Nguyễn Quốc Trụ
phụ trách
PHỎNG VẤN
|
Edward
Said
Từ
30 năm nay, E. Said là người phê bình văn học, giảng
dậy Đại Học, và có uy tín nhất trên thế giới trong việc giải trừ chủ
nghĩa thực dân trong văn hóa, khi đứng ở địa vị một nhà trí thức nhược
tiểu phương Đông, phê phán văn chương, và học thuật của phương Tây,
trong
việc mô tả và trình bầy xã hội châu Phi, châu Á.
Phỏng vấn dưới đây, do Eleanor Wachtel thực hiện cho đài CBC Radio
(Canada); được in trong (More) Writers & Company (nhà xb Vintage
Canada, 1997).
Edward Said không đơn giản. Khi cố gắng mô tả ông, tôi đụng
những nhãn hiệu thật chỏi nhau. Ông là tín đồ Ky-tô, Ả-rập Palestine;
thân phụ phục vụ trong quân lực Hoa-kỳ thời kỳ Đệ Nhất Chiến. Một nhà
khoa
bảng sống tại Mỹ trong 40 năm qua, thành viên, tiếng nói trực tiếp của
Hội đồng Quốc gia Palestine (Palestinian National Council) từ
1977-1991; tuy nhiên ông không tin cậy chủ nghĩa quốc gia, lên tiếng
chỉ trích Sađam Hussein và bênh vực Salman Rushdie.
Học tại Princeton và Harvard, giáo sư môn văn chương so sánh, ông mê
nhất, những cuốn tiểu thuyết trong đó ông chỉ ra, nào là chủ nghĩa phân
biệt sắc tộc, chủ nghĩa đế quốc, cũng như tinh thần phe nhóm, địa
phương.
Tiếng tăm quốc tế của ông, là từ cuốn Chủ nghĩa Đông-phương,
Orientalism (1978), một cuốn sách gây tranh luận, và làm bực mình. Một
cuộc khai
quật, mổ xẻ thái độ của Tây-phương đối với Hồi-giáo và Đông-phương, và
cùng với nó là điều mà Said mô tả: "một màng lưới phân biệt sắc tộc,
nguyên
mẫu văn hoá, và ý thức hệ phi nhân." Ngoài ra, Said còn chính trị hóa,
điều vốn giản đơn được coi là "văn chương so sánh". Cuốn sách trở thành
đề tài hội thảo, và được dịch ra 15 thứ tiếng.
Cuốn sách xuất bản năm 1993 của ông, "Văn hóa và Chủ nghĩa Đế quốc",
đặc biệt là do tham vọng và tính uyên bác của nó. Như một nhà điểm sách
nói về ông: "Said là một, trong số đếm trên đầu ngón tay, những nhà phê
bình lớn lao, mang tính nhân bản, vượt biên cương, bờ ngăn".
Trong cuốn sau, Said phân tích tác phẩm của Austen, Thackeray, Dickens,
Eliot, Kipling, Conrad, những tác giả khác, và khẳng định rằng: thời
đại hoàng kim của tiểu thuyết Anh mắc míu ngay từ khởi thuỷ với sự
thành
lập Đế quốc Anh. Rằng biện minh cho chủ nghĩa đế quốc nằm ngay trong
tim trong hồn giấc mơ văn hóa Tây-phương. Ông còn đi xa hơn. Ông nghiên
cứu thật tỉ mỉ văn chương những cựu thuộc địa, và vẽ ra bản đồ lịch sử
cuộc đề kháng, và cùng với nó, là văn chương phản ảnh cuộc kháng chiến
đó. Ở đây, ông lại đi sâu, và xa hơn, trên cái nền của cuốn trước,
Orientalism.
Said tiếp tục kếp hợp phê bình văn hóa với nghiên cứu chính trị, người
đọc hiển nhiên nhận ra điều này, trong hai bài viết năm 1996: "Đại diện
cho người Trí thức (Representation of the Intellectual)", và "Hòa bình
và Bất mãn: Những tiểu luận về Palestine trong Tiến trình Hòa bình
Trung
Đông (Peace and Its Discontents: Essays on Palestine in the Miđle East
Peace Process").
Vào năm 1992, bác sĩ phát hiện, ông bị bệnh hoại huyết (leukemia). Bệnh
chỉ làm ông cất cao tiếng nói. Nó cũng làm ông phải thực hiện một
chuyến thăm viếng Jerusalem, nơi chốn ra đời, và khởi sự viết hồi ký về
cuộc đời trước 1967 của ông.
Bài phỏng vấn được thực hiện tại văn phòng của ông tại Đại học Columbia
vào ngày 26 tháng Hai, 1993; đúng ngày Trung tâm Thương mại Thế giới
bị ăn bom.
Wachtel: Ông từng nói, cái nền của ông là một chuỗi những đổi dời, di
xứ, và không thể vãn hồi. Rằng cái cảm quan ở giữa những nền văn hóa
bám riết ông. Có lẽ chúng ta nên lần theo những đổi dời, bắt đầu bằng
nơi chôn rau cắt rốn: Jerusalem, thời Palestine. Ông cảm thấy ở giữa
những
văn hóa, khi còn là một đứa trẻ?
Said: Đúng như vậy. Tôi sinh ra ở Jerusalem, cha tôi là từ Jerusalem,
nhưng ông thuộc mẫu người khá lạ. Sống ở Hoa Kỳ trước khi lấy vợ. Ông
trốn đi lính cho Thổ Nhĩ Kỳ, qua Mỹ vào năm 1911 hay 1912. Họ tính bắt
ông đi đánh nhau ở Bulgaria, tôi nghĩ vậy. Lúc đó ông 16 hay 17 tuổi.
Sau đó, ông gia nhập quân đội Hoa Kỳ, vì nghĩ rằng sẽ được đi chiến đấu
chống Thổ Nhĩ Kỳ. Thực sự, ông gia nhập quân đội Canada, rồi bỏ ngũ, vì
biết họ sẽ không đưa ông qua Trung Đông. Sau đó mới tới quân đội Hoa
Kỳ. Ông chiến
đấu ở Pháp, và bị thương ở đó. Thành công dân Hoa Kỳ. Sau chiến tranh
chừng
một năm, khoảng 1919, ông trở lại Palestine, làm ăn chung với một người
bà con. Cuối thập niên 1920, ông có một cơ sở kinh doanh sách vở và đồ
dùng
văn phòng tại Ai Cập. Tôi sinh tại Jerusalem vào năm 1935, khi đó cha
mẹ
tôi đi đi lại lại giữa Palestine, và Ai Cập. Tôi không sống nhiều ở
Palestine, và ở bất cứ nơi nào, là vì vậy. Chúng tôi lúc nào cũng di
chuyển. Có thể, đầu năm Ai Cập, giữa năm Palestine, cuối năm ở Lebanon,
nơi đây chúng
tôi có một căn nhà. Lại thêm, có cha là công dân Hoa Kỳ, tôi thừa hưởng
cùng lúc hai thứ, Hoa Kỳ và Palestine. Tôi sống ở Ai Cập, mà không phải
là người Ai Cập. Tôi cũng giống cha, một mẫu người phức hợp kỳ cục. Đây
là hồi ức sớm sủa nhất của tôi.
Wachtel: Ông cũng đã từng coi mình là một thiểu số trong một thiểu số.
Said: Cha mẹ tôi đều là tín đồ Tín Lành (Protestants) ở Palestine. Điều
này thực sự có nghĩa, họ bị tách rời khỏi khối đa số tín đồ Ky-tô
(Christians), khối đa số này lẽ dĩ nhiên lại là thiểu số trong một xã
hội thiết yếu là Hồi-giáo. Hầu hết tín đồ Ky-tô giáo ở Trung Đông - hay
ít ra ở vùng Levant - là theo Chính Thống giáo Hy Lạp (Greek Orthodox),
nhưng cha mẹ tôi lại là con cái của những người đã cải đạo, không còn
giữ gốc Chính Thống Giáo Hy Lạp. Cha tôi, qua cha của cha tôi, trở
thành tín đồ Anglican - một Episcopalian. Má tôi - qua ông già của bà -
trở
thành Baptist. Đây là một trong những điều lý thú từ những phái đoàn
truyền giáo mà ra. Khi tới Palestine, Lebanon, Jordan, và Syria vào
những năm
1850, họ đã thất bại, không làm sao cho những người Hồi giáo hoặc
Do-thái chuyển qua Ky-tô giáo; đây là điều họ định làm; thay vì vậy,
cuối cùng họ chuyển những tín đồ Ky tô từ khối đa số qua những tân giáo
mới như
trên.
Wachtel: Một đứa bé, lại ở giữa những nền văn hoá như thế, thì sao?
Said: Tôi phải nói sự thực, một cách "thực thà, lương thiện nhất": thật
thê thảm. Hồi ức đeo đuổi hoài hoài, ngay từ bé: mình là thứ trôi sông
lạc chợ (a misfit). Xấu hổ trần ai. Tôi luôn luôn bức xức về liên hệ
của mình với người khác, như thể lúc nào cũng muốn được như họ, hoặc
Hồi
giáo/Ai Cập, hoặc Hồi giáo/Palestinian. Và tôi luôn luôn có cảm giác
(mình)
hoàn toàn không đúng. Cuốn sách tới của tôi có tên là "Không Hoàn Toàn
Đúng" (Not Quite Right). Tôi luôn luôn nghĩ rằng, mình có đây là để trả
giá cái điều đó (I was being made to pay for it), cách này hoặc cái
khác.
Tôi quên không thêm vô một yếu tố quan trọng: tôi luôn học, trường Anh
hoặc trường Pháp. Thành thử ngoài vấn nạn căn cước Arab, còn chuyện do
học hành mà ra. Vào cái tuổi mười ba, mười bốn, có thể nói là tôi biết
mọi điều về lịch sử Anh, hay Pháp. Nhưng tôi chẳng biết gì về nơi tôi
đang sống. Đó là phong cách học (style of education). Đây là một sự mất
thoải mái thường xuyên. Gia đình tôi khu trục nó, bằng cách tạo vỏ bọc
chung quanh chúng tôi. Chúng tôi khác biệt nhau một cách không bình
thường, và chúng tôi - bốn chị em và tôi - mỗi đứa có những loại quà
khác nhau. Hậu quả
là chúng tôi sống trong một thế giới giả đò (a make-believe world), và
thế giới này không có liên hệ gì tới: a/ thực tại, b/ lịch sử và thực
tế
nơi chốn mà chúng tôi đang sống.
Wachtel: Nói chung là ông không hòa đồng được với một số bạn bè. Như
tôi được biết, khi gia đình ông chạy qua Cairo vào năm 1947, ông đã
trải qua vài tháng tại một ngôi trường có tên là "Eton của Trung Đông",
dành cho con nhà quyền quí, trong đó có ông vua tương lai của Jordan,
King of Hussein, và tài tử Omar Sharif.
Said: Vào thời học chung, tôi không biết anh sẽ là một tài tử nổi
tiếng. Anh là đầu đàn trong trường, lớn hơn tôi bốn hoặc năm tuổi, và
thường chỉ chơi với đám nhỏ như tôi. Học sinh ở đây được phép có thầy
riêng. Và bị đòn không ít. Ngày đầu tiên tôi đã bị đòn vì nói chuyện
trong
lúc cầu nguyện. Thầy toàn người Anh, họ đều tỏ ra khinh bỉ học trò như
tụi tôi. Luôn luôn có chiến tranh giữa hai bên. Đó là những ngày cuối
cùng người Anh còn hiện diện tại Ai Cập, thành thử mấy ông thầy coi như
họ là những người còn lại sau cùng, đại diện cho cả một đế quốc. Nói
chung thật không vui vẻ một tí nào, vài năm sau (ở đây ghi là vài năm,
trong
khi câu hỏi, vài tháng. CTND), tôi bị đá văng ra khỏi trường.
Wachtel:
Tại
sao?
Said: Thì bị gán cho là hạnh kiểm xấu, thực sự là, luôn gây rối trong
lớp, chọc tức mấy ông thầy. Bây giờ nhìn lại, tôi có cảm tưởng những
ông thầy là những người lính già mệt mỏi của Đệ Nhị Chiến. Nếu họ quay
lưng
về phía lớp học, là nó biến thành bãi chiến trường - chúng tôi thô bỉ
không thể tưởng tượng được - và họ chỉ còn một cách lắc đầu. Họ là
người Anh
(British), và không thể hiểu những điều chúng tôi nói bằng tiếng Ả Rập.
Một sự kiện quan trọng: khi tới nhập học, chúng tôi được phát một tập
kỷ yếu, trong đó là những luật lệ; luật thứ nhất: tiếng Anh là ngôn ngữ
ở trong trường, và nếu học sinh bị bắt gặp đang nói tiếng Ả Rập, hay
một
ngôn ngữ khác, người đó bị đánh đòn, hoặc bị nhốt. Bởi vậy chúng tôi
nói
tiếng Ả Rập là để tấn công thầy giáo. Ông già tôi sau đó quyết định,
nếu có cố cho tôi trở lại trường Anh, thì cũng như không. Thế làụ ông
tống tôi qua Mỹ, vào một trường thanh giáo chán không thể chịu được, ở
New England. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy tuyết, vẻ đẹp của nó.
Wachtel: Nhưng trường học là một thảm họa?
Said: Nó thật kinh khủng. Nhưng do tôi khá khôn, lại học được, nên
họ không thể đuổi. Tôi không nói tên trường, vì nó thật sự nổi tiếng.
Bạn phải thức dậy vào giờ ma họp chợ (ungodly hour), và làm những
chuyện như vắt sữa bò, hoặc đủ thứ chuyện "thánh thiện" khác. Nhưng do
tôi đã
được cái lò Anh (the English system) huấn luyện quá kỹ, cho nên mọi thứ
đều là trò trẻ con đối với tôi. Mấy chuyện còn lại đều quá tệ. Vả
chăng,
ngay cả ở đó, tôi cảm thấy mình không hợp với hệ thốngỉ. Có thể là do
bản
chất, tôi không thích nó, hoặc trong tôi thiếu, cái gọi là hệ thống.
Bởi
vậy sau hai năm, tốt nghiệp, với điểm cao nhất, tôi vẫn không được ngợi
khen hoặc công nhận giá trị. Khi cố hỏi, họ nói tôi không hội đủ điều
kiện
đạo đức. Và tôi chẳng bao giờ tha thứ cho họ về chuyện coi thường luật
lệ
học vấn, do chính họ đặt ra, khi phải đối diện với thành quả của tôi.
Wachtel: Ông coi cuốn "Văn hóa và Chủ nghĩa Đế Quốc" như một cuốn
sách của lưu vong. Như thế, ông đúng là một con người mà những quan tâm
hiện thời được "kiểm tra một cách chặt chẽ" bởi cuộc tranh chấp giữa
văn
hóa từ đó ông được sinh ra, và văn hóa ông đang sống. Ông có nghĩ, theo
một nghĩa nào đó, chúng ta đều là những kẻ lưu vong trí thức. Ông có
coi
lưu vong là một sự kiện hồ hởi?
Said: Tôi không biết bất cứ một điều kiện nào khác, để mà nói ra sự
thực với bà. Năm nay tôi 57 tuổi. Năm ngoái tôi trở lại Palestine, sau
45 năm xa nó. Đi với vợ con. Chúng tôi có trở lại căn nhà nơi tôi ra
đời. Thật dễ chịu khi được nhìn lại căn nhà, sau bao năm tháng như thế
đó, nhưng cũng thật rõ ràng: tôi không thể trở lại. Tôi thực sự không
hiểu được thế nào là cảm thấy hoàn toàn ở nhà. Tôi cứ giả dụ, như nó là
những trái nho chua chát, và có lẽ cũng chẳng đáng tìm kiếm làm chi.
Wachtel: Tôi nghĩ là, ngay từ khởi thuỷ, ông đã cố tách rời, văn chương
và chính trị. Một bên là nghiên cứu văn học Anh theo lối trường lớp,
và một bên là những quan tâm chính trị của ông. Tôi nghĩ, ông có một
cuộc
sống rất là "schizophrenic" (thần kinh bại liệt), như ông đã từng gọi.
Làm cách nào, ông kiếm ra con đường để nối kết những điều ông quan tâm?
Said: Sự kiện (cần nói ra là), chúng ta sống trong thế giới. Đây là vấn
đề thời-cơ (time and right event). Trong trường hợp của tôi, đó là Cuộc
Chiến 1967. Lúc đó, tôi là một bậc mô phạm gương mẫu; tôi làm toàn
những điều phải, điều đúng - học trung học, đại học, lấy bằng Ph. D.,
có việc làm, tạo môi trường bạn bè, có sách xuất bản - và rồi 1967: thế
giới mà tôi biết đó vỡ vụn ra. Thêm nhiều phần đất Palestine, phải nói
là phần còn lại của Palestine, bị Do Thái tước đoạt - West Bank, và
Gaza
- và bất thình lình, tôi cảm thấy mình bị cuốn hút vào khu vực này. Tôi
chưa từng dậy môn văn chương Trung Đông - Tôi có dậy vài cuốn sách Ả
Rập,
qua bản dịch, nhưng cơ bản mà nói, mọi sáng tác của tôi là về văn
chương
Tây-phương. Thế là tôi bắt đầu tự làm quen với chính mình, với cái phần
đời bị đàn áp, hủy diệt, tức phần lịch sử đời tôi như là một người Ả
Rập.
Tôi làm được vài chuyện. Tôi đi Trung Đông khá thường xuyên. Lấy vợ ở
đó.
Một người đàn bà Trung Đông. Và lần thứ nhất trong đời, tôi lo học,
nghiên
cứu một cách hệ thống ngữ văn (philology) Ả Rập, và những tác giả cổ
điển
thuộc truyền thống Ả Rập. Vào thời điểm này, lực lượng Palestine đụng
độ nặng nề với những người Jordanians. Bởi vì phần lớn gia đình tôi
sống ở
Jordan, tôi tới viếng thăm bà con ở Amman vào năm 1970. Ở đó, tôi gặp
một
số bạn bè cùng học trung học, người Palestine, họ đã trở về và gia nhập
lực lượng. Thật là một cú sốc đối với tôi. Và cứ thế tôi càng ngày càng
dính líu tới phong trào, khi nó chuyển tới Beirut (thời gian những năm
1970,
gia đình tôi ở đó). Tôi ngày càng quan tâm tới những vấn đề chính trị
trong
cuộc chiến đấu của người Palestine. Lẽ tự nhiên, trong đó có cả quan
tâm
tới những giải pháp cho nỗi đau bị tước đoạt, lưu vong, cuộc chiến
chính
trị cho nhân quyền, chiến đấu để nói lên điều không thể nói lên được.
Tất
cả mớ bòng bong, và rồi cuốn sách của tôi, Orientalism, đã thoát thai
từ
kinh nghiệm đó.
Wachtel: "Chủ nghĩa Đông-phương" là một trong những cuốn tạo ảnh hưởng
nhất của ông. Trong đó, ông đưa ra vấn đề: những người Ả Rập hay thế
giới Đông-phương đã được tiêu biểu như thế nào, trong và bởi, những
người Tây-phương. Cơ bản mà nói: nó đã được tiêu biểu sai
(misrepresented).
Said: Có tiêu biểu là có là sai lạc, hoặc thế này hoặc thế khác. Nhưng
trong "Chủ nghĩa Đông-phương", tôi khẳng định một điều rằng: những quan
tâm trong việc tiêu biểu hóa Đông-phương qua cái nhìn Tây-phương, đều
nằm trong sự kiểm soát của đế quốc, và đây là những "đặc quyền" của nó.
Tôi
cố gắng chứng tỏ: cuộc xâm lăng Đông-phương, bắt đầu với Nã Phá Luân,
vào
cuối thế kỷ 18, và tiếp tục khi Anh và Pháp cứ thế ăn sâu vào Đông
phương,
nó đã tạo nên mầu sắc, và hình dáng cho cái gọi là tiêu biểu hóa
Đông-phương bằng cái nhìn Tây-phương. Điều này chẳng mắc mớ gì tới cách
giải thích, vào thế kỷ 19, của đa số những nhà khoa bảng chuyên nghiên
cứu về Đông-phương - đặc biệt là những giáo sư người Đức, cũng có cả
những giáo sư người
Anh, và Pháp. Theo họ, nó (sự tiêu biểu, cái nhìn Đông-phương bởi
Tây-phương) mang tính khách quan, và khoa học. Thực sự, đây là vận hành
của quyền
lực, và kiểm soát thường xuyên, liên tục đám dân mà họ cố gắng cai trị.
Wachtel: Những những hình ảnh - những biếm họa (caricatures) của một
Đông-phương không thể nào chiếu giọi, một phương Đông huyền bí, tính
quỉ ma, sự ghê rợn của thế giới Ả Rập - tại sao chúng "cần thiết được
tạo
ra"?
Said: Tôi nghĩ, ở đây sự ngu dốt, thiếu hiểu biết đã đóng một vai trò
lớn lao. Đã có một sự thù nghịch, và nó ngăn cản điều mà tôi gọi là
sự trao đổi bình thường giữa những văn hóa. Một trong những điều thực
sự
quái lạ, đó là có một sự liên tục bướng bỉnh, ngu đần giữa những cái
nhìn
Âu-châu về Hồi Giáo ở thế kỷ 12, và những cái nhìn Âu-châu về Hồi Giáo
của thế kỷ 18, 19, và 20: chúng cứ thế, không thay đổi. Trước hết, tôi
khẳng định: không có một Đạo Hồi, Islam, thuần nhất, và giản dị. Có rất
nhiều tín đồ Hồi giáo (Muslims) và rất nhiều cách để giải thích Đạo Hồi
(Islam) - đây là chủ đề một cuốn sách khác nhan đề là "Covering Islam"
(Tạm dịch: "Theo dõi Hồi giáo"). Có một khuynh hướng, luôn luôn muốn
đồng
hóa, gói tròn cái khác, một điều gì đó, do ngu dốt, một phần; ngoài ra
còn do sợ hãi, bởi vì những đạo quân Ả Rập đã tiến vào Âu-châu, và bị
đánh
bại ở thế kỷ 14, và 15. Thành thử ý nghĩa này đã có từ lâu rồi. Thứ
nữa,
lẽ dĩ nhiên, còn bộ ba tín ngưỡng nhất thần: Đạo Hồi là sau chót, trong
ba tín ngưỡng nhất thần lớn (hai đạo kia là Do-thái giáo và Ky-tô
giáo).
Theo một nghĩa nào đó, sự liên hệ gần gũi giữa người Ả Rập, thế giới
Hồi-giáo
với Âu-châu đã phát sinh từ một điều khó chịu, mất thoải mái. Thật dễ
hiểu:
con người, khi đứng trước dị biệt, thường miêu tả cái đó nguy hiểm, cái
đó đáng sợ, cuối cùng giản đơn nó về một vài bản kẽm có sẵn.
Điều này thực đáng sợ. Rằng trọn lịch sử tạo thành Đông-phương đang
được giảm trừ, cho nên, bây giờ, trong báo chí Tây-phương, thí dụ vậy,
những gì mà người đọc về Đạo Hồi, về thế giới Ả Rập, đã được tối giản
một cách ghê sợ, và được hóa trang, giả mạo, như là lịch sử của hai
hoặc ba trăm năm liên hệ gần gũi giữa những người Âu-châu, và về một
mức độ nào
đó, những người Mỹ, một bên, và bên kia, là những người Ả Rập và những
người Hồi giáo. Như thể cả hai luôn ở trong thế đối diện, ở giữa họ là
con mương rộng lớn, và cứ thế đôi bên ném đồ ăn hư thối vào nhau.
Watchtel: Chuyện này không thể thay đổi?
Said: Không. Và ngày càng tệ. Khi có khủng hoảng, như Cuộc Chiến Vùng
Vịnh, và trên cái nền "chuyện thường ngày ở huyện" của giới truyền
thông báo chí Mỹ, những bản kẽm như trên ngày càng trở nên hết hấp dẫn,
mất
đi dần sự tha thứ, tính xác thực của chúng. Càng ngày, chúng càng không
đáp ứng thực tại có thể chấp nhận được, mang tính nhân bản. Đạo Hồi ở
Tây-phương là nguyên mẫu sắc tộc, văn hóa cuối cùng có thể chấp nhận
được;
bạn có thể rũ bỏ mà không cần nghĩ làm như vậy là sai, hay phải lo
ngại,
sợ hãi.
Wachtel: Tại sao ông lại nghĩ nó là như vậy?
Said: Có nhiều lý do, nhưng tôi nghĩ nguyên nhân chính là không có
sự ngăn ngừa. Không một người phương Tây, hay nói như thế này, không
một người Bắc Mỹ nào hiểu biết nhiều về thế giới Hồi giáo. Nó ở ngoài
kia, nó
chủ yếu là sa mạc, (ở đó có) rất nhiều cừu, lạc đà, những con người
miệng ngậm dao, những tên khủng bố, vv... Gia tài văn hóa, những cuốn
tiểu thuyết, và những cuốn sách khác xuất hiện bằng tiếng Anh không hề
quan tâm, để
ý tới nó. Chẳng có gì ngăn chặn người ta ở đây nói điều họ mong muốn.
Về
mặt khác, những người Ả Rập và những người Hồi giáo không thực sự hiểu
những phương thức chính trị về biểu thị văn hóa ở Tây Phương. Hầu hết
những
chế độ ở trong thế giới Ả Rập lại mang tính độc tài cơ bản, rất không
được lòng dân, những chế độ thiểu số hoặc loại này hoặc loại khác; họ
không
quan tâm khi nói bất cứ một điều gì về chính họ, bởi vì như vậy là bắt
buộc
chường mặt ra để biện minh, về những chỉ trích. Những huyền thoại về Mỹ
Châu, và Tây Phương trong thế giới Ả Rập đã được bản kẽm hóa, tất cả
những
người Mỹ đều quá ám ảnh bởi sex, họ có cẳng dài, họ ăn rất nhiều. Hậu
quả
là, nơi đúng ra có con người, lại chỉ thấy trống không, nơi đúng ra có
trao
đổi, đối thoại, cảm thông, lại chỉ có một thứ không-trao đổi tệ hại.
Wachtel: Một trong những mâu thuẫn bề ngoài, phức tạp của đời ông, đó
là: mặc dù là thành viên chính quyền-lưu vong Palestine, một quán quân
trong vấn đề giải phóng Palestine, ông lại tỏ ra không thoải mái với
chủ nghĩa quốc gia.
Said: Chủ nghĩa quốc gia thật dễ thoái hoá, biến thành chủ nghĩa sô
vanh (chauvinism). Khi bạn bị tấn công ba bề bốn bên, nhất là trong
những phong trào như của người Palestine, khi mà chúng tôi không thực
sự có nhiều bạn bè; nó dễ trở thành co cụm, và coi tất cả mọi người
không suy nghĩ như nó, đều là kẻ thù. Đây là trường hợp đối với những
người Palestine sống trong thế giới Ả Rập. Thật quá dễ hiểu. Đã có một
thời, là một người Palestine là một điều thực phong nhã, cao cả. Nhưng
thế giới Ả Rập ngày càng bị thu hẹp, giản trừ, cùng với nó là nghèo
đói, kinh tế, xã hội
phân hóa. Mọi người quá mệt mỏi vì cuộc chiến đấu kéo dài quá lâu. Lại
thêm vấn đề nghi ngờ lẫn nhau. Cứ thế họ càng trở nên co cụm thành
những
nhóm nhỏ, đồng nhất, tin tưởng nhau. Hãy nhìn chuyện xẩy ra ở Nam Tư,
nơi
vốn được coi là một nhà nước đa văn hóa, đa ngôn ngữ; nó đã thoái hóa
đưa
đến thanh lọc chủng tộc (ethnic cleansing). Cũng chuyện như thế xẩy ra
ở Lebanon, nơi một xã hội đa nguyên (pluralistic society), với những
người
Ky-tô và Hồi, cuối cùng đã trở thành một cuộc tắm máu hàng ngày, vì cái
điều được gọi là tấm căn cước, như người ta thường gọi tại đây. Nếu bạn
bị hỏi căn cước, và nếu bạn có một cái tên sai, một tôn giáo lầm, bạn
sẽ
bị bắn, hoặc bị cắt cổ.
Tôi sợ rằng, những chuyện không vui về chủ nghĩa quốc gia cũng đang ló
diện tại những xã hội như Hoa Kỳ, và có thể ở Canada cũng vậy. Những
cộng đồng sắc tộc khác nhau đang cảm thấy vấn đề làm thế nào để bảo
tồn, gìn giữ căn cước của riêng họ, chống lại sự tấn công của những kẻ
khác. Chính trị căn cước biến thành chính trị phân biệt, và người ta cứ
thế lui vào pháo đài. Tôi có cảm tưởng quái đản là "một người nào đó"
đang khoái chuyện này, thường là những người ở trên cao, vốn thích
chuyện giựt dây những
cộng đồng, khiến họ chống đối lẫn nhau. Nó cổ điển, và là luật chia để
trị
của đế quốc. Thí dụ như ở Ấn Độ, bạn có trong tay người Sikhs, người
Muslims,
người Hindus phụ thuộc vào bạn, và nghi ngờ những người ái quốc. Đó là
tất
cả cái phần gọi là tiến trình của chủ nghĩa quốc gia. Về điều này, tôi
tự
cảm thấy chẳng vui vẻ một chút nào hết.
Wachtel: Như vậy là những chuyện quá đa đoan phức tạp đã khiến cho ông
ở vào thế đi trên dây, bởi vì ông phải bước hai bên, không chỉ về
chính trị, mà còn theo kiểu, của một kẻ đánh động, đưa ra những giải
pháp
cho chủ nghĩa đa văn hóa, và kinh điển văn học (the literary canon).
Một
mặt ông hô hào chuyện cởi trói (opening things up), một mặt ông bảo vệ
qui
tắc văn chương, kinh điển văn học.
Said: Tôi bảo vệ điều mà tôi gọi là tác phẩm tốt (good work). Nguyên
tắc chính của tôi khi đánh giá một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ, hay
một vở kịch, không liên quan gì tới căn cước cá nhân người viết ra tác
phẩm. Căn cước cá nhân, cũng thú vị đấy, nếu biết được, nhưng đây không
phải là giải pháp chính cho vấn đề. Một cá nhân "may mắn" thuộc loại có
mầu da "đúng", có giới tính "được", có quốc gia "ngon", như vậy không
có
nghĩa là tác phẩm của người đó tốt, tuyệt. Có lẽ bà đã nghe nói về
Hanan Ashrawi, một phụ nữ Palestine, phát ngôn viên của Phong Trào Giải
Phóng Palestine, PLO. Bà là một sinh viên của tôi, và đã có viết một
luận án văn chương về West Bank dưới sự chiếm đóng. Bà đã nhận ra một
điều, là một
người Palestine, và viết về (cái việc) bị chiếm đóng, bị thống trị, như
vậy không có nghĩa là sáng tác ra được một bài thơ hay, hoặc một cuốn
tiểu
thuyết tốt. Đấy là vấn đề, và nó thật quan trọng.
Tôi không nói, như thế là không chủ quan. Phải rất chủ quan, nếu
quyết tâm viết ra một tác phẩm tốt. Tôi thường đụng hoài với những
người nói về khách quan tính, nhất là trong giới truyền thông. Bởi vì
hiển nhiên, mọi chuyện trên đời đặt trên cái nền diễn giải mang tính
chủ quan.
Theo một nghĩa nào đó, khi nói về phẩm chất là nói về chủ quan tính.
Không
ai có thể nói cho bạn, rằng cuốn sách này lớn lao, vĩ đại, "bạn phải
tin
như vậy, bởi vì tôi nói ra điều này". Đây là vấn đề của tra hỏi, nghiên
cứu. Theo tôi, một cuốn sách hay đòi hỏi một cái đọc kỹ, đọc đi đọc
lại,
cứ mỗi lần đọc lại có thêm thú vị, hoặc là do nó mở rộng phần ý thức,
tăng
khiếu thưởng ngoạn, cảm tính hay gì gì đi nữa, một tác phẩm kém không
đạt
được như vậy. Chúng ta ai cũng có kinh nghiệm này. Bạn đọc một cuốn
tiểu
thuyết của Danielle Steel - như tôi thường đọc - bạn đâu cần phải đọc
lại,
nhưng nếu bạn đọc một cuốn của Dickens, bạn muốn trở lại với nó.
Wachtel: Ông có trích dẫn Walter Benjamin: Mọi tài liệu về văn minh đều
là một tài liệu về dã man. Một cách nào đó, cuốn "Văn hóa và Chủ nghĩa
Đế quốc" là bàn về vấn đề này.
Said: Đúng như vậy. Một tác phẩm lớn lao không có nghĩa là nó tất yếu
ngây thơ, vô tội, hoặc nó chẳng mắc mớ gì đến điều thô bỉ, tởm lợm. Khi
"Văn hóa và Chủ nghĩa Đế quốc" của tôi xuất hiện tại Anh, thế là có một
trận bão phê bình điểm sách nổi lên. Rất nhiều người trong số đó cho
rằng họ bị sỉ nhục, rằng một tác giả thánh thiện như Jane Austen thì có
liên can gì tới đế quốc, nô lệ, mặc dù cái điều này không phải là tôi
bịa
đặt ra mà chính bà đã nói tới. Tôi không nói là bà kém tài văn đi, là
vì
điều này. Tôi chỉ muốn nói là tất cả những tác phẩm nghệ thuật cũng
giống
như con người đều mắc míu tới cái gọi là kém hấp dẫn, dã man, hoặc lúc
này lúc khác, chỗ này chỗ nọ. Điều này thật dễ nhận ra trong những tác
phẩm
thuộc loại qui chuẩn của thế kỷ 19 tại Âu-châu. Chúng ta đều bị vướng
vào
chuyện nô lệ, đế quốc qua những gì được nói về chúng. Tôi không tin đây
là chuyệỉn khó hiểu. Câu hỏi đặt ra là: một khi bạn nhận ra điều này,
bạn
làm gì với nó? Bạn muốn đè bẹp nó, hay là bạn cho rằng có gì đâu mà
phải
quan tâm, để ý.
Wachtel: Ông nói, ông không muốn là một người khắt khe, nhưng ông lại
tránh đọc văn chương cổ điển, theo nghĩa chúng là những tác phẩm tuyên
truyền cho thực dân thuộc địa?
Said: Tôi không đọc chúng theo cách đó. Trong cuốn sách, tôi nói, thật
lầm lẫn nếu giản trừ những tác phẩm cổ điển như thế, vào một bảng danh
sách dài những trường hợp này nọ, của chủ nghĩa đế quốc. Hoặc nói đây
là những tác phẩm mang tính đế quốc. Chúng đâu phải như thế. Chúng là
một phần của văn hóa đế quốc, và một phần của tiến trình - như những lý
thuyết gia về đế quốc thường nói - liên can tới không chỉ những hành xử
ghê tởm nhất nhưng còn tới vài sắc thái tốt đẹp nhất của một xã hội.
Rất
nhiều người thật sáng chói đã liên can tới đế quốc: những nghệ sĩ lớn,
như
Delacroix; những nhà văn lớn, như Flaubert. Lẽ dĩ nhiên, trong mỗi
trường
hợp, bản chất, mức độ liên can khác biệt nhau, và cách nhìn của họ thật
là khác biệt. Họ chẳng có gì là như nhau, và đây là lý do tại sao có
rất
nhiều nghiên cứu tìm hiểu, trong những cuốn sách của tôi, trong cả hai
cuốn
"Văn hóa và Chủ nghĩa Đế quốc" và "Chủ nghĩa Đông-phương". Tôi không cố
gắng chứng tỏ: họ đều là đế quốc, nhưng mà là: họ đưa ra những cái nhìn
khác nhau về thế giới đế quốc, trong những tác phẩm của họ. Họ chi li,
chau
truốt nó, đem đến cho nó một vài loại cảm giác, sự thích thú; như
Kipling
đã làm với (tác phẩm) Kim, thí dụ vậy.
Wachtel: Ông còn đưa ra một nhận định rất khó nắm bắt, theo đó, tiểu
thuyết và sự tạo thành đế quốc đã mắc míu với nhau, không thể nào gỡ ra
được; rằng tiểu thuyết không giản dị chỉ là phản ảnh điều gì đang xẩy
ra, nhưng chủ nghĩa đế quốc và tiểu thuyết, một cách nào đó, đã hỗ trợ
lẫn
nhau.
Said: Đây là một nhận định khá xa vời, nhưng tôi nghĩ, nó thực.
Wachtel: Làm sao chúng hỗ trợ cho nhau?
Said: Cuốn tiểu thuyết Anh có giá đầu tiên là "Lỗ Bình Sơn phiêu lưu ký
(Robinson Crusoe)". Và "Robinson Crusoe" sẽ không thể hiểu được nếu
thiếu cuộc truy tìm săn đuổi mang tính đế quốc. Lỗ Bình Sơn rời Anh
quốc, bị đắm tầu, thấy mình ở trên hoang đảo, và chỉ trong vài ngày,
vài trăm trang tiểu thuyết, anh ta trở thành ông chủ tất cả những gì
quanh anh ta. Và sau đó, bạn nhận ra một điều là, những gì hoang đảo đã
làm cho anh ta, cho phép anh ta tạo dựng một thế giới riêng của mình.
Nói một cách khác, chủ nghĩa đế quốc, như ở mức độ như thế, đã liên hợp
với một phương hướng sáng tạo nào đó. Sau này, vào cuối thế kỷ 19, John
Seely nói, rằng sự
kiện trung tâm Anh Quốc, sự kiện trung tâm văn hóa Anh, căn cước Anh,
nó là: bành trướng. Điều này không đúng, đối với mọi xã hội. Nhận định
của tôi là: trong thế kỷ 19 và 20, Anh quốc, tự thân nó, đã là một cái
gì thật độc đáo. Ý nghĩ thật lạ đời: bạn đang ngồi ở London - hãy giả
dụ
bạn có một căn phòng nho nhỏ ở Hampstead - và buổi sáng, thức dậy, bạn
nói: "Ta kiểm tra cuộc sống của hàng trăm con người", bởi vì mỗi một
người
Anh kiểm tra một trăm, hoặc trăm rưởi con người khác, nếu so dân số Anh
và dân số Ấn- độ, nơi họ chiếm đóng trên ba trăm năm năm. Sự kiện đó,
cộng thêm sự kiện này: chưa có một xã hội Tây phương nào giữ được tính
cha chú (kiểm tra, chiếm đóng) liên tục như thế, trong truyền thống đế
quốc,
ngoài Anh quốc ra. Và sự liên tục không bị bẻ gẫy này còn là của chuyện
viết văn, viết tiểu thuyết. Không có tiểu thuyết Ý trước 1860, hay
1870.
Không có tiểu thuyết Đức, cho mãi đến sau 1870. Với một vài ngoại lệ,
không
có tiểu thuyết Tây-ban-nha, ở thế kỷ 19. Tôi đang nói về sự liên tục.
Theo
hầu hết các nhà sử gia, tiểu thuyết Anh bắt đầu với những người như
Defoe
vào ngay đầu thế kỷ 18 và cứ thế tiếp tục, không gẫy khúc, qua thế kỷ
18,
19 và 20.
Wachtel: Nhưng như vậy là ông đặt nặng vấn đề nhân quả (causality),
trong khi ở đây, chỉ là vấn đề đồng thời (synchronicity)?
Said: Không, tôi không nói về nhân quả, mà về đồng hành
(accompaniment). Tất cả những tiểu thuyết gia lớn của thế kỷ 19 đều
nhắc nhở tới những sự kiện chiếm đóng thuộc địa, thí dụ như di dân tới
những nơi chốn như là Úc, Hoa Kỳ hay Phi Châu. Cũng như vậy, tuy ở mức
độ thấp hơn, là Pháp. Nhận định của tôi là như thế này: Sự kiện chiếm
đóng thuộc địa đã tác động
lên trí tưởng tượng, gây hứng khởi, và là một phần trong cấu tạo căn
cước
cá nhân. Hầu hết tiểu thuyết thực sự chỉ là sáng tạo ra một căn cước
giả
tưởng, tôi là ai? Thí dụ, tôi là Pip, trong "Great Expectations" ("Hoài
Bão Lớn", tác phẩm của Dickens, CTND), hay là Tom Jones, đứa con hoang.
Người ta thấy anh ta ở trên giường, ở ngay đầu cuốn truyện; tới cuối
truyện,
chúng ta biết anh ta là ai. Tiểu thuyết thực ra chỉ là một dạng tích tụ
văn hóa, và tiện nghi hóa, làm sao cho cái tôi được thoải mái, dễ thở
trong
xã hội. Một phần của tiến trình này đó là: cái tôi bị vướng víu với
những
mục tiêu mang tính đế quốc. Trong trường hợp Mansfield Park của Jane
Austen,
thí dụ vậy, đồn điền nô lệ mà Sir Thomas Bertram sở hữu ở Antigua đã
được
sử dụng như túi bạc bảo đảm cuộc sống ở Mansfield Park, Anh quốc. Điều
tôi
gọi là dự phóng hoá, ở trong giả tưởng, trong cách tự sự, nó giả dụ
rằng
Anh quốc đã dính chặt với những thuộc địa ở hải ngoại theo nhiều đường
hướng
khác nhau. Nhưng chúng ta không nhai đi nhai lại mãi cùng một điều, bởi
vì mỗi cuốn tiểu thuyết là mỗi chút khác biệt.
Wachtel: Liệu có thể bị coi là quá ngây thơ khi coi: cốt truyện nó
phải như vậy?
Said: Đâu có gì là ngây thơ: nó chính là cốt truyện. Nhưng tại sao cốt
truyện đó mà không phải cốt truyện khác? Mọi cuốn tiểu thuyết liên quan
tới chuyện chọn lựa, một phần của nhà văn, và của sự kiện, rằng đó là
một đề tài sẵn có trong tầm tay; phần khác thuộc về tài sản trí thức,
tình
cảm, tưởng tượng, của người Anh. Nếu bạn đọc một cuốn tiểu thuyết Đức,
sẽ khác hẳn. Sẽ chẳng có bàn vềà những vùng đất, lãnh thỗ của chúng ta,
và chúng ta không thể đi Ấn-độ. Nó (Ấn-độ) có một chức năng khác hẳn:
một
chủ nghĩa hương xa (exoticism), đại khái như vậy. Trong khi ở Anh quốc,
nó là một nơi chốn người ta có thể đi tới, bởi vì chúng ta ở đó, thí dụ
như
trong "Đường qua Ấn-độ, A Passage to India" (tác giả E.M. Forster,
CTND); Kim, hay trong vài tác phẩm của Conrad. Anh quốc là tất cả mọi
nơi, nói theo
nghĩa đen. Bạn cứ thử nghĩ về nó, một phút thôi: rõ ràng là người Anh
gần
như chỗ nào cũng có. Vào thời kỳ 1918, một nhóm nhỏ những quyền lực
Âu-châu đã ngự trị, chiếm đóng 85% thế giới. Cái điều giản dị, tự nhiên
- chiếm
đóng, sở hữu, vốn chỉ là một kinh nghiệm lịch sử - biến thành kinh
nghiệm
cho trí tưởng tượng (imaginative experience), bạn thấy không? Tôi tin
nó
là như vậy, nó có đó, và bạn làm gì với nó?
Wachtel: Ông làm gì với nó?
Said: Tôi nghĩ bạn phải coi đây là một phần của một điều gì lớn lao hơn
nhiều. Ý của tôi là: kinh nghiệm này một phần do việc đọc tiểu thuyết
Anh. Tôi không nói phần quan trọng nhất, nhưng nó là một phần quan
trọng. Người ta còn phải nhớ - nhiều người không nhận ra - một điều là:
những nơi chốn được Jane Austen hay Kipling nhắc tới, có một lịch sử
vượt ra ngoài vai trò của nó ở trong tiểu thuyết. Vào năm 1814, khi
cuốn "(Công viên) Mansfield Park" được xuất bản, Antigua là một thuộc
địa đồn điền của Anh quốc, hầu hết những người đọc nó nói, thì nó như
vậy, đúng rồi. Nhưng sự kiện (cần nói ở đây là), kinh nghiệm (về một
trú sở, nơi chốn được nhắc tới, như ở trong tiểu thuyết) vẫn tiếp tục,
và Antigua đã được giải phóng, trở thành độc lập.
Đã có trọn một nền văn chương thoát thai từ vùng Caribbean, được
viết bởi những người như V.S. Naipaul hay George Lamming và cả một
trường
nhà văn Caribbean; họ nhìn kinh nghiệm đế quốc trong lịch sử của vùng
đất này - như là thuộc địa nô lệ - khác hẳn cái nhìn của Jane Austen.
Điều tôi đang nói: cách thích thú nhất, đầy đủ nhất, để đọc những người
như Jane Austen hay sau đó, Kipling - những người viết về Ấn-độ - đó là
không coi họ chỉ như tác giả những tiểu thuyết Anh mà còn như những
tác giả khác từ đó mà ra. Bạn có thể đọc họ theo kiểu đối âm
(contrapuntally), nếu phải sử dụng một ẩn dụ của âm nhạc. Họ cũng vẫn
bàn về cùng một đề
tài, cùng một lịch sử, nhưng từ quan điểm khác biệt. Khi bạn đọc họ
theo
cách đó, bạn có cảm tưởng về tính tương thuộc (interdependence) của
những
nền văn chương vốn được coi như phải cách ly lẫn nhau. Không có điều gì
thú vị hơn, hứng khởi hơn (nếu đọc theo kiểu đó). Bởi vì nó cho bạn
chạm
tới một cách viết lớn. Nó cho bạn cảm tưởng, đây là một cuộc thi
(contest),
và rất nhiều nền văn chương cùng tham gia trong một cuộc chiến đấu về
một
lãnh thổ, một vùng đất mang tính hình tượng hay có thực. Nó còn cho bạn
chạm tới những ý tưởng giải phóng con người, rằng con người không thể
nào
chịu đựng được, trong một thời gian quá dài, chủ nghĩa thuộc địa. Tôi
chắc
chắn một điều, những người đọc Jane Austen, biết rất ít, chuyện gì xẩy
ra
tại một nơi mà Sir Thomas Bertram đã tới đó. Tác giả đâu có nói chi
nhiều
về nơi chốn đó, bởi vì bà cũng chẳng biết chuyện chi xẩy ra: nó chỉ là
một
nơi bạn đến đó lượm bạc rồi trở lại Anh quốc. Bạn đi, và nếu có một
cuộc
nổi loạn của nô lệ, như ở trong tiểu thuyết, bạn "thanh toán" (fix) nó,
rồi trở về Anh.
Wachtel: Có vẻ như những tiểu thuyết gia thời Victoria đã tiếp cận chủ
nghĩa đế quốc theo cùng một kiểu, nếu nói về mưu đồ, cốt truyện.
Said: Đúng như vậy. Nhưng quan điểm của tôi, ở ngay đầu cuốn "Văn
hóa và Chủ nghĩa Đế quốc", đó là thế giới bây giờ đã thay đổi. Chẳng
còn
chuyện, những người Ấn-độ ở Ấn, Những người Anh ở Anh, và du lịch lòng
vòng. Hầu hết những xứ sở Âu-châu ngày nay không còn là những xứ sở
thuần
nhất, hoàn toàn được tạo nên bởi giống trắng. Có một cộng đồng lớn
người
Ấn-độ ở Anh, cộng đồng rất lớn người Bắc Phi Hồi-giáo ở Pháp, ở Đức,
Thụy-điển, Ý và cứ như thế... Thế giới đã được pha trộn (mixed) rất
nhiều. Tại
sao có người Bắc Phi ở Pháp? Phần lớn, là do Pháp là ông chủ thuộc địa
ngày xưa, và khi những người này phải bỏ nhà bỏ cửa vì nạn cướp phá, họ
chọn Pháp là nơi tới; họ là dân nói tiếng Pháp. Trường hợp được coi là
đơn tính (unilateral) ở thế kỷ 19 không còn nữa. Có những nhà phê bình
viết bằng tiếng Anh, nhưng không phải là người Anh. Khi Conrad viết
"Giữa
Lòng Đen, Heart of Darkness", ông tin rằng - và điều này hiển nhiên
sai,
nhưng không thể chê trách ông được, bởi vì do lệch lạc thời gian (the
bias of time) - không một người Phi-châu nào có thể đọc nó; rằng ông
viết
cho những người Anh. Sự kiện là, những người Phi Châu bây giờ đã đọc
"Giữa
Lòng Đen", và họ nhìn nó khác hẳn những người da trắng đồng thời với
Conrad,
vào thập niên 1900, và cái đọc của họ trở thành một yếu tố của cuốn
tiểu
thuyết. Như vậy là cuốn sách mở ra theo một đường hướng mà ngay cả
những tác giả của nó như Jane Austen, Dickens hay Conrad, dù nằm mơ
cũng không
thể tưởng tượng ra được. Điều này thật đáng đón nhận bởi vì nó chỉ ra
cho bạn thấy một mặt mới của tác phẩm, và nó khiến cho bạn nhìn sự vật
trước đó bạn không thể nào nhìn thấy.
Wachtel: Đó là lý do tại sao Conrad là một tác giả ruột của ông?
Said: Có một điều gì rất "cùng một lứa bên trời lận đận" (tương đồng,
affinity) giữa ông ta và tôi. Bởi vì ông người Ba-lan, rời quê hương
chừng 16 tuổi, sống một thời gian ở Thụy-sĩ, Pháp; học tiếng Pháp, và
vào tuổi hai mươi, bắt đầu viết và học tiếng Anh, sống ở Anh, trở thành
thành viên của Thương Thuyền Anh (British Merchant Navy), đi biển đâu
chừng 15 năm, rồi định cư ở Anh. Khi là nhà văn, ông chừng 40 tuổi. Ông
luôn là người Ba-lan, ở bên ngoài cái gọi là vòng tròn Anh, theo một
nghĩa nào đó, nhưng ông lại viết ra những cuốn tiểu thuyết Anh tuyệt
vời. Ông có một thứ tâm thức lưu vong kỳ cục. Ông luôn ở bên ngoài bất
cứ một hoàn cảnh nào mà
ông viết về nó, và tôi chia sẻ tâm trạng này với ông. Cách ông nhìn sự
vật hoàn toàn không giống bất cứ một người nào trong thời kỳ đó. Ông
rất thân thiện với những người như Henry James và John Galsworthy, họ
cũng
là những nhà văn tuyệt vời nhưng không cho bạn cảm quan kỳ cục, muôn
mặt của đổi dời và trên tất cả, chủ nghĩa ngần ngại, hồ nghi, đặc biệt
là hồ
nghi về căn cước và về hiện hữu ổn định (settled existence) như Conrad.
Conrad là một trong số ít tiểu thuyết gia viết bằng tiếng Anh, theo
cách
của bậc thầy (tuy trong vài trường hợp có thể phản bác), về những nơi
chốn
như Indonesia, Malaysia, Thailand, Phi Châu, và Nam Mỹ. Ông ta thực sự
là
một người theo chủ nghĩa quốc tế (internationalist), của thời kỳ đế
quốc.
Ông là một khuôn mặt phức tạp, và tôi không có ý giả dụ, tôi quan tâm
tới ông là do ông chia sẻ cùng một cái nền khá giống nhau. Hoàn toàn
không phải như vậy. Ông là một tiểu thuyết gia vĩ đại, và có một điều
chi thật phức tạp, thật xum xuê mầu mỡ, và cũng thật giầu có về ông
khiến tôi phải trở đi trở lại. Không một người nào nhìn sự vật hoàn
toàn giống như cách ông nhìn. Còn một tương đồng nữa là, ông viết tiếng
Anh như một người nào đó không phải là người nói tiếng Anh như tiếng mẹ
đẻ (native-born speaker). Tôi kinh ngạc hoài về điều này. Có vẻ như ông
không thèm để ý
tới cú pháp (syntax). Cách nhấn tính từ cũng thật kỳ quặc. Cách viết
theo
bản năng ở một số điều như vậy thật là quá thích thú đối với tôi.
Wachtel: Còn một nhận định cũng thật khó nắm bắt nữa là: hơn bất cứ một
lý thuyết nào khác như Marxism, giải cấu trúc, hay chủ nghĩa duy lịch
sử mới (new historicism), chủ nghĩa đế quốc là chân trời chính trị xác
định chủ chốt (the major determining political horizon) trực diện
(vis-à-vis) với lý thuyết văn chương.
Said: Ý niệm về một giàn dựng toàn cầu trong văn chương thoát thai từ
kinh nghiệm đế quốc. Loài người (people) có những đế quốc toàn cầu
- đế quốc Anh, đế quốc Pháp thực sự đã là như vậy - và bây giờ, ở thế
kỷ
20, Hoa Kỳ đã thành công trong việc đi theo con đường bá quyền của Anh
và Pháp. Do đó, thật thiếu chín chắn, thiếu nghiêm túc, khi nghiên cứu
văn hóa mà không tính tới cái chân trời rộng lớn hơn - tôi muốn nói cái
giàn toàn cầu ở trên - Tất cả những gì tôi đang làm là nói rằng: có một
sự nối kết. Tôi không nói mối nối này là giản dị, là trực tiếp hay mang
tính nhân quả; tôi nói là có rất nhiều những liên-kết
(inter-connections),
những tương thuộc (inter-dependencies), giữa hai trái cầu. Cho tới nay,
chủ nghĩa đế quốc đã vươn tới tầm toàn cầu, đang có tầm toàn cầu, như
vậy
đây là lúc giàn dựng cho sự gia nhập của một vài cơ cấu văn chương, một
vài cơ cấu và cách hành xử văn hóa.
Ng. Tuấn Anh chuyển ngữ.
|