhưng tin tức này luồn lách qua đám chỉ huy cao cấp, qua
những
nhà ngoại giao, và người đàn ông này, cám ơn Trời, đã tin, và cha tôi,
đã tin
ông ta.
Cha tôi liên lạc với
thủ tướng, và xin ông cho phép gia đình
được tới với ông một thời gian, vì cuộc thương lượng kéo dài hơn là cha
tôi
thoạt đầu nghĩ. Thủ tướng nói, "Được thôi, lẽ dĩ nhiên, hãy để cho gia
đình tới với ông". Gia đình tôi được cứu thoát là nhờ vậy. Chúng tôi
thoát
ra trên những chiếc thuyền Mỹ cuối cùng.
Câu chuyện này sẽ có
một lý thú đáng kể, với những sử gia,
bởi vì đầu năm 1940 – người Đức tới tháng Năm mới "vô", trong khi
chuyện xẩy ra, là vào tháng Giêng – một nhân viên cao cấp Đức đã biết
một điều
gì đó.
-Rồi thì gia đình ông
đi đâu?
-Tới Nữu Ước. Cha tôi
quyết định, ít ra ông phải có một cử
chỉ làm tin, với nước Mỹ, với cơ may dị kỳ của chúng tôi. Ông gửi tôi
tới
trường Horace Mann; tôi, một học sinh Pháp 11 tuổi, khó chịu, ngạo mạn,
được
rèn luyện quá chu đáo, tiếng Anh làu làu. Sau hai năm, cha tôi kéo tôi
ra, gửi
tới một trường trung học Pháp.
Một bữa, chúng tôi
đụng độ với Horace Mann, trong một trận
túc cầu, và họ đã mang tới cả một giàn, nào trang bị, nào đồng phục,
trong khi
chúng tôi chẳng có gì. Chúng tôi đã "giần" cho họ một trận để đời.
Chúng tôi chơi lận, theo kiểu liều mạng, nhưng bữa đó, từ Riverdale trở
về nhà,
là chiến thắng!
-Tôi chưa hề biết,
ông đã là một cầu thủ. Ngoài ra, trường
Tây đó còn gì khác nữa?
-Lẽ dĩ nhiên, tôi đã
là một cầu thủ đá banh. Tôi đã là Tây
(I was French). Trường Tây là một "bước ngoặt lịch sử", đối với tôi.
Do chính quyền Vichy
cai quản. Một vài giáo sư là dân tị nạn, loại thiên tài, tất cả đều cố
kiếm tí
cháo trước khi vớ được một chân tại đại học Mỹ. Vậy là tôi đã gặp gỡ
với những
ông hoàng của văn hóa tị nạn Âu Châu, và đó là nơi tôi khám phá ra
thiên hướng
(vocation) của mình.
-Ông có trở lại Pháp
không, sau khi tốt nghiệp?
-Chúng tôi trở lại
căn nhà cũ, cố nhặt nhạnh đồ này thứ nọ,
cố tìm xem ai còn sống, ai đã mất. Thư viện của chúng tôi được chôn
giấu, và
còn nguyên. Tôi đã tính cứ để cho cuộc đời đưa đẩy, và trở thành một
thứ quan
viên Tây (a French mandarin). Tôi chẳng có một quan niệm, rồi đời mình
sẽ như
thế nào. Nhưng ông già khôn hơn nhiều, và - "nói theo nghĩa đen" -
ông đã tóm cổ thằng con, dọng cho một trận, rằng mày phải vào đại học
Mỹ, bởi
vì tiếng Anh là ngôn ngữ của tương lai. Thế là tôi được nếm mùi, cái
gọi là
"tuần lễ huấn nhục" (orientation week), ở đại học Yale.
-Bọn họ có "choảng"
cho ông một trận không?
-Không, nhưng một đứa
nhỏ trường Tây, từ những năm trước đó,
đã tới phòng tôi, và cho biết về tình trạng Do Thái ở Yale. Căng như
thế nào,
bị cô lập ra sao. Hãy nhớ là, đó là năm 1948; không giống như bây giờ.
Thế là
tôi trở lại Nữu Ước, một thân một mình. Tờ báo Time hồi đó, có một bài
viết
trang bìa, về một người có tên là Robert Maynard Hutchins, theo bài
viết, bạn
có thể lấy mảnh bằng cử nhân tại Đại học Chicago, tùy theo sức của bạn.
Tôi
viết cho ông ta, "thư của một cậu bé", và nhận được điện tín của ông,
nói, cứ việc tới trình diện.
-Vậy là ông tới Chicago?
-Bằng cử nhân thông
thường gồm 14 môn học, và bạn có thể thi
tốt nghiệp bất kỳ môn nào, ngay khi nhập học. Nếu được điểm A, bạn khỏi
cần học
môn đóù. Tôi thi tất cả 14 môn, đậu 10, còn 4 môn bị điểm E trừ – dưới
cả điểm
loại – về vật lý, hóa học, toán, và một môn có tên là "nghiên cứu xã
hội" (trước đó tôi chưa hề nghe nói đến từ này). Thế là tôi phải học
mấy
môn đó, và tôi đã trải qua một đoạn đời kỳ ảo. Chúng hoàn toàn mới mẻ.
Một thế
giới mở ra đối với tôi.
-Ông là sinh viên
chưa tốt nghiệp tại đó trong bao lâu?
-Tôi lấy cử nhân
trong một năm, và rồi tôi phải đi gặp một
chức sắc được gọi là cố vấn cho sinh viên tốt nghiệp, về chuyện học
khoa học.
Một chức vị lạ hoắc đối với Âu Châu. Ông này là một tổ sư toán, tên là
Kaplansky. Sau khi đọc thật kỹ những bài thi của tôi, ông phán, "Nói
theo
tính cách kỹ thuật, anh là một thằng ngu; anh chẳng biết gì hết. Cái
học Âu
Châu ghê gớm của anh cho thấy, anh học thuộc lòng mọi thứ, nhưng chẳng
có một
tia lửa nào bắn ra, nếu nói về một hiểu biết tiến trình toán học - nó
cho phép
anh xứng đáng bước vào khoa học". Tôi chẳng bao giờ tha thứ cho ông ta,
và
nhiều năm sau đó, tôi xoay sở đăng được một bài viết nho nhỏ về lịch sử
một vấn
đề mang tính toán học, trên tờ Tự Nhiên (Nature), một tờ báo khoa học
tối
thượng trên thế giới, và gửi nó tới cho thầy Kaplansky, lúc này đã nghỉ
hưu.
-Ông ta có trả lời
hay không?
-Trả lời bằng thư.
"Cám ơn ông về bài viết thú vị. Tôi
chẳng ân hận gì hết, về cái phần đóng góp của mình, vào lịch sử văn
chương." Tôi thật "mê", câu trả lời.
-Thế là sau đó, ông
quay qua văn chương?
-Tôi học văn chương
với Allen Tate, triết với Richard
McKeon. Giữa hai người, tôi không thể quyết định mê thầy nào hơn thầy
nào. Tôi
mê cả hai. Nhưng rồi, [đại học] Harvard liên lạc với tôi, về một chỗ
học cao
học, và tôi đã phạm một lỗi "dởm", là la lên rằng, "Ôi chao,
Harvard", sao tôi lại ngốc đến thế.
-Harvard liên lạc với
ông? Lúc đó họ đã biết ông rồi à?
-Một người nào ở đó
bảo họ, rằng tôi là một sinh viên xứng
đáng nhận vào môn văn chương so sánh, thế là cái linh hồn bé bỏng, hợm
hĩnh,
ngu si của tôi mắc bẫy. Tôi thật hạnh phúc ở Chicago, và say mê quan hệ với
trường. Tôi
tới Harvard, và chỉ vài tuần là biết ngay mình lầm: cái không khí hàn
lâm ghẻ
lạnh, sự kiện là, nếu bạn không học ban cử nhân ở Harvard, thì chẳng có
ai thèm
biết đến bạn. Đây là một trong những thời kỳ u ám nhất trong cuộc đời
của tôi.
Nhưng tôi có cái liều, từ Illinois
xin học
bổng Rhodes Scholarship thông qua trường Chicago.
Tôi viết thư cho viện trưởng Hutchins – đúng là liều bình phương, liều
lũy thừa
– và nói, đã lâu lắm chưa có sinh viên nào được Rhodes, và tôi có thể
dành một
học bổng cho ông. Ông ta thấy lý thú quá đến nỗi chịu làm một trong hai
người
đề cử tôi.
-Làm thế nào ông
thắng?
-Cú thắng này rất ly
kỳ, gây ám ảnh, đến nỗi cho tới bây giờ
tôi vẫn còn đôi chút hoang mang. Họ phỏng vấn bạn, mãi khuya lắc khuya
lơ, tại
một câu lạc bộ đồng quê. Giống như đối với nhân viên bộ ngoại giao. Họ
gọi tôi
vào phòng, cùng với một người vào chung kết khác nữa, anh này có ngôi
sao vàng
trường võ bị West Point trên cổ áo, và là một tay thủ quân của hai đại
học; họ
nói, sẽ là "một trong hai anh. Các anh có mười phút để sửa soạn một
phát
biểu ngắn gọn trước tiểu ban, cho biết quan điểm của mình, về trường
hợp
Hiss." [Hai vợ chồng bị kết tội gián điệp, trao tài liệu nguyên tử cho
Nga]. (Đó là tháng Chạp 1950, giữa phiên tòa sử lần đầu, và lần thứ
nhì). Anh
chàng hào hoa phong nhã được gọi vô trước, đứng nghiêm chào kính, và
nói,
"Xin lỗi, tôi xin được không trả lời câu này, với tư cách là một sĩ
quan
tương lai, vì vụ án còn đang tái thẩm". Tới lượt tôi, chẳng mảy may
ngần
ngại, tôi khai triển câu trả lời dài của mình: Tôi tin tưởng, một cách
say mê,
rằng bà ta mới là bên phạm tội, và ông ta đang hành sử quyền khai man
trước tòa
một cách ngược ngạo, để bảo vệ bà ta. Tôi khai triển nó vượt quá cả mọi
hiểu
biết, nhưng họ hoàn toàn bị đưa vào mê hồn trận.
Rồi họ nói với tôi,
"Bây giờ, chúng tôi muốn cho anh
học bổng, nhưng vì trở ngại thể chất của anh, không có một môn thể thao
nào.
Anh có mê một môn nào không?" "Ngoại trừ cờ tướng ra," tôi nói,
"tôi còn mê bóng đá Mỹ (American football)." Họ đưa cho tôi cục phấn
– chuyện này tất cả đều thực - và hỏi, tôi có thể chỉ cho họ, sự khác
biệt giữa
split-T, T, và một đội hình đơn-cánh (a single-wing formation). Tôi
nói,
"Chuyện dễ ợt", và tôi cứ thế bắt đầu, và họ nói, "Được rồi, anh
được học bổng." Câu chuyện thực hoàn toàn là như vậy.
Người phỏng vấn: Ông
vẫn còn là một ‘si khách’ (a fan) của
môn bóng bầu dục chuyên nghiệp (professional foobal)?
Steiner: Vâng, và của
bóng bầu dục đại học nữa. Tôi vốn hay
đi coi những trận đấu của [trường] Notre Dame, và Michigan State,
ở ngoài Chicago.
Tôi
[lúc này] nhớ chúng lắm, đành
phải theo dõi trên TV. Tôi mê mệt sự tinh tế của cái đầu, và sự kết hợp
xã hội
phức tạp của môn bóng này. Nói gần nói xa chẳng qua nói thật: đó là lý
do tại
sao tôi trở lại Anh Quốc.
-Sau khi học Oxford,
ông làm việc với tờ Người Kinh Tế (The Economist). Công việc thực sự
của ông ở
đó là gì?
-Viết, viết, viết, và
viết. Tôi trải qua bốn năm tuyệt vời
với tòa báo. Đầu tiên, về khối Liên Minh Đại Tây Dương (NATO) và Tây
Âu, và
rồi, Mỹ. Nhân một tin chuyện (a story), tôi được tòa báo cử qua Mỹ, để
viết về
Uỷ Ban Nguyên Tử Lực, trong đó có cuộc phỏng vấn nhà bác học
Oppenheimer tại
Viện Nghiên Cứu Cao Cấp (the Institute for Advanced Study) ở Princeton.
Vừa
thấy mặt tôi, ông đã nói, ông không thể tin, người thư ký của ông lại
cho cái
hẹn này; rồi ông giao hẹn, chỉ ba phút thôi; rằng ông còn nhiều chuyện
tốt hơn
để làm, đâu có thì giờ thừa thãi ‘hầu chuyện’ mấy anh nhà báo. Sau đó,
ông làm tới,
xát xà- phòng một mách, về ‘cái gọi là báo chí’; thế là tôi phản pháo,
"Nếu ngài tỏ ra ‘trắc ẩn’ một chút xíu, về ‘cõi báo đời’, biết đâu lại
có
một tin chuyện hay, cũng nên!" ("Perhaps, if you were a little more
humane about it, we’d get the story right.") Thế là ông bật cười ha hả.
Vậy là, tôi đi ăn
trưa với George Kennan, và Erwin Panofsky,
và vị học giả lớn lao về Plato, Harold Cherniss. Sau đó Cherniss mời
tôi tới
văn phòng đẹp tuyệt vời của ông, và trong khi chúng tôi ngồi bàn gẫu,
Oppenheimer vô phòng, ngồi bàn đằng sau chúng tôi. Đây là một trong
những mánh
ác độc, trí xảo nhất (one of the most cruel, brilliant tricks): nó cho
phép tay
chơi mánh làm chủ tình hình, trong khi những kẻ bị hỏi chuyện không thể
nhìn
thấy anh ta, và đành chịu trận. Oppenheimer là một bậc thầy của những
cú diễn
xuất như vậy. Cherniss lúc đó đang chỉ cho tôi, cách ông biên tập, cố
trám vô
một đoạn tác phẩm của Plato bị tàn khuyết. Khi Oppenheimer hỏi tôi, sẽ
sử sự
như thế nào, với một đoạn như vậy, tôi bắt đầu lắp bắp, và ông nói, "A,
vậy là ngu lắm. Một bản văn lớn phải có chỗ trống." May phước làm sao,
tôi
hết chịu nổi: "Trong đủ thứ thùng rỗng kêu to, đây là thứ nổ lớn
nhất," tôi nói. "Thứ nhất, đây là trích dẫn Mallarmé, và một người
như ngài, chắc hẳn phải biết. Thứ nhì, đó là thứ nghịch lý ông có thể
đùa giỡn
mãi, cho tới khi trâu bò về chuồng. Nhưng khi biên tập một bản văn của
Plato
cho thường nhân như chúng tôi, tôi sẽ đội ơn vô cùng, nếu các khoảng
trống được
điền vô." Oppenheimer phản công cũng thật ‘tuyệt cú mèo’, "Không,
chính với triết, bạn phải biết rành hơn thơ. Cái thiếu tiềm ẩn là mầm
gây biện
luận. ("No, precisely in philosophy you should know more than in
poetry.
It is the implicit missing that stimulates the argument.")
Đúng lúc đó, người
thư ký của ông bước vô, cho biết xe tắc
xi của tôi đang đợi. Oppenheimer đi kế bên tôi, với lối đi nổi tiếng
của ông,
và hỏi tôi đã lập gia đình chưa; vẫn trong trạng thái ngất ngư ở trên
đỉnh,
"mới đây thôi", tôi trả lời; ông quạt tiếp, "mấy con?"
"À, chưa, chưa có, chúng tôi vừa mới lấy nhau." Ờ," ông nói,
"hay lắm; việc nhà ở dễ lo hơn." Cách tôi nhập Viện Nghiên Cứu Cao
Cấp Princeton là như vậy đấy. Tôi là người đầu tiên, và quá trẻ trong
ngành
nhân văn, được mời nhập viện.
-Như vậy là ông từ bỏ
tờ Người Kinh Tế và trở lại Mỹ?
-Tay chủ bút của tôi
ở Luân Đôn năn nỉ tôi đừng đi; ông vạch
ra rằng, bây giờ họ cho tôi có thời giờ viết lách ngay cạnh Thư Viện
Luân Đôn,
công việc ở tờ Người Kinh Tế chủ yếu chỉ mất có 3 ngày 1/2 mỗi tuần, và
tôi có
thể làm việc riêng. Đó là truyền thống văn nhân ở Anh. Nhưng
Oppenheimer có nói
với tôi, đừng mong làm bán-thời gian mà đẻ ra được những cuốn sách tốt.
Câu nói
như lưỡi sao sắc cắt lịm người tôi. Thực vậy chăng? Bây giờ thật khó mà
nói.
Nhưng lúc đó, nó cắt tôi, ngọt lịm: tính quyền uy của người nói ra câu
đó, sức
thu hút, sự khinh miệt rất ư xác đáng, của một nhận định như thế. Bởi
vậy, tôi
chấp nhận.
-Tại sao sau đó, ông
quyết định trở lại Âu Châu?
-Đây thực sự là câu
hỏi trung tâm, về toàn bộ con người tôi,
toàn bộ công cuộc của tôi. Trước hết, hãy cho tôi làm sáng tỏ một điều,
vốn
thường rất bị hiểu lầm, hoặc được nói tới theo kiểu ngốc. Món nợ của
tôi với
Hoa Kỳ thực là lớn lao. Quốc gia này đã cứu cuộc đời chúng tôi, vào năm
1940,
không chỉ vậy; nó còn cho tôi nền học vấn, quốc tịch Mỹ của nó, và học
bổng Rhodes. Vợ tôi là người sinh đẻ
ở Nữu Ước; con cái của
tôi, chúng đều là những nhà khoa bảng trẻ ở Hoa Kỳ. Trong 27 năm, tôi
là người
phê bình cho tờ The New Yorker (Người Nữu Ước). Hàng năm, tôi tới Hoa
Kỳ chừng
vài lần, để thuyết trình, giảng dậy, và gặp gỡ gia đình và bè bạn.
Tuy nhiên, cũng hoàn
toàn thực, là tôi muốn sống và làm việc
ở Âu Châu. Công việc của tôi bám quanh một điều kiện đa ngôn ngữ. Điều
quan tâm
số một của tôi, có lẽ là câu hỏi về mối tương quan, giữa chúng ta và
ngôn ngữ
của mình; mối tương quan nội tại của chúng ta, với những ngôn ngữ mà
chúng ta
nói, và điều kiện của người đa ngữ, vốn là điều kiện không hiếm hoi gì,
ngược hẳn
với vô số lập luận ngu si. Tại Thụy Điển và Phần Lan, đa số dân chúng
trưởng
thành hoàn toàn trong cái nôi hai ngôn ngữ. Tại một thung lũng ở phía
bắc nước
Ý, người ta nói tiếng Ý, tiếng Đức, và phương ngữ (local dialect). Trên
thế
gian này, ở nhiều nơi, con người sinh ra trong cái nôi đa ngôn ngữ. Đối
với
tôi, chuyện này là cơ bản. Tiếng Pháp, tiếng Đức, và rồi tiếng Ý – được
thêm vô
sau đó: tôi sống trong chúng, tôi viết trong chúng, tôi nằm mơ trong
chúng.
Điều đơn giản đối với tôi là Âu Châu ban cho hoàn cảnh khả dĩ đa ngữõ.
Đặc biệt
ở Geneva,
trong
cuộc sống của tôi ở Pháp – cái phần hoài hoài trong hiện hữu của tôi;
tôi tiếp
xúc với nhiều tầng lớp của bản thân, [trong khi] ở Hoa Kỳ đơn ngữ tôi
không thể
có được.
Thứ nữa, tôi tuyệt
đối bị mê hoặc bởi lịch sử, bởi tính cổ
xưa của những đô thị và phong cảnh Âu Châu. Tôi chẳng bao giờ có thể,
chẳng bao
giờ có đủ thông minh, để đáp ứng với những không gian rộng lớn của hoàn
cảnh
Mỹ. Vứt tôi tại bất cứ một xó xỉnh Âu Châu, là tôi có thể nói cho bạn
biết,
trong phạm vi chừng vài cây số, xó xỉnh này thuộc về xứ nào: cái mùi,
cái giọng
nói, những cái tên, ánh sáng trên cây, trên tường những căn nhà. Mật độ
huy
hoàng và bi đát của hiện hữu, áp lực hiện hữu được cảm nhận (this
pressure of
felt being), đối với tôi, đây đơn thuần là bản năng, ta không lý luận
về nó.
Toàn phần cung cách con người tôi, dường như tuyệt đối là vậy.
Nhưng tất cả những
điều đó thực sự chỉ là mặt nổi. Có một lý
do cơ bản, bất di bất dịch. Nó là một giai thoại, và là phần số [đối
với tôi].
Heidegger nói một cách hung hãn, rằng giai thoại là kẻ thù của lý trí.
Phải,
trong một cung cách, nó là như thế, nhưng tôi đành chịu tội [là kẻ thù
của lý
trí]. Tôi là một người kể chuyện, và tôi mê chuyện. Thời gian đó, tôi
có hai
cháu, trước mắt chẳng biết kiếm đâu ra tiền, lại mới bậm vô một công
việc cô
đơn, là [tác phẩm] Sau Babel; hai đại học Mỹ tỏ ra thật rộng lượng, mời
tôi phụ
trách môn văn chương so sánh. Thế là tôi vù đi gặp cha tôi, lúc đó bịnh
quá
rồi, tại Nữu Ước. Chúng tôi tới một quán mà ông rất thích ngồi, Căn
Phòng Sồi
(the Oak Room) ở Plaza: một nơi mang chất Âu Châu tuyệt vời, và cũng
thật cổ
kính. Vẫn cái bàn ông đã từng ngồi, lần đầu tiên, vào năm 1924, khi ông
viếng
thăm nước Mỹ. Tôi xin ý kiến của ông. Tôi liệt kê lợi thế của đại học
A, so với
đại học B, ông rất lịch sự lắng nghe – ông là một người rất nghiêm
khắc, khó
khăn – và ông nói, tôi mới là người quyết định, lẽ dĩ nhiên; và rồi,
sau một
hồi lặng thinh, ông nói, "Thật là buồn, Hitler đã thắng." Điều ông
muốn nói, là Hitler đã thề, rằng Âu Châu sẽ sạch bóng Do Thái, rằng sẽ
không có
một mống Steiner nào ở đó nữa. Ngay đêm đó, tôi điện thoại cho nhà tôi,
nói,
thà tôi là một giáo viên, một công nhân hãng xưởng, bất cứ một giống gì
ở Âu
Châu, còn hơn là lại phải nghe một lời khinh miệt như vậy của cha tôi.
Tôi
không thể chịu nổi. Làm sao tôi đủ sức chịu nổi cả ‘một trời khinh miệt
buồn
bã’ (the immense world of sad disdain), qua nhận xét đó. Tôi biết là
cha tôi
đúng. Ông đã hy sinh đời ông để cứu chúng tôi, để cố gắng cứu những
người khác,
và con trai của ông không bị đẩy ra khỏi đó, trong bất cứ một tình
huống nào.
Tôi là một người của
hồi nhớ. Ở trung tâm tác phẩm của tôi,
là toan tính: tới sau Lò Thiêu, theo nghĩa văn học, dưới góc cạnh văn
hóa,
triết học. Được ở lòng vòng đâu đó, với tất cả những cái bóng, những
hồn ma và
tro than, những thứ đó thì đầy rẫy ở đây [Âu Châu]. Điều này có phần
phi lý;
những người biên chép vĩ đại - như Raul Hilberg, Elie Wiesel – đã chọn
làm điều
này, từ một căn cứ Mỹ. Còn tôi thường xuyên trở về những nơi chốn người
thực
việc thực. Tôi cũng thường trở lại cái làng của cha tôi ở Tiệp Khắc.
Tôi đã tới
những trại tù. Tôi cứ trở lại hoài - hầu như do bản năng - với ngôi
trường của
tôi ở Paris.
Trong lớp học của tôi hồi đó, chỉ có một đứa trẻ Do Thái sống sót, cũng
là do
may mắn, may mắn thuần tuý. Âu Châu dường như là nơi tôi phải ở để làm
công
việc của tôi, giảng dậy, và suy nghĩ.
-Có bao giờ ông nghĩ
tới chuyện sống ở Israel?
-Có những buổi sáng,
ở Jerusalem,
tôi tự hỏi chính mình, "Tại sao mi không ở đây?" Với tôi, nó là một
câu hỏi thật phiền nhiễu, và cũng thật khẩn cấp. Trọn đời, tôi luận
chiến chống
lại [chủ nghĩa] Zionism, bởi vì tôi chán ghét chủ nghĩa quốc gia, bởi
vì tôi là
một thứ tự kiêu về sắc tộc. Tôi là một kẻ phân biệt sắc tộc tới chân
răng kẽ
tóc, ‘theo một nghĩa đạo hạnh’ [của từ này]. Nói vậy có nghĩa, với tôi,
sự
kiện, rằng một người Do Thái phải tra tấn một con người khác, như trong
trường
hợp công an mật vụ Israel đã làm, là ‘để sống sót’: một điều tôi không
thể sống
nổi với nó, theo một nghĩa thuần lý. Dường như đối với tôi, nó là một
điều quá
kinh khủng. Nếu có ai hỏi tôi, tại sao lại như thế - mật vụ Do Thái tra
tấn
người tồi tệ hơn bất kỳ một người nào khác [tra tấn người] - tôi sẽ nói
là đối
với tôi, nó tồi tệ vô cùng. Chúng tôi là những con người, bởi sự bất
lực của
chính mình, bởi chính mình bị săn đuổi, nên có cái đặc quyền và tính
quí tộc
phi thường, là không tra tấn ai, là không làm cho người khác trở thành
kẻ không
nhà.
Nhiều năm trước đây,
tôi chui vô đứng phía sau những thính
giả trong một buổi thuyết giảng của Edward Said, ở đại học Columbia. Chúng
tôi chỉ biết mặt nhau; ông ta
thấy tôi, và làm ra vẻ không nhận ra, ông nêu lên cuốn sách kiệt xuất
của
Martin Buber, Tôi và Người (I and Thou), và nói: "George Steiner có thể
sẽ
thú vị, khi biết rằng cuốn sách này được viết ra, trong căn nhà mà cha
mẹ tôi
và tôi đã bị tống ra khỏi, vào một đêm nào đó, (tôi nghĩ), đó là vào
năm 1948.
Và tôi hiểu ra một điều, ông ta đã thắng, theo một đường hướng khủng
khiếp,
theo một đường hướng hầu như siêu việt, đặc quyền chế nhạo, móc họng
đó. Chúng
tôi, những người Do Thái chưa hề là đề tài của sự móc họng như vậy, bởi
vì sự
bất lực, theo một nghĩa ngược ngạo. Nhưng với tôi, cây có rễ, người có
chân, và
đây là một lợi thế lớn lao vô cùng. Chúng ta là những vị khách, lẫn
nhau, vì
nhau, khi chúng ta di động trên mặt đất. Viễn ảnh này, về Do Thái giáo,
chạy từ
Jeremiah tới Trotsky, một trong những khuôn mặt vĩ đại nhất khác nữa
của chủ
nghĩa quốc tế Do Thái – Trotsky, kẻ tiên tri; Trotsky, một người đã tin
tưởng
rằng mọi biên cương sẽ bị bãi bõ; kẻ đã chết vì một cái rìu bổ băng,
tại
Mexico, sau khi bị săn đuổi suốt hai mươi xứ sở. Hiện ắt phải còn một
vài người
Do Thái không thực tế đến mức phi lý, còn sót lại trong cái thế giới
bóng đen
vĩ đại Âu Châu, họ ít ra cũng còn tưởng nhớ đến một nền văn minh còn
vang bóng.
Theo nghĩa đó, tôi giản dị không có đặc quyền, hay khả năng, hay tài
năng để
góp phần vào cuộc sống Mỹ, như là tôi cảm nghĩ tôi có thể, với cuộc
sống ở Âu
Châu.
Người phỏng vấn:
Nhưng chắc chắn có điều gì liên quan tới
tính cách của cuộc sống trí thức và văn chương Mỹ, và nó làm ông giãn
ra.
Steiner: Vâng. Tôi
viết một tiểu luận được tái đăng nhiều
nhất và bị ghét bỏ – trong số những gì tôi viết, đây có lẽ là bài bị
ghét bỏ
nhiều nhất – tên là "Thư Khố Vườn Địa Đàng" (The Archives of Eden),
trong đó tôi dướn mãi cổ lên mà nói rằng những bảo tàng viện, thư khố,
những
viện nghiên cứu, đại học Mỹ sẽ là trung tâm của thế giới văn hóa, sống
nhờ nghệ
thuật, triết học, siêu hình học của Âu Châu. Nói vậy có nghĩa, rằng
những
Wittgenstein, những Heidegger, những Sartre của trái đất này sẽ vẫn
tiếp tục
tới, từ một Âu Châu tự sát, bị moi ruột, tan hoang rã rời; rằng tác
phẩm loại
nhì - chứ không phải loại nhất - đang làm đầy văn hóa Mỹ, và cứ thế
tràn lan ra
mãi; rằng de Tocqueville đã đúng, khi ông nói về một chủ nghĩa đồng
hạng sâu
xa, cố hữu, (a deep inherent egalitarianism) ở trong những hy vọng của
tâm hồn
Mỹ; rằng cái thứ công lý xã hội và chủ nghĩa đồng hạng, và phép lịch sự
(decency) – hãy gạch dưới từ này bằng tám cây bút chì đỏ! – trớ trêu
làm sao
[lại tỏ ra] thù nghịch với một vài phẩm chất triết học dứt khoát thuộc
loại
thượng hảo hạng và có lẽ [thù nghịch cả với] sáng tạo nghệ thuật.
Về chuyện này, những
người Mỹ sẽ nói, đúng thôi, rằng họ
đang dẫn đầu thế giới, về vũ ba lê. Tôi không phải là một ông tòa,
nhưng tôi
hoàn toàn chiều theo một nhận định như vậy – hay là một nhận định cho
rằng hiện
nay có một vài nhà soạn nhạc rất tốt: không phải một Schoenberg, không
phải một
Bartok, không phải một Stravinsky, nhưng một người nào đó, quan trọng
cỡ Elliot
Carter hay là Aaron Copland. Lẽ dĩ nhiên, lên danh sách kiểu này thật
là ngu
xuẩn, và chẳng dẫn tới đâu. Đây là một câu hỏi về linh cảm, về bản
năng. Có thể
tôi lầm, nhưng tôi vẫn chưa thấy rằng mình được thuyết phục. Báo chí Âu
Châu sẽ
vẫn đưa lên trang nhất, một biến cố triết học, hay một cuộc tranh luận,
hay là
cái chết của một tư tưởng gia xuất sắc. Không gian như có dây tơ, réo
rắt điệu
vũ tư tưởng (There is a density to the atmosphere, a vibrato of ideas).
Hãy cho tôi trình bầy
theo kiểu khác. Từ mút phía tây Portugal
tới St. Petersburg,
bạn có những
"cafés", nơi bạn có thể tới vào buổi sáng, kêu một ly cà phê, hay một
ly rượu chát, suốt ngày đọc những tờ báo trên thế giới, chơi cờ, hay
viết lách.
Thư mục về những cuốn sách tuyệt vời, viết ở quán cà phê, thì thật là
khổng lồ.
Có những người luôn luôn làm việc theo kiểu này, và rất khoái như vậy.
Bạn
không thể có những quán cà phê như thế ở Moscow,
một thành phố ở biên cương Á Châu. Đường ranh có thể sẽ thật rạch ròi: Odessa có lẽ là
giới hạn
chót của "café". Tôi thuộc loài "café’, không phải loài tiệm
rượu (pub creature). Quán rượu Anh là một con vật hoàn toàn khác biệt,
và
"bar" Mỹ lại càng là một con vật quá đỗi khác biệt. Tôi ở nhà, tại
bất cứ nơi đâu, ở Âu Châu, bởi vì ngay lúc tôi vào quán cà phê, hoặc là
có một
bàn cờ, thách một người khác, hoặc gọi báo đọc, những tờ báo gắn vào
những
thanh gỗ cổ kính, khi đọc ta phải cuốn cho tròn. Đó mới là thứ xã hội
bình đẳng
nhất trên thế giới, bởi vì chỉ cần trả một ly cà phê hay một cốc rượu
chát là
bạn mua được cả một ngày ngồi bàn, viết lách, làm bất kỳ chuyện gì. Sau
những
bài giảng của tôi ở Geneva, những sinh viên của tôi biết rất rõ, tôi sẽ
ngồi ở
đâu để uống ly cà phê thứ nhì buổi sáng, hay là một cốc rượu vang
trắng, họ có
thể tới, và tán gẫu với ông thầy. Đó mới là nơi cuộc sống trí thức sáng
ngời.
Đó là những vấn đề
gai góc; thật chẳng có cách chi để mà ‘cò
kè’, với những đam mê, hoặc những lỗi lầm nghiêm trọng của mình. Con
cái tôi,
chúng sẽ nói Mỹ là tương lai, và có thể đã là hiện tại. Chúng đã chọn
lựa, tôi
tự hào về chúng và rất vui được thường xuyên viếng thăm. Nhưng hồi ức
thì thật
là mãnh liệt, cái học Tây, còn đầy. Tại sao tôi không đi về thiên đàng?
Rõ ràng
là, tôi tới thiên đàng vì những lý do đạo đức, nhưng còn có những lý do
rất ư
thực tế nữa: "Tôi đã ở thiên đàng rồi." Thiên đàng là gì? Là Phòng
Trưng Bầy Tranh (Galleria) ở Milan.
Tôi đang ngồi với ly phê cappuccino, thứ thiệt, trước mặt tôi là (tờ
báo) La
Stampa, là (tờ báo) Frankfurter Allgemeine, tờ Thế Giới (Le Monde), và
tờ
Times. Trong túi tôi là chiếc vé đi coi La Scala, và mũi tôi thì ngào
ngạt
chừng cả tá mùi vị thật khó phân biệt tại Galleria này: mùi sô cô la,
mùi bánh
nướng, mùi sách vở của chừng 20 tiệm sách (những tiệm sách thuộc loại
số một
trên hoàn vũ), tiếng chân người bước về phía hí viện (oprea), hay những
rạp hát
tối nay; cung cách Milan rung lên quanh bạn. Tôi đang ở thiên đàng, bởi
vậy tôi
đâu cần một thiên đàng thứ nhì nữa.
Trung Tâm Lincoln không giống như vậy, đối với tôi. Tôi yêu
và chiêm ngưỡng "the Met" [The Metro Museum of Modern Arts, Viện Bảo
Tàng Nghệ Thuật Hiện Đại Nữu Ước], nhưng vấn đề không phải như vậy.
Chúng ta là
những sinh vật phức tạp và mảnh đất nội, cảnh thổ của toàn bộ con người
tôi, là
Châu Âu, và có thể, có lẽ – tôi biết chứ – đó là cảnh thổ của một Châu
Âu đã
mất rồi.
-Nơi nào trên thế
giới hiện nay, có thứ viết lách hạng nhất?
-Đông Âu, và Mỹ Châu
La Tinh, theo tôi nghĩ, hầu như chẳng
chút nghi ngờ. Viết lớn, nghĩ lớn [thường] nở rộ dưới sức ép. Suy tư là
một
công việc cô độc, ung thư, cõi riêng, khật khùng: khả năng tập trung
sâu thẳm,
xoáy mãi vào bên trong. Rất ít người biết suy tư: suy tư tập trung thực
sự là
điều khó nhất trên đời, và nó lợi vô cùng, nhờ sức ép. Được hỏi về sự
kiểm
duyệt Ca-tô giáo, Joyce nói, "Cám ơn Trời, có nó. Tôi là trái ô-liu,
hãy
vắt tôi đi." Được hỏi tại sao không rời bỏ thành phố Buenos Aires nguy
hiểm,
thời kỳ Peron đang nắm quyền, đổi lấy một địa vị ở đại học Harvard, nhà
văn,
nhà thơ mù Borges mỉm cười nói: "Kiểm duyệt là mẹ của ẩn dụ". Không
phải tôi nói ra những điều này, mặc dù tôi bị tấn công rất nhiều vì
chúng; đó
là những con sư tử, đó là những con người biết suy tư là cái giống gì,
và biết
thế nào là thứ viết lách loại tối hảo.
Có lẽ trong một thời
gian, vẫn có những thứ viết ghê gớm, từ
những quốc gia mới được tự do. Nhưng nó nhạt nhòa tức thì. Jackie
Collins đang
làm đầy những khung cửa sổ mà Tolstoy, Dostoevsky, và Gogol đã có lần
làm đầy.
Những người trẻ nói, "Hãy cắt bỏ ba thứ đồ cổ". Họ muốn cuộn băng
videocassette vừa mới ra lò. "Văn hóa cao của bạn ghê thấy mẹ", họ
nói; ‘người ta tọng vào cổ chúng tôi. Chẳng ai hỏi chúng tôi có ưa
Goethe hay
là không. Chúng tôi ghê tởm ông ta." Tôi biết điều đó. Tôi không đến
nỗi
ngu chùm đầu. Trong trường hợp đó, tôi sẽ thấy ngay, mình là loài khổng
tượng,
một thứ quan viên, phần còn sót lại của một nền văn hóa ưu tú cao cấp.
Tôi biết
điều đó.
Nhưng đâu là sự dị
biệt thực sự giữa tôi với hầu hết những
đồng nghiệp người Mỹ? Tôi có thể kính trọng, và thích hợp, với bất cứ
ai, nếu
người đó sống niềm tin của mình (anyone who lives his beliefs). Sống
niềm tin
của mình là một điều rất nguy hiểm. Tôi vừa mới cho xuất bản tại Pháp,
một cuốn
sách gồm những cuộc đối thoại – về [đề tài] Abraham và Antigone – với
một trong
những người sống sót lớn lao nhất, sau cùng, thoát khỏi phát xít Pháp,
một
khuôn mặt rất nổi tiếng, Pierre Boutang, một triết gia cực tả. Chúng
tôi khác
biệt nhau, về mọi điều, ngoại trừ điều này: sự kính trọng hỗ tương, và
khả năng
tranh luận (debate) những dị biệt của nhau, bởi vì ông ta đã đem cuộc
sống của
mình ra để mà chứng minh, còn tôi thì cố gắng sống trọn những điều mình
tin
tưởng. Điều tôi không thể chịu nổi, đó là một chủ nghĩa bình dân-dân
chủ
(democratic populism) được rao lên, được mời chào, được tuyên bố, bởi
những
người bản thân mắc nợ đủ thứ văn hóa cao, những kẻ sống cuộc đời đặc
quyền, đặc
lợi bên trong những hang động hàn lâm, và cố tình ăn theo cả hai mặt.
Thời kỳ xẩy ra những
vụ rắc rối nổi tiếng 1968 và 1969, tôi
có mặt ở vài điểm nóng bỏng nhất – đại học Harvard, Frankfurt – nhưng
những
sinh viên tuyệt đối kính trọng một người theo Platon không chịu cải tạo
(an
unreconstructed Platonist), như là chính tôi. Tôi chẳng gặp rắc rối gì
hết. Họ
thù ghét, họ bất đồng, nhưng họ hiểu rằng tôi say mê thâm chứng chủ
nghĩa
Platon đó. Họ tới, chỉ để tỏ sự khinh miệt với những kẻ nào muốn tru
theo chó
sói. Sinh viên có thể nhìn, xuyên qua thói đạo đức giả, như xuyên qua
một chiếc
ly thuỷ tinh không mờ mờ. Họ biết những kẻ nào chỉ cố làm điều: làm họ
hài
lòng, làm họ phổng mũi. Bạn không thể ăn theo cả hai mặt. Một người mà
cõi mơ,
mà tình yêu, mà bực rọc, mà đời thường, mà truyền thông: là Plato, là
Bach, là
Shakespeare, là Wittgenstein: người đó không thể giả đò: tôi là một
loài bình
dân. Chính điều này làm tôi buồn nôn. Nếu tôi phải đụng đầu với một
người như
Camille Paglia, bà cho rằng Jimi Hendrix thì quan trọng hơn là
Sophocles, hay là
nếu tôi gặp một người thực lòng sống một kiểu sống như thế đó, với tất
cả những
hiểm nguy của nó, tôi chỉ có việc ngả mũ chào. Tôi có thể không đồng ý
với họ.
Thí dụ, tôi cũng đã tin, rằng nhạc kim khí nặng và nhạc rock là sự phá
huỷ mọi
im lặng, mọi hy vọng về niềm trầm lắng, hướng nội của con người. Nhưng
nếu có
người bảo tôi, rằng họ là tiếng nói của tương lai, rằng họ đang sống
điều đó,
rằng họ không giả đò làm điều đó từ căn biệt thự mầu trắng có vách bảo
hộ, có
vườn rộng, được chăm sóc, vậy là có sự kính trọng hỗ tương, không khó
khăn gì
hết. Tôi phát điên lên, vì thói rởm đời của ngành nghề chúng tôi, thói
rởm đời,
sự giả hình máu me: vừa muốn lợi dụng hai mặt, vừa muốn chạy tru với lũ
chó sói
chính phái chính trị, [nguyên văn: PC wolves (những con chó sói chính
trị chính
phái. PC: politically correct] để được yêu vì.
-Vậy thì, hãy đồng ý
rằng có những tác phẩm lớn. Hãy đồng ý
rằng chúng ta có thể nói, một cách thông minh, về những người [được coi
là]
những nhà văn vĩ đại nhất. Những người viết hảo hạng hiện còn sống, là
những
ai?
-Người ta thường lầm
lẫn, về điều này, trong thời đại của
mình. Edmund Wilson hầu như đã nhận ra điều này, khi cho hai nhà văn
lớn kết
đôi với nhau: Proust và Faulkner, Yeats và Joyce. Ông ta có cây ăng ten
tuyệt
hảo hạng. Tôi tin rằng [nếu trong văn học sử], tôi là một cước chú của
một cước
chú của một cước chú (if I’m a footnote to a footnote to a footnote),
thì cước
chú đó sẽ là: George Steiner đã tranh đấu rất sớm cho một nhà văn như
Paul
Celan. Và René Char, người mà tôi tin là một nhà thơ ngất ngưởng chót
vót trên
thi đàn Pháp, khi thế kỷ 20 này kết thúc. Đây là một vấn đề rất khó.
Người nào
đọc 10 trang cuốn Toàn Bầy Tuấn Mã (All the Pretty Horses) của Cormac
McCarthy,
người đó có ấn tượng là một Faulkner tái hiện. Tôi cố đọc lại 10 trang
đó:
không thể. Bạn bắt đầu bị chết nghẹn vì những máy móc công thức, của
một tặng
phẩm huy hoàng. Nó là một tặng phẩm không thể ngờ được. Có những trang
văn xuôi
trong tác phẩm của McCarthy ngay lúc này là một thứ văn xuôi điện giật,
hung
bạo nhất, phát hiện nhất, được viết ra. Tôi nghĩ là ban giám khảo còn
vắng mặt,
chưa quyết định. Tôi muốn thử đọc lại McCarthy. Tôi cũng sẽ không đưa
ra những
bảng danh sách, theo kiểu của Harold Bloom. Tôi thù ghét kiểu thao diễn
như
vậy. Điều làm tôi hoảngï, là những điểm đặc thù. Trong những tiệm sách
Anh,
thời kỳ sách tồn kho bán đại hạ giá, cho những cuốn tiểu thuyết đầu
tay, là 17
ngày. Vậy thì đâu là cơ may cho một cuốn thuộc loại khó khăn, thuộc
loại độc
đáo? Làm sao những cuốn sách thuộc loại khó đọc hơn, có thể sống sót,
qua cái
mùa siêu thị những giá trị văn hóa, khi chúng chiếm một chỗ thật ngắn
hạn trên
kệ sách, khi không được thổi phồng, thiếu những màn tiếp cận thị
trường? Làm
sao chúng sống sót sự chuyển kiếp, sách biến thành dĩa, thành CD-ROM,
một tân
thế giới [của những cách thức, phương tiện] tiếp cận bản văn? Tôi có
thể tưởng
tượng ra những sách học làm người, những cuốn sách thể thao, thời sự:
chúng cứ
thế nở rộ. Những cuốn sách hướng dẫn viện bảo tàng, chúng thật quá tốt.
Nhưng tôi
không chắc, rằng một Proust, một Musil, một Broch, một Faulkner lại có
một tí
bóng ma của cơ may ở đây. Điều này làm tôi lo. Việc bãi bỏ thời gian
cần thiết!
(The abolition of the necessary time!). Thời khốn kiếp chi đâu: bạn và
tôi, tất
cả mọi người chẳng còn một tí thời gian, cho bất cứ một chuyện gì, dù
có đủ cả,
nào điện thoại, nào điện thư (faxes), nào thư điện tử (E-mails). Chúng
ta thiếu
hụt thời giờ thực thụ, nhưng quan trọng hơn, thiếu hụt không gian dành
riêng
cho mình, thứ không gian không bị ai quấy rầy, mà những người trước
chúng ta đã
có.
-Ông nói tới máy fax,
điện thoại, máy điện toán. Hãy nói về
những công cụ của việc viết, và cung cách theo đó, kỹ thuật ảnh hưởng,
hay
không ảnh hưởng, vào công việc của chính ông?
-Vâng, tôi say mê tay
nghề cụ thể, đích thực của việc viết.
Tôi là loài buổi sáng. Tất cả những việc làm tốt nhất của tôi đều nhắm
vào buổi
sáng, đặc biệt lúc sáng tinh sương, khi cái đầu của tôi, và tính mẫn
cảm tỏ ra
hữu hiệu nhất. Tôi đọc và ghi chú vào buổi chiều, rồi sau đó, phác họa
bản viết
dành cho sáng hôm sau. Buổi chiều là thời gian để nạp điện. Tôi viết
bằng những
cái máy đánh chữ cổ lỗ sĩ. Tờ Tạp chí Paris (The Paris Review) có một
sưu tập
lớn nhất về ba chuyện thông cảm như thế này, trong bất cứ lần in ấn
nào. Thực hết
sức phi lý, nhưng tôi mê loại giấy viết khổ lớn; ở Mỹ, họ gọi là khổ
"pháp
định" ("legal" size). Nó trước đây vốn được bán tại bất cứ một
cửa hàng văn phòng phẩm nào, nhưng bây giờ bạn phải đặt trước. Tôi
thường đánh
máy theo lối xít hàng (single-space), trên những tờ giấy lớn đó, đánh
thật dở,
đánh đại, chẳng thèm phân đoạn. Đây là thứ ra lò đầu tiên, được đánh
máy một
cách ngây ngô, cục cằn. Bản thứ nhì sẽ là cách hàng (double-space), bắt
đầu
dùng loại giấy khổ thông thường, nhưng vẫn còn cả lố những chữ viết tay
thêm
vô, và những sửa chữa. Vậy là, theo một kiểu tức cười, bản phác thảo
của tôi là
xít hàng, đánh trên giấy khổ lớn; tôi không biết trò này bắt đầu khi
nào, nhưng
tôi đã làm vậy trong nhiều, nhiều năm và tôi cứ đi đi lại lại trong căn
phòng như
một con gà mái mất bầy con, khi không có được cái thứ giấy khổ kỳ cục;
một cách
nào đó, nó tương xứng với cung cách mà tôi nhìn một vấn đề.
-Cách ông sửa [bản
thảo]?
-Ở mặt trái, hay ở
lề. Bản thảo tiếp theo, vẫn còn rất thô
bạo, là cách hàng, vì vậy, tôi sửa ở giữa hai dòng chữ.
-Ông viết ở đâu, và
khi nào?
-Ở bất cứ chỗ nào.
Tôi làm chuyện đó ở phòng khách sạn nếu
có máy đánh chữ kế bên. Bây giờ tôi có rất nhiều văn phòng: một cái
thật đáng
yêu ở Geneva, ở đây, nơi bạn đang ngồi, căn phòng của tôi ở Churchill
College
[thuộc] Đại học Cambridge, và bây giờ, tôi sẽ xách cái máy đánh chữ tới
St.
Ann’s College, thuộc Đại học Oxford. Nói theo kiểu đó, tôi thật là may
mắn: môi
trường chung quanh chẳng làm phiền tôi. Tôi lại lắm thư từ. Và ngay mặt
này, tôi
đa số viết tay. Tính trung bình một ngày, tôi nhận chừng 10 hoặc 12 lá
thư.
-Ngày đặc biệt, ông
viết bao nhiêu thư?
-Bốn hoặc năm, và
trong rất nhiều trường hợp, chỉ là một lời
xin lỗi ngắn ngủi, do đã không trả lời. Tôi không làm theo kiểu thiệp
in sẵn của
Edmund Wilson: "Tôi xin lỗi vì tôi không thể trả lời". Bởi vì tôi
viết về quá nhiều điều, bởi vì tôi nhắc tới quá nhiều cuốn sách và
những người
viết khác, nhận thư hoài, để hỏi tôi tìm cái này cái nọ ở chỗ nào, hỏi
kiếm đâu
ra để đọc, về một người viết riêng biệt. Những người đó, tôi luôn luôn
trả lời.
Đây, tôi nghĩ, là một thứ luật đạo đức, đối với tôi.
-Ông có những nghi
thức đặc biệt nào không, khi bắt đầu
viết?
-A, thực sự có chứ.
Đúng là một câu hỏi tốt; bạn làm cho tôi
nhận ra điều này đấy. Trước khi khởi đầu một cuốn sách mới, hay là một
tiểu
luận dài, tôi sẽ lấy một trang văn xuôi loại hàng đầu, trong một ngôn
ngữ thích
ứng, và đọc một cách trầm lắng trước khi khởi sự viết. Nhưng nó sẽ
chẳng liên
quan tới đề tài tôi viết.
-Ông đọc lớn đoạn văn
đó?
-Vâng, và hầu như học
thuộc lòng - tôi thực may mắn về
chuyện này – tôi có thể học thuộc lòng rất nhanh, ngay cả với văn xuôi.
-Trí nhớ của ông là
thuộc loại chụp ảnh (virtually
photographic)?
-Nó được tôi luyện
thật kỹ. Chúng tôi khởi sự, khi còn là
một đứa trẻ năm hoặc sáu tuổi, trong một trường Pháp, với mười dòng mỗi
tuần,
về một bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine, và cuối cùng là một trăm năm
chục dòng
mỗi tuần, khi tôi mười bẩy tuổi – chẳng khó khăn gì hết. Tôi vẫn còn
thuộc lòng
rất nhiều Racine
của tôi. Vậy thì vâng, đây là một nghi thức. Sau này, thí dụ, khi tôi
đang viết
Những Hiện Diện Thực (Real Presences), tôi thường bắt đầu chính mình
bằng cách
lấy một trang của Coleridge. Nó tác động tuyệt vời lên tôi. Tôi có một
ấn
tượng, về một âm nhạc của tư tưởng (a music of thought), vượt quá cả
tầm mình.
Với tiếng Đức, thì thường là một bài thơ, với tiếng Ý, gần như ngày nào
tôi
cũng đọc Dante. Ông đi cùng với tôi hoài hoài, hoài hoài.
-Tôi thấy mắt ông
sáng rỡ, khi nói về nghi thức của ông;
thật ngọt, thật tuyệt. Vậy là cái việc viết sau cùng, thực sự, hoàn
toàn đem
lạc thú cho ông?
-Không, không, nhưng
tôi thực may mắn. Hành động viết thường
làm tôi vui tràn trề. Có những lúc, tôi cảm thấy chết khiếp, khi nghĩ
tới thời
hạn chót phải đưa bài, nhưng ít khi xẩy ra chuyện này. Một trong những
đặc
quyền trong 27 năm ở tờ Người Nữu Ước (The New Yorker), là tôi tha hồ,
muốn
viết về đề tài nào là viết.
-Ông có nhờ ai cố vấn, khi đang viết?
-Không bao giờ. Đó là
một lỗi lầm. Tủ sách Đại chúng (The
Every’s Library), lần thứ nhất cho ra một bản Cựu Ước, và tôi được yêu
cầu viết
một lời tựa dài. Mất cả một mùa hè. Tôi không phải là một người rành
tiếng Do
Thái Hebrew, hay là một nhà học giả về kinh thánh; bây giờ vấn đề tế
nhị là gửi
mười phóng bản cho những chuyên gia, và nhờ họ chỉ giùm những sai sót
tôi đã
phạm phải. Có lẽ lần này tôi sẽ làm điều này, một điều trước đây tôi
chưa hề
làm - với phí tổn của tôi. Đây đúng là đi ngược lại với khuynh hướng
làm việc
theo trào lưu hợp tác hiện thời. Tôi nghĩ một trang viết - nó hát, nó
sống ở
trong chúng ta - như vậy phải là một hành động tự biên tự diễn thật
hoang dại;
thật khùng, nếu tự mình làm tất cả. Thật khùng khi nghĩ rằng bạn có một
điều gì
mới để nói về Cựu Ước, ới Thượng Đế ơi! Bao nhiêu cuốn sách đã viết về
nó nhỉ?
Hàng trăm ngàn? Tôi thật đoán cũng không nổi; chúng họp thành cơ man là
thư
viện. Vậy thì làm sao bạn lại khùng như thế? Làm sao, sau Proust và
Joyce và
Kafka và Faulkner, bạn có thể ngồi xuống và viết một cuốn tiểu thuyết?
Tôi
chẳng bao giờ hiểu hoàn toàn. Câu trả lời: bạn phải [ngồi xuống và
viết]. Và
cái "bạn phải" này là một ung thư "riêng", một cục u
"tư", của linh hồn (a private tumor of the soul). Nó không phải là
một hành động tập thể, như là trong những ngành khoa học.
-Có lần ông nói với
tôi, rằng The Portage "đã viết
ông", như thể ông là một người thư ký ghi chép lại. Trước đó, hoặc kể
từ
đó, ông đã từng kinh nghiệm một điều như thế?
-Tôi có kinh nghiệm
này, ở một vài trang sách. Cái đoạn ở
trong Sau Babel, về những điều dối trá như là giây phút sáng tạo lớn
lao, và về
tư tưởng: rằng 20,000 ngôn ngữ là phương thức đáp ứng, nhằm thoát khỏi
cõi đơn
điệu là cuộc sống, mỗi ngôn ngữ cho bạn một viễn ảnh khác biệt về thế
giới –
đây là năm hoặc sáu trang sách, về những gì chưa từng có ai nói ra, và
cũng
chưa từng có một người nào đồng ý. Đoạn cuối Antigones, cũng là do
chính cuốn
sách tự viết. Nhưng toàn một cuốn, có thể là The Portage.
-Ông đã nhắc tới cuốn
Cựu Ước trong Tủ Sách Đại chúng. Ông
có thể nói cho chúng tôi một điều gì, về những dự án hiện thời của ông?
-Vâng, tôi vừa hoàn
tất – ôi sung sướng làm sao! – một cuốn
sách nhan đề là Homer trong tiếng Anh (Homer in English), từ Caxton tới
Walcott, bốn trăm năm chục năm, những tuyển chọn từ những bản dịch
Homer, những
bản phóng tác, bắt chước, châm biếm, nhại, mô phỏng. Đây là lịch sử
ngôn ngữ
Anh và cảm tính từ đầu thời Trung Cổ tới ấn bản mới được xuất bản, tập
ba và
bốn của Christopher Logue; từ ấn bản Caribbean của Dereck Walcott, tới
những ấn
bản Tô Cách Lan, ấn bản Ái Nhĩ Lan, Welsh và Mỹ. Đây là bản văn được
dịch thuật
nhiều nhất, qua bất kỳ một ngôn ngữ, còn nhiều hơn là thánh kinh. Kể từ
bước
mgoặt thế kỷ mười bẩy, không năm nào mà không có một người cho xuất bản
một
Iliad, một Odyssey, một thánh ca mang chất Homer, hay là những trích
đoạn. Kể
từ năm 1945, chúng ta có 14 bản Iliad và Odyssey toàn tập, tại Mỹ và
Anh, và
một bản mới của dịch giả Robert Fagles hiện đang được in ấn.
-Ông còn viết gì khác
nữa không, vào lúc này?
-Dự án chính, một dự
án nó làm tôi miệt mài sáng đêm, mồ hôi
chẩy ròng ròng, đó là Những Bài Giảng Gifford. Tôi đã quá hết sức cảm
động, hết
đỗi ngạc nhiên và được vinh danh, khi được mời thuyết giảng về triết
học ở cấp
hàng đầu trong thế giới phương Tây này. Tôi thấy mình ngu si làm sao,
khi bất
thình thình nghĩ rằng, tôi sẽ ở trong cùng danh sách với Henri Bergson
và
William James và Bertrand Russell và tất cả những triết gia hiện đại
quan trọng
nhất! Đã có thỏa thuận, tôi sẽ viết và cho xuất bản những bài giảng
này, đây là
những bài giảng tôi đã đưa ra vào năm 1990. Vậy là một công việc lớn
đang ở
trước mặt. Nó là một nhiệm vụ lớn.
-Trong số nhiều vấn
đề khác nữa, phải chăng những bài giảng
[còn] liên quan tới vấn đề siêu việt (transcendent)?
-Vâng, chúng có tên
là Những V